1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước thực tiễn tại việt nam qui phạm pháp luật hành chính và quan hệ pháp luật hành chính cơ sở lý luận và thực tiễn

60 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước – thực tiễn tại Việt Nam Qui phạm pháp luật hành chính và quan hệ pháp luật hành chính cơ sở lý luận và thực tiễn
Tác giả Nguyễn Phi Hoàng Vũ, Nguyễn Nam Anh, Nguyễn Thanh Hằng, Nguyễn Cảnh Hưng, Đoàn Bích Khánh
Người hướng dẫn Ths.NCS. Lâm Thị Thu Huyền
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Luật
Thể loại Bài thảo luận
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 408,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước - thực tiễn tại Việt Nam (0)
    • 1.1. Quản lý và quản lý nhà nước (4)
    • 1.2. Thực tiễn về quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam (8)
  • 2. Các nguyên tắc cơ bản của quản lý hành chính nhà nước (8)
    • 2.1. Khái niệm và hệ thống các nguyên tắc cơ bản của quản lý hành chính nhà nước (9)
    • 2.2. Các nguyên tắc cơ bản của quản lý hành chính nhà nước (11)
  • 3. Hình thức quản lý hành chính nhà nước (36)
    • 3.1. Khái niệm (36)
    • 3.2. Phân loại (36)
  • 4. Phương pháp quản lý hành chính nhà nước (39)
    • 4.1. Khái niệm (39)
    • 4.2. Những yêu cầu đối với phương pháp quản lý hành chính nhà nước (40)
    • 4.3. Những phương pháp quản lý hành chính nhà nước (40)
  • 5. Quy phạm pháp luật hành chính (44)
    • 5.1. Định nghĩa (44)
    • 5.2. Đặc điểm (44)
    • 5.3. Phân loại quy phạm pháp luật hành chính (47)
    • 5.4. Thực hiện quy phạm pháp luật hành chính (50)
    • 5.5. Thực tiễn (53)
  • 6. Quan hệ pháp luật hành chính (55)
    • 6.1. Khái niệm (55)
    • 6.2. Đặc điểm (0)
    • 6.3. Phân loại (56)
  • Tài liệu tham khảo (60)

Nội dung

Nhóm 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA LUẬT BÀI THẢO LUẬN Đề tài Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước – thực tiễn tại Việt Nam Qui phạm pháp luật hành chính và quan hệ pháp luật hành chính – cơ sở l[.]

Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước - thực tiễn tại Việt Nam

Quản lý và quản lý nhà nước

Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Trong tiếng Việt, “quản” mang ý nghĩa trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, còn “lý” thể hiện việc tổ chức và điều khiển các hoạt động theo kế hoạch cụ thể Do đó, quản lý có thể hiểu là việc duy trì sự ổn định của các hoạt động, đồng thời tổ chức, sắp xếp nhằm thúc đẩy phát triển theo yêu cầu đề ra Theo từ điển Cambridge, quản lý còn mang ý nghĩa kiểm soát và điều khiển, được định nghĩa là trách nhiệm tổ chức và điều hành một cá nhân hoặc tổ chức, đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh và nhân sự Trong ngành điều khiển học, quản lý được hiểu là sự tác động có tổ chức, có mục đích và kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng để hướng dẫn, liên kết các yếu tố hoạt động thành một thể thống nhất, nhằm đạt mục tiêu trong bối cảnh biến động của môi trường Các nhà khoa học và nhà nghiên cứu đã nhiều lần đưa ra các cách hiểu khác nhau về khái niệm này qua các thời kỳ.

 Harold Koontz, nhà lý thuyết tổ chức, giáo sư quản lý kinh doanh người Mỹ tại Đại học California, cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định.”

 Mary Parker Follett, tư vấn quản lý và tiên phong trong lĩnh vực lý thuyết tổ chức và hành vi tổ chức người Mỹ, lại có quan điểm rằng:

“Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiện ang qua người khác.”

 Karl Marx: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động.”

 V.I.Lenin: “Muốn quản lý tốt mà chỉ biết thuyết phục thôi thì chưa đủ, mà cần phải biết tổ chức về mặt thực tiễn.”

