Sử dụngđộng vật đất có ích để cải tạo đất, để phát hiện sự thay đổi của đất hay chiếtsuất chất nào đó từ chúng để chữa bệnh cho con người,… là một trong nhữngbiện pháp nhận được nhiều qu
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
TỔNG QUAN 3
1 Tình hình nghiên cứu giun đất ở Việt Nam 3
2 Tình hình nghiên cứu giun đất ở Nghệ An 6
3 Tổng quan về vườn quốc gia Pù Mát [34] 7
3.1 Vị trí địa lý, địa hình 7
3.1.1 Vị trí địa lý 7
3.1.2 Địa hình 8
3.2 Khí hậu thuỷ văn 9
3.2.1 Khí hậu 9
3.2.2 Thủy văn 10
3.3 Đặc điểm đất đai, thổ nhưỡng 11
3.3.1 Đất đai 11
3.3.2 Thổ nhưỡng 11
3.4 Đặc điểm dân số, kinh tế, xã hội 12
3.4.1 Dân số 12
3.4.2 Kinh tế 13
3.4.3 Xã hội 13
3.5 Nguồn tài nguyên rừng ở vườn quốc gia Pù Mát 13
3.5.1 Các kiểu thảm thực vật rừng đặc trưng 13
3.5.2 Hệ thực vật rừng 13
3.5.3 Hệ động vật rừng 14
3.5.4 Đa dạng nguồn gen sinh vật 15
4.Khái quát về giun đất 15
4.1 Các đặc điểm hình thái chẩn loại ở giun đất 15
4.2 Đặc điểm cấu tạo trong 21
5.Đối tượng, thời gian và phương pháp nghiên cứu 26
Trang 25.1 Đối tượng nghiên cứu 26
5.2 Thời gian nghiên cứu 26
5.3 Phương pháp nghiên cứu 27
5.3.1 Phương pháp thu mẫu 27
5.3.2 Định loại mẫu vật 28
5.4 Tính số lượng và sinh khối 28
5.5 Xử lý số liệu 28
PHẦN II DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
I.Thành phần loài giun đất ở khu vực Thác Kèm - Vườn quốc gia Pù Mát 30
II.Thành phần loài và phân bố của giun đất theo mùa 30
III Thành phần loài và phân bố của giun đất theo các sinh cảnh 30
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 3PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay vấn đề lương thực, thực phẩm sạch và chất lượng đang đượccon người quan tâm vì biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đang làm giảmnăng suất, phẩm chất cây trồng và gây nhiều bệnh, tật cho con người Sử dụngđộng vật đất có ích để cải tạo đất, để phát hiện sự thay đổi của đất hay chiếtsuất chất nào đó từ chúng để chữa bệnh cho con người,… là một trong nhữngbiện pháp nhận được nhiều quan tâm hiện nay và giun đất là nhóm động vậtthuộc đối tượng đó
Giun đất là một đại diện của lớp giun ít tơ (Oligochaeta), sống chủ yếutrong đất thuộc bộ Lumbricimorpha và ngành Giun đốt (Annelida) Tuy có sốloài không nhiều hơn so với nhiều nhóm động vật đất khác nhưng chúngthường chiếm sinh khối chủ yếu của hệ động vật đất
Trong đất, thông qua các hoạt động sống giun đã quyết định vai trò tolớn của mình Thức ăn của giun chính là đất, các sản phẩm mùn hữu cơ, cành
lá cây mục Các sản phẩm này đều biến thành phân giun sau khi đã qua hệthống tiêu hoá của giun đất Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, phân giun đấtrất giàu chất dinh dưỡng, hàm lượng nitrat, photphat và nước cao hơn hẳn đất
mẹ [45] Giun đất còn là sinh vật chỉ thị cho mức độ thay đổi, nguồn gốc củamột vùng đất, tính chất đất cũng như mức độ ô nhiễm của đất [8], [44], [48]
Trong thực tiễn, do giàu đạm nên giun đất được sử dụng làm thức ăn cho
cá, gia cầm và gia súc Sử dụng bột giun đất trong thức ăn chăn nuôi gia súc, giacầm sẽ làm tăng đáng kể trọng lượng và chất lượng thịt của vật nuôi [19]
Trong y học dân gian Việt Nam, Lào, Trung Quốc,… giun đất được sửdụng để chữa một số bệnh như: sốt rét, đậu mùa, hen suyễn, thấp khớp, độngkinh, vàng da,… [3], [43], [51] Ngày nay, giun đất được xem như là một đốitượng dùng để ly trích các enzim có khả năng làm tan các cục máu đông,kháng viêm, chống ô xi hoá,… [35],[53] Đặc biệt, một số enzim chiết suất từgiun đất có khả năng giết chết tế bào ung thư [37]
