1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Lv ths lsđ đảng bộ huyện văn bàn, tỉnh lào cai lãnh đạo sự nghiệp giáo dục từ năm 2000 đến năm 2010

129 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lãnh đạo Sự Nghiệp Giáo Dục Từ Năm 2000 Đến Năm 2010 Tại Đảng Bộ Huyện Văn Bàn, Tỉnh Lào Cai
Trường học Trường Đại học Lào Cai
Chuyên ngành Giáo dục và Đào tạo
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Lào Cai
Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 125,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

106 MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Trong thời đại ngày nay, thời đại "kinh tế trí thức", thời đại "văn minh trí tuệ", thời đại "toàn cầu hóa" và sự bùng nổ "tin học" đặc biệt là sự phát triển của[.]

Trang 1

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời đại ngày nay, thời đại "kinh tế trí thức", thời đại "văn minh trítuệ", thời đại "toàn cầu hóa" và sự bùng nổ "tin học" đặc biệt là sự phát triểncủa khoa học công nghệ cao cho thấy GD & ĐT là một trong những động lựcchính thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội, là nguồn lực quan trọng quyếtđịnh vị thế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế Chính vì vậy, các quốc gia đềurất coi trọng sự phát triển của GD & ĐT

Chủ tịch Hồ Chí Minh được loài người tiến bộ suy tôn là một nhà văn hoálớn bởi những thành tựu xuất sắc của Người trong lĩnh vực hoạt động và sáng tạovăn hoá và giáo dục Với quan niệm “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, Chủtịch Hồ Chí Minh cho rằng sự dốt nát cũng là kẻ địch phải chống Người chủtrương phải phát triển nền giáo dục thì mới xây dựng được chủ nghĩa xã hội, mớitiến kịp được sự phát triển chung của nhân loại Là nhà giáo dục vĩ đại, với tinhthần “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồngngười”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng việc “Bồi dưỡng thế hệ cách mạngcho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” Với mục tiêu của chiếnlược “trồng người” là “dạy dỗ con em của nhân dân thành người công dân tốt,người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà”, theoNgười, phải xây dựng một nền giáo dục toàn diện để đào tạo những con người cóđức, có tài

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quantâm chăm lo đến công tác giáo dục và đào tạo, coi giáo dục và đào tạo tạo là mộttrong những nhiệm vụ chính trị, một mặt trận đấu tranh của cách mạng Bởi vậy,

dù phải trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử, phải vật lộn với muôn vànkhó khăn thử thách, nền giáo dục và đào tạo của Việt Nam vẫn luôn phát triển và

Trang 2

đạt những thành tựu rất đáng tự hào, góp phần to lớn vào công cuộc đấu tranhgiải phóng dân tộc, xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa

Gần 30 năm đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh, nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH phấn đấu đếnnăm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp, hội nhập với cộngđồng quốc tế; giáo dục và đào tạo được xác định là khâu đột phá, là chìa khóa để

mở cánh cửa tiến vào tương lai

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) xác định: “Pháttriển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực conngười- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bềnvững” [19, tr.108-109] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006)nhấn mạnh: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sáchhàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [22,tr.94-95] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011) tiếp tục khẳngđịnh: “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ

là quốc sách hàng đầu”[23, tr.77]

Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới thuộc vùng trung du và miền núiphía Bắc của Việt Nam, là một vùng đất có lịch sử lâu đời và giàu tiềm năngphát triển, Lào Cai có truyền thống yêu nước và cách mạng, truyền thống đoànkết, lao động cần cù Lào Cai gồm có 8 huyện, 1 thành phố Trong những nămqua mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn nhưng giáo dục - đào tạo của Lào Cai đã

có những bước phát triển vượt bậc, đạt được những thành tích nổi bật góp phầnquan trọng vào sự nghiệp giáo dục - đào tạo của cả nước

Văn Bàn, là một trong những huyện khó khăn của tỉnh Lào Cai, có 19/23

xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn, dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, công tác giáodục – đào tạo có sự phát triển mạnh về quy mô trường, lớp, chất lượng giáo dục

Trang 3

ngày càng nâng cao Công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng phát triển Tuynhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, sự nghiệp giáo dục của huyện VănBàn vẫn còn bộc lộ một số khó khăn, hạn chế nhất định Hơn lúc nào hết, việcnhận thức đúng và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối giáo dục và đào tạo củaĐảng, vận dụng phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương, đã và đang là vấn

đề quan tâm đặc biệt của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân hyện Văn Bàn.Đồng thời, việc nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Văn Bàn lãnh đạo sựnghiệp giáo dục từ năm 2000 đến năm 2010 không chỉ nhằm mục đích tổng kết,đánh giá, khẳng định vai trò của Đảng bộ trong công tác lãnh đạo sự nghiệp GD

và lãnh đạo phát triển kinh tế xã hội nói chung mà còn nhằm đánh giá kháchquan những thành tựu cũng như những hạn chế từ đó rút ra kinh nghiệm có ýnghĩa lý luận và thực tiễn, góp phần tích cực đưa sự nghiệp GD huyện Văn Bànngày một phát triển mạnh mẽ hơn

Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Đảng bộ huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai lãnh đạo sự nghiệp giáo dục từ năm 2000 đến năm 2010” làm đề tài

luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Giáo dục là một lĩnh vực ảnh hưởng lớn đến sự phát triển toàn diện củađất nước nên luôn được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội quan tâm Cho đến nay,Đảng đã có nhiều Nghị quyết, chuyên đề về giáo dục, các vị lãnh đạo Đảng, Nhànước dành sự quan tâm đặc biệt đến GD&ĐT thông qua các bài nói, bài viết trêncác phương tiện thông tin Các tổ chức quốc tế, tổ chức trong nước, các cấp,ngành, các nhà khoa học Việt Nam cũng dành nhiều đầu tư, tâm huyết nghiêncứu về các góc độ khác nhau trong sự nghiệp giáo dục chung của đất nước và sựphát triển của GD&ĐT ở các địa phương Đáng chú ý là các công trình, bài viếtsau:

Trang 4

Nhóm các tổ chức quốc tế và các nhà nghiên cứu nước ngoài nghiên cứu về giáo dục và đào tạo Việt Nam, bao gồm: Tổ chức văn hóa- Khoa học-

Giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) có dự án: “Nghiên cứu tổng thể về giáo dục- đào tạo Phân tích nguồn lực VIE 89/022” và dự án “Báo cáo đánh giá tình hình giáo dục- đào tạo Việt Nam hiện nay”, được tiến hành trong 2 năm

1991-1992 Ngân hàng thế giới (WB) cùng với Bộ Giáo dục và đào tạo Việt

Nam tổ chức hội thảo với chủ đề “Lựa chọn chính sách cải cách giáo dục đào tạo” tại Hà Nội (8/1993)… Những công trình này chủ yếu nghiên cứu về sự tác

động của các nguồn lực, các chính sách lớn đến giáo dục và đào tạo Việt Nam

Nhóm các tác phẩm và bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tiêu biểu như: Hồ Chí Minh, “Bàn về công tác giáo dục”, Nxb Sự thật, Hà

Nội, 1975; Trường Chinh, “Kháng chiến về mặt văn hóa”, Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.54-60; Phạm Văn Đồng, “Về vấn đề giáo dục- đào tạo”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Đỗ Mười, “Phát triển mạnh mẽ giáo dục- đào tạo phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996; Võ Nguyên Giáp, “Mấy vấn đề về khoa học và giáo dục”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1986; Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, “Về đường lối giáo dục xã hội chủ nghĩa”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979…

Những công trình nghiên cứu trên cho thấy vai trò vô cùng quan trọng vàcần thiết của việc đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục và đào tạo; đồng thời đưa ranhững quan điểm, tư tưởng cơ bản có tính chất định hướng phát triển giáo dục vàđào tạo, phục vụ cho công cuộc giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốcViệt Nam xã hội chủ nghĩa Nội dung cơ bản của các công trình khoa học trên là

cơ sở phương pháp luận định hướng nghiên cứu, giúp tác giả thực hiện luận văn

Nhóm những công trình, bài viết khoa học của tập thể và cá nhân đã công bố có liên quan, tiêu biểu như: Bộ Giáo dục và đào tạo, “Giáo dục cho mọi

Trang 5

người Việt Nam- Các thách thức hiện nay và tương lai”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1994; Phạm Minh Hạc, “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Đinh Văn Ân - Hoàng Thu Hòa, “Giáo dục và đào tạo chìa khóa của sự phát triển”, Nxb Tài chính, Hà Nội, 2008; Phan Ngọc Liên, “Đảng Cộng sản Việt Nam với sự nghiệp giáo dục và đào tạo”, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2010; Phạm Tất Dong, “Giáo dục Việt Nam 1945- 2010”, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010; Đặng Bá Lãm, “Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI: Chiến lược phát triển”, Nxb Giáo dục, Hà

Nội, 2003…

Ngoài ra, còn có rất nhiều các bài viết đã đăng tải trên các tạp chí như:Ngô văn Hiển, “Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục- đào tạo

thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước”, Tạp chí Giáo dục, số 112 năm

2005, tr.8-10; Phạm Thị Kim Anh, “Những thay đổi của giáo dục- đào tạo Việt

Nam từ sau công cuộc đổi mới (1986) đến nay”, Tạp chí Dạy và Học ngày nay,

số 7 năm 2008, tr.58-62; Nguyễn Hữu Chí, “Những quan điểm cơ bản của Đảng

về giáo dục- đào tạo qua các chặng đường lịch sử”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 10

năm 2010, tr.20-24; Dương Văn Khoa, “Phát triển mạnh mẽ giáo dục- đào tạotheo hướng hiện đại, thiết thực, nhanh chóng nâng cao dân trí, tạo nguồn nhân

lực dồi dào và đội ngũ nhân tài cho đất nước”, Tạp chí Dạy và Học ngày nay,

số 8 năm 2005, tr.4-7; Vũ Ngọc Hải, “Đổi mới giáo dục và đào tạo nước ta trong

những năm đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí Phát triển giáo dục, số 4 năm 2003, tr.3-4;

Vũ Thiện Vương, “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu

công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 47 năm

2001, tr.36-39…

Đây là những công trình khoa học tiêu biểu, phản ánh nhiều mặt thựctrạng nền giáo dục nước nhà; luận giải những quan điểm cơ bản của Đảng vềgiáo dục và đào tạo từ năm 1945 đến nay; đề ra những phương hướng giải pháp