Theo quan điểm của Marx và các hướng tiếp cận quản lý, quyền uy là yếu tố cốt lõi đảm bảo sự tuân theo của các đối tượng quản lý, từ đó thúc đẩy hiệu quả trong hoạt động tổ chức Quản lý thành công dựa trên sự phục tùng của các thành viên, vốn được xây dựng trên nền tảng quyền uy hoặc uy tín của chủ thể quản lý, giúp định hướng ý chí và hành động phù hợp với lợi ích chung hoặc lợi ích nhóm Việc sử dụng quyền uy để thúc đẩy sự phục tùng có thể theo nhiều trường hợp khác nhau, tùy thuộc vào mục tiêu và phạm vi ảnh hưởng của tổ chức.

Sự quyền uy trong quản lý thể hiện qua khả năng thuyết phục của chủ thể quản lý, giúp thống nhất ý chí và hướng dẫn các đối tượng tuân theo nhằm duy trì trật tự và hiệu quả công việc Đồng thời, quyền lực này được đảm bảo bởi kỷ luật tự giác của các đối tượng quản lý, tạo ra môi trường làm việc có kỷ cương, nâng cao hiệu suất tổ chức Việc xây dựng niềm tin và sự hợp tác dựa trên sự thuyết phục là yếu tố then chốt để khẳng định quyền uy một cách bền vững trong quản lý doanh nghiệp.

Sự quyền uy và sự phục tùng trong quá trình thống nhất ý chí của một tổ chức hay nhà nước luôn được duy trì thông qua các biện pháp cưỡng chế và bạo lực, điều này có thể dẫn đến việc áp dụng các hình thức độc tài và nghiêm khắc, như đã nhấn mạnh bởi V.I Lenin.

Chủ thể của quản lý có thể là cá nhân hoặc tổ chức, đóng vai trò là đại diện có quyền hạn và trách nhiệm trong việc liên kết và phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân Quản lý nhằm hướng tới mục tiêu chung và đạt được kết quả nhất định thông qua việc điều hành, tổ chức và kiểm soát các hoạt động này Hiểu rõ vai trò của chủ thể quản lý giúp nâng cao hiệu quả hoạt động và đạt được thành công trong các tổ chức và doanh nghiệp.

Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước, khi nhà nước đảm nhận quản lý phần lớn các hoạt động xã hội Khối lượng công việc mà nhà nước cần thực hiện đều là những nhiệm vụ vô cùng quan trọng, đóng vai trò chủ chốt trong sự tồn tại và phát triển của xã hội.

Quản lý nhà nước gồm các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước Đây là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật, đến các đối tượng quản lý để thực hiện các chức năng quan trọng của nhà nước Tất cả các cơ quan nhà nước đều tham gia vào quá trình quản lý nhà nước, trong đó quản lý hành pháp chính là quản lý hành chính nhà nước để đảm bảo hoạt động hiệu quả và thống nhất.

Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động đảm bảo sự chấp hành luật, pháp lệnh và nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước Hoạt động này do các cơ quan hành chính nhà nước đảm nhiệm, nhằm tổ chức và chỉ đạo liên tục công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa – xã hội và hành chính – chính trị Vì vậy, có thể khẳng định rằng quản lý hành chính nhà nước chính là hoạt động điều hành và thực thi của nhà nước nhằm duy trì trật tự, phát triển bền vững và đảm bảo hiệu quả công tác quản lý nhà nước.

Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, cá nhân và tổ chức mang trong mình quyền lực của nhà nước Đây là hình thức hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước, chủ yếu do các cơ quan hành chính thực hiện nhằm đảm bảo việc thực hiện các quy định của cơ quan quyền lực nhà nước.

Tính chất chấp hành thể hiện rõ mục đích của quản lý hành chính nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện đúng các văn bản pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành Tất cả các chủ thể trong xã hội, kể cả những người có quyền lực nhà nước, đều phải tuân thủ nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật đã được ban hành Mọi hoạt động quản lý hành chính nhà nước dựa trên pháp luật nhằm thực thi chính xác các quy định pháp luật đó Có thể nói rằng, cơ quan hành chính các cấp biến lý thuyết luật thành thực tiễn sinh động trong hoạt động quản lý nhà nước.