Trang 4Bên cạnh đó, thông qua dinh dưỡng giun đất đã trở thành vật chủ trung
gian của một số loài giun sán kí sinh như giun phổi (Metastrongylus), giun thận (Stephanurus dentatus) [26] Cơ thể giun đất còn là môi trường thích hợp của trực khuẩn gây bệnh ngộ độc thịt ôi (Clostridium botulinum) phát triển và
lan truyền trong đất [27]
Ngoài những ứng dụng thực tiễn mà giun đất đem lại cho con người,đất đai, thực vật, giun đất còn là nhóm động vật giữ vị trí quan trọng trongquá trình tiến hoá của động vật từ nước lên cạn, góp phần hình dung quá trìnhhình thành bậc loài, dưới loài, sự tiến hoá của các hệ cơ quan của động vật[2] Như vậy, giun đất là nhóm động vật có ý nghĩa quan trọng đối với conngười và tự nhiên nên việc nghiên cứu chúng là cần thiết
Ở Việt Nam, giun đất đã được nghiên cứu từ rất lâu và thường tậptrung trên diện rộng ở các miền địa lý khác nhau Tuy nhiên, vẫn còn nhiềukhu vực hay những vùng còn chưa được nghiên cứu một cách kĩ lưỡng Khuvực Thác Kèm - Vườn quốc gia Pù Mát ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An làmột trong những vùng đó
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Thành phần
loài và đặc điểm phân bố của giun đất ở khu vực Thác Kèm - vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An”
2. Mục tiêu của đề tài
Thống kê thành phần loài và tìm hiểu đặc điểm phân bố của giun đất ởkhu vực Thác Kèm - vườn quốc gia Pù Mát, Tỉnh Nghệ An
3. Nội dung nghiên cứu của đề tài
- Thống kê và định loại thành phần loài giun đất ở khu vực nghiên cứu
- Nhận xét đặc điểm phân bố định tính và định lượng của giun đất theo
độ sâu, theo mùa và theo sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu
Trang 5TỔNG QUAN
1. Tình hình nghiên cứu giun đất ở Việt Nam
Ở Việt Nam giun đất đã được bắt đầu nghiên cứu ở cuối thế kỉ XIXnhưng thực sự mới chỉ được đẩy mạnh trong 35 năm trở lại đây
Năm 1872, Perrier E công bố dẫn liệu giun đất đầu tiên với việc mô tả
loài Perichaeta aspergillum [50] Năm 1875, Perrier E tiếp tục bổ sung thêm
3 loài giun đất Perichaeta juliani, Pheretima posthuma và Ph houlleti [49]
Năm 1931, Stephenson mô tả 2 loài mới là: Pheretima bianensis và Pheretima annamensis thu được ở cao nguyên Lâm Viên [52]
Năm 1934, W Michaelsen đã công bố một danh sách gồm 20 loài đãgặp ở Đông Dương (chủ yếu ở phần lãnh thổ Việt Nam và Camphauchia)trong đó có 16 loài mới (15 loài trong giống Pheretima và 1 loài trong giốngDrawida) [46]
Năm 1956, P Omodeo trong công bố về giun đất ở Đông Dương vàĐịa Trung Hải đã nhắc tới 6 loài giun đất ở Sài Gòn, trong số các loài này có
Ph saigonensis được ông coi là loài mới [44] Nhưng năm 1983, Thái Trần Bái đã tu chỉnh lại là tên đồng vật của Ph bahli Gates, 1945.
Năm 1960, 1965 Thái Trần Bái đã phát hiện 2 loài giun đất ở lãnh thổ
phía bắc Việt Nam là Pheretima aspergillum Perier, 1872 và Lampito mauritti Kingberg, 1866 [1]
Năm 1983, trong công trình nghiên cứu của mình Thái Trần Bái đãcông bố 109 loài và phân loài thuộc 6 họ và 17 giống trên 71 vùng và 28 tỉnhcủa lãnh thổ Việt Nam, trong đó có 39 loài do tác giả tự mô tả Trong côngtrình này bên cạnh việc nghiên cứu thành phần loài, đặc điểm phân bố TháiTrần Bái còn nghiên cứu giải phẫu so sánh của các hệ cơ quan và các nhómhình thái sinh thái Đây là công trình nghiên cứu đầy đủ và trọn vẹn nhất từtrước đến nay ở Đông Dương Cũng trong năm này Thái Trần Bái đã công bốdanh sách 11 loài giun đất ở đồng bằng sông Cửu Long Năm 1997, ông lại bổ
sung cho khu vực này 1 loài là Pheretima elongate [12].
