Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên phục vụ phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYEN THI HAI
DANH GIA TAI NGUYEN DU LICH TU NHIEN
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CUỐI TUẦN
CỦA HÀ NỘI
1
| Chuyên nganh: Bao vé, sử dụng hợp lý và tái tạo
Trang 2Người hướng dân khoa học:
PGS TSKH NGUYEN QUANG MY
TS NGUYEN QUANG LAN
Phan biện 1: PGS.TS LÊ VĂN THÔNG
Phân biện 2: PGS.TS PHAM TRUNG LƯƠNG
Phần biện 3: PGS.TS NGUYÊN VĂN ĐÍNH
Luận án sẽ dược bảo vệ tại hội dồng chăm luận án cấp nhà nước họp tai Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học quốc gia Hà Nội vào hồi
hOU.ngàv thang nam 2002
Có thể tìm đọc luận án tại Thư viện Quốc gia Việt Nam va Thư viện Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trang 3MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tài nguyên thiên nhiên là một trong những yếu tố quan trọng
đối với việc phát triển kinh tế xã hội Dù là tài nguyên tấi tạo được
hay không tái tạo được, nếu không có chiến lược khai thác hợp lý sẽ dẫn đến suy thoái và cạn kiệt Nghiên cứu và đánh giá tài nguyên là
cơ sở cần thiết cho việc hoạch định chiến lược và đề ra các giải phấp tối ưu cho việc khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên, đảm bảo phát triển một cách bền vững
Cùng với quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, hoạt động dụ lich cuéi mdn (DLCT) khong ngừng gia tăng Đây là xu thế chung
trên thể giới cũng như ở Việt Nam hiện nay Đối với các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, nhu cầu vẻ cơ sở nghỉ cuối tuần ở khu vực phụ cận đã trở nên cấp thiết, nhiều cơ sở cũ đã
quá tải, cố nguy cơ ảnh hưởng tới tài nguyên và môi trường địa
phương
Để sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên du lịch ở Hà Nội và phụ
cận, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người dân cần nhanh chóng Xây dựng mội chiến lược khai thác tài nguyên theo hướng phát triển
bền vững Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu, dánh giá tổng hợp tài nguyên trong khu vực, phục vụ cho việc phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội
Xuất phát từ thực tế đó, tác giả đã chọn đề tài “Đánh gid tài
nguyên ấu lịch tự nhiên, phục vụ phát triển du lịch cuối tuẩn cud
Hà Nội” với mong muốn góp phần vào việc thực hiện Nghị quyết 45
CP của Chính phủ là: "đáp ứng nhu cầu ngày cảng tăng của nhân dân,
ốp phần nàng cao dân trí, phục hồi sức khoẻ, cải thiện đời song vat
Trang 4Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá tống hợp tài nguyên du lịch ur
nhiên CTNDLTN) mục tiêu của để tài là xáy dựng luận cứ khoa học
cho việc sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên đu lịch tự nhiên trong
khu vực, phục vụ phát triển du lịch cuối tuần (DLCT)
Để thực hiện được mục tiêu trên, để tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứn nhụ cầu, sở thích của người đân Hà Nội đối với
hoạt động du lịch cuối tuần
- Kiểm kê tài nguyên của khu vực Hà Nội và phụ cận cho việc
đáp ứng nhu cầu du lịch cuối tuần
- Xây dựng cơ sở lý luận cho việc đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên trong khu vực, phục vụ phát triển du lịch cuối tuần Trên cơ sở
đó tiến hành nghiên cứu, đánh giá một số điểm tài nguyên du lịch trong khu vực
- Đề xuất định hướng sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên du
lịch tr nhiên cho việc phát triển du lịch cuối tuần trong khu vực nghiền cứu
3 GIO! HAN NOI DUNG VA PHAM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn ở khu vực Hà Nội
và phụ cận Song, khái niệm "phụ cận” ở đây là một khái niệm mang
tính chất tương đối Trong điểu kiện hiện tai, dé tài giới hạn khu vực
phụ cận ở bán kính khoảng 150km kể từ trung tâm Hà Nội theo các tục giao thông chính
Hoạt động DLCT bao gỏm nhiều loại hình hoại động khác nhau,