Tính chất điều hành thể hiện qua việc đảm bảo các văn bản pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành thực sự được thực hiện trên thực tế Cơ quan hành chính nhà nước phải tiến hành hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền, như Ủy ban nhân dân các cấp Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cơ quan hành chính có quyền nhân danh nhà nước ban hành các văn bản pháp luật nhằm đặt ra các quy phạm pháp luật hoặc các mệnh lệnh cụ thể bắt buộc các đối tượng quản lý phải thực hiện Mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và các đối tượng quản lý là mối quan hệ “quyền lực – phục tùng”, thể hiện tính chất điều hành trong bộ máy nhà nước.

Hoạt động điều hành là một nội dung cốt lõi của hoạt động chấp hành quyền lực nhà nước, đóng vai trò quan trọng trong quản lý hành chính nhà nước Nó liên kết chặt chẽ với hoạt động chấp hành, tạo thành hai mặt thống nhất trong quá trình quản lý hành chính Nhờ đó, hoạt động điều hành giúp đảm bảo sự hiệu quả và quyết định trong việc thực hiện các chính sách, pháp luật của nhà nước.

Hoạt động quản lý hành chính nhà nước vẫn giữ được tính chủ động và sáng tạo trong công tác điều hành, dù dưới sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước Các chủ trương, biện pháp quản lý phù hợp được áp dụng linh hoạt cho từng đối tượng, tạo điều kiện để họ lựa chọn cách thức hoàn thành nhiệm vụ dựa trên nghiên cứu và phân tích tình hình thực tế.

Các cơ quan nhà nước chủ yếu thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước, phản ánh chức năng cơ bản của họ Tuy nhiên, không nên nghĩ rằng mỗi cơ quan chỉ thực hiện một loại hành vi nhất định phù hợp với chức năng của mình, vì thực tế các cơ quan này phối hợp chặt chẽ trong các hoạt động chung Việt Nam có hệ thống phân chia quyền lực rõ ràng giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng vẫn duy trì sự phối hợp đồng bộ, như các tòa án có quyền xử lý các vi phạm hành chính.

Thực tiễn về quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam

Trong hệ thống quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam, quyền lực nhà nước được tổ chức thống nhất nhưng được phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan như Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan xét xử và cơ quan kiểm sát Sự rõ ràng trong phân công trách nhiệm là yếu tố then chốt để kiểm soát quyền lực nhà nước, đảm bảo nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân Đồng thời, phân công này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền hành chính quốc gia ổn định, thống nhất từ trung ương đến cơ sở Yếu tố kiểm soát không nhằm mục đích kiềm chế hay đối trọng, mà thể hiện sự giám sát chéo giữa các cơ quan để duy trì sự trong sạch và hiệu quả của bộ máy nhà nước.

Các nguyên tắc cơ bản của quản lý hành chính nhà nước

Khái niệm và hệ thống các nguyên tắc cơ bản của quản lý hành chính nhà nước

Quản lý hành chính nhà nước là một hoạt động có mục đích nhằm đạt được các mục tiêu rõ ràng, và kết quả thu được sẽ phản ánh hiệu quả của quá trình quản lý Để đạt được hiệu quả cao trong quản lý hành chính và các công việc liên quan, việc xây dựng và tuân thủ các nguyên tắc quản lý là rất quan trọng Vì luật hành chính ở nước ta hiện nay chủ yếu dựa trên nhiều văn bản quy phạm pháp luật riêng lẻ, việc thiết lập các nguyên tắc quản lý nhà nước là yếu tố then chốt để đảm bảo hoạt động hành chính thực tiễn diễn ra hiệu quả và đúng luật.

