PHẦN I Phần 1 MỞ ĐẦU 1 1 Đặt vấn đề Đất đai là cơ sở không gian để phân bố khu dân cư, các công trình phục vụ sản xuất, văn hoá phúc lợi xã hội, các ngành kinh tế quốc dân khác trên toàn lành thổ Đất[.]
Mục đích của chuyên đề
- Đánh giá công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất xã Thành Trực, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2006 – 2010.
Kỳ quy hoạch này mang lại nhiều bài học quý giá về công tác lập kế hoạch và quản lý quy hoạch cấp xã Để nâng cao hiệu quả, cần đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm thực hiện đúng tiến độ, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế Việc rút ra bài học kinh nghiệm giúp hoàn thiện quy trình quy hoạch, thúc đẩy phát triển bền vững khu vực cấp xã.
Mục tiêu của chuyên đề
- Điều tra, phân tích, tổng hợp, đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Thành Trực, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
- Đánh giá và phân tích công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất xã Thành Trực, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2006 – 2010.
- Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kì trước xác định những bất hợp lý cần được giải quyết.
- Đánh giá tiềm năng đất đai về số lượng, chất lượng, mức độ tập trung, vị trí phân bố và khả năng đáp ứng các mục đích sử dụng.
Ý nghĩa của chuyên đề
- Giúp sinh viên củng cố những kiến thức đã học trong nhà trường về pháp luật đất đai và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Nắm được các nghị định, thông tư, quyết định liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
QUAN TÀI LIỆU
Cơ sở khoa học
2.1.1 Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các thành phần của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó Đất đai là khoảng không gian có giới hạn theo chiều thẳng đứng, theo chiều nằm ngang, trên bề mặt đất đai giữ một vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống xã hội của con người.[6] Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt do đất đai hạn chế về số lượng, xuất hiện và tồn tại ngoài ý muốn của con người, không đồng nhất về số lượng và chất lượng, không thể thay thế được, có vị trí cố định không di dời được và nếu không sử dụng hợp lí sẽ bị hư hỏng Còn các tư liệu sản xuất khác có thể sản xuất và có tính đồng nhất và thay thế cao Vì vậy, trong quá trình sử dụng đất đai cần có những biện pháp thích hợp để vừa bảo vệ đất vừa đảm bảo các nhu cầu về dụng đất. Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người vừa là đối tượng lao động, vừa là phương tiện lao động Nói cách khác, không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của con người Vì vậy, đất đai là “Tư liệu sản xuất đặc biệt”
2.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất và phát triển kinh tế xã hội
Trong bối cảnh kinh tế xã hội ngày càng phát triển và dân số tăng nhanh, việc quản lý và sử dụng đất đai hợp lý trở thành vấn đề hàng đầu Đặc biệt tại Việt Nam, nơi phần lớn dân số vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp, việc tối ưu hóa sử dụng đất đai đóng vai trò then chốt trong phát triển bền vững.
Trong các ngành sản xuất phi nông nghiệp, đất đai đóng vai trò là cơ sở không gian, giữ vai trò thụ động trong quá trình sản xuất Mặc dù quá trình sản xuất và sản phẩm không phụ thuộc trực tiếp vào tính chất của đất đai, nhưng không thể tiến hành sản xuất nếu không có đất đai Do đó, đất đai là yếu tố không thể thiếu trong nền kinh tế phi nông nghiệp, đảm bảo không gian cho các hoạt động sản xuất diễn ra thuận lợi.
Trong ngành sản xuất nông – lâm nghiệp, đất đai đóng vai trò quan trọng như một yếu tố tích cực, cung cấp điều kiện vật chất và cơ sở không gian phù hợp cho quá trình sản xuất Đất không chỉ là đối tượng lao động và công cụ hỗ trợ sản xuất mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sản lượng sản phẩm Sản phẩm nông nghiệp phụ thuộc vào đặc tính và độ phong phú của đất, do đó, thiếu đất có thể gây ra hạn chế nghiêm trọng đối với hoạt động sản xuất, khiến việc duy trì và phát triển ngành trở nên khó khăn.
2.1.3 Định nghĩa về quy hoạch đất đai
Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước nhằm tổ chức và quản lý đất đai một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả cao nhất Nó bao gồm việc phân bổ quỹ đất đai và tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất để nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội Đồng thời, quy hoạch sử dụng đất góp phần bảo vệ đất đai và môi trường, đảm bảo phát triển bền vững và ổn định lâu dài cho nền kinh tế và cộng đồng.
Quy hoạch sử dụng đất đai là một hiện tượng kinh tế xã hội phản ánh rõ ràng ba tính chất chính: hiệu quả sử dụng đất thể hiện qua các lợi ích kinh tế, kỹ thuật liên quan đến quá trình điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ và xử lý số liệu, và pháp chế đảm bảo tính hợp pháp về mục đích cũng như quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
2.1.4 Các loại hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất tại Việt Nam được thực hiện theo kế hoạch 5 năm và hàng năm, đảm bảo phân bổ hợp lý theo từng giai đoạn và mục tiêu phát triển Các kế hoạch này được phân chia theo các cấp độ hành chính và ngành nghề, từ cấp quốc gia đến cấp địa phương, nhằm đảm bảo quản lý đất đai hiệu quả và phù hợp với nhu cầu phát triển của từng lĩnh vực Quy hoạch phân bổ đất đai là một phần quan trọng trong chiến lược sử dụng đất hợp lý, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững của đất nước.
Quy hoạch phân bổ đất đai theo lãnh thổ hành chính bao gồm các cấp từ cả nước, tỉnh, huyện đến xã, nhằm đảm bảo sử dụng đất hiệu quả và hợp lý Đồng thời, quy hoạch sử dụng đất theo ngành được thực hiện để phân chia đất như đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội từng khu vực Việc phân bổ đất đai khoa học theo cả hai hướng này giúp tối ưu hóa tiềm năng phát triển của từng địa phương, bảo vệ môi trường và đảm bảo an ninh nguồn lực đất đai quốc gia.