Trang 6

tích cực nhằm phát triển nền giáo dục xã hội chủ nghĩa… Tuy nhiên, các côngtrình này chỉ dừng lại ở những vấn đề lớn, phạm vi rộng của giáo dục và đào tạoViệt Nam, chưa đi sâu vào từng địa phương cụ thể Song, đây là cơ sở và lànguồn tư liệu quý giúp tác giả định hướng nội dung trong quá trình nghiên cứu

đề tài

Nhóm những luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử Đảng về đề tài giáo dục

và đào tạo như:

Một số luận văn đã bảo vệ tại Học viện Chính trị- Hành chính Quốc gia

Hồ Chí Minh gồm có: Hà Văn Định (2000), “Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo sự nghiệp giáo dục- đào tạo 1986-1999”; Lê Văn Nê (2002),

“Đảng bộ tỉnh Bến Tre lãnh đạo sự nghiệp phát triển giáo dục- đào tạo trong thời kỳ đổi mới 1986-2000”; Chu Bích Thảo (2005), “Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lãnh đạo thực hiện chiến lược phát triển giáo dục- đào tạo 1991-2001”; Lê Tiến Dũng (2005), “Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo phát triển giáo dục- đào tạo

từ 1991 đến 2001”…

Một số luận văn đã bảo vệ tại Học viện Chính trị gồm có: Nguyễn Viết

Cường (2006), “Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo từ 1989 đến 2005”; Trần Đình Cường (2007), “Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo từ năm 1996 đến năm 2006”.

Luận văn đã bảo vệ tại Học viện Chính trị- Hành chính khu vực 1 có:

Nguyễn Tuấn Anh (2011), “Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo từ năm 1997 đến năm 2005”.

Những công trình trên đi sâu vào nghiên cứu công tác giáo dục và đào tạo

ở các địa phương khác nhau trong cả nước, nhưng đều có đặc điểm chung là đãquán triệt và vận dụng một cách sáng tạo quan điểm, chủ trương của Đảng về

Trang 7

giáo dục và đào tạo vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể địa phương để nâng cao chấtlượng giáo dục và đào tạo trên địa bàn

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

- Đánh giá những thành tựu, hạn chế của sự nghiệp giáo dục huyện VănBàn

- Rút ra một số những kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ huyện Văn Bàn,góp phần đẩy mạnh công tác phát triển hệ thống giáo dục của huyện và của tỉnhLào Cai trong thời gian tới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Luận văn nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ huyện Văn Bàntrong sự nghiệp giáo dục từ năm 2000 đến năm 2010

- Thực tiễn quá trình lãnh đạo công tác giáo dục của Đảng bộ huyện VănBàn

- Những kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn trên

Trang 8

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Nghiên cứu làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo toàn diện củaĐảng bộ Huyện Văn Bàn đối với sự nghiệp giáo dục của huyện

Về thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2010

Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước vềgiáo dục và đào tạo

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học Lịch sửĐảng (phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic) Ngoài ra còn sử dụng một sốphương pháp khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp, nêu vấn đề, thống kê,

so sánh, đánh giá

5.3 Nguồn tư liệu

- Các tác phẩm của Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo

- Các văn kiện của Đảng về giáo dục và đào tạo

- Các văn kiện, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng bộ huyện Văn Bàn về giáodục và đào tạo

- Các báo cáo, văn bản chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện Văn Bàn vềgiáo dục đào tạo

- Cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Bàn (tập 1, 2,3)

- Cuốn Lịch sử truyền thống ngành Giáo dục huyện Văn Bàn (tập 1)

Trang 9

- Các báo cáo của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Văn Bàn.

- Các tài liệu, sách báo, Tạp chí được đăng tải trên các phương tiện thôngtin đại chúng trong nước

- Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục và đào tạo đã được công

bố của tập thể và cá nhân các nhà khoa học

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Hệ thống hóa nguồn tư liệu về giáo dục và đào tạo thời kỳ đổi mới

- Góp phần làm rõ nội dung, phương thức và quá trình lãnh đạo của Đảng

bộ huyện Văn Bàn đối với sự phát triển giáo dục và đào tạo

- Những kinh nghiệm bước đầu có thể tham khảo để hoạch định chủtrương đường lối đề ra các biện pháp lãnh đạo phát triển giáo dục đào tạo trongthời gian tới trên địa bàn huyện

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7.1 Ý nghĩa lý luận

- Luận văn góp phần nghiên cứu, tổng kết quá trình Đảng bộ huyện VănBàn lãnh đạo sự nghiệp giáo dục từ năm 2000 đến năm 2010 Qua đó khẳng địnhvai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện Văn Bàn đối với công tác giáo dục

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Luận văn rút ra một số kinh nghiệm bước đầu có giá trị phục vụ trongcông tác lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối giáo dục của Đảng bộ huyện VănBàn trong thời gian tới

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảngdạy lịch sử Đảng bộ ở địa phương huyện Văn Bàn

8 Kết cấu luận văn

Trang 10

- Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo phần nộidung được chia thành 3 chương.

Chương 1: Công tác lãnh đạo sự nghiệp giáo dục của Đảng bộ huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai từ năm 2000 đến năm 2005

Chương 2: Đảng bộ huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai lãnh đạo phát triển giáo dục từ năm 2005 đến năm 2010

Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm

Trang 11

Chương 1 CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI

1.1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Văn Bàn là một địa danh hành chính của Tổ quốc Việt Nam có từ xa xưa

và được phân giới địa chính qua các giai đoạn lịch sử Ngày 11/4/1900 tỉnh YênBái được thành lập, Văn Bàn trở thành một châu thuộc tỉnh Yên Bái Từ5/4/1906 xã Phú Nhuận, tổng Xuân Giao được tách sang huyện Bảo Thắng thànhlập tỉnh Lào Cai Với âm mưu chia tách, gây mâu thuẫn giữa các dân tộc để dễ

bề cai trị, thực dân Pháp đã chia nhỏ các xã theo khu vực cư trú của từng dân tộc

và đặt tên xã gắn với tên dân tộc cư trú Lúc này châu Văn Bàn gồm 24 xã, chiathành hai vùng: Vùng trong gồm 15 xã và vùng ngoài gồm 9 xã Sau ngày giảiphóng, châu Văn Bàn được đổi thành huyện Văn Bàn Ngày 03/01/1976 sápnhập tỉnh Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái, tỉnh Lào Cai thành lập tỉnh Hoàng Liên Sơn.Huyện Văn Bàn là một trong hai mươi ba huyện, thị xã của tỉnh Hoàng LiênSơn Đến năm 1991, tách tỉnh Hoàng Liên Sơn tái thành lập tỉnh Lào Cai và tỉnhYên Bái, huyện Văn Bàn là một trong chín huyện của tỉnh Lào Cai

Huyện Văn Bàn là một huyện miền núi vùng cao của tỉnh Lào Cai có tổngdiện tích tự nhiên là 142.206 ha, nằm ở vị trí 103o47’ đến 104o36’ kinh độ đông,

Trang 12

21o20’ đến 20o14’ vĩ độ bắc, có độ cao trung bình so với mực nước biển từ 900m; gồm 22 xã, 1 thị trấn (có 19 xã đặc biệt khó khăn) Phía bắc giáp huyệnBảo Thắng và Sa Pa; phía đông giáp huyện Bảo Yên và huyện Văn Yên, tỉnhYên Bái; phía nam và đông nam giáp huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái; phíatây giáp với huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu Trung tâm huyện cách trung tâmtỉnh Lào Cai 79 km theo tỉnh lộ 151 và quốc lộ 279 Huyện có 2 trục giao thôngchính đi qua là quốc lộ 279 từ Bảo Hà đi Than Uyên, tỉnh Lai Châu, đây là tuyếnđường huyết mạch trong giao lưu kinh tế với các huyện khác trong khu vực vàtuyến đường tỉnh lộ 151 thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế với trung tâm tỉnhLào Cai.

700-Văn Bàn nằm giữa hai dãy núi cao, lớn là dãy Hoàng Liên Sơn và dãy ConVoi Thời tiết, khí hậu nóng ẩm, gió Tây – Nam (gió Lào) xuất hiện từ tháng 3đến tháng 9 hàng năm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, động thực vật vànguy cơ cháy rừng cao Diện tích đất chủ yếu là đồi núi, địa hình bị chia cắt bởicác dãy đồi núi đất, núi đá khá cao tạo nên nhiều thung lũng và các suối khe.Lượng mưa hàng năm khá lớn gây lũ quét, sạt lở đất cộng với sương mù về mùađông đã ảnh hưởng tới sản xuất và đi lại của đồng bào địa phương cũng như việctrẻ đến trường

Diện tích đất nông nghiệp là 9.580 ha, trong đó đất trồng cây hàng năm là4.400 ha, đất đồng cỏ chăn nuôi là 3000 ha, mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 167ha… Cơ bản đã hình thành được vùng cây, vùng con, như vùng thâm canh lúa ở

Võ Lao, Khánh Yên Hạ, Dương Quỳ…; Vùng cây thảo qủa ở Nậm Chầy, NậmXây, Nậm Xé, Liêm Phú; vùng chăn nuôi đại gia súc thuộc các xã phía tây củahuyện

Đất lâm nghiệp có rừng trên 80.000 ha, độ tán che phủ đạt 60,6%, trữlượng tài nguyên rừng ước khoảng 12 triệu m3 gỗ trong đó có nhiều loại gỗ quý

Trang 13

hiếm, khoảng 53 triệu cây vầu, nứa các loại, ngoài ra còn có khoảng 36 400 hađất đồi núi chưa sử dụng có khả năng sản xuất lâm nghiệp.

