ĐỀ BÀI CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM Nhóm 4 Giảng viên Khúc Thế Anh Thành viên nhóm 1 Mục Lục I Phần mở đầu 3 II Nội dung chính Các dịch vụ tài chính của ngân hàng thương mại[.]
Trang 1ĐỀ BÀI: CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Nhóm 4
Giảng viên:Khúc Thế Anh
Thành viên nhóm:
Trang 2Mục Lục
I.Phần mở đầu 3
II.Nội dung chính:Các dịch vụ tài chính của ngân hàng thương mại 4
A Nhận tiền gửi………4
B Thanh toán 7
C CẤP TÍN DỤNG 10
C.1.Cho vay thương mại ……….11
C.2.Tài trợ cho dự án ……… 13
C.3.Cho vay tiêu dùng……….16
C.4.Tài trợ các hoạt động của Chính phủ………18
C.5 Bảo lãnh……… 22
C.6.Cho thuê tài chính……….24
D Các dịch vụ khác……….26
III.Tổng kết……… 27
IV.Tài liệu tham khảo 28
Trang 3I Phần mở đầu
Để hoàn thành bài tập lớn ngoài sự cố gắng của các thành viên trong nhóm, nhóm chúng em cảm ơn thầy Khúc Thế Anh giảng viên bộ môn Ngân Hàng Thương Mại 1 viện Ngân Hàng-Tài Chính đã hướng dẫn và chỉ bảo chúng
em để nhóm có thể hoàn thành thuận lợi bài tập lớn
Ngân hàng vẫn được ví như huyết mạch của nền kinh tế.Nghiên cứu về ngân hàng và hoạt động của ngân hàng là cần thiết để vận hành và quản lý
hệ thống này có hiệu quả trong tiến trình phát triển nền kinh tế của mỗi quốcgia
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh
tế Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh
tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng,trong đó ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, số lượng các ngân
hàng.Việc nghiên cứu hoạt động của ngân hàng, vai trò của nó trong nền kinh tế,ảnh hưởng của các nhân tố tới sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng là rất cần thiết
Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho xã hội Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các dịch vụ đó một cách có hiệu quả
Trang 4II Nội dung chính:Các dịch vụ tài chính của ngân hàng thương mại
A.Nhận tiền gửi
1 Tiền gửi tiết kiệm của cá nhân và tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức
Tiền gửi tiết kiệm là một phần thu nhập của các cá nhân, người lao động, hộ gia đình chưa sử dụng cho việc tiêu dùng Họ lấy số tiền
rảnh rỗi đó để gửi vào ngân hàng với mục đích tích lũy tiền một cách
an toàn, ngoài ra còn hưởng thêm một phần thu nhập từ phần lãi suất của số tiền đó
Ngân hàng cung cấp dịch vụ giữ tiền có lãi, đem lại một nguồn thu nhập ổn định cho khách hàng Khi gửi tiền tiết kiệm, người đi gửi
tiền sẽ nhận được một quyển sổ tiết kiệm có giá trị như giấy chứng nhận gửi tiền vào ngân hàng Đến một kì hạn nhất định, người gửi tiền rút tiền ra và hưởng phần lãi suất trên sổ tiết kiệm đó
Nguồn tiền gửi đến từ nguồn tiền nhàn rỗi trong cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội là một trong những nguồn huy động vốn truyền thống quan trọng của ngân hàng
Tiền gửi ngân hàng phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm trên tổng dân cư, thunhập bình quân đầu người, nhu cầu tiêu dùng của dân cư, chất lượng dịch vụ của ngân hàng và sự tăng trưởng của nền kinh tế
Có nhiều các phân loại các loại tiền gửi tiết kiệm, trong đó có 2 các phổ biến là dựa vào kỳ hạn và xét theo yếu tố hữu hình Với việc phân
chia theo kỳ hạn thì có hai loại là tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có
kỳ hạn
Trang 52 Những thuận lợi hiện nay và cơ hội phát triển dịch vụ TGTK trong