Trang 6Vùng đồng bằng Sông Hồng có công trình nghiên cứu là luận án phó tiến
sĩ của Trần Thuý Mùi (1985) Kết quả nghiên cứu cho thấy có 32 loài giun đấtthuộc 7 họ và 12 giống, bổ sung thêm 16 loài lần đầu gặp ở Viêt Nam [20]
Miền Tây Bắc, năm 1994, Đỗ Văn Nhượng đã công bố danh sách 95loài và phân loài giun đất thuộc 6 họ, 7 giống Trong đó có 15 loài và phânloài mới cho khoa học [23]
Khu vực Bình Trị Thiên, năm 1994, Nguyễn Văn Thuận đã công bốdanh sách 54 loài và phân loài giun đất thuộc 6 họ, 9 giống Trong đó có 5loài mới cho khoa học [28]
Miền Đông Bắc, năm 1995, Lê Văn Triển đã công bố danh sách 72loài và phân loài giun đất thuộc 5 họ, 11 giống Trong đó có 5 loài mới chokhoa học [31]
Khu vực Quảng Nam - Đà Nẵng, năm 1995, Phạm Thị Hồng Hà đã công
bố một danh sách gồm 48 loài và phân loài giun đất thuộc 4 họ, 8 giống Trong
đó có 6 loài mới cho khoa học và 1 loài lần đầu phát hiện ở Việt Nam [14]
Khu vực phía Nam miền Trung, năm 1996, Huỳnh Thị Kim Hối đãcông bố 75 loài và phân loài giun đất thuộc 6 họ và 14 giống Trong đó có 8loài mới cho khoa học và 1 loài lần đầu phát hiện ở Việt Nam [17] Cùng năm
1996, Thái Trần Bái đã công bố danh sách 5 loài giun đất thuộc giốngPheretima không có manh tràng ở Côn Lôn, Bảy Cạnh, đèo Đức Mụ (KhánhHoà), Tuy Hoà (Phú Yên), Kỳ Hà - Núi Thành (Quảng Nam - Đà Nẵng)
Như vậy, tính đến năm 2000 trên lãnh thổ Việt Nam đã gặp 195 loàithuộc 8 họ và 18 giống, trong đó họ Megascolecidae chiếm 167 loài, giốngPheretima với 165 loài và phân loài [4]
Năm 2004, Thái Trần Bái và cộng tác viên đã cung cấp danh sách cácloài giun đất ở một số đảo phía Nam Trong đó, đảo Thổ Chu có 6 loài và 4taxon chưa xác định tên khoa học và đảo Phú Quốc có 4 loài và 4 taxon chưaxác định tên khoa học (thuộc Kiên Giang) Đảo Côn Lôn và hòn 7 cạnh có 9loài và 6 taxon chưa xác định tên khoa học (thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu) và đảo
Trang 7Hòn Tre có 5 loài và 1 taxon thuộc nhóm Pheretima không có manh tràng
(thuộc Khánh Hoà)
Năm 2007, Thái Trần Bái và cộng tác viên đã cung cấp dẫn liệu mới
về giun đất trên các của nhánh Cổ Chiên thuộc sông Tiền với 2 loài mới gặp
lần đầu ở Nam Bộ là (Dichogaster bolaui và Gordiodrilus elegans).
Năm 2008, Trần Thị Thanh Bình, Nguyễn Văn Năm đã gặp 25 loài vàdạng loài giun đất thuộc 5 giống của 5 họ trong Phân ban Khe Rỗ - Khu bảotồn thiên nhiên Tây Yên Tử [21]
Năm 2013, Nguyễn Thanh Tùng, trong nghiên cứu khu hệ giun đất ởĐồng bằng Sông Cửu Long, Việt Nam đã phát hiện 34 loài giun đất thuộc 9giống và 6 họ Trong đó có 2 loài mới cho khoa học, 1 loài mới được ghi nhận
ở Việt Nam và 3 loài mới gặp ở khu vực nghiên cứu [33]
Từ sau năm 2000, có thêm một số dẫn liệu về đa dạng loài giun đất ởnhiều khu vực khác nhau của Việt Nam được công bố như: Vườn Quốc GiaTam Đảo [12], Bà Nà - Núi Chúa Đà Nẵng [9], các đảo phía Nam - Việt Nam[10], Vườn Quốc Gia Xuân Sơn [18], các cù lao trên sông Cổ Chiên [18], phíaNam tỉnh Bình Định [29], khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ [21], vành đai sôngTiền [32], Tiền Giang [30], Thành phố Đà Nẵng [15], phía Tây Nam VườnQuốc Gia Kon Ka Kinh [16] và khu hệ giun đất đồng bằng sông Cửu Long[33] Các nghiên cứu này đã công bố thêm nhiều loài giun đất mới cho khoahọc
Theo tổng kết của Thái Trần Bái (2000b) và cập nhật, bổ sung các dẫnliệu mới, cho đến nay khu hệ giun đất Việt Nam đã phát hiện được 213 loài và
phân loài, thuộc 18 - 24 giống, của 7 họ Trong đó, họ Megascolecidae nhiều nhất với 191 loài và phân loài, kế đến Ocnerodrilidae (7 loài), Octochaettidae (6 loài), Moniligastridae (5 loài), Lumbricidae (2 loài) và 2 họ còn lại mỗi họ
có 1 loài (Glossoscolecidae, Microchaetidae) [33].