Tài nguyên khoáng sản đa dạng phong phú, trữ lượng tương đối lớn như

mỏ sắt Quý sa ở xã Sơn Thuỷ trữ lượng 114 triệu tấn; Pen Pát ở Làng Giàng trữlượng 10 triệu tấn; Mỏ Apatít bản Phúng thuộc xã Chiềng Ken, mỏ vàng ở MinhLương, lưu huỳnh, pirit, than, vàng sa khoáng trên các dòng sông, suối, trên cácbồn địa, phốt pho, đá vôi, đá xanh, cát vàng, sỏi hầu hết các khoáng sản tạiVăn Bàn đều có trữ lượng, hàm lượng khá lớn và lộ thiên

Văn Bàn có sông Hồng chạy qua và có mạng lưới sông suối dày như suốiNhù, suối Tha, suối Chăn độ dốc cao, độ chênh lệch lớn đây là tiềm năng thếmạnh cho cho việc xây dựng các công trình thuỷ điện nhỏ và vừa, xây dựng cáccông trình thuỷ lợi phục vụ nước sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

Toàn huyện có 11 dân tộc anh em chung sống, trong đó dân tộc Tày là chủyếu chiếm 56%, số còn lại là dân tộc Kinh, Mông, Dao, Dáy, Thái, Xa phó…Các dân tộc ít người tập trung phần lớn ở vùng cao Nậm Chày, Nậm Mả, Nậm

Xé, Nậm Xây, Nậm Tha… đời sống còn gặp nhiều khó khăn, dân trí thấp Đặcbiệt Văn Bàn là nơi duy nhất của tỉnh Lào Cai có dân tộc Mông Xanh - mộttrong 4 ngành dân tộc Mông cư trú ở Việt Nam, sinh sống tại xã Nậm Xé củahuyện Tổng dân số toàn huyện là trên 85.000 người 271 thôn bản, tổ dân phố

1.1.1.2 Truyên thống văn hóa

Văn Bàn từ xa xưa vốn là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử văn hóa Đã

từ lâu các thế hệ nhân dân các dân tộc huyện Văn Bàn đã nuôi dưỡng, hình thành

ý thức quốc gia dân tộc một cách bền vững, nêu cao tinh thần bất khuất chốnggiặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc Trong suốt quá trình ấy dưới sự lãnh đạo củaĐảng nhân dân các dân tộc huyện Văn Bàn luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵnsàng đập tan mọi âm mưu hành động chống phá của các thế lực thù địch bảo vệ

Trang 14

vững chắc quê hương đất nước, đồng thời ra sức lao động sản xuất, khắc phụchậu quả chiến tranh, xây dựng cuộc sống mới.

Cùng với truyền thống cách mạng, Văn Bàn còn là mảnh đất chứa đựngnhiều nét văn hóa tốt đẹp đặc sắc tiêu biểu cho núi sông, con người Lào Cai.Huyện Văn Bàn có các điểm di tích lịch sử văn hóa như Khu du kích Pú GiaLan, Đền Cô Tân An và Đền Ken hang Thẩm Dương, hang Thẳm Sáng, vớinhững thạch động muôn vàn nhũ đá kỳ ảo Mặc dù là nơi quần cư của nhiều dântộc Văn Bàn là một vùng văn hóa truyền thống đặc sắc của các dân tộc, nơi hội

tụ các sắc màu văn hóa của 11 dân tộc anh em luôn đoàn kết, gắn bó chung sứcchống thiên tai, địch họa, xây dựng bản làng, xây dựng cuộc sống mới Ta có thểtìm thấy trong đời sống của nhân dân mỗi dân tộc Tày, Dao, H’mông nhữngbản sắc văn hóa tốt đẹp thể hiện qua nhiều thuần phong mĩ tục của từng dân tộcnhư tập tục tổ chức lễ hội chợ phiên, hát giao duyên trong hội chợ Hằng nămvào mùa xuân diễn ra các lễ hội truyền thống thể hiện sự biết ơn và giáo dụctruyền thống cho thế hệ con cháu, cầu cho mùa màng bội thu, mưa thuận gió hòanhư lễ hội “Lồng tồng” của dân tộc Tày với các trò chơi như ném còn, kéo co,chọi gà bằng bi chuối, chọi trâu bằng măng vầu ; Lễ hội “Gầu tào” của dân tộcMông; Lễ “Cấp sắc” của đồng bào dân tộc Dao

Văn Bàn là một vùng đất giàu truyền thống văn hóa, các truyền thống ấy

đã tạo nên một sức mạnh mãnh liệt bền bỉ ngay trên mảnh đất quê hương đểtrường tồn cùng nền văn hóa chung của Lào Cai và của dân tộc Việt Nam

1.1.1.3 Tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh

Kinh tế chủ yếu của huyện Văn Bàn là kinh tế nông - lâm nghiệp, chiếm

tỷ trọng 63% Từ lâu đời nay, với lợi thế địa hình, khí hậu thổ nhưỡng, nhân dâncác dân tộc Văn Bàn đã sớm canh tác lúa nước, hầu hết các bồn địa, dải đấtthuộc thung lũng, ven chân núi, dọc theo các khe, suối nhân dân đã khai pháthành các tràn ruộng nước canh tác qua nhiều đời nay Canh tác lúa nước, chăn

Trang 15

nuôi đại gia súc đã thành tập quán của nhân dân Văn Bàn Ngoài ra nhân dân còntrồng bông, dệt vải tự cung cấp quần áo, chăn gối, đệm và đồ gia dụng khác.Đây là điều kiện cơ bản mà nhân dân đã hình thành lên tập quán cư trú quần cưtheo từng bản.

Kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn nhỏ bé, chủ yếu là khai tháckhoáng sản và vật liệu xây dựng Kinh tế thương mại, dịch vụ gắn với nền kinh

tế hàng hóa mới bước đầu phát triển

Văn hoá- xã hội thường xuyên được quan tâm, không ngừng phát triển và

đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Quy mô, mạng lưới trường lớp học tăng,chất lượng dạy học ngày một nâng lên, phong trào xã hội hoá giáo dục phát triểnmạnh, cơ sở vật chất ngày một khang trang Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻnhân dân  luôn được quan tâm chú ý, thực hiện tốt các chương trình y tế cộngđồng và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, đặc biệt là thực hiện các chương trình y tếvới người nghèo, đối tượng chính sách 23/23 xã có trạm y tế

Hoạt động văn hoá - thông tin – thể thao phát triển mạnh, đảm bảo giữ gìn

và phát huy bản sắc dân tộc Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hoá được đẩy mạnh ; đến nay có 80% dân số được xem truyền hình ; 90 %dân số được nghe đài tiếng nói Việt Nam

Về chính sách xã hội, giải quyết việc làm : Đảm bảo thực hiện đầy đủ,kịp thời, có hiệu quả các chương trình, chính sách xã hội như công tác xây dựngchính quyền cơ sở, công tác quản lý cán bộ, tiền lương, công tác chính sách xãhội, công tác lao động việc làm

Công tác an ninh, quốc phòng thường xuyên được quan tâm, tình hình anninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, tạo môi trường thuận lợi chophát triển kinh tế – xã hội Hàng năm đều hoàn thành kế hoạch giao quân, đẩymạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, tăng cường đấu tranh

Trang 16

phòng chống tội phạm ; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân kịpthời Công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền đượctăng cường.

Công tác xây dựng Đảng, chính quyền và đoàn thể được tăng cường, độingũ cán bộ được quan tâm đào tạo Đến năm 2010 toàn huyện có 46 tổ chức cơ

sở Đảng, trong 5 năm từ 2001 đến 2005 đã xoá được 25 cơ sở không có đảngviên Kết quả phân xếp loại hàng năm có từ 57,5 -75% tổ chức cơ sở đảng đạttrong sạch vững mạnh, 9 – 21 chính quyền cơ sở vững mạnh, các tổ chức đoànthể đều đạt loại khá trở lên

Những năm qua cùng với sự phát triển chung của tỉnh Lào Cai và cả nước,tình hình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của huyện từng bước đi lên và đạtđược những kết quả quan trọng, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch đề ra Cơcấu của nền kinh tế đã có bước chuyển dịch tích cực giảm dần tỷ trọng ngànhnông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp, thương mại Đời sống của nhân dântừng bước cải thiện, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, quốcphòng ổn định và giữ vững

Trải qua suốt chặng đường lịch sử, từ khi huyện Văn Bàn hoàn toàn đượcgiải phóng (16/11/1950) với các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước,dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo cuả Tỉnh Uỷ, HĐND, UBND tỉnh, sự giúp đỡ của các

sở, ban, ngành trong tỉnh Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc huyệnVăn Bàn luôn đoàn kết, phát huy truyền thống của một huyện anh hùng, kinh tế,văn hoá - xã hội không ngừng phát triển, an ninh- quốc phòng được củng cố vàgiữ vững, đã từng bước khởi sắc vững bước trên con đường thực hiện CNH-HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Tuy nhiên, tình hình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng củahuyện Văn Bàn vẫn còn những tồn tại, hạn chế làm ảnh hưởng tới phát triển GD

Trang 17

- ĐT Kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả sản xuất chưa cao, huy độngnguồn nội lực cho đầu tư phát triển chưa mạnh, sức cạnh tranh, khả năng hộinhập của nền kinh tế, của nông nghiệp, của sản phẩm với phát triển KT-XH,nhìn chung còn thấp Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, nông - lâm nghiệp chưa

có bước đột phá và được khai thác có hiệu quả mặc dù đây là lợi thế của huyện,công nghiệp phát triển với quy mô nhỏ Một số mục tiêu về phát triển văn hóa xãhội chưa đạt kế hoạch, đời sống một bộ phận nhân dân còn khó khăn…Từ đó đòihỏi cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và nhân dân huyện Văn Bàn phải nỗ lực, phấnđấu phát triển kinh tế- xã hội nhanh và bền vững hơn nữa làm tiền đề vững chắccho việc phát triển giáo dục trên địa bàn huyện

Năng lực lãnh đạo, quản lí của một số cấp uỷ, chính quyền còn hạn chế,việc quán triệt nâng cao sức chiến đấu của Đảng chưa được thường xuyên, còn

có một số cán bộ trình độ chuyên môn, năng lực hạn chế chưa đáp ứng được yêucầu đổi mới hiện nay

Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội đã tác động không nhỏ tới sự nghiệpgiáo dục của huyện Văn Bàn trên cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Do đó,đòi hỏi Đảng bộ huyện Văn Bàn cần phải có chủ trương, biện pháp lãnh đạo sátđúng để phát huy những thế mạnh, khắc phục những mặt hạn chế, thúc đẩy sựnghiệp giáo dục của huyện ngày một phát triển