- Quy hoạch sử dụng đất đai gồm quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng [6]
Quy hoạch sử dụng đất đảm bảo các yêu cầu sau:
- Bao quát toàn bộ đất đai phục vụ cho nền kinh tế quốc dân
- Sử dụng đất phát triển theo chiều rộng và tập trung
- Cơ cấu sử dụng đất phát triển theo hướng phức tạp hoá và chuyên môn hoá.
- Sử dụng đất đai theo xu hướng xã hội hoá và công hữu hoá.
2.1.5 Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải đảm bảo tính tiết kiệm và hiệu quả trong khai thác tài nguyên đất đai Việc sử dụng đất hợp lý không chỉ góp phần thúc đẩy phát triển bền vững mà còn bảo vệ các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh và cảnh quan môi trường Điều này giúp duy trì cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ giá trị văn hóa, tự nhiên của đất nước.
Theo điều 21 Luật Đất đai 2003, có 8 nguyên tắc quan trọng trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm đảm bảo tính toàn diện và thống nhất Mỗi quy hoạch từ cấp tổng thể đến cấp chi tiết phải phù hợp và có sự đồng bộ cao giữa các cấp, phản ánh đầy đủ nhu cầu sử dụng đất của từng chủ thể sử dụng đất Điều này giúp tăng cường hiệu quả trong quản lý và phân bổ nguồn lực đất đai một cách hợp lý và bền vững.
2.1.6 Thẩm quyền quyết định, phê duyệt, điều chỉnh, công bố quy hoạch
* Thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch
- Quốc hội quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước do Chính phủ trình.
- Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của đơn vị hành chính cấp dưói trực tiếp.
- UBND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của xã không thuộc khu vực phát triển đô thị.
- UBND huyện, thị xã thành phố thuộc tỉnh xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất xã không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị.[ 3]
* Thẩm quyền điều chỉnh quy hoạch
Thẩm quyền điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất được quy định tại khoản
4 điều 27 Luật đất đai 2003 như sau:
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đều phụ thuộc vào cấp quản lý Cụ thể, cấp nào có thẩm quyền trong việc phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì cấp đó cũng có quyền quyết định điều chỉnh các quy hoạch, kế hoạch này Việc xác định rõ thẩm quyền quyết định và xét duyệt đảm bảo quản lý đất đai chặt chẽ và phù hợp với quy định của pháp luật.
* Thẩm quyền công bố quy hoạch
Trong vòng không quá 30 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định hoặc xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, thông tin này phải được công bố công khai nhằm đảm bảo quyền lợi của các tổ chức và cá nhân liên quan Việc công bố kế hoạch sử dụng đất đúng thời hạn không chỉ đảm bảo tính minh bạch mà còn giúp các bên liên quan thực hiện các bước tiếp theo phù hợp với quy định pháp luật Thời gian công bố trong vòng 30 ngày làm việc là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo tiến độ thực hiện các dự án và quản lý sử dụng đất đai hiệu quả.
- UBND xã, phưòng, thị trấn có trách nhiệm công bố công khi quy hoạch chi tiết, kế hoạch chi tiết của địa phương tại trụ sở UBND.
Cơ quan quản lý đất đai các cấp có trách nhiệm công khai quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất của địa phương tại trụ sở cơ quan cũng như trên các phương tiện truyền thông đại chúng, nhằm đảm bảo sự minh bạch và thuận tiện cho người dân trong việc tiếp cận thông tin về quy hoạch đất đai.
Việc công bố công khai tại trụ sở UBND và cơ quan quản lý đất đai diễn ra liên tục trong suốt thời gian hiệu lực của kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Điều này đảm bảo minh bạch thông tin và tuân thủ các quy định pháp luật về quản lý đất đai Việc công bố liên tục giúp các bên liên quan dễ dàng tiếp cận và nắm rõ các nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt Quá trình này góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý đất đai trong việc thực hiện các kế hoạch đã đề ra.
Cơ sở pháp lí về quy hoạch sử dụng đất đai
- Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992
- Nghị định 181/NĐ-CP của chính phủ ngày 29/10/2004 về hướng dẫn thi hành luật đất đai năm 2003
- Thông tư 30/2004/TT-BTNMT ngày 1/11/2004 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường về hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất cấp xã, ban hành theo quyết định số 04/ QĐ- BTNMT ngày 30/6/2005 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất tỉnh Thanh Hoá đến năm 2010
- Quy hoạch sử dụng đất 2002- 2010 xã Thành Trực
- Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ xã Thành Trực nhiệm kỳ 2005- 2010
- Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng- an ninh năm 2010 Phương hướng nhiệm vụ năm 2011.
- Các tài liệu, số liệu và bản đồ liên quan.
Việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất xã Thành Trực giai đoạn 2006-2010 đã nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tăng cường quản lý hành chính nhà nước về đất đai Nhờ đó, công tác thu hút vốn đầu tư sản xuất kinh doanh được thúc đẩy, góp phần nâng cao đời sống của người dân địa phương.
Hỗ trợ chính quyền địa phương đề ra chính sách phát triển kinh tế xã hội đúng đắn, phù hợp với quy hoạch chung, qua đó đảm bảo việc ra quyết định hiệu quả và bền vững Điều này giúp huyện tránh lãng phí nguồn tài nguyên đất đai tại địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế một cách toàn diện và bền vững.