Ví dụ: Tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng Công thương Việt Nam
(VietinBank) với loại tiền gửi không kỳ hạn là 0,2%, tiền gửi có kỳ hạn với kỳ hạn dưới 1 năm là 0.3 đến 6.8%, và trên 36 tháng là 7% Tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng Việt Nam Thịnh vượng VPBank với loại tiền gửi không kỳ hạn là 1%, từ 1 tháng đến 12 tháng là 5,3-7,1%, trên 36 tháng là 7,2%
(Số liệu lấy trên website www.vietinbank.vn và
http://www.vpbank.com.vn/ )
Lượng tiền gửi tiết kiệm vào ngân hàng phụ thuộc rất nhiều đến uy tín của ngân hàng thương mại Uy tín của ngân hàng thương mại tỉ lệ
với khả năng thanh khoản của ngân hàng, cũng như chất lượng dịch
vụ, chất lượng chăm sóc khách hàng Hiện nay, chúng ta có thể thấy
rõ được chất lượng dịch vụ, cũng như sự quan tâm của các ngân hàng thương mại đối với khách hàng đã cải thiện rõ rệt, các ngân hàng không còn đầu tư hầu hết cho truyền thông để “đánh bóng tên tuổi”
mà đã tập trung vào chất lượng của mình Theo công bố của Công ty Báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report), hầu hết các ngân hàng thương mại của Việt Nam đã đưa mức nợ xấu xuống dưới 3% theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước
Việc phát triển của công nghệ thông tin và khoa học công nghệ cũng
là một trong những thuận lợi cũng như cơ hội cho các ngân hàng thương mại Việt Nam Công nghệ số phát triển, khách hàng khi muốn
gửi tiền tiết kiệm không cần đến trực tiếp các chi nhánh của ngân
Trang 6hàng mà đã có những phương tiện trợ giúp như SMS Banking hay Internet Banking Phải kể đến 1 trong số các ngân hàng thực hiện rất hiệu quả dịch vụ này như Ngân hàng Việt Nam thịnh vượng
(VPBank) Hiện nay ngân hàng đã có rất nhiều phương thức gửi tiền tiết kiệm khác nhau phù hợp với nhu cầu của mỗi nhóm khách hàng, đặc biệt là “Sổ tiết kiệm online” giúp người dùng có thể nhanh chóng
và tiện lợi chọn kỳ hạn gửi tiết kiệm cũng như cách thức tiết kiệm
của người dân Việt Nam còn thấp, với 1 số tiền nhàn rỗi ít ỏi, nếu gửitiết kiệm, tiền lãi nhận được sau mỗi kì cũng không thể bù đắp lạm phát, cũng như không thể giúp người dân hoàn thành được mục tiêu của mình Vì vậy, người dân đang đổ xô nhau cầm tiền đi đầu tư chứng khoán hay đồng tiền ảo Bitcoin với mong muốn nhân lên số tiền của mình
Sự gia nhập ồ ạt của các ngân hàng ngoài quốc doanh cũng là một thách thức lớn cho các ngân hàng thương mại trong nước Cuộc
chiến giành thị phần của các ngân hàng thương mại trong nước và ngoài nước đang diễn ra một cách sôi động, yêu cầu các ngân hàng luôn luôn phải nâng cao chất lượng dịch vụ, phát huy các điểm mạnh sẵn có, đồng thời tìm kiếm những lợi thế kinh doanh mới, khác biệt
và nổi bật, thỏa mãn nhu cầu của phần lớn khách hàng trong thị trường Chúng ta phải kể đến một số tên ngân hàng có 100% vốn nước ngoài và có chi nhánh, trụ sở đặt tại các thành phố lớn ở Việt Nam như ngân hàng Citibank của Mỹ, Ngân hàng TNHH MTV Shinha của Hàn Quốc, ngân hàng TNHH MTV HSBC của Hồng
Trang 7%87t_Nam#Ngân_hàng_100%_vốn_nước_ngoài_và_chi_nhánh,_vă n_phòng_đại_diện_ngân_hàng_nước_ngoài_tại_Việt_Nam )
B.Thanh toán
Khi ngân hàng nhận tiền gửi và cho vay – trung gian tài chính – tất yếu dẫn đến cơ sở của thanh toán hộ Ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị dịch vụ hàng hóa và dịch vụ theo lệnh của khách hàng