Các nguyên tắc quản lý hành chính được ghi nhận trong các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, từ các văn bản có tính pháp lý cao như Hiến pháp và Bộ luật đến các văn bản dưới luật có tính thực hành cao Hiến pháp – đạo luật cơ bản của Nhà nước – quy định những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, trong đó có các cơ quan quản lý hành chính nhà nước Các văn bản luật và dưới luật cụ thể hóa các nguyên tắc quản lý hành chính này dưới góc độ thực tiễn, khẳng định vai trò vô cùng quan trọng của chúng trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước.

Các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước mang tính khoa học và khách quan, được xây dựng dựa trên tổng kết thực tiễn, làm nền tảng cho hoạt động quản lý nhà nước Tuy nhiên, những nguyên tắc này, dù mang tính khách quan, vẫn do nhận thức của con người xác định và chịu ảnh hưởng bởi điều kiện chính trị, giai cấp, xã hội Trong bối cảnh Việt Nam, nội dung các nguyên tắc quản lý hành chính thể hiện rõ bản chất nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.

Các nguyên tắc của quản lý hành chính nhà nước có tính ổn định vì phản ánh các quy luật khách quan của quản lý nhà nước và được áp dụng lâu dài để đảm bảo tính đúng đắn trong thực tiễn Tuy nhiên, khi nguyên tắc trở nên lạc hậu hoặc không còn phù hợp với sự thay đổi của xã hội và hệ thống pháp luật, chúng cần được xem xét, nghiên cứu lại để loại bỏ những nội dung không còn phù hợp và bổ sung các nguyên tắc mới phù hợp với thời kỳ hiện tại.

Các nguyên tắc cần phải hình thành một hệ thống thống nhất và liên kết chặt chẽ thay vì là các nguyên tắc đơn lẻ, riêng rẽ Việc áp dụng một nguyên tắc phải bổ sung cho nguyên tắc khác, tránh tình trạng mâu thuẫn trong quá trình thực hiện Do đó, tính thống nhất và hệ thống là đặc điểm vốn có của các nguyên tắc này để đảm bảo sự nhất quán trong toàn bộ quá trình thực thi.

Quản lý hành chính nhà nước ảnh hưởng đến nhiều đối tượng với các đặc điểm khác nhau, yêu cầu áp dụng các nguyên tắc bổ sung và nâng cao để đảm bảo hiệu quả Trong đó, nguyên tắc cơ bản nhất phải bao quát và làm nền tảng cho các nguyên tắc khác của quản lý hành chính nhà nước.

2.1.2 Hệ thống các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước Để có thể xác định cụ thể vị trí, vai trò của các nguyên tắc này trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, ta sẽ phân loại các nguyên tắc này thành các nhóm, mà trên cơ sở đó xây dựng và áp dụng chúng một cách có hiệu quả trong thực tiễn quản lý hành chính nhà nước.

Cách tiếp cận phổ biến nhất dựa trên các biểu hiện cụ thể trong hoạt động tổ chức, bao gồm tổ chức chính trị và tổ chức kỹ thuật Phương pháp này phân chia thành hai nhóm nguyên tắc chính là nhóm nguyên tắc chính trị - xã hội và nhóm nguyên tắc tổ chức – kỹ thuật.

Các nguyên tắc chính trị - xã hội là những nguyên tắc chung, xuyên suốt trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước Những nguyên tắc này thể hiện rõ bản chất giai cấp của nhà nước, góp phần định hình hướng đi và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị Việc nắm vững các nguyên tắc này giúp đảm bảo tính hợp pháp, hiệu quả trong quản lý nhà nước và phản ánh đúng nội dung của nguyên tắc chính trị - xã hội. -**Sponsor**Là một người sáng tạo nội dung, tôi hiểu việc viết lại bài viết sao cho mạch lạc và chuẩn SEO quan trọng thế nào Bạn có thể tham khảo [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/0cHIpWvq) để tạo bài viết 2,000 từ chuẩn SEO ngay lập tức, giúp bạn tiết kiệm hơn $2,500 mỗi tháng so với việc thuê người viết! Giống như có một đội ngũ nội dung riêng mà không gặp rắc rối nào!

 Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước

 Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước

 Nguyên tắc tập trung dân chủ

 Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc

 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Các nguyên tắc tổ chức – kỹ thuật là các nguyên tắc đặc thù cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước, chi phối các yếu tố mang tính chất kỹ thuật của hoạt động quản lý hành chính nhà nước Đây là nhóm nguyên tắc có tính ổn định cao, vì dù trong bất kỳ điều kiện chính trị hoặc giai cấp như thế nào thì việc quản lý hành chính nhà nước vẫn phải tuân theo các nguyên tắc này Mặc dù nhóm này bao trùm rất nhiều nguyên tắc khác nhau, nhưng ta chỉ đề cập đến hai nguyên tắc cơ bản nhất là:

 Nguyên tắc quản lý theo ngành, chức năng kết hợp với quản lý theo địa phương

 Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng và phối hợp quản lý liên ngành.

Các nguyên tắc cơ bản của quản lý hành chính nhà nước

2.2.1 Các nguyên tắc chính trị - xã hội

 Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước

Xuất phát từ thực tiễn lịch sử cho thấy, việc Đảng định hướng, lãnh đạo là hạt nhân trong những thắng lợi của đất nước ta, từ việc giành lại chính quyền,kháng chiến cứu nước cho đến công cuộc đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trên cơ sở đó, ta có thể thấy rằng, sự lãnh đạo của Đảng trong quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính nhà nước nói riêng là một nguyên tắc cơ bản, quan trọng, được đặt lên hang đầu trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước Khoản 1, Điều 4 Hiến pháp 2013 đã khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt

Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Marx – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”

Nguyên tắc này không thừa nhận sự can thiệp của các tổ chức Đảng vào hoạt động chuyên môn của các cơ quan nhà nước, mà chỉ giới hạn ở việc định hướng tư tưởng, xác định đường lối, quan điểm, chính sách và tổ chức trong lĩnh vực chuyên môn, phù hợp với khoản 3, Điều 4 Hiến pháp 2013 Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước thông qua việc đề ra các chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, như quy định trong Điều 22 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật Đồng thời, vai trò của Đảng trong công tác tổ chức cán bộ được khẳng định trong khoản 1, Điều 5, Luật cán bộ công chức 2008, với nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, trong đó các thủ tục bầu, bổ nhiệm cán bộ cần tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Đảng đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện đúng các tư tưởng, quan điểm, chủ trương, chính sách đã đề ra Điều này giúp phát hiện và uốn nắn các sai phạm đã, đang và sẽ xảy ra, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của chính quyền và đất nước.

Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước được thể hiện rõ ràng trong Hiến pháp 2013 của Việt Nam Điều 2 và Điều 3 của Hiến pháp khẳng định rằng nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, đồng thời bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong mọi mặt của đời sống Đây là minh chứng rõ nét cho vai trò của nhân dân trong việc khẳng định quyền làm chủ của mình, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước.

Nhân dân lao động tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước Đây là hình thức tham gia tích cực, hiệu quả nhất của người dân trong quản lý hành chính nhà nước Các cơ quan nhà nước là công cụ thực hiện quyền lực nhà nước, do vậy việc để nhân dân lao động có quyền tham gia vào hoạt động của các cơ quan sẽ phát huy tính dân chủ cao độ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của toàn thể người dân Trên thực tế có nhiều cách thức để nhân dân lao động tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước, cụ thể:

Nhân dân lao động có thể trực tiếp tham gia vào các cơ quan quyền lực nhà nước thông qua quá trình bầu cử, gồm Quốc hội ở Trung ương và Hội đồng nhân dân cấp địa phương Những người đủ điều kiện, được nhân dân tín nhiệm đề cử hoặc tự ứng cử, trở thành đại biểu đại diện cho nhân dân lao động toàn quốc hoặc địa phương Sau khi trúng cử, đại biểu có quyền xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, bao gồm cả lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước.