Nếu theo hệ thống phân loại của Sims và Easton (1972) và Easton
(1979) thì 188 loài và phân loài trong giống Pheretima ở Việt Nam được chia
Trang 8thành 6 giống: Amynthas (113 loài và phân loài), Metaphire (53 loài và phân loài), Polypheretima (13 loài), Planapheretima (5 loài), Metapheretima (3 loài) và giống Pithemera (1 loài)
Như vậy, giống Amynthas và Metaphire có số loài chiếm ưu thế ở
Việt Nam, đây cũng là hai giống có nhiều bất ổn trong phân loại học do đặcđiểm chính để phân biệt chúng là buồng giao phối nhưng thế nào là buồnggiao phối vẫn là một vấn đề còn nhiều tranh cãi Chính vì thế, các tác giảnghiên cứu giun đất ở Việt Nam vẫn đang giữ nguyên các loài trong nhómnày ở giống Pheretima Kinberg, 1867 để chờ một hệ thống phân loại mớithỏa đáng hơn [33]
2. Tình hình nghiên cứu giun đất ở Nghệ An
Năm 1986, Thái Trần Bái và Nguyễn Văn Cừ công bố các dẫn liệu vềkhu hệ giun đất ở vùng Kỳ Sơn - Nghệ Tĩnh (Nghệ An) [7]
Năm 1995, Thái Trần Bái và cộng tác viên nghiên cứu giun đất ở miềnnúi Tây Bắc của Nghệ An, một số loài giun đất mới ở Nghệ An được công bốchung với các khu vực khác Trong đó có 49 loài và phân loài giun đất thuộc
4 họ: Megascolecidae, Moniligastridae, Ocnerodrilidae và Glossoscolecidae.
Trong 6 giống đã gặp ở khu vực này Pheretima là giống lớn nhất với 38 loài
và 6 phân loài giun đất, có 9 loài và 5 phân loài chưa gặp ở khu vực khác: Ph chaubinhensis, Ph dipapillata, Ph dorsomorrisi, Ph khoii, Ph hiepcatana, Phmunglongmontis, Ph ovaliporophorata, Ph divitopapillata, Ph manicata kisonmontis, Ph andersoni minima, Ph exilisaria ngheanae, Ph dangi munglongana, Ph multitheca dipapillata, Ph manicata kisonmontis.
Về phân bố mỗi sinh cảnh ở vùng núi Tây Bắc Nghệ An có thành phầnloài đặc trưng như: Rừng thứ sinh có số loài phong phú nhất, các loài gặp ở
rừng phần lớn trong nhóm thảm mục như: Ph plumatomusculata, Ph leucocirca, Ph opthalmopapillata, Ph khoii, Ph dorsomorrisi.
Trảng cây bụi có số loài nghèo hơn, trong đó có nhiều loài vùng đồi:
Ph aspergillum, Ph papulosa, Pontoscolex corethrurus, số còn lại của trảng
Trang 9cây bụi phần lớn trong nhóm đào hang và ở đất, kể cả các loài di nhập từ đồng
bằng đến như: Ph morriri, Ph digna, Ph brevicapitata [11], [24], [25].
Năm 1999, có nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt về khu hệ giun đấtThanh - Nghệ - Tĩnh, trong đó ở Thanh Hóa mẫu được thu ở 2 địa điểm: Lâmtrường Sông Chàng Như Xuân Thanh Hóa và đảo hòn Mê- Tĩnh Gia Thanh
Hóa Ở rừng Như Xuân Thanh Hóa có các loài Ph dorsomorrisi, Ph sp 83,
Ph khoii, Ph robusta, Ph sp 82, Ph leucocirca, Ph exilis, Pontoscolex corethrurus Ở đảo hòn Mê - Thanh Hóa chỉ gặp có 5 loài: Ph robusta, Ph digna, Dichogaste Modigliani, Gordiodrilus elegans, Ocnerodrilus ocidentalis [22]
3 Tổng quan về vườn quốc gia Pù Mát [34]
+ Phía Đông giáp các xã Phúc Sơn, Hội Sơn (huyện Anh Sơn)
VQG Pù Mát có chiều dài dọc biên giới Việt - Lào về phía Tây Namtỉnh Nghệ An, có chiều rộng trung bình khoảng 20 km (nơi hẹp nhất khoảng
15 km, nơi rộng nhất khoảng 25 km)
Trang 103.1.2 Địa hình
VQG Pù Mát thuộc vùng núi cao, có địa hình hiểm trở, bị chia cắtmạnh bởi hệ thống sông suối dày đặc, dộ dốc lớn Độ cao biến động từ 200-1.841m, trong đó 90% diện tích có độ cao <1000 m
Khu vực cao nhất là các đỉnh dông giáp biên giới nước Cộng hoà dânchủ nhân dân Lào, Pù Mát là đỉnh cao nhất (1.841m) Từ hệ dông chính nàyhình thành các dải dông phụ chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và cácthung lũng, tạo nên 4 hệ thống suối chính: Khe Thơi, Khe Bu, Khe Choăng,Khe Khặng Các khe suối này ở thượng nguồn có nhiều thác nước lớn