chúng có những đòi hỏi khác nhau đối với tài nguyên du lịch Vì vậy, luận ấn chỉ chọn một đạng hoạt động phổ biến, được nhiều người tra
Trang 5thích nhất, đó là loại hình nghỉ ngơi và vui chơi giải trí Để tài chỉ
đánh giá TNDLTN cho loại hình này
Để minh hoạ cho cơ sở lý luận đánh giá TNDLTN phục vụ phát triển DLCT đã được xây dựng, đề tài chỉ chọn một số điểm đặc trưng
trong khu vực để đánh giá vì địa bàn quá rộng, tài nguyên trong khu vực lại rất đa dạng và phong phú
4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Đề tài đã xác định được nhu cầu, sở thích của người dân Hà Nội đối với hoạt động du lịch cuối tuần và khả năng đáp ứng về mật tài nguyên cho các hoạt động đó ở khu vực Hà Nội và phụ cận
- Xây dựng cơ sở lý luận đánh giá TNDLTN phục vụ phát triển
DLCT cho khu vực nghiên cứu, từ đó tiến hành đánh giá tổng hợp tám điểm tài nguyên trong khu vực
~ Lần đầu tiên, đề tài đã tiến hành xây dựng một hệ thống bản đồ
du lịch cho từng điểm nghiên cứu và bản đồ đánh giá chung tài nguyên du lịch
- Luan án đã để xuất định hướng sử dụng và bảo vệ TNDLTN phục vụ phát triển du lịch cuối tuần trong khu vực một cách hiệu quả
và bền vững
5 CÁC LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ
- Du lịch cuối tuần là nhu cầu tất yếu của người dân Hà Nội Nhu cầu này đang ngày càng tăng, nó gắn với hoạt động nghỉ ngơi và
vui chơi giải trí ngoài trời và hoàn toàn có thể đáp ứng được bởi
nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú và đa dạng ở khu vực
Hà Nội và phụ cân
- Đánh giá tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội chính là xác định sức hút du lịch giữa điểm đi (nội
Trang 6thành Hà Nội) và các điểm đến Kết quả đánh giá tám điểm tài nguyên ở phụ cận Hà Nội cho thấy các điểm du lịch có hồ nước, nằm
ở khoảng cách phù hợp, rất thuận lợi đối với việc phát triển du lịch
cuối tuần của Hà Nội; các điểm du lịch đồi núi - thuận lợi; còn các
điểm du lịch biển - ít thuận lợi Vì vậy, cần đầu tư khai thác các hồ
nước và đổi núi, nằm ở những khoảng cách phù hợp kể từ trung tâm
Hà Nội, phục vụ phát triển DLCT
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VA THUC TIEN
- Luận án đã xác định được nhu cầu và sở thích của người dân
Hà Nội đối với hoạt động du lịch cuối tuần, làm cơ sở cho việc đánh
giá tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du ]ịch cuối tuần của Hà Nội, đồng thời góp phần hoàn thiện phương pháp luận chung về đánh giá tài nguyên du lịch
- Cơ sở lý luận đánh giá TNDLTN được xây dựng cho khu vực nghiên cứu có thể vận dụng để đánh giá cho khu vực phụ cận các
thành phố khác phục vụ phát triển DLCT
- Kết quả nghiên cứu của luận án là nguồn tài liệu tin cậy và cần thiết cho việc xây dựng qui hoạch phát triển du lịch cuối tuần của Hà
Nội và phụ cận
7 CƠ SỞ TÀI LIỆU
- Tài hệu khảo sát thực địa do tác giả thu thập trong suốt quá
trình nghiên cứu rừ năm 1996 đến 2001 tại các điểm du lịch
- Tài liệu điều tra xã hội học theo các bảng hỏi
- Tài liệu từ các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, cấp Đại học Quốc gia và cấp Thành phố, trên địa bàn Hà Nội và phụ cận đo NCS chủ trì hoặc tham gia
- Các tài liệu, số liệu thống kê, các báo cáo của các Sở Du lịch, Cong ty Du lich thuộc các tỉnh trên địa bàn nghiên cứu
Trang 75
- Các bản đồ địa hình, bản đổ hiện trạng sử dung đất tỷ lệ
1:10.000, các sơ đồ du lịch của các điểm nghiên cứu
8 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án được thực hiện trên cơ sở sử dụng kết hợp các phương
pháp nghiên cứu chủ yếu như: khảo sát thực địa, thu thập và xử lý các
số liệu thống kê, phương pháp đánh giá kỹ thuật, phương pháp bản
đồ, điều tra xã hội học và phương pháp chuyên gia
9 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Nội dung của luận án được trình bày trong 150 trang với 38 biểu
bảng, 7 hình vẽ, 10 bản đồ và sơ đồ
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận án
được kết cấu thành bốn chương