1.1.1.3 Tình hình giáo dục - đào tạo huyện Văn Bàn trước năm 2000

Nhân dân Văn Bàn vốn có truyền thống hiếu học, thông minh, cần cùtrong lao động sản xuất, anh dũng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Trước cáchmạng Tháng Tám, 99% dân số Văn Bàn không biết chữ Ngày 27/9/1947, Đảng

bộ huyện Văn Bàn được thành lập Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộhuyện ngày 16/11/1950 Văn Bàn giải phóng

Trang 18

Sau ngày giải phóng, chính quyền cách mạng Văn Bàn phải đối mặt vớibao khó khăn do hậu quả của chiến tranh, tàn dư của chế độ cũ để lại, giặc đói,giặc dốt, dịch bệnh, nền kinh tế, sản xuất đình đốn Trước tình hình đó, Đảng

bộ huyện đã xác định phải nâng cao dân trí là phương tiện tiên quyết để khắcphục những khó khăn Đảng bộ đã tập trung cho chiến dịch diệt “giặc dốt” Cáclớp xoá mũ chữ được hình thành Phong trào xoá nạn mù chữ đã được triển khairầm rộ với phương châm đưa chữ Việt, tiếng Việt đến với đồng bào dân tộc ítngười Trong hai năm đầu đã có 1230 người biết chữ

Từ phong trào xoá mù chữ, Đảng bộ huyện đã lãnh đạo phát triển thànhcác lớp bổ túc văn hoá cấp 1 cho người dân và hình thành các lớp học phổ thôngcho trẻ em Thông qua lớp học xoá mù chữ, bổ túc văn hoá, lớp học phổ thông,chữ Việt, tiếng Việt đã đến với đồng bào dân tộc thiểu số, trở thành tiếng phổthông giao tiếp giữa các dân tộc anh em trong huyện, là cơ sở để tuyền truyềnchủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong nhân dân Tại mỗi lớp họccán bộ tham gia giảng dạy, đồng thời thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền chủtrương chính sách của Đảng, Nhà nước cho người học và mỗi người học trởthành một tuyên truyền viên tới mỗi gia đình, tới cụm dân cư, từ đó niềm tin vàoĐảng, vào Cách mạng Thông qua hoạt động của sự nghiệp giáo dục trình độ dântrí được từng bước nâng lên là điều kiện để bảo vệ thành quả cách mạng và pháttriển kinh tế xã hội ở địa phương trong những năm đầu giải phóng

Năm 1960, Phòng Giáo dục được thành lập, sự nghiệp giáo dục cấp huyện

có cơ quan chuyên ngành trực tiếp quản lý, hoạt động từng bước đi theo hướngchuyên nghiệp hoá Ngay năm học 1961 – 1962, tất cả các xã trong huyện đều cótrường phổ thông cấp I Tại xã Khánh Yên Thượng khu trung tâm huyện lỵ thànhlập trường phổ thông cấp II đầu tiên, số học sinh phổ thông của huyện lên tới

1700 học sinh, trong đó 21 học sinh phổ thông cấp II Năm 1962, Văn Bàn được

Trang 19

Bộ Giáo dục cấp Bằng công nhận đơn vị cơ bản xoá xong nạn mù chữ Hệ thốngcác trường phổ thông cấp I phủ khép kín các xã trong toàn huyện

Quy mô trường lớp mở rộng, tình trạng thiếu giáo viên số lượng lớn,huyện Văn Bàn mở lớp đào tạo giáo viên phổ thông cấp 1 ngắn ngày tại chỗ.Giáo sinh được chiêu sinh đào tạo giáo viên phổ thông cấp 1 là thanh niên địaphương tốt nghiệp phổ thông cấp 1, đào tạo trình độ 4+1 (tức là trình độ hết cấp

1, đào tạo nghiệp vụ 1 năm) ra giảng dạy sau đó tiếp tục đào tạo lên 4+2, lên4+3 Đây là lực lượng giáo viên người dân tộc ít người địa phương bổ sung chocác thôn bản lẻ hẻo lánh, vùng đồng bào chưa biết tiếng việt, thực hiện nhiệm vụdạy lớp vỡ lòng, lớp 1, lớp 2 cho trẻ em và xoá mù chữ cho người lớn tuổi là chủyếu

Tuy nhiên, trong giai đoạn 1961 - 1965 vẫn còn nhiều bản hẻo lánh ít dân

cư, ở phân tán xa trung tâm xã chưa mở được các điểm lớp phổ thông cấp 1 vàchưa mở được các lớp xoá mù chữ, hoặc đã xóa mù chữ do ít sử dụng ngôn ngữviệt, không có sách báo, nhân dân đã trở lại tái mù chữ Do vậy nhân dân ở cácđiểm dân cư hẻo lánh vẫn nằm trong tình trạng mù chữ Nhiều xã vùng cao chưa

mở được trường phổ thông cấp 2 Vì không có điều kiện mở được lớp mẫu giáo,nên trẻ em đến độ tuổi đi học chưa biết tiếng phổ thông, chưa va chạm cộngđồng tâm lý nhút nhát, dẫn đến vào lớp vỡ lòng muộn độ tuổi kéo theo muộn độtuổi học phổ thông

Tháng 8 năm 1972, Trường Phổ thông cấp III huyện Văn Bàn được thànhlập, trường có 01 lớp 8 tổng số 31 học sinh Ngoài giáo dục phổ thông, phongtrào bổ túc văn hoá cho người lao động được Đảng bộ huyện quan tâm Phươngchâm một trường học thực hiện hai nhiệm vụ, đó là giáo dục phổ thông và giáodục bổ túc văn hoá được phát triển khắp các vùng trong huyện Quy mô mạnglưới trường lớp các ngành học, cấp học phát triển nhanh, mạnh thu hút được

Trang 20

nhiều đối tượng tham gia học đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nguồnnhân lực có trình độ văn hoá cao tác động mạnh mẽ phát triển kinh tế - xã hội

Ngày 11 tháng 1 năm 1979, Bộ Chính trị ra Nghị quyết thực hiện cải cáchgiáo dục, tiến hành trong toàn quốc Nội dung chủ yếu của cải cách giáo dục lầnnày bao gồm cả 3 mặt: cải cách cơ cấu hệ thống giáo dục, cải cách nội dung vàphương pháp giáo dục Đây thực là thách thức mới đối với sự nghiệp giáo dục cảnước nói chung và giáo dục Văn Bàn nói riêng

Từ những năm 1986 - 1990, giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, do chưathích ứng được với cơ chế thị trường nên đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn,giáo dục xuống cấp trầm trọng, bị phá vỡ hàng mảng, các thôn, bản không cònlớp học Toàn huyện riêng trẻ 6 - 14 tuổi đi học năm 1990 chỉ đạt 36%, quy mômạng lưới trường lớp bị thu hẹp, tình trạng mù chữ tăng nhanh, toàn huyện chỉcòn 4 xã duy trì trường phổ thông cơ sở hoàn thiện đến lớp 8

Tại Đại hội lần thứ XV, ngày 21/11/1991, Đảng bộ huyện đã đánh giá:

“Sự nghiệp giáo dục Văn Bàn có nhiều cố gắng, các ngành học được duy trì, nhưng do khó khăn về kinh tế cùng với sự chuểyn đổi cơ chế mới nên chất lượng giáo dục xuống cấp, số học sinh bỏ học ngày càng nhiều So với năm học 1989

số học sinh toàn huyện giảm 12%, số người mù chữ tăng lên”.

Giai đoạn 1991-1995 thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, sự nghiệpgiáo dục của huyện có sự khởi sắc Quy mô giáo được mở rộng: Năm học 1995-

1996, tổng số giáo dục mầm non 74 nhóm lớp, 1768 cháu, tăng 880 cháu so năm

học 1990 – 1991 Tổng số 31 trường phổ thông: 17 trường tiểu học, 9 trường

PTCS (liên cấp 1 và cấp 2) trong đó 01 trường PTDT Nội trú; 4 trường trung họcphổ thông cấp 2; 01 trường phổ thông trung học cấp 3 Tổng số 10784 học sinhphổ thông so năm học 1990 - 1991 đạt 215,7%, tăng 5785 hs, trong đó trung họcphổ thông cấp III là 124hs so với năm học 1990 - 1991 đạt 187,67%, tăng 58hs;trẻ 6 - 14 tuổi ra lớp 10.916 trẻ/16,200 trẻ trong xã hội đạt 67%, tăng 31% so

Trang 21

năm học 1990 – 1991 Từ năm 1991 đến năm 1995 xoá mù chữ cho 1655 người,

bổ túc văn hoá bắt đầu được khôi phục trở lại mù chữ

Về cơ sở vật chất cho trường học: Đến năm học 1995 - 1996 toàn huyện

có 17/23 xã có phòng học được đầu tư xây cấp 4 không đổ mái, lợp ngói Chấmdứt tình trạng thiếu phòng học phải tổ chức học ca ba, chấm dứt tình trạng mặtbàn học sinh bằng dát vầu, mặt ghế học sinh bằng thanh vầu, Ở một số xã cóđiều kiện đã phát động nhân dân đóng góp làm bàn ghế gỗ đúng quy cách

Về đội ngũ giáo viên: Trong giai đoạn sa sút giáo dục 1986 - 1990 một bộphận giáo viên chán nản nghề nghiệp đã xin thôi việc, bỏ việc, chuyển ngành,chuyển nơi công tác ra ngoài huyện Từ năm 1994, Huyện Văn Bàn được sự chophép của UBND tỉnh đã đào tạo giáo viên cắm bản hệ 5+3, 9+1, 12+6 tháng.Tổng số cán bộ giáo viên trong huyện năm học 1995 - 1996 là 518 người, trong

đó 375 người trong biên chế, 143 hợp đồng

Tháng 4 - 1996, Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng được tổ chứcquyết định đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá để đến năm 2020 đưa nước

ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Trong thời kỳ phát triển mới, với mụctiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vai trò của giáo dục - đào tạo vàkhoa học - công nghệ càng trở nên quan trọng hơn lúc nào hết Đại hội xác định:

" Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạođiều kiện cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên có việc làm; khắc phục những tiêucực, yếu kém trong giáo dục và đào tạo" Tháng 12/1996, Hội nghị Trung ươnghai khoá VIII của Đảng họp đề ra Nghị quyết về giáo dục và đào tạo Nghi quyết

khẳng định “ thực sự coi GD-ĐT là quốc sách hàng đầu; GD-ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, Nhà nước và của toàn dân; phát triển GD gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội…”

Đại hội Đảng bộ huyện Văn Bàn khoá XVI nhiệm kỳ 1996 - 2000 đã xácđịnh phấn đấu huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ năm

Trang 22

1999, trước kế hoạch ban đầu của tỉnh 4 năm Triển khai thực hiện Nghị quyếtĐại hội, UBND huyện có Đề án 133/ĐA - UBND năm 1996 về phát triển sựnghiệp giáo dục giai đoạn 1996 – 2000.