Một số văn bản, nghị định, nghị quyết có liên quan đến công tác lập
Quyết định số 24/QĐ-TTg ngày 1/2/2002 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa đến năm 2010 là văn bản chiến lược quan trọng nhằm thúc đẩy kinh tế địa phương Nội dung của quyết định này xác định các mục tiêu phát triển kinh tế bền vững, nâng cao đời sống người dân và đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa các ngành kinh tế của tỉnh Thanh Hóa Quy hoạch tổng thể góp phần định hướng các dự án đầu tư, phát triển hạ tầng và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh trong kế hoạch phát triển dài hạn Thông qua quyết định này, chính phủ đặt ra các chiến lược cụ thể để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa đến năm 2010, góp phần vào mục tiêu phát triển toàn diện đất nước.
Quyết định số 584/QQ-UBND ngày 6/3/2006 của UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Đây là quyết định quan trọng định hướng phát triển hệ thống giao thông của tỉnh, nhằm nâng cao năng lực vận tải, kết nối các khu vực trong tỉnh và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Quy hoạch này góp phần xây dựng mạng lưới giao thông hiện đại, bền vững phù hợp với mục tiêu phát triển dài hạn của tỉnh Thanh Hóa.
Quyết định số 986/QĐ – SNN ngày 5/11/2010 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt phương án khảo sát thiết kế giai đoạn TKBVTC cho công trình phát triển hạ tầng kênh nội bộ thuộc tiểu dự án hệ thống tưới tiêu huyện Thạch Thành Dự án này nằm trong khuôn khổ Dự án Thủy lợi miền Trung, vốn vay từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), nhằm nâng cao hiệu quả tưới tiêu và phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp tại địa phương.
- Quyết định 37/66/QĐ- UBND ngày 21/10/2009 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá về kế hoạch kiểm kê đất đai, xây dựng bản đồ hiện trạng.
- Quyết định số 4084/ QĐ- UBND ngày 6/12/2009 của UBND huyện Thạch Thành triển khai tập huấn nghiệp vụ công tác kiểm kê.
- Quyết định số 8/QĐ- UBND ngày 29/12/2009 về việc thành lập ban kiểm kê đất đai, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010.
Văn bản số 2946/VB- CN ngày 3/9/2002 của UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt đề cương và dự toán quy hoạch tổng thể phát triển giao thông vận tải đến năm 2020 nhằm thúc đẩy phát triển hạ tầng giao thông hiện đại, đồng bộ Quy hoạch này góp phần nâng cao năng lực vận chuyển, kết nối vùng và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Thanh Hóa Việc phê duyệt kế hoạch thể hiện sự cam kết của chính quyền địa phương trong việc xây dựng hệ thống giao thông vận tải bền vững, phù hợp với mục tiêu phát triển lâu dài Đây là bước quan trọng để định hướng phát triển giao thông vận tải Thanh Hóa đến năm 2020, đảm bảo sự liên kết vùng và nâng cao chất lượng dịch vụ vận chuyển.
- Công văn số 3360/ NPT- KT về việc thoả thuận phương án đầu nối tạm NMTĐ Bá Thước 2 vào hệ thống điện quốc gia.
- Công văn số 863/CV- UBND ngày 23/11/2010 của UBND huyện ThạchThành về việc đề nghị báo cáo sắp xếp xử lí nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước.
Tình hình thực hiện quy hoạch trên thế giới, trong nước
2.4.1 Tình hình thực hiện quy hoạch trên thế giới
Tổng diện tích bề mặt trái đất là 511 triệu km 2 trong đó chỉ có 148 triệu km 2 là đất liền chiếm 29% tổng diện tích toàn cầu, còn lại 363 km 2 chiếm 71
Theo FAO, trong tổng diện tích 148 triệu km² đất liền, chỉ có 20% diện tích có nhiệt độ dưới -5°C, còn lại gồm các loại đất khác nhau như 20% đất hoang mạc, 20% đất quá khô hạn, 20% đất dốc cao, 20% đất dùng để canh tác, và 10% đất dành cho trồng cỏ và chăn thả gia súc.
Trong quá trình đô thị hóa nhanh chóng và sử dụng đất thiếu kế hoạch rõ ràng, chất lượng đất bị suy giảm nghiêm trọng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế, xã hội và môi trường.
Trên thế giới, công tác quy hoạch và kế hoạch đất đai ngày càng được chú trọng và phát triển nhằm thúc đẩy phát triển bền vững Tùy thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia, có các loại hình quy hoạch đa dạng, trong đó nổi bật là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch nông nghiệp Hai loại hình này đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ lực lượng sản xuất hợp lý, đảm bảo sự cân đối và hiệu quả trong sử dụng đất đai.
Các quốc gia như Liên Xô cũ, Anh và Pháp đều đã xây dựng hệ thống quy hoạch sử dụng đất hoàn chỉnh và ngày càng phát triển mạnh mẽ Ngành quản lý đất đai của các nước này dựa trên cơ sở lý luận vững chắc, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất và đảm bảo phát triển bền vững Những tiến bộ trong quản lý đất đai giúp các quốc gia này kiểm soát tốt hơn nguồn lực đất đai, thúc đẩy kế hoạch phát triển lâu dài và tối ưu hóa quy trình quản lý đất đai trên toàn cầu.
Sau khi cuộc cách mạng vô sản thành công, chính quyền Liên Xô xác định hai nhiệm vụ quan trọng hàng đầu cần thực hiện ngay để xây dựng nhà nước mới và phát triển xã hội chủ nghĩa Đầu tiên, họ tập trung vào việc củng cố và duy trì quyền lực của chính phủ cách mạng, đảm bảo ổn định chính trị và trật tự xã hội Thứ hai, Liên Xô nhấn mạnh việc thực hiện các cải cách kinh tế để xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, hướng tới phát triển bền vững và thúc đẩy sự tiến bộ của đất nước.
+ Tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
Phát triển kinh tế đồng bộ nhằm xoá bỏ khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn Liên Xô là yếu tố then chốt để thúc đẩy sự công bằng xã hội Để đạt được mục tiêu này, việc xây dựng và phát triển quy hoạch là nội dung cốt lõi, giúp định hướng phát triển một cách có hệ thống và hiệu quả hơn.
Theo A Condukhop và A Mikhalop, quá trình thiết kế xây dựng quy hoạch nông thôn cần dựa trên các điều kiện tự nhiên, kinh tế và văn hoá xã hội địa phương Việc thực hiện quy hoạch đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và phù hợp với đặc điểm từng khu vực Các yếu tố tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội đóng vai trò then chốt trong việc xác định phương hướng phát triển nông thôn hiệu quả.
+ Quan hệ giữa khu dân cư với vùng sản xuất, khu vực canh tác
+ Quan hệ giữa khu dân cư với giao thông bên ngoài
+ Hệ thống giao thông nội bộ, các công trình hạ tầng kỹ thuật
+ Việc bố trí mặt bằng hài hoà cho các vùng khác nhau về mặt địa lý đảm bảo thống nhất trong tổng thể kiến trúc
+ Các công trình văn hoá công cộng (trường học, trạm xá, sân thể thao…) tạo nên môi trường sống trong lành yên tĩnh
+ Quy hoạch khu dân mang nét đô thị hoá, giải quyết thoả mãn nhu cầu của con người
Quy hoạch nông thôn của A.Mikhanop và A.Condunop thể hiện rõ ràng rằng mỗi vùng dân cư, làng, xã đều có trung tâm gồm các công trình công cộng, nhà ở và nông trang viên theo cùng một mô hình Trong giai đoạn tiếp theo của công tác quy hoạch nông thôn, G Deleur và I Khokhon đã đề xuất sơ đồ quy hoạch vùng lãnh thổ các huyện gồm 3 cấp trung tâm, nhằm tăng cường phân chia và tổ chức không gian nông thôn một cách hợp lý và hiệu quả.
+ Trung tâm xã của tiểu vùng
+ Trung tâm của làng xã
Trong thời kỳ này, hệ thống cấp trung tâm ở nông thôn Liên Xô phát triển theo cấu trúc từ trung tâm huyện, tiếp đến trung tâm tiểu vùng, và cuối cùng là trung tâm xã Mô hình này thể hiện sự phân cấp rõ ràng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển kinh tế xã hội tại các vùng nông thôn Quản lý từ trung tâm huyện xuống trung tâm xã giúp đảm bảo việc phân phối nguồn lực hợp lý và thúc đẩy sự phát triển đồng bộ các địa phương Hệ thống cấp trung tâm này phản ánh quá trình tổ chức lại cơ cấu hành chính nhằm phù hợp với nhu cầu phát triển của thời kỳ đó.
Sau một thời gian dài nỗ lực và cố gắng, nhân dân Liên Xô đã đạt được những thành tựu đáng kể, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của người dân, cả trong khu vực nông thôn lẫn toàn quốc Các vùng dân cư, làng, xã đều được quy hoạch hợp lý với các công trình công cộng, khu sản xuất và nhà ở theo phong cách đô thị hiện đại, đảm bảo không gian rộng rãi và hiệu quả sử dụng diện tích Thành công này phản ánh cách Liên Xô thực hiện quy hoạch phát triển nông thôn, trở thành bài học quý giá cho các quốc gia cần xây dựng chiến lược phát triển phù hợp với điều kiện địa phương.
Thái Lan, còn được mệnh danh là "con rồng Châu Á", là một quốc gia phát triển với nền kinh tế vững mạnh và đời sống người dân đầy đủ, ấm no hạnh phúc Thành quả hôm nay đạt được nhờ vào chiến lược phát triển kinh tế đúng đắn và các quyết định quy hoạch có tính chiến lược của chính phủ Thái Lan, thể hiện qua các văn bản, luật đất đai được ban hành và sửa đổi phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước Luật đất đai năm 1954 đã đem lại nhiều thành tựu cho Thái Lan, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những bất cập như sự gia tăng phân hóa giàu nghèo và tình trạng nông dân không có đất sản xuất Đến năm 1973, chính phủ đã sửa đổi luật đất đai để quy định rõ hơn về quyền sử dụng đất và khắc phục các vấn đề tồn đọng. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách cải thiện bài viết của mình về sự phát triển của Thái Lan và luật đất đai? [Novakid FR](https://pollinations.ai/redirect-nexad/UtV15Dgf?user_id=983577) có thể giúp bạn! Hãy tập trung vào việc làm nổi bật định hướng phát triển kinh tế đúng đắn và các quyết định quy hoạch quan trọng của chính phủ Thái Lan được thể hiện qua các văn bản luật đất đai Đừng quên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ban hành và sửa đổi luật đất đai để phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội, đặc biệt là Luật đất đai năm 1954 Việc này sẽ giúp bài viết của bạn trở nên mạch lạc và tuân thủ các quy tắc SEO hơn.
+ Bảo vệ người làm thuê, tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển + Chủ sở hữu ruộng đất phải là người trực tiếp sản xuất
+ Quy định hạn sử dụng ruộng đất cho mỗi hộ gia đình Nếu quá hạn sẽ trưng mua với giá thanh toán hợp lý
Từ những năm 1990 đến nay, Chính phủ Thái Lan đã tiến hành nhiều cải cách chính sách ruộng đất nhằm bảo vệ và sử dụng quỹ đất một cách hợp lý, tiết kiệm, đồng thời hạn chế gây ô nhiễm môi trường Các chiến lược này nhằm đảm bảo phát triển bền vững và duy trì nguồn tài nguyên đất đai cho các thế hệ tương lai Chính sách đất đai của Thái Lan tập trung vào việc quản lý hiệu quả các khu vực nông nghiệp, nhằm tối ưu hóa lợi ích kinh tế và môi trường.