NỘI DUNG LUẬN ÁN
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU LỊCH PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LICH CUOI TUAN
1.1 TỔNG QUAN CAC VAN DE VE TAI NGUYEN DU LICH, NHU
CẦU DU LỊCH VÀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CUỐI TUẦN
1.1.1 Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là các thành phần và các tổng thể cảnh quan
tự nhiên và nhân sinh có thể dùng để tạo ra sản phẩm du lịch, thoả
mãn nhu cầu về chữa bệnh, thể thao, nghỉ ngơi hay tham quan, du lịch Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành các
sản phẩm du lịch, là cơ sở quan trọng để hình thành các loại hình du
lịch và đóng vai trò quan trong trong việc tổ chức lãnh thổ du lịch
1.1.2 Nhu cầu và cầu du lịch
Nhu cầu du lịch là sự mong muốn tạm thời rời nơi ở thường xuyên để đến với thiên nhiên và văn hoá ở một nơi khác; Cầu trong
Trang 8du lịch là một bộ phận nhu cầu của có khả năng thanh toán về hàng
hoá vật chất và địch vụ du lịch Cầu du lịch bao gồm hai nhóm, đó là cầu về dịch vụ du lịch và cầu về hàng hoá vật chất
1.1.3 Du lịch cuối tuần
Loại hình du lịch ngắn ngày, thường tổ chức vào cuối tuần được
gọi là du lịch cuối tuần Theo phân loại của Lozato Giotard 1987, du
lịch cuối tuần là một khái niệm chuyển tiếp giữa du lịch và giải trí
Du lịch cuối tuần còn được gọi là “đi trốn những điểm tập trung dân cư và những trung tâm công nghiệp” hoặc "du lịch phụ cận” do
những đặc thù về địa điểm và thời gian của loại hoạt động này
Phụ thuộc vào sức ép đô thị, sự càng thẳng trong lao động, 6 nhiễm tại nơi ở thường xuyên và số ngày nghỉ cuối tuần, nhu cầu DLCT không ngừng tăng lên
Hoạt động DLCT rất đa dạng tuy nhiên chủ yếu là các hoạt động ngoài trời: nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, tham quan, thể thao,
tâm linh-tón giáo
1.2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ TÀI
NGUYÊN DU LỊCH
1.2.1 Trên thế giới
Ở Nga và các nước Đông Âu, từ những năm 60-70 đã tiến hành
nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá tài nguyên du lịch Điển hình
là các công trình của: V.Xtauxkatl969;, lu.A.Vedenhin và N.N.Mirôsnhitrencô, 1972; L.I.Mukhina, 1973; E.A.Kôtliarốp, 1978; P.G.Tsarophis 1979; Piréjnik, 1985
Các nhà nghiên cứu địa lý và du lịch thuộc các nước phương Tây
nhu Baud Bovy & Fred Lauson, 1982: Edward Inskeep, 1991:
Boniface & Cooper, 1993: Clare A.Gunn,1994 déu cho rang nghién
Trang 97
cứu và đánh giá tài nguyên du lịch là một bước cơ bản trong quá trinh
qui hoạch phát triển du lịch
1.2.2 Ở Việt Nam
Từ những nám 80 đã có một số đề tài khoa học, dự án nghiên cứu vẻ vấn để này như Tuy nhiên do hầu hết các công trình được tiến hành đánh giá ở tỷ lệ nhỏ, trên phạm vi lãnh thổ lớn nẻn mới chỉ dừng lại ở mức khái quát, định tính
Cho đến nay, các công trình đánh giá tài nguyên du lịch theo kiểu đánh siá kỹ thuật mới chỉ dược tiến hành trong các luận án tiến
sỹ
1.2.3 Ở khu vực Hà Nội và phụ cận
Tài nguyên du lịch của Hà Nội và phụ cận đã được một số tác giá tiến hành nghiên cứu như; Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông, Nguyễn
Minh Tué,1993; Dang Duy Loi, 1993; Pham Van Du, 1996 và gần
dây nhất là “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Trung tâm du lịch
Hà Nội và phụ cận" của Tổng cục Du lịch, 2001 Tuy nhiên, cho đến
nay chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá tổng hợp tài nguyên cho việc phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội
1.2.4 Một số vấn để quan trọng trong đánh giá tài nguyên du lịch Trong các công trình đánh giá tài nguyên du lịch hiện nay của
Các tác giả trong và ngoài nước (theo hướng đánh giá kỹ thuật) nổi
lên một số vấn để quan trọng nhưng chưa có những giải pháp chung, thống nhất như: xác định các yếu tố và chỉ tiêu đánh giá; xây dựng các thang đánh giá; kết hợp các đánh giá thành phần vào đánh giá
tổng hợp.