Mạng lưới trường lớp và quy mô giáo dục các bậc học, cấp học, ngành họcbước đầu được mở rộng, chất lượng giáo dục được nâng lên Tính đến cuối năm

2000 mạng lưới trường lớp của Văn Bàn với 19/23 xã, thị trấn thực nhiệm giáodục mầm non chiếm 82,6% tăng so với năm 1990 là 15 xã; 29 trường Tiểu học,

18 trường Trung học cơ sở, 5 trường Phổ thông cơ sở, 2 trường trung học phổthông Năm 1998 toàn huyện có 22/23 xã, thị trấn và huyện Văn Bàn được côngnhận đơn vị đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ, là đơn vị trongtốp đầu của tỉnh hoàn thành vượt mức kế hoạch sớm đạt chuẩn Năm 1999 xãNậm Chày được công nhận, toàn huyện có 100% cơ sở cấp xã duy trì và đượccông nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ Thị trấn KhánhYên là đơn vị đầu tiên của huyện được công nhận phổ cập giáo dục tiểu họcđúng độ tuổi Tuy nhiên chất lượng học sinh giỏi ở bậc THCS và THPT chưa cao

do thiếu giáo viên chính quy, giáo viên trẻ ít kinh nghiệm, giáo viên tiểu học lêndạy THCS

Đội ngũ giáo viên đã kiên trì khắc phục khó khăn, từng bước vươn lên.Đến năm 2000, bậc tiểu học có 349 giáo viên (trong đó tuyển thẳng 6, sơ cấp 42,trung cấp 283, Cao đẳng 18); bậc THCS có 193 giáo viên (trong đó Trung cấp

66, Cao đẳng 105, Đại học 22); bậc THPT có 29 giáo viên (Cao đẳng 4, đại học

24, Cao học 01)

Công tác xây dựng cơ sở vật chất trường học có bước phát triển Đến năm

2000 tất cả các phòng học tạm cột chôn đã được thay thế bằng phòng học cột gỗ

kê lịa ván trở lên Diện mạo trường học được khang trang hơn, dần đi đến kiên

cố hoá, tác động trực tiếp đến nâng cao chất lượng giáo dục

Trang 23

Tuy nhiên, đến trước năm 2000, giáo dục Văn Bàn vẫn còn bộc lộ một sốhạn chế, bất cập cần tập trung khắc phục, đó là:

Mạng lưới trường lớp và quy mô giáo dục có sự phát triển, song giữa quy

mô và các điều kiện đội ngũ, cơ sở vật chất, thiết bị, giữa quy mô và chất lượngcòn chưa cân đối

Chất lượng giáo dục chưa cao, còn thấp so với mặt bằng chung cả nước Tỉ

lệ học sinh được học tin học, ngoại ngữ còn quá thấp Chất lượng các môn tinhọc, ngoại ngữ và kỹ năng thực hành của cả giáo viên và học sinh còn yếu Tìnhtrạng học sinh vi phạm đạo đức, chưa phấn đấu rèn luyện, gây gổ đánh nhauthậm chi xúc phạm nhân cách người giáo viên vẫn còn xảy ra

Đội ngũ giáo viên vừa thừa, vừa thiếu, vừa yếu, chắp vá chưa đáp ứng đượcyêu cầu đổi mới giáo dục Công tác xây dựng cơ sở vật chất trường học còn rấtkhó khăn Phòng học kiên cố hoá còn thấp Thực hiện chính sách xã hội hóa vềgiáo dục hiệu quả chưa cao

Hạn chế, khuyết điểm trên xuất phát từ những nguyên nhân khách quan vàchủ quan, trong đó đáng chú ý là: một số cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở chưanhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đến sự nghiệp giáo dục; chưa huy độngđược sức mạnh tổng hợp cho việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng,còn trông chờ, ỷ lại Năng lực, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ quản lý giáodục, giáo viên còn bất cập Việc phối, kết hợp giữa các cấp, các ngành nhiều nơichưa chặt chẽ…

Thực trạng đó đòi hỏi cấp ủy Đảng, chính quyền và Phòng Giáo dục và đàotạo huyện Văn Bàn phải có chủ trương, giải pháp chiến lược phát triển giáo dụcđáp ứng nhu cầu xây dựng, phát triển của huyện trong thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 24

1.2 Chủ trương cuả Đảng bộ tỉnh Lào Cai về sự nghiệp giáo dục giai đoạn 2000-2005.

1.2.1 Quan điểm của Đảng về giáo dục

Thấm nhuần sâu sắc quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi phát triển giáo dục làmột nhiệm vụ cách mạng quan trọng nhằm nâng cao dân trí và đào tạo cán bộcho Đảng Đảng ta đã nhận thức đúng đắn vai trò quan trọng của GD - ĐT trong

sự nghiệp bảo vệ và xây dựng tổ quốc, đặc biệt là thời kỳ CNH, HĐH

Trong suốt chặng đường xây dựng và bảo vệ tổ quốc, dưới sự lãnh đạo củaĐảng, ngành GD-ĐT cùng nhân dân cả nước vượt qua khó khăn thực hiện thắnglợi đường lối giáo dục và đổi mới về giáo dục, đã đưa sự nghiệp GD-ĐT tiến lênđạt nhiều thành tựu mới, góp phần quan trọng trong việc đào tạo lớp lớp các thế

hệ cán bộ phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng Tổ quốc

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9-1960), đảng ta chỉ rõ: “ Sự nghiệp giáo dục của chúng ta nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những người lao động làm chủ đất nước, có giác ngộ XHCN, có văn hoá, có sức khoẻ, những người phát triển toàn diện để xây dựng xã hội mới, đồng thời phục vụ đắc lực cho việc đào tạo cán bộ, xây dựng nền kinh tế và văn hoá xã hội chủ nghĩa, không ngừng nâng cao trình độ văn hoá của dân dân lao động” (ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, NXB CTQG, HN- 2002, Tr 551).

Sau khi Miền nam hoàn toàn giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất,

cả nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, tiếp nối đến đại hội Đảng toànquốc lần thứ IV ( 12-1976) và lần thứ V ( 3-1982), Đảng ta xác định vị trí giáodục là nền tảng văn hoá của một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc, nóđặt những cơ sở ban đầu rất trọng yếu cho sự phát triển toàn diện của con ngườiViệt nam XHCN

Trang 25

Ngày 11/11/1979 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách

giáo dục Mục tiêu của cải cách giáo dục lần thứ 3 là: “ Làm tốt công tác giáo dục thế hệ trẻ… nhằm tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng của con người Việt Nam mới, người lao động làm chủ tập thể và phát triển toàn diện; thực hiện PCGD trong toàn dân; đào tạo và bồi dưỡng với quy mô ngày càng lớn đội ngũ lao động mới’’.

Bắt đầu từ năm 1986 đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, sự nghiệp

GD-ĐT cũng đổi mới với các quan điểm chỉ đạo: Tại Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ VI ( 12-1986) cùng với những quan điểm, chủ trương đổi mới kinh tế, Đảng

ta đặc biệt quan tâm đến đổi mới GD-ĐT, coi đây là yếu tố quan trọng thúc đẩycông cuộc đổi mới Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ và một số biện phápphát triển GD-ĐT trong thời kỳ mới như: Nâng cao chất lượng cải cách giáo dục,phát triển có kế hoạch hệ thống giáo dục; phát triển nhiều hình thức giáo dục;đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục ở miền núi; nâng cao chất lượng giảng dạy, họctập

Sau 5 năm thực hiện đường lối đổi mới Đại hội VI, đến Đại hội toàn quốc

lần thứ VII (6-1991), Đảng ta nhận định: “ Lĩnh vực GD-ĐT có một số tiến bộ trong việc xác định mục tiêu, nội dung và phương pháp cũng như cơ cấu hệ thống giáo dục Nhưng nền giáo dục nước ta chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém

do trình độ kinh tế, do thiếu quan tâm đúng mức ở tầm chỉ đạo chiến lược, đồng thời do công tác quản lý của ngành GD-ĐT còn nhiều khuyết điểm và nhược điểm Quan điểm chỉ đạo tiếp tục của Đảng là: Đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp GD-ĐT, khoa học và công nghệ, coi đó là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân

tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển ” ( ĐCSVN: Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ VII, NXB, ST, HN – 1991, Tr 32, 33, 121).

Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Đảng đề ra

phương hướng nội dung cụ thể là: “ Mục tiêu của GD -ĐT nhằm nâng cao dân

Trang 26

trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng và tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện, có năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và có khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần” (Văn kiện Đại hội VII, Sđd, tr 81) Quán triệt mục tiêu GD-ĐT của Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VII Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ tư khoá VII raNghị quyết “về tiếp tục đổi mới sự nghiệp GD-ĐT’’, quan điểm chỉ đạo là:

Thứ nhất, cùng với khoa học công nghệ, GD-ĐT là quốc sách hàng đầu Thứ hai, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

Thứ ba, GD-ĐT phải gắn với yêu cầu của đất nước và xu thế tiến bộ của

Một là: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của Giáo dục là nhằm xây dựng

những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc vàCNXH, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc,CNH, HĐH đất nước giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng

Trang 27

lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và conngười Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làmchủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thựchành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, có sức khoẻ, lànhững người thừa kế xây dựng CNXH vừa “hồng’’ vừa “ chuyên” như lời căndặn của Bác Hồ”.

“Giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung, phương pháp

GD-ĐT, trong các chính sách, nhất là chính sách công bằng xã hội Phát huy ảnhhưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường đối với GD-

ĐT Chống khuynh hướng “ thương mại hoá”, đề phòng khuynh hướng phi chínhtrị hoá GD-ĐT Không truyền bá tôn giáo trong trường học.”

