TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH NHỮNG HẠN CHẾ TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM, NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ VÀ ĐƯA RA HỆ THỐNG CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU NÔNG SẢN[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH NHỮNG HẠN CHẾ TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG
NGHIỆP Ở VIỆT NAM, NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ VÀ ĐƯA RA HỆ THỐNG CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY XUẤT
KHẨU NÔNG SẢN
1 Lê Thị Bình Làm word và tìm nội dung phần
thực trạng
9
2 Hoàng Thị Loan Làm word và tìm nội dung phần
thành tựu
9
3 Trần Thị Mai Hương Tìm nội dung phần hạn chế từ 1-3 9
4 Dương Thị Mai Hương Tìm nội dung phần hạn chế 4,5 9
5 Đỗ Thanh Hiên Thuyết trình và tìm nội dung thực
trạng xuất khẩu ở slide
9
6 Nguyễn Thị Hiền Làm slide và tìm nội dung phần
giải pháp 1,2,3,4
9
7 Nguyễn Đức Mạnh Thuyết trình và tìm nội dung phần
giải pháp 9,10,11,12
9
8 Nguyễn Quang Hưng Làm slide và tìm nội dung phần
giải pháp 5,6,7,8
9
Trang 2Mục Lục
A Lời Mở Đầu 4
B Nội Dung 5
I Thực trạng nền nông nghiệp nước ta hiện nay: 5
II Những thành tựu của nông nghiệp Việt Nam 6
1 Tốc độ tăng trưởng liên tục……… 6
2 Chương trình nông thôn mới được đẩy mạnh ……… 7
3 Hệ thống thủy lợi, đê điều tiếp tục được nâng cấp, đầu tư 7
4 Tái cơ cấu nông nghiệp đã đạt được thành công bước đầu 8
III Những mặt hạn chế trong phát triển nông nghiệp 8
1..Nông nghiệp phát triển kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần 8
2 Chuyển dịch cơ cấu và đổi mới cách thức sản suất còn chậm,phổ biến vẫn là sản suất nhỏ, phân tán 10
3 Năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng, sức mạnh cạnh tranh của nhiều loại nông sản thấp 10
4. Công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm, thiếu quy hoạch, quy mô nhỏ, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn 12
5. .Các hình thức tổ chức sản xuất đổi mới chậm chưa đủ sức phát triển sản xuất hàng hóa ở nông thôn 13
IV Hệ thống các giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu nông sản 15
1 Giải pháp đổi mới công nghệ 15
2 Giải pháp về thị trường 15
3 Giải pháp về lưu thông phân phối 15
4 Giải pháp về quản lý chất lượng và xây dựng thương hiệu 16
5 Giải pháp về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững 16
6 Giải pháp về vốn và huy động vốn 16
7 Giải pháp về cơ chế chính sách 16
Trang 38 Giải pháp về dịch vụ hỗ trợ sản xuất 17
9 Giải pháp về tổ chức lại sản xuất 17
10 Giải pháp về huấn luyện, đào tạo 17
11 Giải pháp về khuyến nông 18
12 Giải pháp phát triển nông thôn 18
Trang 4A Lời Mở Đầu
Sinh ra trong nước Việt Nam, không ai trong chúng ta lại không biết rằng nền kinh tế nước ta xuất phát từ nông nghiệp, đi lên từ nông nghiệp và cũng
từ nông nghiệp mà trưởng thành Và có một điều chắc chắn rằng dù đất nước Việt Nam có phát triển đến đâu đi chăng nữa, cơ cấu nghành nghề có chuyển dịch theo hướng nào đi chăng nữa thì nền kinh tế Việt Nam cũng không thể tách rời khỏi Nông nghiệp Nông nghiệp luôn là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia, kể cả những nước đã đạt đến trình độ phát triển cao
Nó là khu vực sản xuất chủ yếu, đảm bảo việc làm và đời sống cho xã hội,
là thị trường rộng lớn cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm cho nền kinh tế Hiện nay Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp lâu đời và vẫn
là nước nông nghiệp Do đó, bên cạnh mục tiêu đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ để hiện đại hoá đất nước, chúng ta vẫn không thể quên tầm quan trọng của việc phát triển nông nghiệp, vì đó là một trong những chìa khoá để phát triển kinh tế, ổn định xã hội và nâng cao đời sống nhân dân Dù có nhiều thành tựu đáng kể nhưng vẫn còn những mặt hạn chế Vì vậy chúng ta cần tìm hiểu nguyên nhân và từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp để đưa nền nông nghiệp phát triển mạnh mẽ hơn