Trang 101.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CUỐI TUẦN
1.3.1 Phương pháp luận đánh giá
Đánh giá TNDLTN phục vụ DLCT chính là đánh giá mối tương
quan giữa các tổng thể tự nhiên (được coi là khách thể) với hoạt động
du lịch cuối tuân của con người hay chính là những nhu cầu, sở thích của bản thân con người khi đi DLCT (được coi là chủ thể)
Đánh giá TNDLTN phục vụ phát triển DLCT phải tuân theo các nguyên tắc và phương pháp chung của đánh giá kỹ thuật hay đánh
giá mức độ thuận lợi
du lịch liên kết chúng Từ ba thành phản này sẽ xác định được sức hút
du lịch giữa chúng Sức hút du lịch phụ thuộc vào độ hấp dẫn của tài
nguyên ở điểm du lịch (M,), vào sở thích của du khách ở điểm cấp
khách (M;) và khoảng cách giữa chúng (R) Như vậy F=M,.M¿.R Các thành phân này lại được xác định bằng nhiều yếu tố và chỉ
Trang 11CHƯƠNG 2 NHỤ CẬU VÀ TIỂM NĂNG PHAT TRIEN DU
LỊCH CUỐI TUẦN Ở HÀ NỘI VÀ PHỤ CẬN
2.1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA KHỦ VỰC NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Khu vực nghiên cứu bao gồm toàn bộ vùng đồng bằng sông Hồng và một phần rìa của đồng bằng ở phía Bắc, phía Tây và phía Nam Địa hình của khu vực vừa có đồng bằng, vừa có đổi núi, lại nằm giáp biển Khí hậu có hai mùa rõ rệt, mùa nóng, mưa và mùa lạnh,
khô Khí hậu trong vùng có sự phân hoá phụ thuộc vào địa hình
Mạng lưới sông ngòi khá day đặc, lại có rất nhiều hồ, tiểm nãng nước mặt và nước ngầm phong phú Sinh vật hoang đã chỉ còn lại ở các Vườn quốc gia và khu bảo tổn tự nhiên vì hầu hết điện tích đều da bị khai thác từ lâu đời để phục vụ nông nghiệp
2.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội
Khu vực nghiên cứu là nơi tập trung dân cư đông nhất trong cả
nước Trong những năm gần đây, nẻn kinh tế khu vực phát triển
nhanh và ổn định, công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh, cơ cấu kinh tế đã có những chuyển dịch đáng kể Đời sống của người dân
được cải thiện từng bước, trình độ dân trí được nâng cao Các yếu tố
này ảnh hưởng tới nhu cầu du lịch cuối tuần
2.2 NHU CẦU DU LỊCH CUỐI TUẦN CỦA HÀ NỘI
2.2.1 Nguồn khách và đặc điểm
Nguồn khách có nhu cầu tham gia DLCT bao gém chủ yếu
người dân sống ở khu vực nội thành Hà Nội Vì vậy, việc nghiên cứu
được thực hiện chủ yếu ở các quận nội thành, trên cơ sở phân tích các
đặc diểm về dân cư, kinh tế, xã hội như: độ tuổi, thu nhập, nghề
nghiệp, khu vực phân bố
Trang 122.2.2 Số lượng và cơ cấu
Kết quả của hai đợt điều tra (vào năm 1996 và 2000) cho thấy số
lượng người tham gia DLCT tâng khá nhanh (năm 2000 gấp 3 lần so
với năm 1996) Về cơ cấu khách tham gia không có gì thay đổi
2.2.3 Nhu câu đối với địch vụ đặc trưng