Hai là, “Thực sự coi GD-ĐT là quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc

GD-ĐT cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh

tế và phát triển xã hội, đầu tư cho GD-ĐT là đầu tư phát triển Thực hiện cácchính sách ưu tiên, ưu đãi đối với GD-ĐT, đặc biệt là chính sách đầu tư và chínhsách tiền lương Có giải pháp mạnh mẽ để phát triển giáo dục”

Ba là, “GD-ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn

dân Mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời Phê phán thói lười học,mọi người chăm lo cho giáo dục Các cấp uỷ và tổ chức Đảng, các cấp chínhquyền, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức kinh tế xã hội, các gia đình và các

cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát trển sự nghiệp GD-ĐT, đónggóp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho GD-ĐT Kết hợp giáo dục nhà trường,giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo lên môi trường giáo dục lành mạnh ởmọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể”

Bốn là, “Phát triển GD-ĐT gắn với nhu cầu phát triển KT-XH, những tiến

bộ khoa học- công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh Coi cả 3 mặt, mở rộng

Trang 28

quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả Thực hiện giáo dục kết hợp

với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, lý luận gắn với thực tế, học đi đôivới hành, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội”

Năm là, “ Thực hiện công bằng xã hội trong GD-ĐT Tạo điều kiện để ai

cũng được học hành Người nghèo được nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để họctập, bảo đảm điều kiện cho những người học giỏi phát triển tài năng”

Sáu là, “Giữ vững vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa

dạng hoá các loại hình GD-ĐT, trên cơ sở Nhà nước thống nhất quản lý từ nộidung chương trình, quy chế học, thi cử, văn bằng, tiêu chuẩn giáo viên, tạo cơhội cho mọi người có thể lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnhcủa mình Phát triển trường bán công, dân lập ở những nơi có điều kiện, từngbước mở các trường tư thục ở một số bậc học như: Mầm non, THPT, THCN, dạynghề, đại học Mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung, đào tạo từ xa,từng bước hiện đại hoá hình thức giáo dục” [ ĐCSVN, Văn kiện hội nghị lần thứ hai, BCH Trung ương khoá VIII, NXB CTQG – năm 1997, Tr 29, 30, 31 ]

Kế thừa, phát triển những quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò quan trọngcủa giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển kinh tế- xã hội đất nước trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

IX của Đảng (2001) tiếp tục khẳng định và bổ sung, phát triển quan điểm về pháttriển giáo dục và đào tạo:

“Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọngthúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huynguồn lực con người- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tếnhanh và bền vững… Phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáodục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [19, tr.108-112]

Trang 29

Đại hội đã xác định những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu phát triển giáo

dục và đào tạo: Một là, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới

nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáodục; thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”, “giáo dục cho mọi người”,

“cả nước trở thành xã hội học tập” Hai là, đổi mới và nâng cao chất lượng hệ

thống giáo dục (các trường, lớp, các bậc học) và hệ thống quản lý giáo dục theohướng phù hợp và phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội, sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương, coi trọng công tác hướng

nghiệp Ba là, tăng ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo theo nhịp độ

tăng trưởng kinh tế Hiện đại hoá một số trường dạy nghề, tăng nhanh tỷ lệ laođộng được đào tạo trong toàn bộ lao động xã hội, khuyến khích phát triển hệthống trường lớp dạy nghề dân lập và tư thục, trang bị cho thanh niên những kiếnthức sản xuất, kỹ năng lao động và năng lực tiếp thu công nghệ mới để tự tạo

việc làm, chủ động tìm kiếm cơ hội lập nghiệp Bốn là, tăng cường giáo dục

chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên Cải tiến việc giảngdạy và học tập các bộ môn khoa học Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở các

trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề Năm là, thực

hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện cho người nghèo có cơ hộihọc tập Có chính sách hỗ trợ đặc biệt những học sinh có năng khiếu, hoàn cảnhsống khó khăn được theo học ở các bậc học cao Có quy hoạch và chính sáchtuyển chọn người giỏi, đặc biệt chú ý trong con em công nhân và nông dân, đểđào tạo ở các bậc đại học và sau đại học Tăng ngân sách nhà nước cho việc cửngười đi đào tạo ở các nước có nền khoa học và công nghệ tiên tiến Khuyến

khích việc du học tự túc Sáu là, thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục, phát

triển đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến

khích tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục Bảy là, giải quyết dứt

điểm những vấn đề bức xúc đang đặt ra rất gay gắt đối với sự nghiệp giáo dục vàđào tạo như: sửa đổi chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực

Trang 30

của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; cải tiến chế độ thi cử, khắc phụckhuynh hướng “thương mại hoá” giáo dục, ngăn chặn những tiêu cực trong giáodục; quản lý chặt chẽ việc cấp văn bằng, công nhận học hàm, học vị; chấn chỉnhcông tác quản lý hệ thống trường học cả công lập và ngoài công lập.

Tháng 7/2002, tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhóa IX, sau khi kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIIIkhẳng định những thành tựu đạt được, chỉ ra những khó khăn vướng mắc tronggiáo dục và đào tạo, đã đề ra phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đếnnăm 2010 là: Nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục; phát triển quy mô giáo dục

cả đại trà và mũi nhọn trên cơ sở bảo đảm chất lượng và điều chỉnh cơ cấu đàotạo, gắn với yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội; thực hiện công bằng xã hội tronggiáo dục Hội nghị cũng chỉ ra 5 giải pháp cơ bản để phát triển giáo dục và đàotạo, đó là: Đổi mới mạnh mẽ quản lý Nhà nước về giáo dục; xây dựng và triểnkhai chương trình “Xây dựng đội nhũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục mộtcách toàn diện”; tiếp tục hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và sắpxếp, củng cố, phát triển mạng lưới trường lớp, cơ sở giáo dục; tăng cường đầu tưcho giáo dục; đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, coi giáo dục là sự nghiệp của toàndân

Ngày 15/6/2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) ban hành Chỉthị số 40- CT/TW, “Về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và

cán bộ quản lý giáo dục”.” Chỉ thị đề ra mục tiêu: Xây dựng đội ngũ nhà giáo

và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm,tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và cóhiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đápứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất

nước

Trang 31

Để đạt mục tiêu trên, Ban Bí thư yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng chỉ đạothực hiện tốt một số nhiệm vụ: Củng cố, nâng cao chất lượng hệ thống cáctrường sư phạm, các trường cán bộ quản lý giáo dục; tiến hành rà soát, sắp xếplại đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡngđảm bảo đủ số lượng và cân đối về cơ cấu, nâng cao trình độ chuyên môn,nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; đẩy mạnhviệc đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục theo hướng hiệnđại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam; đổi mới, nâng cao chất lượng công tácquản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; xây dựng và hoàn thiện một sốchính sách, chế độ đối với đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; tăng cường

sự lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ này

Các quan điểm trên cho thấy, Đảng đã nhận thức rõ hơn về vị trí, vai tròquyết định của giáo dục - đào tạo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Trong

đó, việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáodục giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục

vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Các quan điểm này đãđịnh hướng cho việc xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân; đồng thời, từngbước hình thành xã hội học tập, tác động mạnh mẽ đến sự nhận thức cũng nhưtạo ra quyết tâm cao hơn của các cấp ủy đảng địa phương trong việc đề ra nhữngchủ trương thích hợp cho phát triển giáo dục - đào tạo Nhờ vậy, sự nghiệp giáodục - đào tạo có điều kiện thuận lợi để phát triển đúng hướng, tạo ra sự chủ độngnhiều hơn cho các địa phương, các trường và các tầng lớp nhân dân trong xã hộihiểu đúng và tổ chức thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá giáo dục và chính sáchkhuyến khích xã hội hoá giáo dục của Đảng và Nhà nước, phục vụ phát triểnnguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

1.1.2.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Lào Cai về giáo dục.

Trang 32

Quán triệt các nghị quyết của Trung ương về công tác GD-ĐT, Tỉnh ủyLào Cai luôn coi “GD-ĐT là quốc sách hàng đầu”, là một trong những động lựcquan trọng để phát triển kinh tế xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự pháttriển Tỉnh ủy, Hội Đồng nhân dân, UBND, Sở Giáo dục và đào tạo đã tiến hànhnhiều biện pháp chăm lo, phát triển sự nghiệp GD-ĐT Nhờ vậy, công tác GD-

ĐT Lào Cai được nhiều thành tựu hơn trước Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cậpnhư: Chất lượng dạy và học của các trường phổ thông, dạy nghề chưa cao; côngtác quản lý giáo dục - đào tạo, thực hiện xã hội hóa giáo dục ở một số nơi cònhạn chế

Trước tình hình đó, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XII(năm 2000) đã đánh giá nghiêm túc kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng

bộ tỉnh lần thứ XI về công tác giáo dục - đào tạo và đề ra phương hướng, mụctiêu tổng quát cho ngành Giáo dục và đào tạo giai đoạn 2001-2005 là phát triểnnhanh sự nghiệp giáo dục đào tạo

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XII, Đảng bộ

tỉnh đã đưa ra Đề án "Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở giai đoạn 2001-2005 và đến 2010" Đề án nêu rõ mục tiêu

và giải pháp phát triển sự nghiệp giáo dục giai đoạn 2001-2005:

Về mục tiêu: Phấn đấu đến tháng 12/2001 toàn tỉnh có 100% số xã

phường thị trấn được công nhận đạt chuẩn phổ cập GDTH Tới năm 2005, ít nhất

có 80 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học theo đúng độtuổi, có ít nhất 60 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS, 3huyện thị đạt chuẩn phổ cập giáo dục Trung học cơ sở và tạo tiền đề vững chắccho việc thực hiện kế hoạch phổ cập giai đoạn 2006 – 2010 Phấn đấu để năm

2010 tỉnh Lào Cai đạt chuẩn phổ cập GDTH đúng độ tuổi, có thêm ít nhất 400 xãđạt chuẩn và hoàn thành phổ cập giáo dục Trung học cơ sở ở tất cả các huyện, thị

xã trong tỉnh

Trang 33

Đối với các huyên, thị: Thị xã Lào Cai đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCSvững chắc vào năm 2004 Thị xã Cam Đường, huyện Bảo Thắng đạt chuẩn trướcnăm 2005 Các huyện còn lại phấn đấu đạt chuẩn chậm nhất vào tháng 12 năm2010.