Thứ hai , nhân dân lao động có thể tham gia trực tiếp vào hoạt động của các cơ quan nhà nước khác: cơ quan xét xử (Tòa án nhân dân các cấp), cơ quan kiểm sát (Viện kiểm sát nhân dân các cấp), các cơ quan hành chính (Chính phủ,

Ủy ban nhân dân các cấp đứng đầu trong hệ thống quản lý hành chính nhà nước, với vai trò là những cán bộ, công chức trực tiếp thực thi quyền lực nhà nước Nhân dân lao động sử dụng quyền lực này để thực hiện các hoạt động quản lý hành chính và nhiệm vụ chức năng đặc thù của từng cơ quan, thể hiện vai trò làm chủ đất nước và xã hội.

Ngày thứ ba, nhân dân lao động không chỉ trực tiếp tham gia hoạt động của các cơ quan nhà nước mà còn gián tiếp tham gia thông qua việc thực hiện quyền lựa chọn đại biểu xứng đáng để đại diện cho mình tại các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương Đây là hình thức phổ biến nhất giúp nhân dân lao động tham gia vào quản lý công việc của nhà nước nói chung cũng như quản lý hành chính nhà nước nói riêng, góp phần xây dựng nền dân chủ vững mạnh.

Nhân dân lao động tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội

Tham gia hoạt động của các tổ chức xã hội là hình thức giúp nhân dân lao động gián tiếp tham gia vào quản lý hành chính nhà nước Pháp luật Việt Nam quy định rõ quyền của các tổ chức xã hội trong việc thành lập các cơ quan nhà nước, cũng như quyền giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, góp phần thúc đẩy sự minh bạch và hiệu quả trong quản lý hành chính nhà nước.

Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân lao động tích cực tham gia vào các hoạt động của tổ chức xã hội, qua đó thúc đẩy vai trò chủ động và sáng tạo của người lao động trong xã hội Việc phát huy vai trò của tổ chức xã hội giúp nâng cao hiệu quả cộng đồng, góp phần xây dựng xã hội phát triển bền vững Chính sách hỗ trợ từ nhà nước tạo nền tảng vững chắc để nhân dân lao động thể hiện sáng kiến, đóng góp tích cực vào các hoạt động xã hội.

Nhân dân lao động tham gia hoạt động tự quản ở cơ sở

Hoạt động tự quản ở cơ sở diễn ra thường xuyên và gần gũi với đời sống của nhân dân lao động, góp phần thúc đẩy cộng đồng phát triển bền vững Những hoạt động này được thực hiện ngay tại nơi cư trú như khu dân cư, làng xã, do chính người dân tự tổ chức và không bị ép buộc, thể hiện tinh thần tự chủ và dân chủ sâu sắc Các hoạt động tự quản đa dạng, bao gồm bảo vệ trật tự an toàn xã hội, vệ sinh môi trường, an toàn giao thông, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng Đây chính là hình thức thể hiện rõ nét tinh thần tự quản, gắn kết cộng đồng, thể hiện vai trò chủ đạo của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ quê hương.

Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân lao động tích cực, chủ động tham gia các hoạt động tự quản ở cơ sở Chính quyền địa phương thể hiện sự quan tâm, hỗ trợ bằng cách ban hành các quy định cụ thể nhằm điều chỉnh và định hướng hoạt động tự quản của người dân Các quy định này giúp các hoạt động tự quản diễn ra thường xuyên, hiệu quả, đúng pháp luật, đồng thời phát huy quyền làm chủ trực tiếp của người dân tại cơ sở.

Nhân dân lao động trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành chính nhà nước

Kế thừa những quy định từ các bản Hiến pháp trước đây, Khoản 1 Điều

Hiến pháp 2013 khẳng định quyền của công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội, bao gồm quyền thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước Để thực hiện quyền này, pháp luật quy định rõ các quyền và nghĩa vụ của công dân trong nhiều lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước Công dân có thể thực hiện quyền của mình thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc tự mình tham gia trực tiếp, qua đó thúc đẩy sự tham gia tích cực vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

Hình thức quản lý hành chính nhà nước

Phương pháp quản lý hành chính nhà nước

Quy phạm pháp luật hành chính

Quan hệ pháp luật hành chính

Ngày đăng: 17/03/2023, 13:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w