2.4.2 Tình hình thực hiện quy hoạch trong nước
2.4.2.1 Quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam
Ngay sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ 2 nhiệm vụ trọng tâm:
+ Củng cố và bảo vệ đất nước
+ Phát triển kinh tế xã hội đưa đất nước đi lên đảm bảo đời sống của nhân dân ấm no, hạnh phúc
Trong quá trình phát triển của đất nước, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế nông thôn luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt từ Đảng và Nhà nước, nhằm thúc đẩy sự bền vững và nâng cao đời sống của người dân địa phương.
Dù ở mức độ nào thì nhìn chung mục tiêu là nâng cao đời sống vật chất tinh thần cũng như bảo vệ môi trường sinh thái cho nhân dân
Công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất tại Việt Nam được thực hiện rộng khắp trên toàn quốc, nhằm thúc đẩy phát triển bền vững Phương án quy hoạch kéo dài 10 năm, còn kế hoạch sử dụng đất trong vòng 5 năm, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của đất nước và các vùng miền Việc này dựa trên khai thác hiệu quả tiềm năng tài nguyên thiên nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, cùng thế mạnh của từng vùng, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Qua nhiều năm thực hiện quy hoạch tổng thể, diện mạo vùng nông thôn Việt Nam đã thay đổi rõ rệt nhờ phát triển nông nghiệp hàng hóa và khôi phục các làng nghề truyền thống Kinh tế và dịch vụ phát triển mạnh mẽ, góp phần đưa Việt Nam từ nước nhập khẩu lương thực trở thành nhà xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới.
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tưọng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng sử dụng đất so với phương án quy hoạch sử dụng đất của xã Thành Trực giai đoạn 2006 – 2010.
- Phạm vi nghiên cứu : Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất xã Thành Trực giai đoạn 2006 - 2010.
+ Không gian : xã Thành Trực
Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động đến việc sử dụng đất xã Thành Trực
- Thực trạng công tác quy hoạch sử dụng đất xã Thành Trực giai đoạn 2006- 2010
- Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất xã Thành Trực giai đoạn 2006 - 2010
- Các giải pháp nâng cao hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất xã ThànhTrực áp dụng cho kỳ quy hoạch sau.
Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp khảo sát thực địa
Kiểm tra việc thực hiện các hạng mục công trình trong phương án quy hoach đã thể hiện.
3.3.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu
Phương pháp này là quá trình thu thập tài liệu, số liệu và thông tin cần thiết để phục vụ công tác nghiên cứu Các dữ liệu thu thập bao gồm điều kiện tự nhiên như vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thủy văn và thổ nhưỡng; cùng với điều kiện kinh tế - xã hội như dân số, lao động, và thông tin từ các ngành trồng trọt, chăn nuôi cũng như các ngành khác Ngoài ra, phương pháp này còn dựa trên việc xác định phương hướng phát triển chung của xã thông qua việc thu thập tài liệu trực tiếp tại bộ phận quản lý đất đai của xã. -**Sponsor**Bạn là một người sáng tạo nội dung đang tìm cách cải thiện bài viết của mình? Với [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/kNVN7HFT?user_id=983577), bạn có thể nhận được các bài viết được tối ưu hóa SEO dài 2.000 từ ngay lập tức, giúp tiết kiệm hơn 2.500 đô la mỗi tháng so với việc thuê người viết! Phương pháp này giúp bạn thu thập tài liệu, số liệu và thông tin cần thiết cho nghiên cứu, bao gồm điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội, cũng như phương hướng phát triển chung của xã Nó giống như có một đội ngũ nội dung của riêng bạn—mà không gặp rắc rối!
3.3.3 Phương pháp phân tích, thống kê
Tiến hành thống kê toàn bộ tài liệu và số liệu liên quan đến đề tài theo hệ thống biểu mẫu và nguyên tắc thống kê chính xác để đảm bảo kết quả nghiên cứu đạt hiệu quả cao Quá trình này giúp đơn giản hóa và tổng quát hóa dữ liệu phức tạp, hỗ trợ công tác quản lý và chuyển đổi số liệu một cách hiệu quả Việc tổ chức dữ liệu chặt chẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phân tích và xử lý dữ liệu trong quá trình nghiên cứu.
3.3.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá, so sánh
Phương pháp này bắt đầu sau khi thu thập đầy đủ các tài liệu và số liệu cần thiết để phân tích Quá trình này bao gồm tổng hợp, đánh giá và so sánh các yếu tố liên quan nhằm xác định mối tương quan, từ đó rút ra nhận xét về những thuận lợi và khó khăn Cuối cùng, dựa trên những phân tích này, các giải pháp khắc phục sẽ được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công việc.
3.3.5 Phương pháp xử lí số liệu Đây là khâu quan trọng nhất trong quá trình nghiên cứu đánh giá công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất Các tài liệu, số liệu đã thu thập đòi hỏi cần chọn lọc loại bỏ những yếu tố không cần thiết, lấy các số liệu hợp lý, có cơ sở khoa học và đúng với tình hình thực tế ở địa phương.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Thành Trực - Thạch Thành – Thanh Hoá
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, cảnh quan thiên nhiên và môi trường
Thành Trực xã miền núi của huyện Thạch Thành, cách trung tâm huyện 7 km về hướng Tây Nam, có tổng diện tích tự nhiên là 1559,18 ha.