Trang 5B Nội Dung
I Thực trạng nền nông nghiệp nước ta hiện nay:
Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam.Hiện nay, nông nghi ệp Việt Nam vẫn đang ở trong tình trạng lạc hậu, nghèo nàn, manh mún, thô sơ Năm 2016, tốc độ tăng GDP toàn ngành đạt khoảng 1,2% thấp hơn mức tăng 2,41% năm trước Giá trị sản xuất của toàn ngành nông nghiệp tăng 1,44%
Năm 2009, giá trị sản lượng của nông nghiệp đạt 71,473 nghìn tỷ đồng (giá so sánh với năm 1994), tăng 1,32% so với năm 2008 và chiếm 13,85% tổng sản phẩm trong nước.Tỷ trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế bị sụt giảm trong những năm gần đây, trong khi các lĩnh vực kinh tế khác gia tăng.Đóng góp của nông nghiệp vào tạo việc làm còn lớn hơn cả đóng góp của ngành này vào GDP Trong năm 2005, có khoảng 60% lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, và thuỷ sản Sản lượng nông nghiệp xuất khẩu chiếm khoảng 30% trong năm 2005 Việc tự do hóa sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo, đã giúp Việt Nam là nước thứ Nhất trên thế giới về xuất khẩu gạo(2013) Những nông sản quan trọng khác là cà phê, sợi bông, đậu phộng, cao su, đường, và trà.Chủ yếu là xuất khẩu thô chưa qua sơ chế
Trang 6II Những thành tựu của nông nghiệp Việt Nam
Nông nghiệp Việt Nam được ghi nhận có sự tiến bộ vượt bậc Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu hàng đầu các mặt hàng nông sản, lương thực và nằm trong nhóm 5 nước xuất khẩu lớn nhất Những thành tựu cơ bản nhất của ngành nông nghiệp Việt Nam, đó là:
1 Tốc độ tăng trưởng liên tục.
Trong 30 năm đổi mới (1986 - 2016), nông nghiệp Việt Nam đạt được mức tăng trưởng nhanh và ổn định trong một thời gian dài, cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực Giá trị sản xuất nông nghiệp của Việt Nam tăng trưởng trung bình với tốc độ 4,06%/ năm giai đoạn (1986 -2015) Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, mặc dù kinh tế vĩ mô gặp nhiều khó khăn nhưng nông nghiệp, nông thôn vẫn là ngành giữ được tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định, bảo đảm cân bằng cho nền kinh tế Việt Nam đã
có 10 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, bao gồm: gạo, cà phê, cao su, điều, tiêu, sắn, rau quả, tôm, cá tra, lâm sản Trong khi các ngành kinh tế khác còn đang chịu ảnh hưởng lớn của suy thoái kinh tế, ngành nông nghiệp đã vượt qua nhiều khó khăn, đạt kết quả khá toàn diện, tăng trưởng ngành đạt tốc độ khá cao Năm 2014, ngành nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng 3,3% so với 2,6% (2012 - 2013), đánh dấu sự hồi phục và tăng trưởng cao
Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 3,13%, vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra (2,6 - 3%) Chất lượng tăng trưởng tiếp tục được cải thiện, tỷ trọng giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản xuất ngành đã tăng từ 57% (2010) lên 64,7% (2013); 67,8% (2014) và khoảng 68% (2015); năng suất lao động xã hội ngành nông, lâm, thủy sản tăng gần gấp đôi từ 16,3 triệu đồng năm 2010 lên khoảng 31 triệu đồng năm 2015 Giá trị sản phẩm thu được trên 1ha đất trồng trọt đã tăng từ 54,6 triệu đồng/ha năm 2010 lên 79,3 triệu đồng/ha năm 2014 khoảng 82 - 83 triệu đồng/ha năm 2015; cứ mỗi ha mặt nước nuôi trồng thủy sản tăng từ 103,8 triệu đồng/ha (2013) lên 177,4 triệu đồng/ha (2014) và khoảng 183 triệu đồng/ha (2015) Thu nhập của người dân nông thôn năm 2015 tăng
Trang 7khoảng 2 lần so với năm 2010 (đạt mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng
XI đề ra) Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt tới 30,8
tỷ USD, mức kỷ lục cao nhất từ trước đến nay Mặc dù, năng suất lao động thấp, năng lực cạnh tranh không cao, nhưng nông nghiệp là ngành duy nhất
có xuất siêu, giúp Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới về nhiều loại nông sản đa dạng như: gạo, cà phê, hạt tiêu, cao su, các mặt hàng gỗ và thủy sản