1/ Các hình thức thanh toán thông qua ngân hàng thương mại : 5 hình thức
- Hình thức thanh toán thông qua uỷ nhiệm chi - Lệnh chi:
+Để thực hiện dịch vụ thanh toán thông qua lệnh chi, khách hàng phải lập bốn liên ủy nhiệm chi cho ngân hàng thương mại NHTM sẽ hoàn tất trả tiền cho bên thụ hưởng trong vòng một ngày bằng cách trích từ tài khoản của người trả tiền hoặc từ chối thực hiện giao dịch nếu như tài khoản người trae không đủ tiền hay giấy tờ không đúng quy định
- Hình thức thanh toán thông qua uỷ nhiệm thu - Nhờ thu:
+Để có thể thực hiện hình thức thanh toán qua ủy nhiệm thu, bên thụ hưởng phải nộp hóa đơn cung cấp hàng hóa, dịch vụ kèm theo bốn liên ủy nhiệm thu cho NHTM ( có thể là NHTM phục vụ bên thụ hưởng hoặc NHTM phục
vụ bên chi trả ) Sau khi nhận được giấy tờ theo đúng quy định, NHTM phục vụ bên chi trả sẽ hoàn tất trả tiền cho bên thụ hưởng trong vòng một ngày
- Hình thức thanh toán thư tín dụng: Theo yêu cầu của khách hàng, NHTM thực hiện trả cho bên thụ hưởng khoản tiền theo đúng những điều khoản đã thống nhất
- Hình thức thanh toán thẻ Ngân hàng:
+Thẻ tài khoản: Được phát hành dựa trên số dư tiền gửi của chủ thẻ tại ngânhàng Để được sử dụng thẻ, khách hàng phải lưu ký một số tiền nhất định vào tài khoản đảm bảo thanh toán thẻ thông qua việc trích tài khoản tiền gửi
Trang 8hoặc nộp tiền mặt, số tiền ký quỹ là hạn mức của thẻ và được ghi vào bộ nhớ của thẻ Loại thẻ này áp dụng rộng rãi cho mọi khách hàng.
+Thẻ tín dụng: Được phát hành trên cơ sở tín dụng Áp dụng đối với khách hàng đủ điều kiện được Ngân hàng đồng ý cho vay Mức tiền vay được coi như hạn mức tín dụng và được ghi vào bộ nhớ của thẻ, khách hàng chỉ đượcthanh toán số tiền trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được Ngân hàng chấpthuận
- Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng có thể diễn ra giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với tổ chức, cá nhân với ngân hàng và giữa tổ chức với
tổ chức với nhiều hình thức đa dạng như đã được đề cập Các ngân hàng cũng thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán
- Thực hiện chức năng thanh toán mang lại lợi ích lớn cho ngân hàng
Ngoài doanh thu từ phí, ngân hàng còn mở rộng huy động và cho vay.
2.Những thuận lợi và cơ hội phát triển trong tương lai:
* Thuận lợi:
- Hệ thống thanh toán ngày càng được mở rộng ( ATM,POS-các máy chấp nhận thanh toán thẻ, phòng giao dịch, thanh toán qua mạng internet, ), áp dụng công nghệ hiện đại
+theo số liệu thống kê của Vụ thanh toán NHNN, đến cuối quý II/2015, cả nước có 91,23 triệu thẻ ngân hàng, tăng 13,5 % so với cuối năm 2014 Như vậy, với dân số Việt Nam hơn 90 triệu người, mỗi người dân như vậy đã sử dụng hơn 1 thẻ ngân hàng
+Các ngân hàng thương mại không chỉ tích cực mở các hệ thống giao dịch và ATM ở các thành phố lớn mà còn mở rộng hệ thống ở các vùng nông thôn
- Công nghệ thanh toán qua ngân hàng ngày càng đơn giản, hiện đại và mở rộng với nhiều ưu điểm như: chi phí thấp, tính thống nhất và bảo mật cao
- Thu hút lượng khách hàng đông đảo bởi các chính sách và ưu đãi cũng như sự thuậntiện mà dịch vụ mang lại cho đối tượng sử dụng
Trang 9+ Đối với người dùng thẻ thanh toán: Tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại giao dịch, hưởng lãi suất trên số dư chưa sử dụng, kiểm soát được chi tiêu thông qua internet banking,