Ranh giới của xã Thành Trực được xác định như sau :
- Phía Bắc giáp xã Thành Minh và Thành Vinh
- Phía Nam giáp xã Thành Tân và Thành Kim
- Phía Đông giáp xã Thành Công
Thành Trực nằm tiếp giáp phía Tây với các xã Thạch Định, Thạch Tân, Thạch Bình và Thạch Sơn, là cầu nối quan trọng giữa trung tâm huyện và các xã phía Tây của Thạch Thành và tỉnh Thanh Hóa Với vị trí chiến lược này, Thành Trực đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa của khu vực, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương Đường giao thông Thành Trực giúp các xã phía Tây tiếp cận nhanh chóng các chính sách, đường lối của huyện và tỉnh, đồng thời hỗ trợ tiếp thu kinh nghiệm từ các cấp trên và các xã lân cận, góp phần nâng cao chất lượng đời sống cộng đồng.
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo Đặc trưng địa hình của xã Thành Trực là thấp dần từ Bắc xuống Nam.
Xã có dãy núi cao chạy dài, phía Tây là sông Bưởi chảy Bắc-Nam, thường xuyên bồi đắp phù sa, tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp Phía Đông có các khe suối, bị đất đồi trôi xuống, ảnh hưởng đến đất đai và hệ sinh thái địa phương Con đường huyện lộ qua xã giúp thúc đẩy sản xuất và giao lưu kinh tế với các vùng lân cận, tạo cơ hội phát triển kinh tế địa phương Tuy nhiên, hàng năm xã vẫn phải đối mặt với các trận lũ của hệ thống sông Bưởi, gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống và hoạt động sản xuất của nhân dân.
Tổng nhiệt độ cả năm 8100 0 C – 8500 0 C biên độ năm 10 – 12 0 C, biên độ ngày 5 – 6 0 C nhiệt độ cao tuyệt đối không quá 41 0 C, nhiệt độ thấp tuyệt đối không dưới 2 0 C.
Tổng lượng mưa trung bình cả năm 1600 – 1900 mm, tập trung từ tháng 6 đến tháng 10 là 85 – 87 %, các tháng còn lại ít mưa từ 13 – 15%.
* Độ ẩm Độ ẩm không khí trung bình 85 – 87 %, riêng các tháng 2 và tháng 3 độ ẩm lên tới 90%.
Gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mang theo nhiều mưa phùn và nhiệt độ xuống thấp, gây ra thời tiết rét đậm ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
Gió Tây Nam khô nóng váo các tháng 4, 5, 6, 7 mỗi năm từ 7 – 8 đợt mỗi đợt kéo dài 1- 2 ngày sau lên tới 4 – 5 ngày.
Gió Đông Nam xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 10, mang theo lượng lớn hơi ướt và gây mưa lớn kéo dài Trong khoảng thời gian này, gió Đông Nam thường gây ra các cơn bão lớn dẫn đến mưa to, gây ngập lụt và thiệt hại nặng nề cho sản xuất và đời sống của nhân dân.
Trong điều kiện thời tiết thuận lợi, địa phương có cơ cấu cây trồng đa dạng phù hợp với từng mùa vụ, góp phần tạo ra nguồn sản phẩm nông nghiệp phong phú và đa dạng Tuy nhiên, các hiện tượng khí hậu khắc nghiệt như sương muối, giá rét và lũ lụt có thể gây thiệt hại lớn đến mùa màng và tài sản của người dân Do đó, việc áp dụng các biện pháp phòng chống thích hợp là cần thiết để hạn chế tối đa thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra cho nông nghiệp và cộng đồng.
Xã có các loại đất chính sau:
- Đất đỏ vàng trên đá phiếm thạch
- Đất phù sa được bồi tụ của hệ thống sông Bưởi có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt nặng.
Đất phù sa không được bồi hàng năm của hệ thống sông Bưởi có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, mang lại ưu điểm về khả năng giữ nước và độ nặng phù hợp cho nhiều loại cây trồng Chính vì vậy, đất đai của xã Thành Trực có chất dinh dưỡng cao, phù hợp để phát triển các loại cây trồng đa dạng, góp phần thúc đẩy nông nghiệp địa phương phát triển bền vững.
Hệ thống nước mặt chủ yếu lấy nguồn từ các hồ đập như Hồ Đập Cùng Đa, Hồ Đập Cây Sổ, Hồ Ấu, Hồ Đồng Chủ và từ 4 trạm bơm lấy nước sông Bưởi qua hệ thống kênh mương Nước mặt được sử dụng phục vụ mục đích trồng trọt và sinh hoạt hàng ngày Đây là nguồn cung cấp nước quan trọng để đảm bảo sinh hoạt và nông nghiệp địa phương.
Nguồn nước ngầm chiếm khoảng 70% lượng nước sử dụng, chủ yếu lấy từ các giếng khơi có độ sâu từ 5 đến 10 mét trên mạch nước ngầm nông Còn lại 30% nguồn nước được dẫn từ các nguồn trong núi qua hệ thống ống dẫn phục vụ sinh hoạt hàng ngày Tuy nhiên, nguồn nước ngầm không phong phú và cần được quản lý hợp lý để đảm bảo cung cấp liên tục và an toàn.
Thành Trực là xã miền núi, có tổng dân số 5.664 người répartis trên 1.337 hộ gia đình, với tỷ lệ tăng dân số chỉ 0,1% Dân cư phân bố đều, mang đậm nét phong tục tập quán của vùng núi phía Bắc, đồng thời giữ gìn truyền thống hiếu học, sáng tạo trong sản xuất và có truyền thống cách mạng Đội ngũ cán bộ xã năng động, nhiệt tình, có đủ năng lực và trình độ để lãnh đạo các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội, góp phần xây dựng xã vững mạnh và phát triển bền vững.