Cùng với những mục tiêu phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2005, Đảng

bộ tỉnh còn đưa ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục giai đoạnnày gồm hai nhóm giải pháp như sau:

Phấn đấu để tỷ lệ học sinh tốt nghiệp hàng năm ở Tiểu học từ 98% đến100%, ở THCS là 95% trở lên, ở những xã vùng cao có điều kiện KT-XH khókhăn đạt từ 80% trở lên; nâng cao số lượng và chất lượng học sinh khá giỏi;giảm số học sinh yếu kém; nâng cao chất lượng học tập của học sinh dân tộc ítngười, học sinh gái, học sinh vùng cao, vùng sâu, vùng xa

Thứ hai, Quy hoạch mạng lưới, quy mô, hình thức trường lớp phù hợp.

Tiếp tục phát triển hệ thống trường mầm non, chú trọng trường mầm non

ngoài công lập và lớp mầm non gắn với trường Tiểu học Để đảm bảo cho học

sinh có thể học tiếp lên THCS, từ năm học 2001 - 2002, các trường lớp Tiểu học

Trang 34

vùng cao chuyển sang thực hiện chương trình 165 tuần bắt đầu từ lớp 1 Tiếp tục

mở lớp linh hoạt ở Tiểu học tại những địa bàn khó khăn, tiến độ phổ cập chậm

Đưa mạng lưới trường THCS đến từng xã để huy động tối đa số trẻ tốtnghiệp học lên THCS; trước năm 2005 phải xây dựng trường THCS hoàn chỉnh

ở ít nhất 90% số xã phường (ở từng huyện, thị), các xã còn lại có trường, lớpTHCS Tiếp tục khẩn trương tách trường PTCS hiện có thành trường Tiểu học vàTHCS Chủ động mở trường THCS độc lập ngay từ khi hình thành các lớpTHCS, không nhất thiết phải chờ quy mô lớn và hoàn chỉnh cấp học Xây dựng

hệ thống trường THCS có bán trú ở các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa

Đối với các xã cần đẩy nhanh tiến độ phổ cập giáo dục THCS: trongTrường THCS thực hiện chương trình THCS hoặc BTCS Chương trình BTCSdành cho các học sinh bỏ học được huy động trở lại, các học sinh lớn tuổi vàocác lớp PC THCS để kịp phổ cập giáo dục THCS theo kế hoạch của đơn vị Cáclớp PCTHCS học tập trung Vào ban ngày hoặc buổi tối, hoàn thành cấp họctrong 3 hoặc 2,5năm Mở các lớp bổ sung kiến thức cho các học sinh học chươngtrình 100 tuần và 120 tuần trước khi vào học THCS hoặc BTCS

Đồng thời mở rộng quy mô trường lớp Bổ túc Trung học để tạo điều kiệncho những học sinh có nguyện vọng học lên cấp Trung học sau khi tốt nghiệp Bổtúc cơ sở

Thứ ba, chú trọng nâng cao chất lượng dạy học.

Đẩy mạnh cuộc vận động đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướngphát huy tính chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của học sinh Truyền đạtkiến thức theo hướng tinh giản,vững chắc Đảm bảo nguyên tắc học đi đôi với

hành Giữ vững kỷ cương, nền nếp giảng dạy, học tập, đánh giá, thi cử

Tổ chức sôi nổi phong trào thi đua dạy tốt học tốt; hoạt động ngoài giờ vàhoạt động văn thể trong nhà trường, xây dựng ý thức tập thể, gắn bó với trường

Trang 35

lớp của từng học sinh, qua đó thu hút học sinh ra lớp và học tập chuyên cần Tổ

chức thường xuyên việc bồi dưỡng và thi học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếukém

Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên.

Ưu tiên bố trí giáo viên để nhanh chóng mở trường THCS đến từng xã Ưutiên tuyển dụng những giáo viên hợp đồng có nghiệp vụ sư phạm, gắn bó lâu dài

với vùng cao Chủ động cân đối điều hoà giáo viên cho những nơi thiếu, mặt

khác cần có sự bố trí hợp lý để một số Hội đồng giáo dục trường THCS phảithực hiện đồng thời hai chương trình PTCS và BTCS Chủ động bồi dưỡng đểnâng cao kiến thức và trình độ sư phạm cho giáo viên, có kế hoạch đào tạo đủnguồn giáo viên giảng dạy trung học cơ sở

Huy động sinh viên của trường CĐSP và những giáo viên tình nguyện

khác tham gia giảng dạy các lớp phổ cập THCS trong hè Tăng cường đầu tư các

mặt cho Trường Cao đẳng Sư phạm, đảm bảo các điều kiện để trường thực hiệntốt nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng giáo viên Tích cực nâng cao chất lượng đàotạo của trường về tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp, về kiến thức và phương pháp

sư phạm Chú trọng xây dựng Khoa Quản lý của trường CĐSP để bồi dưỡng đội

ngũ CBQL trường Tiểu học và THCS Xây dựng các nề nếp chuyên môn, tổ

chức tốt công tác hội giảng và bồi dưỡng thường xuyên của giáo viên

Tăng cường bồi dưỡng đối tượng và kết nạp đảng viên mới trong đội ngũgiáo viên và học sinh, sinh viên sư phạm Phấn đấu đến năm 2005 tất cả cáctrường THCS có tổ Đảng, các trường lớn có chi bộ Đảng, nâng tỷ lệ đảng viêntrong trường học lên 20% Bổ sung biên chế và nâng cao năng lực cán bộ phòngchuyên môn của Sở Giáo dục - Đào tạo và tổ chức chỉ đạo chuyên môn của cácPhòng Giáo dục để đảm bảo việc chỉ đạo, triển khai công tác phổ cập giáo dụcTrung học cơ sở

Trang 36

Nhóm hai: Giải pháp về cơ sở vật chất

Một là, xây dựng qui hoạch về mạng lưới các trường Tiểu học, THCS vàTHPT toàn tỉnh để từng bước tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các trường

Hai là, giải quyết tích cực việc cấp đất ổn định lâu dài cho các trường học.Đảm bảo đủ diện tích đất cho các trường học theo tiêu chuẩn trường chuẩn Quốcgia có dự tính đến quy mô phát triển đến năm 2010 và lâu dài

Ba là, phối hợp các chương trình kinh tế - xã hội, đặc biệt là chương trình

135, chương trình giảm nghèo (WB), chương trình ổn định dân cư và phát độngnguồn lực của nhân dân nhằm tăng cường xây dựng cơ sở vật chất trường lớp vàcác điều kiện cho người dạy, người học

Bốn là, thực hiện tốt phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, xâydựng lớp học và nhà ở cho giáo viên, đóng bàn ghế đáp ứng kế hoạch huy động

số lượng học sinh Phát động thành phong trào xây dựng CSVC trường học vàquy định thành trách nhiệm của từng xã, thôn, bản Giáo viên và học sinh chủđộng, tích cực lao động xây dựng trường sở tạo cảnh quan sư phạm sạch đẹp

Năm là, phấn đấu đến năm 2005 có 50% số trường THCS, Tiểu học cóphòng học kiên cố, số còn lại phải đạt yêu cầu tối thiểu là lợp ngói, bó hè, látnền

Sáu là, tăng cường đầu tư mua sắm trang thiết bị phục vụ cho nhu cầu dạyhọc và nâng cao chất lượng, đảm bảo để trước năm 2005 mỗi trường THCS có ítnhất một bộ dụng cụ thí nghiệm và đồ dùng dạy học đồng bộ, có phòng bảo quảndụng cụ thí nghiệm, có tủ sách dùng chung, có tủ thuốc, có đủ nhà ở và giườngnằm cho giáo viên, có đủ nước sạch Đến năm 2010 các trường THCS ở khu vựcthị xã, thị trấn và các xã phát triển có phòng thực hành, có thư viện đạt chuẩn

Trang 37

Bảy là, xây dựng nhà ở cho học sinh các trường THCS vùng cao có nộitrú, bán trú Phát triển hình thức nội trú dân nuôi ở các trường THCS vùng cao,

có sự hỗ trợ của Nhà nước

Tiếp tục chỉ đạo thực hiện Đề án đạt kết quả cao, Hội đồng nhân dân tỉnh

ra Nghị quyết số 13/2003/NQ-HĐND, ngày 18/12/2003 về việc phê chuẩn kếhoạch đẩy mạnh các hoạt động PCGD để tỉnh Lào Cai đạt chuẩn PCGD THđúng độ tuổi vào năm 2005, phổ cập THCS năm 2007; Chỉ thị 27-CT/TU, ngày30/3/2004 của Tỉnh uỷ Lào Cai về việc đẩy mạnh tiến độ PCGD TH đúng độtuổi và PCGD THCS

Những chỉ đạo nêu trên cho thấy, Đảng bộ Lào cai đã thực sự coi trọng vịtrí, vai trò của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quán triệtsâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Chính phủ về nâng cao chấtlượng giáo dục - đào tạo và tiến hành phổ cập giáo dục các cấp, vận dụng vàođiều kiện cụ thể của địa phương, Đảng bộ tỉnh Lào Cai đã xác định rõ mục tiêu,

đề ra những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hộicủa tỉnh Được sự phối hợp của các cấp, các ngành, sự đồng thuận của các tầnglớp nhân dân trong tỉnh, công tác giáo dục - đào tạo tiếp tục đạt được thành tíchđáng ghi nhận

1.2 Đảng bộ huyện Văn Bàn lãnh đạo sự nghiệp giáo dục từ năm 2000 đến năm 2005.

1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Văn Bàn về sự nghiệp giáo dục

Quán triệt các Nghị quyết Trung ương của Tỉnh Lào Cai về công tácGD&ĐT, Huyện uỷ, Hội Đồng nhân dân, UBND, Phòng GD&ĐT đã tiến hànhnhiều biện pháp chăm lo, phát triển sự nghiệp Giáo dục – Đào tạo

Nghị quyết của BCH Đảng bộ huyện Văn Bàn lần thứ XVII, nhiệm kỳ2001-2005 đã xác định phấn đấu huyện Văn Bàn đạt chuẩn PCGD Tiểu học

Trang 38

đúng độ tuổi trước năm 2005, phấn đấu đạt chuẩn phổ cập THCS năm 2007, pháttriển mở rộng quy mô mạng lưới trường lớp các cấp học, ngành học, từng bướckiên cố hoá trường lớp học.