Các dải dông phụ có độ dốc lớn, độ cao trung bình từ 800m - 1500m,địa hình hiểm trở Riêng thung lũng Khe Khặng và Khe Thơi có địa hìnhtương đối bằng, đây là vùng trước đây và hiện nay còn một bộ phận ngườidân tộc Đan Lai sinh sống
Do địa hình hiểm trở, nhiều núi cao vách đá dựng đứng khó đi lại, 4con suối lớn từ các dãy núi chảy vào sông Cả đều nhiều ghềnh thác và nhiềukhúc ngoặt nên sự phá rừng từ khu dân cư bên ngoài còn ít, vì vậy Pù Mát làmột trong số rất hiếm khu rừng nguyên sinh lớn còn lại ở Việt Nam
Trang 11Bản đồ 1 Vị trí địa lí Vườn quốc gia Pù Mát
3.2 Khí hậu thuỷ văn
3.2.1 Khí hậu
Do địa hình của dãy Trường Sơn ảnh hưởng mạnh đến hoàn lưu khíquyển, đã tạo nên sự khác biệt lớn trong phân hoá khí hậu khu vực Theo tàiliệu quan trắc nhiều năm của các trạm khí tượng Con Cuông, Tương Dươngcho thấy:
- Chế độ gió: VQG Pù Mát nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới giómùa, chịu ảnh hưởng của 02 loại gió chính đó là gió mùa Đông Bắc (mùaĐông) và gió mùa Tây Nam (mùa Hè)
- Chế độ nhiệt:
+ Nhiệt độ trung bình năm 23 - 240C, tổng nhiệt năng từ 8.500 - 8.7000C + Mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau do chịu ảnh hưởng củagió mùa Đông Bắc (giá lạnh và thường kèm theo mưa phùn) nên nhiệt độ
Trang 12trung bình trong các tháng này xuống dưới 200C và nhiệt thấp nhất xuốngdưới 180C (tháng giêng).
+ Mùa hè, do có sự hoạt động của gió Tây Nam (gió Lào) nên thời tiếtrất khô nóng, kéo dài tới 3 tháng (từ tháng 4 đến tháng 7) Nhiệt độ trung bìnhmùa hè lên trên 250C, nóng nhất vào tháng 6 và 7, nhiệt độ trung bình là 290C.Nhiệt độ tối cao lên tới 420C ở Con Cuông và 42,70C ở Tương Dương vàotháng 4 và 5, độ ẩm trong các tháng này có nhiều ngày xuống dưới 30%
- Chế độ mưa ẩm:
+ Lượng mưa từ 1.268,3 mm (ở Tương Dương) đến 1.790 mm (ở AnhSơn), sự chênh lệch lượng mưa đã tạo nên các tiểu vùng khí hậu rõ rệt: vùngkhô ở phía Tây Bắc và vùng mưa nhiều ở phía Nam Lượng mưa tập trung từtháng 5 đến tháng 10, chiếm 90 % lượng mưa cả năm Mùa khô kéo dài từtháng 12 đến tháng 2 năm sau, thường có mưa phùn do ảnh hưởng của giómùa Đông Bắc
+ Độ ẩm không khí bình quân 81 - 86%, mùa mưa ẩm có thể lên 91%nhưng vào mùa hanh khô hoặc ảnh hưởng của gió Lào, độ ẩm có ngày xuốngdưới 30%
Nhìn chung, mạng lưới sông suối khu vực VQG Pù Mát khá dày đặc,đóng vai trò quan trọng trong cung cấp nguồn nước và giao thông thuỷ Tuynhiên, do lượng mưa phân bố không đều trong năm, thường tập trung theomùa nên dễ gây tình trạng khô hạn và lũ lụt, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống
và môi trường
Trang 133.3 Đặc điểm đất đai, thổ nhưỡng
3.3.1 Đất đai
VQG Pù Mát nằm trên dãy Trường Sơn Bắc, quá trình kiến tạo địa chấtđược hình thành qua các kỷ Palezoi, Đề vôn, Các bon, Pecmi, Tri at đếnMioxen cho tới ngày nay Trong suốt quá trình phát triển của dãy Trường Sơnthì chu kỳ tạo núi Hecxinin, địa hình luôn bị ngoại lực tác động mạnh mẽ tạonên 4 dạng địa mạo chủ yếu sau:
- Núi cao trung bình: Nằm ngay biên giới Việt Lào với vài đỉnh caotrên 2000m (Phulaileng cao 2711m, Rào cỏ cao 2286m), địa hình vùng nàyrất hiểm trở, đi lại cực kỳ khó khăn
- Kiểu núi thấp và đồi cao: Kiểu này chiếm phần lớn diện tích của miền
và có độ cao từ 1000m trở xuống, cấu trúc tương đối phức tạp, được cấu tạobởi các trầm tích, biến chất, địa hình có phần mềm mại và ít dốc hơn
- Thung lũng kiến tạo, xâm thực: Kiểu này tuy chiếm một diện tích nhỏnhưng lại thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, độ cao thấp hơn gồm thunglũng các sông suối khe Thơi, khe Choăng, khe Khặng (sông Giăng) và bờphải sông Cả