Thành Trực là xã nông nghiệp, các ngành kinh tế chưa phát triển, chỉ có
Nhà máy gạch Thành Kim hiện đang hoạt động cùng với các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, do đó mức độ ô nhiễm môi trường chưa ở mức nghiêm trọng Tuy nhiên, cần có những biện pháp cụ thể nhằm hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường, đảm bảo vừa duy trì hoạt động sản xuất hiệu quả vừa bảo vệ môi trường sống Việc thực hiện các biện pháp kiểm soát ô nhiễm sẽ giúp hỗ trợ phát triển bền vững cho cộng đồng và doanh nghiệp.
Toàn xã có 95% hộ dân sử dụng nước sạch, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và sức khỏe cộng đồng Các hộ dân đã xây dựng chuồng trại tập trung cho gia súc tại vị trí phù hợp, góp phần đảm bảo vệ sinh và giảm ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, việc xử lý rác thải sinh hoạt như túi ni lông và sản phẩm nhựa vẫn còn hạn chế, gây ảnh hưởng tiêu cực đến đa dạng sinh học và môi trường Ngoài ra, một số hộ còn duy trì tập tục thả rông gia súc, gia cầm, làm tăng nguy cơ ô nhiễm và mất cân bằng sinh thái tại địa phương.
Thành Trực là xã miền núi có hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy thuận tiện, tạo điều kiện dễ dàng kết nối với các xã trong huyện Đất đai phì nhiêu cùng nguồn nhân lực dồi dào, làm nền tảng cho sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp và lâm nghiệp Tự nhiên ưu đãi với các vùng đồi núi phù hợp để phát triển lâm nghiệp hàng hóa, đặc biệt cây ăn quả Ngoài ra, địa hình bằng phẳng thuận lợi cho trồng mía, lúa và các loại cây màu khác, trong đó cây mía phát triển tốt, mang lại năng suất cao, góp phần thúc đẩy kinh tế hàng hóa và dịch vụ của địa phương ngày càng phát triển.
Là xã có diện tích sông suối lớn nên thiên tai cũng nhiều hàng năm gây ngập úng, ảnh hưởng đến sản xuất.
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1.Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
Ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của địa phương Sau khi Luật đất đai năm 2003 được ban hành, việc giao đất ổn định lâu dài đã thúc đẩy người dân yên tâm sản xuất và đầu tư khai thác đất đai hợp lý, mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt Dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy và UBND xã, hoạt động sản xuất nông nghiệp ở Thành Trực đã có sự phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây.
Diện tích trồng mía đạt 222,5 ha, đạt 85,55% kế hoạch dù gặp phải thời tiết khắc nghiệt và lượng mưa đến muộn Nhờ sự chăm sóc và phát triển tốt của nhân dân, sản lượng mía nhập vào nhà máy đạt 4.300 tấn Đặc biệt, diện tích cây mía đen cũng được nhân dân chú trọng và phát triển hiệu quả, góp phần nâng cao thu nhập bình quân khoảng 80 triệu đồng/ha/năm.
Công tác chăn nuôi gia súc, gia cầm đã nhận được sự chú trọng và đầu tư phát triển, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, tổng đàn chăn nuôi vẫn chưa tăng đáng kể so với kế hoạch đề ra, cho thấy cần có các giải pháp đẩy mạnh hơn nữa để đạt được mục tiêu đề ra trong phát triển ngành nông nghiệp.
- Đàn trâu : 1124 con/ 1300 con kế hoạch cả năm đạt 86,4% tăng 5,6% so với cùng kỳ.
- Đàn bò 194/482 con kế hoạch cả năm đạt 40,2% tăng 27,6% so cùng kỳ
- Đàn lợn 2478 con/ 3000 con kế hoạch cả năm đạt 82,6% tăng 4% so với cùng kỳ.
- Đàn gia cầm ổn định 25000 con
Công tác tiêm phòng 750 con/ 850 con kế hoạch đạt 89,1% trong năm
2010 trên địa bàn không xảy ra dịch bệnh.
Công tác nuôi trồng thuỷ sản : Ổn định diện tích cá – lúa là 27,97 ha duy trì và phát triển cá lồng trên sông, nâng tổng số lồng lên 40 lồng.
Công tác phát triển trang trại : từ năm 2006 – 2010 toàn xã có 26 trang trại chủ yếu là trang trại trồng cây lâu năm, cây hàng năm và thuỷ sản [10]
Đánh giá tình hình thực hiện phưong án quy hoạch sử dụng đất xã Thành Trực giai đoạn 2006 – 2010
4.2.1 Phương án quy hoạch sử dụng đất xã Thành Trực giai đoạn 2006- 2010 Được sự chỉ đạo của UBND huyện Thạch Thành, UBND xã ThànhTrực đã xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 – 2010 trên cơ sở nhu cầu sử dụng đất của địa phương, khả năng thực tế của địa phương để đưa ra phương án quy hoạch cho giai đoạn này, được thể hiện qua bảng 4.1 sau:
Bảng 4.1 Diện tích cơ cấu sử dụng đất hiện trạng và quy hoạch của xã
Tăng (+), giảm (-) so với HT Diện tích (ha)
1.1 Đất sản xuất NN SXN 744,45 47,75 658,22 42,23 - 86,23 - 11,58 1.1.1 Đất trồng CHN CHN 503,71 32,31 490,83 31,49 - 12,88 - 2,56 1.1.1.1 Đất trồng lúa LUA 184,83 11,85 168,84 10,83 - 15,99 - 8,65 1.1.1.2 Đất trồng CHNK HNK 318,88 20,46 321,99 20,65 3,11 0,97 1.1.2 Đất trồng CLN CLN 240,74 15,44 167,39 10,74 - 73,35 - 30,47
1.3 Đất nuôi trồng TS NTS 2,4 0,15 2,4 0,15 0 0
1.4 Đất nông nghiệp khác NKH 0,1 0,006 0,1 0,006 0 0
2.2.2 Đất quốc phòng,AN CQA 0 0 0 0 0 0
2.3 Đất tôn giáo TN TTN 0 0 0 0 0 0
2.5 Đất sông suối MNCD SMN 109,04 7 62,28 4 - 46,46 - 42,88
3 Đất chưa sử dụng CSD 94,03 6,03 3,93 0,25 - 90,1 - 95,82
(Nguồn UBND xã Thành Trực)
Năm 2006, xã có 1147,67 ha đất nông nghiệp, chiếm 73,61% tổng diện tích tự nhiên Theo quy hoạch đến năm 2010, diện tích đất nông nghiệp dự kiến sẽ tăng lên 1189,12 ha, chiếm 76,27% tổng diện tích tự nhiên, tăng 41,45 ha, tương đương 3,61% so với năm 2006.