+Đối với đơn vị chấp nhận thẻ thanh toán: giảm thiểu các chi phí về quản lý tiền mặt như bảo quản, kiểm đếm, giao dịch giữa người mua và người bán diễn ra nhanh chóng, thuận tiện, chính xác
+ Đối với thẻ tín dụng: tính đa dạng về hạn mức là một trong những đặc điểm nổi bật đem lại sự hài lòng cho khách hàng Ngoài ra, ngân hàng cững đặt ra hạn mức cho các giao dịch mà khách hàng thực hiện trong một ngày nhằm hạn chế tổn thất cho khách hàng khi bị mất thẻ hoặc lộ mã pin
- Quá trình hội nhập quốc tế giúp các NHTM Việt Nam có cơ hội tiếp cận với vốn, công nghệ, kinh nghiệm, trình độ quản lý của một số NHTM lớn và có uy tín trên trường quốc tế
* Cơ hội phát triển:
- Nhu cầu thanh toán qua ngân hàng ngày càng gia tăng: khách trong nước, khách nước ngoài, kinh doanh quốc tế, thương mại quốc tế,
- Thương mại điện tử ngày càng phát triển:Internet cùng các dịch vụ toàn cầu khác ngày càng phổ biến trong xã hội hiện nay thanh toán qua ngân hàng đóng vai trò rất lớn trong việc cho phép người mua mua hàng qua internet
- Tiềm lực về tài chính, hệ thống thanh toán của các ngân hàng ngày càng cải thiện: Đến tháng 8/2015, vốn điều lệ của Khối NHTM nhà nước đạt 144.999 tỷ đồng, tăng 0,54% so với 31/12/2014; khối NHTM cổ phần đạt 186.147 tỷ đồng tăng 2,97% so với 31/12/2014
Trang 10+ Thẻ tín dụng: Các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước đưa ra các mức phí thấp thu hút khách hàng hơn so với các ngân hàng thương mại khác + Thẻ ATM: vấn đề phí rút tiền, số dư bắt buộc Các ngân hàng thương mại có thể áp dung các mức phí như phí rút tiền, phí SMS banking, phí chuyển khoản, đối với một thẻ ATM tùy thuộc vào đăng ký của khách hàng khi làm thẻ Về mức phí chuyển khoản và rút tiền trong cùng hệ thống lần lượt
là 3300 đồng và 1100 đồng, khác hê thống lần lượt là 10000 đồng và 3300 đồng Đó
là mức không cao tuy nhiên ngân hàng thương mại lại ra hạn mức số tiền tối đa có thể rút một lần ví dụ như ngân hàng Agribank là 5 000 000 đồng, vì thế khi khách hàng muốn rút một số tiền lớn, khách hàng sẽ phải rút nhiều lần và số phí cũngtăng lên theo cấp số nhân Từ đó đem lại cho ngân hàng một nguồn thu vô cùng lớn
- Tiềm lực tài chính khiêm tốn, chất lượng hệ thống thanh toán chưa cao và chưa hợp
lý, công nghệ ngân hàng còn có khoảng cách tương đối so với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới
Tài kiệu tham khảo:
-Giáo trình Ngân hàng thương mại-Đại học Kinh tế quốc dân
-Luận án tiến sĩ-tác giả Hoàng Tuấn Linh:
http://www.neu.edu.vn/data/CacPhongBan/VienSDH/LA_HoangTuanLinh.pdf
- https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/rm/apph/tcnh/tcnh
C CẤP TÍN DỤNG
C.1 Cho vay thương mại
1.1 Khái lược về Cho vay thương mại
- Cho vay thương mại là các khoản cho vay ngắn hạn, tài trợ cho tài sản lưu động của doanh nghiệp (thường dưới 12 tháng) Ngay ở thời kì đầu các ngân hàng thương mại đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay với người bán
(người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền trước) Sau đó ngân hàng cho vay ra cho các khách hàng để họ có vốn mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh
1.2.Thuận lợi hiện nay và cơ hội phát triển trong tương lai