2 Chương trình xây dựng nông thôn mới được đẩy mạnh.
Xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào rộng khắp trong cả nước, nhờ đó nhiều vùng nông thôn đã đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của người dân đã tăng Năm 2015 đã có khoảng 1.500 xã và 9 huyện đạt chuẩn nông thôn mới Chính sách phát triển nông nghiệp đã làm thay đổi rõ rệt nhiều vùng nông thôn, góp phần tích cực xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và đời sống dân cư nông thôn Việt Nam là một trong những quốc gia
có tỷ lệ xóa đói, giảm nghèo với tốc độ khá nhanh trên thế giới Trung bình mỗi năm khoảng 2% dân số thoát khỏi đói nghèo Tính đến tháng 12-2015
có gần 15% xã và 11 huyện được công nhận nông thôn mới Mục tiêu đến năm 2020 có 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới
3 Hệ thống thủy lợi, đê điều tiếp tục được nâng cấp, đầu tư.
Hệ thống thủy lợi, đê điều được phát triển theo hướng đa mục tiêu và tăng cường năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu; kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp tiếp tục được nâng cấp và hiện đại hóa; công tác quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm đã được quan tâm chỉ đạo; hoạt động hợp tác quốc tế được tăng cường; tham gia tích cực đàm phán và tổ chức thực hiện các Hiệp định thương mại và tháo gỡ rào cản, phát triển thị trường Với hơn 2,7 tỷ USD nguồn vốn ODA đầu tư cho phát triển nông nghiệp, mức kỷ lục trong giai đoạn 2010 - 2015, nhiều công trình thủy lợi, giao thông nông thôn… được xây dựng, nâng cấp, sửa chữa
Hệ thống giao thông trong nông thôn từng bước được xây dựng đồng bộ, hình thành kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ cho việc xây dựng nền nông nghiệp bền vững, như hệ thống đường giao thông, hệ thống thủy lợi,
hệ thống điện, hệ thống thông tin, hệ thống cơ sở giáo dục và y tế…
Trang 84 Tái cơ cấu nông nghiệp đã đạt được thành công bước đầu
Chương trình tái cơ cấu nông ngiệp được triển khai trên cơ sở phát huy lợi thế của cả nước và mỗi địa phương gắn với thị trường trong nước và xuất khẩu Giữ ổn định 3,8 triệu ha đất trồng lúa nhằm hỗ trợ và nâng cao đời sống người trồng lúa Sau 3 năm thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng khá Ngành trồng trọt giá trị tăng 3% (2013) và 3,2% (2014) Năng suất, chất lượng và giá cả nhiều loại sản phẩm đã được nâng cao Thu nhập bình quân/ha đất trồng trọt đạt 78,7 triệu đồng (2014) và 82,5 triệu đồng (2015) Ngành chăn nuôi đã chuyển từ hình thức nhỏ, lẻ, phân tán sang hình thức trang trại, gia trại Tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi trong tổng giá trị nông nghiệp tăng Giá các sản phẩm chăn nuôi ổn định, bảo đảm thu nhập cho người chăn nuôi Ngành thủy sản
đã chuyển dịch cơ cấu giữa khai thác với nuôi trồng Năm 2015, tổng sản lượng thủy sản đạt 6,55 triệu tấn (tăng 3,4%)
III Những mặt hạn chế trong phát triển nông nghiệp.