- Các khối đá vôi nhỏ: Kiểu này phân tán dạng khối, uốn nếp có quátrình karst trẻ và phân bố hữu ngạn sông Cả ở độ cao 200 - 300m Cấu tạophân phiến dày, màu xám đồng nhất và tinh khiết
3.3.2 Thổ nhưỡng
Qua kết quả khảo sát thực địa và bản đồ thổ nhưỡng, VQG Pù Mát cócác nhóm loại đất chính sau:
- Nhóm đất Feralit - mùn trên núi màu đỏ vàng phát triển trên đá trầm
tích và biến chất có kết cấu hạt mịn (FHs): Đất có thành phần cơ giới thịttrung bình, phân bố nhiều ở phía Nam và phía Đông Nam VQG
- Nhóm đất Feralit - mùn trên núi màu vàng nhạt hay vàng xám phát triển
trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt thô (FHq): Đất có thành phần cơ giớithịt nhẹ hoặc trung bình, phân bố nhiều ở phía Tây và Tây Nam VQG
Trang 14- Nhóm đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá sét (Fs): Phân bố chủ yếu ở
trung tâm và phía đông VQG, đất có thành phần cơ giới nặng đến trung bình
- Nhóm đất Feralit vàng nhạt phát triển trên đá trầm tích và biến chất
có kết cấu hạt thô (Fq): Phân bố chủ yếu ở trung tâm và phía Tây Bắc VQG,đất có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, trong đất nhiều đá lẫn, tầng đấttrung bình
- Nhóm đất Feralit phát triển trên đá vôi (Fv): Phân bố chủ yếu phía
Đông Bắc VQG, đất có thành phần cơ giới nặng, tầng đất dày, màu đỏ vànghay nâu đỏ
- Nhóm đất dốc tụ và đất phù sa sông suối (D; P): Phân bố ven các sôngsuối, nhiều nhất là ở thung lũng Khe Khặng, Khe Choang, Khe Thơi Đất cómàu nâu xám, thành phần cơ giới trung bình, tơi xốp
Nhìn chung, đất trong VQG Pù Mát phần lớn còn được rừng che phủ,tầng đất từ trung bình đến dày, kết cấu, độ ẩm đất đảm bảo thuận lợi cho câyrừng sinh trưởng, phát triển Chính điều kiện tự nhiên thuận lợi của đất đai ởđây đã hấp dẫn người dân địa phương khai phá để sản xuất nông nghiệp, từ đó
đe dọa đến tính toàn vẹn của tài nguyên rừng VQG
3.4 Đặc điểm dân số, kinh tế, xã hội
3.4.1 Dân số
- Dân số có 96.132 người, 24.541 hộ Mật độ trung bình là: 41người/km2, mật độ cao nhất là xã Đỉnh Sơn huyện Anh Sơn (mật độ là 498người/km2) và thấp nhất xã Tam Hợp huyện Tương Dương (mật độ là 8người/km2)
- Dân tộc: VQG Pù Mát có 7 dân tộc chính sinh sống bao gồm: Dân tộcThái, Khơ Mú, Kinh, H’Mông, Đan Lai, Poọng, Ơ Đu Dân tộc Thái là dân tộcchủ yếu chiếm 66,89% và dân tộc ít nhất trong vùng là dân tộc Ơ Đu chiếm 0,6%
- Lao động trong khu vực chủ yếu làm nông nghiệp (Chiếm trên91,9%), còn lại là các ngành nghề khác như: Thương mại, dịch vụ, giáo viên,
y tế, cán bộ viên chức làm việc tại các xã trong vùng
Trang 153.4.2 Kinh tế
Do đặc thù của các xã vùng đệm VQG chủ yếu là người đồng bào dântộc thiểu số, nên sản xuất chủ yếu là làm nông nghiệp với hai ngành chính làtrồng trọt và chăn nuôi Ngoài ra nhân dân thu hái lâm sản phụ, săn bắt chimthú, nhận khoán bảo vệ rừng của các đơn vị lâm nghiệp để có việc làm tăngthêm thu nhập kinh tế hộ
3.4.3 Xã hội
- Giáo dục: Trên địa bàn của 17 xã thuộc vùng đệm khu bảo tồn, mạng lướigiáo dục phổ thông hiện đã có 3 cấp học: Mầm non, tiểu hoc, trung học cơ sở Độingũ giáo viên chủ yếu là người địa phương, đã được đào tạo cơ bản, số lượng giáoviên đã đáp ứng được công tác giảng dạy cho con em địa phương
- Hệ thống giao thông, thuỷ lợi, y tế và hệ thống điện đã được đầu tưvới mạng lưới tương đối phát triển, đáp ứng được cho nhân dân ở trong vùng
3.5 Nguồn tài nguyên rừng ở vườn quốc gia Pù Mát
3.5.1 Các kiểu thảm thực vật rừng đặc trưng
Theo quan điểm sinh thái phát sinh quần thể và hệ thống phân loạithảm thực vật Việt Nam của tiến sỹ Thái Văn Trừng (1978), thảm thực vậtrừng trong khu bảo tồn Pù Mát được chia làm các kiểu rừng chính như sau:
+ Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới 46,5%
+ Rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng, lá kim mưa ẩm á nhiệtđới chiếm 29%
+ Rừng phục hồi sau khai thác và sau nương rẫy 21%
+ Kiểu phụ rừng lùn đỉnh núi 1,7%
+ Trảng cỏ cây bụi, cây gỗ rải rác 1,4%
+ Đất canh tác nông nghiệp và nương rẫy 0,4%
3.5.2 Hệ thực vật rừng
Tổng hợp kết quả các đợt điều tra từ trước đến nay cho thấy hệ thực vật
Pù Mát có số lượng loài tương đối phong phú Bước đầu ghi nhận được VQG
Pù Mát có 2.494 loài thuộc 931 chi và 202 họ của 6 ngành thực vật bậc cao
Trang 16-Thành phần loài: Kết quả khảo sát của các nhà khoa học trong và
ngoài nước đã thống kê được 1.121 loài động vật thuộc các nhóm thú, chim,
bò sát, lưỡng cư, cá, Con số thống kê này đã chứng tỏ Vườn quốc gia PùMát là nơi có tính đa dạng sinh học cao Điều đặc biệt quan trọng đối với khu
hệ động vật Vườn quốc gia Pù Mát là tính đa dạng các yếu tố đặc hữu cao
Bảng 2: Danh mục động vật ở Vườn quốc gia Pù Mát
Trang 173.5.4 Đa dạng nguồn gen sinh vật
VQG Pù Mát là nơi sinh sống của nhiều loài động vật hoang dã, trong
đó có nhiều loài quý hiếm Trong rừng có nhiều loại cây khác nhau Đây lànguồn thực phẩm, nguồn nguyên liệu quý cho công nghiệp và dược phẩm, lànguồn gen tự nhiên có giá trị cao cho nghiên cứu khoa học Trong đó, có nguồngen các loài động vật, thực vật rừng quý hiếm và đặc hữu như; Hổ, Bò tót,Vượn đen má trắng, Gấu ngựa, Gà lôi trắng và Kim giao, Sến mật, Lát hoa,Tấu mật, Chò chỉ và các loài Lan…Kết quả điều tra bước đầu thấy rằng ở đâykhông những phong phú về chủng loại mà một số loài còn tập trung với mật độcao như: Lớp thú có 11 bộ, 30 họ, 132 loài; lớp chim có 14 bộ, 49 họ, 361 loài;lớp lương cư có 2 bộ, 6 họ, 33 loài và lớp bò sát có 2 bộ, 15 họ và 53 loài
4 Khái quát về giun đất
4.1 Các đặc điểm hình thái chẩn loại ở giun đất
Hình 1: Hình thái ngoài của Pheretima posthuma
Lỗ sinh dục cái
Lỗ nhận tinh
Hậu môn
Đốt I Môi
Đai sinh dục Nhú phụ sinh dục Lỗ sinh dục đực
Vành tơ
Trang 18Một số đặc điểm hình thái ngoài có giá trị quan trọng trong định loạigiun đất như đai sinh dục, kiểu tơ, lỗ nhận tinh, nhú phụ sinh dục, nhú đực, lỗsinh dục cái và một vài đặc điểm khác có giá trị tham khảo trong các mô tảnhư: kiểu môi, lỗ lưng đầu tiên, kích thước cơ thể (chiều dài, đường kính,trọng lượng), số đốt, màu sắc và hình dạng cơ thể (hình)
* Đai sinh dục: là sản phẩm của lớp biểu mô ở một phần cơ thể, tạo
thành lớp vỏ kén sau khi ghép đôi Phần lớn các loài có đai sinh dục phồnglên và một số loài khác phần đai kém phát triển nhưng tất cả chúng được phânbiệt với các phần khác của cơ thể bởi màu sắc Có thể phân biệt thành 2 dạngđai sinh dục là đai hở (hình yên ngựa) và đai kín (hình nhẫn), một số loài khác
có đai không rõ ràng (chỉ có vùng đai) [13] Vị trí và số đốt của đai sinh dụcrất ít thay đổi và đặc trưng cho từng nhóm loài Do đó, nó được xem như làmột đặc điểm chẩn loại quan trọng để phân biệt các taxon bậc cao HọLumbricidae có đai sau lỗ sinh dục, thường bắt đầu từ đốt XXII đếnXXXVIII, có thể kéo dài thêm về phía sau từ 4 đến 10 đốt HọMegascolecidae có đai xa hơn về phía trước, thường bắt đầu từ đốt XIV, cóthể có cả lỗ sinh dục cái và đực nằm trên đai hoặc chỉ có lỗ sinh dục cái ỞPheretima đai sinh dục thường chiếm 3 đốt (đai đủ, từ XIV - XVI), có khi íthơn (đai thiếu) hoặc hiếm khi nhiều hơn (đai dư) [13]
Hình 2: Các dạng đai sinh dục của một số giống giun đất [13]
Đai kín (A Pheretima, B Lampito, C Perionyx); Đai hở (D Dichogaster, E Ocnerodrilus, G Gordiodrilus, H Pontoscolex); Vùng đai (I Drawida).