Trang 11+ Thuận lợi hiện nay : - Ở thời điểm hiện tại số doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam khá nhiều và vẫn là quy mô chủ đạo ở nền kinh tế Việt nên cho vay thương mại với đặc điểm ngắn hạn, lượng cho vay không quá lớn vẫn là dịch vụ chính của các
NHTM, đem lại cho các NHTM số lợi nhuận không nhỏ
Ví dụ: Tỷ lệ cho vay ngắn hạn của 3 NHTM lớn ở Việt Namnăm 2016 (Vietcombank,VietinBank, BIDV) lần lượt ở mức 58,1%; 55,4% và 55,1%
-Hơn nữa, cho vay với thời hạn ngắn nhỏ hơn 12 tháng cũng giúp giảm áp lực thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, giảm tính rủi ro cho hệ thống NHTM
Ví dụ: Theo góc nhìn vĩ mô, nếu tất cả 4 NHTM lớn đều có tỷ trọng cho vay ngắn hạntrên 55% và mức tăng trưởng cho vay đối với các khách hàng thể nhân, DN Nhỏ và vừa tăng mạnh như trường hợp của Vietcombank thì rõ ràng sự “lệch pha” tín dụng ngắn hạn đang mang lại hiệu quả tích cực Bởi một mặt nó cho thấy từ đầu năm đến nay hàng triệu tỷ đồng đã được các NHTM đẩy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh Mặt khác, do một nửa tín dụng chảy vào cho vay ngắn hạn nên rủi ro về thanh khoản trong hệ thống NH được thu hẹp do các Tổ chức Tín dụng sẽ ít còn áp lực dùngvốn ngắn hạn cho vay dài hạn Từ đó, rủi ro về tỷ lệ nợ xấu và khối lượng vốn trích lập dự phòng giảm đi, tạo điều kiện cho mục tiêu giảm lãi suất dài hạn mà NHNN đặt
ra có thể hiện thực hóa
+ Cơ hội trong tương lai : Việt nam đang dần tiến vài thời kì hội nhập lên số lượng khách hàng mà các NHTM của Ta có thể tiếp cận sẽ tăng lên Nếu ta có thể tận dụng
cơ hội này hệ thống NHTM của Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội hợp tác với doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài và ngày càng trở lên uy tín hơn trong mắt bạn bè quốc tế giúp tăng sự cạnh tranh trên bình diện Thế Giới
1.3 Thách thức hiện nay và trong tương lai
+ Hiện nay: -Vì hoạt động Cho vay thương mại chỉ đáp ứng những khoản vay ở mức
độ vừa và nhỏ cùng với thời gian vay ngắn lên việc quản lý và kiểm soát khách hàng, kiểm tra khả năng hoàn trả nợ của người đi vay rất phức tạp và khá khó khăn
-Bên cạnh đó tỷ lệ người muốn vay những khoản lớn với thời gian trung hoặc dài hạn
để đầu tư những dự án lớn ngày càng tăng cũng làm giảm một phần không nhỏ tỷ
Trang 12trọng cho vay thương mại ở các NHTM , tăng tỷ lệ rủi ro và khả năng vỡ nợ của hệ thống ngân hàng.
Ví dụ: Quan sát tại Vietcombank cho thấy, liên tiếp trong các năm từ 2012 đến nay, tỷ
lệ dư nợ cho vay ngắn hạn của Ngân hàng này vẫn luôn duy trì quanh mức từ 64% Kết thúc 6 tháng đầu năm 2016, tỷ lệ cho vay ngắn hạn thậm chí còn giảm khoảng 1% (từ 59% xuống 58,1%) so với cuối 2015 Nếu so về mức độ tăng trưởng thì cho vay ngắn hạn ở Viecombank trong 6 tháng qua tăng chậm hơn nhiều so với cho vay trung dài hạn Bởi trong 6 tháng, mức tăng trưởng cho vay ngắn hạn tại Ngânhàng này chỉ tăng khoảng 7,8% trong khi cho vay trung, dài hạn tăng trưởng ở mức 14,7%
59-Tại VietinBank tình hình cũng diễn ra tương tự Tăng trưởng cho vay trung, dài hạn của Ngân hàng này được ghi nhận ở mức trung bình 11,6%, trong khi đó cho vay ngắn hạn chỉ tăng trưởng ở mức 8,9% Tỷ lệ đóng góp của dư nợ ngắn hạn trong cơ cấu tổng dư nợ của VietinBank theo đó có sự giảm nhẹ từ mức 56% vào cuối năm
2015 xuống 55,4% vào cuối tháng 6/2016