1 Nông nghiệp phát triển kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần
-Nông nghiệp Việt Nam phát triển kém bền vững:
Những năm gần đây, ngành nông nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ.Tuy nhiên, việc phát triển vượt bậc từ trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm, làm thủy lợi đến nuôi trồng thủy sản, phát triển các làng nghề… làm môi trường nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng.Nước thải chăn nuôi là vấn đề đáng lo ngại đối với môi trường trước mắt Hàng năm, ngành chăn nuôi thải ra khoảng 73 triệu tấn chất thải, trong đó chỉ có 30 - 60% chất thải được xử lý, lượng còn lại xả thẳng ra môi trường Nước ta có 16.700 trang trại chăn nuôi, với 80% được xây dựng trong khu dân cư, trong đó chỉ có khoảng 1.700 cơ sở có hệ thống XLCT, phần lớn đều không
có nhà XLCT chăn nuôi theo tiêu chuẩn Do vậy, chất thải chăn nuôi là một trong những tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước đáng kể
Vấn đề tương tự cũng xảy ra tại các làng nghề, do quy trình sản xuất thủ công, nhỏ lẻ, phần lớn không có các hệ thống XLNT làm cho môi trường
Trang 9nước xung quanh suy giảm nghiêm trọng, ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng
*Nguyên nhân: Tình trạng người dân sử dụng tràn lan thuốc bảo vệ thực
vật (BVTV) và phân bón, phát triển ồ ạt đàn gia súc gia cầm với hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thả rông, không kiểm soát được, cùng với sự phát triển của các làng nghề không theo quy hoạch, chất thải kim loại nặng thải ra ao,
hồ, kênh, mương như hiện nay đang ở mức báo động
-Tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần:
+Giai đoạn 2011 – 2016, so với các nước trong khu vực, ngành Nông nghiệp Việt Nam có tốc độ tăng trưởng thất thường và có xu hướng giảm
đi, từ mức 3.35% năm 2011 còn 1,36% năm 2016, đây cũng là mức thấp nhất từ trước đến nay Điểm % đóng góp vào tăng trưởng nền kinh tế và điểm % đóng góp vào tăng trưởng nền kinh tế của ngành Nông nghiệp đã giảm nhanh trong thời gian gần đây Đến năm 2016, điểm % đóng góp vào nền kinh tế chỉ còn 0,22, giảm hơn 50% so với năm 2015 và hơn 3 lần so với năm 2011; % đóng góp vào tăng trưởng nền kinh tế ở mức 3,5% trong năm 2016, giảm 60% so với năm 2015 và giảm hơn 4 lần so với năm 2011 Đây là mức thấp kỷ lục trong vòng 30 năm qua Sự suy giảm tốc độ tăng trưởng của ngành Nông nghiệp đã làm giảm tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế, năm 2016, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế chỉ đạt 6,21% (không đạt mục tiêu kế hoạch đề ra là 6,7%)
Trang 10*Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do các nguồn lực chính của công
nghiệp bị suy giảm bao gồm đất đai, lao động và đầu tư trong khi khoa học
và công nghệ chậm phát huy được tác dụng cao làm tăng năng suất lao động, thiên tai dịch bệnh xảy ra nhiều và gây ảnh hưởng tới sản xuất
2 Chuyển dịch cơ cấu và đổi mới cách thức sản suất còn chậm,phổ biến vẫn là sản suất nhỏ, phân tán.
+Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch chậm,trong nông nghiệp,ngành trồng trọt vẫn chiếm tỉ trọng lớn (chiếm trên 57% giá trị sản lượng); tỷ trọng của lâm nghiệp còn rất thấp, kể các vùng trung du, miền núi; chăn nuôi, thủy sản phát triển kém ổn định, chăn nuôi vẫn chỉ chiếm tỉ trọng trên dưới 20% mà không vững chắc.Gía trị thu được trên đơn vị diện tích canh tác bình quân mới đạt 29,2tr đồng/ha, trong đó thấp nhất là vùng Tây Bắc chỉ đạt được 10,9tr đồng/ha
+Cách thức sản xuất trong nhiều lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp chậm được đổi mới theo hướng hiện đại, phổ biến tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán, nổi bật nhất là trong sản xuất rau, quả, chăn nuôi, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Việc xây dựng các vùng nguyên liệu lớn, tập trung cho chế biến công nghiệp tiến hành chậm Mô hình chăn nuôi công nghiệp phát triển chưa mạnh.Do cách thức sản xuất lạc hậu, hệ thống phòng chống còn yếu,giao lưu kinh tế gia tăng nên trong những năm gần đây dịch bệnh xảy
ra liên tiếp,các dịch bệnh này đã đe dọa nghiệm trọng sự phát triển của ngành chăn nuôi.Dịch cúm gia cầm đã gây hại cho nền kinh tế 0,5% GDP; năm 2006, dịch rầy nâu và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá làm mất đi 1 triệu tấn lúa ở ĐBSCL
* Nguyên nhân của tình trạng này có thể dẫn ra ba điểm sau: Thứ nhất, do
tính chủ quan,niềm vui lớn nhất và hữu hình của người nông dân, đó là họ được làm chủ thực sự trên mảnh đất của mình Có thể tự định đoạt mọi việc canh tác, gieo trồng, phát triển chăn nuôi theo khả năng, kinh nghiệm, nguồn lực tài chính của họ.Thứ hai, nông dân được tự do giao thương, tự
do tìm đến nguồn nguyên vật liệu để lựa chọn cho mình những tư liệu sản xuất rẻ nhất, chất lượng cao nhất nhằm hạ giá thành sản xuất.Thứ ba, do nền sản xuất nông nghiệp của nước ta còn mang nặng tính làng xã,manh mún,chịu ảnh hưởng lớn của các phương thức canh tác lạc hậu trước kia