Dịch vụ đặc trưng là những dịch vụ mà vì nó con người tiếp
nhận chuyến du lịch Trong các hoạt động DLCT hiện nay, tý lệ khách ưa thích các hoạt động nghỉ ngơi và vui chơi giải trí ngoài trời
trong một điềm đu lịch (gọi chung là nghỉ ngơi-giải trí) chiếm 70.0% Mục đích của chuyến du lịch cuối tuần là được vui chơi thoải mái (chiếm 69,5%), còn đến một nơi mới lạ hoặc xem phong cảnh đẹp chỉ chiếm tý lệ nhỏ (ứng với 16,5% và 14%)
Để thoả mãn nhu cầu này, khách thường chọn những điểm có hồ nước (chiếm 34.7%): bãi biển (chiếm 37,8%) và đổi-núi (chiếm
27,5%)
Người đi du lịch cuối ruân còn quan tâm tới khoảng cách của điểm du lịch so với nơi thường trú cuả họ Số người thích khoảng cách đi đường từ 1 đến dưới 2 giờ đi chiếm tý lệ cao nhất (46,9%): Khoảng cách gần hơn hoặc xa hơn ít được tra thích
2.2.4 Nhu cầu đối với các dịch vụ chính
Địch vụ chính bao gồm dịch vụ vận chuyển và địch vụ đảm bảo việc lưu trú, ăn uống
Hiện tại, phương tiện giao thông trong hoạt động DLCT của Hà Nội vẫn chủ yếu là các phương tiện cá nhân như xe máy (20,4%), xe
6 tô các loại thuê theo dạng hợp đồng (61,2% lượng khách) Xe buýt
tuyến chỉ phục vụ một số rất ít tuyến vào mùa có lượng khách lớn
(chiếm 6,1%) Tuy nhiên, loại phương tiện rẻ tiền và phù hợp hơn cả
là xe buýt
Trang 13ll
Về ăn uống, hiện nay do giá cả chưa hợp lý, không hợp khẩu vi
và chủ yếu là không đảm bảo vệ sinh an roàn thực phẩm nẻn phản lớn (72% số khách) déu dem theo đồ ăn thức uống từ nhà đi
Nhu cầu về dịch vụ lưu trú khá da dang Phụ thuộc vào khả năng
chi tra, vào lứa tuổi, các dịch vụ này có thể từ bình dân đến cao cấp:
nhà nghỉ, khách sạn có tiện nghi tương đối dầy đủ (chiếm 51%); lều
trại (chiếm 38,8%); nhà trọ rẻ tiền (L0%)
2.2.5 Nhu cầu về dịch vụ bổ sung
Dịch vụ bổ sung bao gồm thông tin, liên lạc, đặt phòng, giặt là,
chăm sóc sức khoẻ, sửa chữa đổ đạc, xe cỏ Tuy không phải là
những dịch vụ chính song cũng không thể thiếu vì có nhiều trường
hợp đột xuất cần lưu tâm tổ chức
2.3 TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN PHỤC VỤ DU LỊCH CUỐI
Tài nguyên du lịch biển: phục vụ cho hoạt động tham quan, vui
chơi giải trí, nghỉ ngơi, đặc biệt là các bãi biển đẹp phục vụ tắm biển
Tài nguyên du lịch đồi-núi: Khai thác cho tham quan, ngắm cảnh
Những nơi nằm từ độ cao 400 m trở lên nếu có mặt bằng rộng rãi và đường lên thuận lợi có thể xây dựng các khu nghỉ mát vẻ mùa hè có giá trị
Tài nguyên du lịch hang động: có điều kiện để phát triển thể thao leo núi, dạo chơi, ngắm cảnh, thăm hang động và du lịch mạo hiểm Hang động cũng là nơi có các dền chùa nổi tiếng, vì vậy ở đây
có thể kết hợp với các hoạt động mang tính chat tam linh-lễ hội