+ Trong tương lai : Khi mà Việt Nam bước vào thời kì hội nhập, sẽ có nhiều NHTM của Thế Giới sẽ mở các chi nhánh ở Việt Nam việc cạnh tranh sẽ trở nên thực sự khốcliệt, các chính sách về lãi suất và khả năng tài chính hùng hậu để cho vay của họ sẽ là thách thức lớn cho các NHTM Việt Nam để giữ lại nguồn khách nội địa
Nguồn https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/rm/apph/tbnh/tbnh_chitiet?leftWidth=20%25&showFooter=false&showHeader=false&dDocName=SBV244109
Trang 13cho vay để đầu tư vào đất, phát triển khu công nghiệp (một vài KCN tiêu biểu
là KCN Tân Bình và KCN Vĩnh Lộc)
- Nhờ đặc điểm cho vay trung dài hạn với lượng vốn lớn nên Ngân hàng
Thương mại chiếm thị phần cao trong cấp tín dụng tài trợ dự án
H1: Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn trong 6 tháng cuối năm
2015 của Ngân hàng Thương Mại
Ngoài Ngân hàng Thương Mại có thể đáp ứng nhu cầu vay vốn trung và dài hạn còn có huy động từ dân cư, một phần bằng vốn ngân sách cấp và vay nước ngoài…Tuy nhiên nhờ các đặc điểm sau đã giúp Ngân hàng Thương Mại đã tạo ra lợi thế để thu hút hoạt động cấp tín dụng tài trợ dự án:
+ Ngân hàng Thương Mại là một hệ thống kinh doanh tiền tệ có kinh nghiệm trong việc lắm bắt thị trường
+ Có kinh nghiệm thẩn định các dự án của các chương trình đầu tư
+ Tư vấn và cung cấp thông tin cần thiết cho nhà đầu tư
+ Giúp đỡ các doanh nghiệp trong quan hệ thanh toán với khách hàng.Nhìn vào hình H1 trong tháng 12 năm 2015 tỷ lệ vay vốn trung và dài hạn của Ngân hàng Thương Mại đã lên đến 33,36% của Ngân hàng Thương Mại cổ phần và 36,9% của Ngân hàng Thương Mại nhà nước
- Đặc điểm của dịch vụ tài trợ dự án của một Ngân hàng Thương mại Việt Nam tiêu biểu
Trang 14VP BANK là một ngân hàng cho vay trung và dài hạn lớn trong hệ thống Ngân hàng Thương Mại Việt Nam Dưới đây là một vài đặc điểm của dịch
vụ cấp tín dụng tài trợ dự án của VP BANK:
+ Phục vụ nhu cầu vay vốn trung dài hạn cho dự án đầu tư mới
+ Lãi suất ngân hàng cạnh tranh.Lãi suất vay theo wuy định của Ngân hàng từng thời kì
+ Miễn phí dịch vụ tư vấn tài chính
+ Tài sản đảm bảo linh động
+ Loại tiền vay: VND hoặc ngoại tệ
+ Thời gian vay: Căn cứ vào thời gian thu hồi vốn của dự án
+ Thời gian giải ngân: Theo tiến độ thực hiện dự án hoặc phương án kinh doanh
*Những thuận lợi hiện nay và cơ hội phát triển trong tương lai
+Các chính sách khuyến khích của Chính phủ và nhu cầu ngày càng tăng của doanh nghiệp
-Chính phủ thực hiện chính sách giảm bao cấp và can thiệp trực tiếp: Các Ngaab hàng được chủ động cung cấp nhiều dịch vụ ngân hàng, quyết định đối tượng cho vay, lãi suất và các điều kiện cho vay, mức phí Các doanh nghiệp được quyền giao dịch với nhiều ngân hàng
- Theo các nhà kinh tế thế giới và trong nước để đạt được mục tiêu trên 450USD/người vào năm 2005 thì nước ta phải huy động từ 20-25 tỷ USD vốn đầu tư trong nước.Như vậy xuất phát từ nhu cầu của các doanh nghiệp thì việc cấp tín dụng qua hệ thống các Ngân hàng Thương Mại là quan trọng và khả thi
+Hiện nay nhu cầu vốn trung và dài hạn cho đầu tư xây dựng các công trình, sản xuất kinh doanh mới là rất lớn
Do doanh nghiệp luôn tìm cách mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ…Đặc biệt đối với nền kinh tế của nước nhà hiện nay thì nhu cầu vốn cho xây dựng cơ bản là rất lớn Trong khi các nhà kinh doanh chưa tích lũy đủ vốn và tâm lý đầu tư trực tiếp của công chúng vào doanh nghiệp ở nước ta còn hạn chế.Nên khi tiến hành đầu tư các doanh nghiệp phải huy động vốn