Triển khai thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội, Ban Chấp hành Đảng

bộ huyện (khóa XVII) ban hành Nghị quyết số 02-NQ/HU, ngày 12/4/2001thông qua và thống nhất tập trung lãnh đạo tựhc hiện mục tiêu kế hoạch số02/KH-UBND của UBND huyện phát triển sự nghiệp giáo dục trên địa bànhuyện giai đoạn 2001 – 2005 và đến năm 2010, Đề án số 03, ngày 4/2/2002 vềthực hiện PCGD TH đúng độ tuổi và PCGD THCS Đề án nêu rõ mục tiêu vàgiải pháp thực hiện trong giai đoạn 2001-2005

Về mục tiêu: Duy trì vững chắc kết quả PCGD TH- CMC 23/23 xã ở mức

độ cao Huyện được công nhân đạt chuẩn PCGD TH đúng độ tuổi vào năm 2005được công nhận đạt chuẩn PCGD THCS vào năm 2008, cụ thể như sau:

Đối với PCGD TH đúng độ tuổi:

Duy trì kết quả đạt chuẩn của trường Tiểu học thị trấn Khánh Yên Phấnđấu công nhận và duy trì kết quả đạt chuẩn các năm tiếp theo:

Năm 2002 phấn đấu 5 xã đạt chuẩn bao gồm: Khánh Yên Thượng,Khánh Yên Trung, Khánh Yên Hạ, Võ Lao, Thẳm Dương

Năm 2003 phấn đấu 6 xã đạt chuẩn bao gồm: Dần Thàng, Làng Giàng,Liêm Phú, Nậm Tha, Tân Thượng, Nậm Mả

Năm 2004 phấn đấu 5 xã đạt chuẩn bao gồm: Nậm Xé, Dương Quỳ, HoàMạc, Tân An, Văn Sơn

Năm 2005 phấn đấu 5 xã : Minh Lương, Nậm Chày, Chiềng Ken, SơnThuỷ, Nậm Dạng

Năm 2006 xã Nậm Xây đạt chuẩn PCGD TH đúng độ tuổi

Đối với phổ cập giáo dục THCS

Trang 39

Duy trì kết quả đạt chuẩn PCGD THCS của thị trấn Khánh Yên Phấnđấu công nhận và duy trì kết quả đạt chuẩn ở các năm tiếp theo:

Năm 2004 phấn đấu 8 xã đạt chuẩn bao gồm: Dương Quỳ, Hoà MạcLàng Giàng, Khánh Yên Thượng, Khánh Yên Trung, Khánh Yên Hạ, Võ Lao,Văn Sơn

Năm 2005 phấn đấu 3 xã đạt chuẩn: Liêm Phú, Tân An, Nậm DạngNăm 2006 phấn đấu 5 xã đạt chuẩn: Minh Lương, Chiềng Ken, TânThượng, Thẳm Dương, Nậm Mả

Năm 2007 phấn đấu 5 xã đạt chuẩn: Nậm Xây, Nậm Xé, Nậm Chày,Nậm Tha, Sơn Thuỷ

Năm 2008 phấn đấu 01 xã: Dần Thàng

Cùng với những mục tiêu đã đề ra trong giai đoạn 2001-2005 đến 2010,Đảng bộ huyện còn đưa ra những biện pháp, giải pháp để thực hiện mục tiêuPCGD TH đúng độ tuổi và PCGD THCS như sau:

Các biện pháp, giải pháp then chốt

Một là, tạo chuyển biến sâu sắc về nhận thức và đổi mới mạnh mẽ công

tác lãnh đạo của cấp uỷ, chính quyền Nêu cao trách nhiệm cụ thể của các đoàn

thể đối với sự nghiệp GD&ĐT Quán triệt phương châm “Ráo riết, trực tiếp, cụ thể” trong tổ chức chỉ đạo và thực hiện Từng xã phải xây dựng kế hoạch cụ thể,

xác định rõ mục tiêu phấn đấu, tiến độ thời gian thực hiện

Hai là, công tác PCGD TH đúng độ tuổi và phổ cập THCS phải được xác

định là một nhiệm vụ chiến lược quan trọng đặt trong nghị quyết của đảng bộ,HĐND các cấp Được tổ chức thực hiện trên cơ sở kế hoạch hàng năm, được phêduyệt của các cấp chính quyền

Ba là, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của trẻ

đặc biệt là các đối tượng trong độ tuổi phổ cập

Bốn là, huy động được các tổ chức quần chúng xã hội, các tổ chức kinh

tế tham gia, tạo điều kiện thuận lợi việc thực hiện đề án

Trang 40

Năm là, xây dựng cơ chế tập trung huy động cao các nguồn lực cho giáo

dục và đào tạo Tăng nguồn kinh phí cho việc mở lớp, bồi dưỡng chuyên mônnghiệp vụ cho lực lượng giáo viên giảng dạy, mua sắm trang thiết bị Tăngnguồn kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản, ưu tiên thoả đáng nguồn vốn chươngtrình 135 và các chương trình mục tiêu khác cho xây dựng cơ sở vật chất trườnghọc

Huy động các nguồn lực bằng xã hội hoá giáo dục theo hướng khuyếnkhích nhân dân đóng góp xây dựng trường lớp trên cơ sở dân chủ, bàn bạc thốngnhất Quyết tâm thực hiện bằng được đề án của Uỷ ban nhân dân huyện về việcthanh toán phòng học, nhà ở giáo viên, nhà ở bán trú học sinh tạm thời không đủtiêu chuẩn giai đoạn 2002-2005

Tiếp tục đề nghị tỉnh, trung ương có cơ chế chính sách ưu đãi hỗ trợ chogiáo viên, học sinh vùng cao, các lớp bán trú

Sáu là, dấy lên phong trào xã hội hoá giáo dục với nội dung toàn diện,

hiệu quả cụ thể Tuyên truyền vận động toàn dân phấn đấu thực hiện mục tiêuPCGD TH đúng độ tuổi và PC THCS, khắc phục tính trông chờ, ỷ lại vào sự đầu

tư của Nhà nước ở một số địa phương

Bảy là, tổ chức cam kết trách nhiệm thực hiện mục tiêu công tác PCGD

giữa huyện với xã, xã với thôn, thôn với hộ gia đình, ngành giáo dục với cácngành liên quan

Tám là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp uỷ, chính quyền

và Ban chỉ đạo từ huyện đến cơ sở Tổ chức đánh giá đúc rút kinh nghiệm từngnăm, từng giai đoạn Làm tốt công tác thi đua khen thưởng, gắn kết quả thựchiện mục tiêu PCGD với việc đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từngcấp uỷ, chính quyền và đoàn thể ở cơ sở

Các giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, Việc huy động trẻ ra lớp:

Ngày đăng: 17/03/2023, 13:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tuấn Anh (2011), Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo từ 1997 đến năm 2010, Luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch sử, Học viện Chính trị - Hành Chính khu vực I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo từ 1997 đến năm 2010
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh
Nhà XB: Học viện Chính trị - Hành Chính khu vực I
Năm: 2011
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (14/01/1993), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 (khóa VII) về tiếp tục đổi mới giáo dục – đào tạo, số 04-NQ/HNTW, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 (khóa VII) về tiếp tục đổi mới giáo dục – đào tạo
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1993
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (24/12/1996), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 (khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục- đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000, số 02-NQ/TW, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 (khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục- đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1996
5. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai (2001), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai – lần thứ XII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai – lần thứ XII
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai
Năm: 2001
6. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai (2001), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai – lần thứ XII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai – lần thứ XII
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai
Năm: 2001
7. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai (2006), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai – lần thứ XIII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai – lần thứ XIII
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai
Năm: 2006
8. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai (2006), Nghị quyết 02-NQ/TU về Chương trình công tác trọng tâm toàn khóa của BCH Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2005-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 02-NQ/TU về Chương trình công tác trọng tâm toàn khóa của BCH Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2005-2010
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai
Năm: 2006
9. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai (2006) Chương trình công tác trọng tâm toàn khóa giai đoạn 2006-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình công tác trọng tâm toàn khóa giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai
Năm: 2006
10. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai (2006), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai – lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2010-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai – lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2010-2015
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai
Năm: 2006
11. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Văn Bàn (1995), Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Bàn, tập 2, Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Bàn
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Văn Bàn
Nhà XB: Lào Cai
Năm: 1995
12. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Văn Bàn (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVI
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Văn Bàn
Năm: 1996
13. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Văn Bàn (1999), Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Bàn, tập 1, Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Bàn
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Văn Bàn
Nhà XB: Lào Cai
Năm: 1999
14. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Văn Bàn (2000), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVII
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Văn Bàn
Năm: 2000
15. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Văn Bàn (2001), Nghị quyết 02-NQ/HU về Chương trình công tác trọng tâm toàn khóa của BCH Đảng bộ huyện Văn Bàn lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2000-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 02-NQ/HU về Chương trình công tác trọng tâm toàn khóa của BCH Đảng bộ huyện Văn Bàn lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2000-2005
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Văn Bàn
Năm: 2001
16. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Văn Bàn (2005), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVIII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVIII
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Văn Bàn
Năm: 2005
17. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Văn Bàn (2006), Nghị quyết 02-NQ/HU về Chương trình công tác trọng tâm toàn khóa của BCH Đảng bộ huyện Văn Bàn lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2006-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 02-NQ/HU về Chương trình công tác trọng tâm toàn khóa của BCH Đảng bộ huyện Văn Bàn lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2006-2010
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Văn Bàn
Năm: 2006
18. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Văn Bàn (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XIX Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XIX
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Văn Bàn
Năm: 2010
19. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Văn Bàn (2010), Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Bàn, tập 3, Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Bàn
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Văn Bàn
Nhà XB: Lào Cai
Năm: 2010
20. Ban Khoa giáo Trung ương (2002), Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới - chủ trương, thực hiện, đánh giá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới - chủ trương, thực hiện, đánh giá
Tác giả: Ban Khoa giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
21. Ban Khoa giáo Trung ương, Trung tâm thông tin bản tin thông tấn phục vụ lãnh đạo (2001), Tìm hiểu chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010
Tác giả: Ban Khoa giáo Trung ương, Trung tâm thông tin bản tin thông tấn phục vụ lãnh đạo
Năm: 2001

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w