3 Năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng, sức mạnh cạnh tranh của nhiều loại nông sản thấp.
Trang 11-Về năng suất:
So với các nước trong khu vực và trên thế giới thì năng xuất lao động nông nghiệp của nước ta còn thấp,chưa bằng ½ của Thái Lan,Indonexia và Philippin.Ở miền Bắc 85% giống lúa có nguồn gốc từ Trung Quốc.Nhiều loại cây ăn quả của nước ta thua kém về chất lượng so với thái lan….Phần lớn nông sản xuất khẩu dạng sơ chế,sản phẩm có giá trị gia tăng rất thấp,chưa có thương hiệu
-Giá trị gia tăng,sức cạnh tranh của nhiều loại nông sản còn thấp:
+Chỉ số cạnh tranh của các ngành hàng nông lâm,thủy sản chỉ ở mức trung bình hoặc dưới trung bình của thế giới( hồ tiêu 68,7 ; cao su58,5 ; điều 51,9
; lâm sản 44,6 ; chăn nuôi 40…)
Giá thành một số loại sản phẩm sản xuất trong nước còn cao hơn cả giá bán trên thị trường quốc tế, như đường mía cao gấp hơn 2 lần, thịt lợn cao hơn 40%
+Công nghiệp chế biến kém phát triển, chúng ta mới chỉ có 60% sản lượng chè, 30% sản lượng mía, 5% sản lượng rau quả, 1% sản lượng thịt hơi, xấp
xỉ 30% sản phẩm thuỷ sản… được chế biến công nghiệp
Cho đến nay, thu nhập từ công nghiệp và dịch vụ trong khu vực nông thôn mới chỉ chiếm khoảng 25% GDP ở nông thôn, thấp xa so với nhiều nước trong khu vực (ở Trung Quốc, thu nhập phi nông nghiệp chiếm 35% thu nhập của hộ nông thôn; Hàn Quốc năm 1995 đã đạt 50% )
+Ngoài ra,vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được kiểm tra,kiểm soát một cách có hệ thống,nạn bơm trích tạp chất vào nguyên liệu thủy sản chưa được ngăn chặn hiệu quả, việc thực hiện các biện pháp để đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm ở nhiều địa phương chưa tốt,đang gây bức xúc cho người tiêu dung và là thách thức lớn trong quá trình hội nhập quốc tế
* Nguyên nhân :Sản xuất nông nghiệp nước ta chủ yếu dựa vào hơn 10
triệu hộ tiểu nông đảm nhận trên 8 triệu ha đất nông nghiệp nhưng lại bị chia nhỏ thành gần 80 triệu mảnh ruộng nhỏ, nghĩa là bình quân mỗi hộ canh tác từ 5 - 10 mảnh rải rác trên các vùng đất, hạng đất khác nhau, thậm chí cá biệt có hộ có tới 30 mảnh
Kết cấu hạ tầng nông thôn còn lạc hậu Hiện còn 606 xã chưa có đường ô
tô đến trung tâm, 30% đường huyện, 50% đường xã không đi lại được trong mùa mưa Hệ thống thuỷ lợi chỉ mới bảo đảm tưới được 80% đất trồng lúa, một tỷ lệ nhỏ hoa màu và cây công nghiệp.Hệ thống điện nông thôn mới bảo đảm được cho 70% số xã, nhưng chất lượng và hiệu quả dịch