I H G E
D
C
B
A
Trang 19* Tơ: là cơ quan vận chuyển làm điểm tựa khi giun đất đào hoặc di
chuyển trong hang Dựa vào số lượng tơ trên mỗi đốt có thể phân thành 2 kiểu,lumbricine (mỗi đốt có 8 tơ xếp thành 4 đôi) và perichaetine (mỗi đốt có nhiều
tơ xếp thành vòng) [12] Ở Pheretima tơ có thể xếp liên tục (aa = ab, zz = zy)hay không liên tục (aa > ab, zz > zy) trên vành tơ Tơ thường phát triển ở vùnggiao phối (đặc biệt là lỗ đực) được gọi là tơ giao phối nhưng hiếm khi xuất hiện
ở các loài thuộc giống Pheretima Tơ thường xếp thành 1 vòng đơn ở giữa mỗiđốt, nhưng ở 1 vài loài của Planapheretima và Metapheretima có sự thay đổithành 2 hoặc 3 vòng tơ Đặc biệt, các loài của giống Planapheretima (giun lá) có
tơ tập trung nhiều ở bụng gọi là đế bò [42]
Hình 3: Các kiểu vành tơ và cách đo khoảng cách tơ ở giun đất
* Lỗ nhận tinh: là lỗ đổ của túi nhận tinh ra ngoài cơ thể Lỗ nhận tinh
thường khó thấy và không phải luôn luôn có 1 đôi trên mỗi đốt nhận tinh.Giun đất thường có 2 đôi lỗ nhận tinh hoặc nhiều hơn, tối đa là 7 đôi nhưngcũng có trường hợp không có lỗ nhận tinh Vị trí xuất hiện của lỗ nhận tinhthay đổi tùy theo loài, thường phân bố từ rãnh đốt 4/5 đến 8/9 (hiếm khi ở 3/4hoặc 9/10) Trên mỗi đốt chúng thường đổ ra ở rãnh gian đốt, hiếm khi ngaytrên bề mặt đốt (ở trước hoặc sau vành tơ) Phần lớn lỗ nhận tinh nằm ở bụnghoặc bên bụng nhưng đôi khi cũng nằm gần về phía lưng [12]
Đôi gần Đôi xa
Khoảng cách tơ về phía bụng
Khoảng cách tơ về phía lưng
KiểuLumbricine
KiểuPerichaetine
Trang 20* Nhú phụ sinh dục: thường nằm trên bề mặt thành cơ thể về phía
bụng ở vùng nhận tinh (external marking) không có tuyến phụ ở bên tronghay ở vùng đực (genital marking) có tuyến phụ bên trong Giữa các loài khácnhau thì số lượng, vị trí và kiểu nhú phụ khác nhau, có loài không có nhú phụ,cũng có loài chỉ có nhú phụ ở vùng đực, một số loài khác thì có cả nhú phụ ởvùng đực và vùng nhận tinh
Tùy theo nhóm loài giun đất được nghiên cứu, mỗi tác giả đã phânchia nhú phụ sinh dục của Pheretima thành các kiểu khác nhau Theo Ishizuka(1999), có 2 kiểu nhú phụ sinh dục ở vùng đực là sucker và papilla và 3 kiểunhú phụ sinh dục vùng nhận tinh là colord patch, sucker và deep groove (hình2.4) Theo Easton (1979) và Thái Trần Bái (1986), vùng đực có 4 kiểu nhúphụ sinh dục khác nhau, nhú phụ đơn (diffuse), nhú phụ hợp (large discrete),nhú phụ hình lưỡi liềm (crescentric) và kiểu nhú phụ hình đĩa (small discrete)(hình 2.5) Tuy ở một số ít loài nhú phụ sinh dục có phổ biến đổi rất lớnnhưng ở nhiều loài khác thì rất đặc trưng và ổn định [2]
Hình 4: Các kiểu nhú phụ sinh dục ở vùng đực (A, B) và vùng nhận tinh
(C - E) ở giống Pheretima
A Kiểu sucker; B Kiểu papillae; C Kiểu colord patch; D Kiểu sucker; E Kiểu deep groove
Hình 5: Các kiểu nhú phụ sinh dục ở vùng đực của Pheretima [2]
A nhú phụ đơn; B nhú phụ hợp; C nhú phụ hình đĩa; D nhú phụ hình lưỡi liềm.
E D
C
B A
D C
B A