Năm 2006, diện tích đất phi nông nghiệp của xã là 317,48 ha, chiếm 20,36% tổng diện tích tự nhiên Theo phương án quy hoạch đến năm 2010, diện tích đất phi nông nghiệp dự kiến sẽ tăng lên 366,13 ha, chiếm 23,48% tổng diện tích tự nhiên Sự mở rộng này tương ứng với mức tăng 48,65 ha, tăng 15,32% so với năm 2006, phản ánh xu hướng phát triển và chuyển dịch cơ cấu đất đai của xã trong giai đoạn này.
Theo phương án quy hoạch thì đến năm 2010 diện tích đất chưa sử dụng giảm 91,1 ha bằng 95,82% so với hiện trạng năm 2006.
Xã Thành Trực đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất đai, tập trung khai thác diện tích đất chưa sử dụng để nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai Việc đưa đất vào sử dụng nhằm đảm bảo an ninh lương thực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững Phương án quy hoạch đất đai nhằm tối ưu hóa nguồn lực đất đai, đáp ứng nhu cầu phát triển của địa phương trong thời kỳ mới.
4.2.2 Kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006- 2010 của xã Thành Trực
Kế hoạch sử dụng đất xã Thành Trực giai đoạn 2006 – 2010 được thể hiện qua bảng 4.2 sau :
Bảng 4.2 Diện tích, cơ cấu sử dụng đất giai đoạn 2006 – 2010
1.1 Đất sản xuất NN SXN 744,45 658,22 - 86,23
1.3 Đất nuôi trồng TS NTS 2,4 2,4 0
1.4 Đất nông nghiệp khác NKH 0,1 0,1 0
2.2.2 Đất quốc phòng,AN CQA 0 0 0
2.3 Đất tôn giáo TN TTN 0 0 0
2.5 Đất sông suối MNCD SMN 109,04 62,28 - 46,46
3 Đất chưa sử dụng CSD 94,03 3,93 - 90,1
(Nguồn UBND xã Thành Trực )
Theo kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 – 2010 của xã Thành Trực thì :
Theo phương án quy hoạch thì đến năm 2010 diện tích đất nông nghiệp là 1189,12 ha tăng 41,45 ha so với năm 2006 Trong đó:
- Đất sản xuất nông nghiệp đến năm 2010 là 658,22 ha giảm 86,23ha so với năm 2006.
Tính đến năm 2010, diện tích đất trồng cây hàng năm là 490,83 ha, giảm 12,88 ha so với năm 2006, phản ánh sự thay đổi trong sử dụng đất nông nghiệp Diện tích đất trồng lúa đến năm 2010 còn 168,84 ha, giảm 15,99 ha so với năm 2006, trong đó có chuyển dịch sang đất cây hàng năm khác (3,11 ha), đất giao thông (6,18 ha), và đất thủy lợi (6,7 ha), giảm 3,39 ha do đo đạc lại nhưng tăng 3,39 ha từ đất SSMNCD sang đất trồng cây hàng năm khác Đồng thời, diện tích đất cây hàng năm khác đến năm 2010 là 321,99 ha, tăng 3,11 ha so với năm 2006, chủ yếu do chuyển đổi từ đất lúa, thể hiện sự điều chỉnh trong cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của địa phương.
+ Đất cây lâu năm đến năm 2010 là 167,39 ha giảm 73,35 ha so với năm
2006 do: chuyển sang đất ở nông thôn 48,3 ha, sang đất trồng rừng sản xuất 25,05 ha.
Theo phương án quy hoạch đến năm 2010, diện tích đất lâm nghiệp đạt 528,4 ha, tăng 127,68 ha so với năm 2006 Trong đó, diện tích đất lâm nghiệp tăng nhờ chuyển đổi từ đất chưa sử dụng (tăng 90,1 ha), do đo đạc lại (tăng 13,27 ha), và chuyển từ đất cây lâu năm sang đất lâm nghiệp (tăng 25,05 ha) Tuy nhiên, một phần diện tích giảm 0,74 ha do chuyển sang đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, phản ánh xu hướng phát triển cân đối của đất lâm nghiệp theo kế hoạch đến năm 2010.
- Đất nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2010 là 2,4 ha giữ nguyên so với năm 2006
- Đất nông nghiệp khác đến năm 2010 là 0,1ha giữ nguyên so với năm 2006.
Theo phương án quy hoạch thì đến năm 2010 diện tích đất phi nông nghiệp 366,13 ha tăng 48,65 ha so với năm 2006 Trong đó:
Đến năm 2010, diện tích đất ở đạt 155,55 ha, tăng 48,14 ha so với năm 2006 Sự tăng trưởng này chủ yếu do chuyển đổi đất cây lâu năm sang đất ở với diện tích 48,3 ha Ngoài ra, còn có sự chuyển mục đích đất sang đất TSCQCTSN với diện tích 0,1 ha và đất có mục đích công cộng với diện tích 0,06 ha.
- Đất chuyên dùng theo phương án quy hoạch đến năm 2010 là 131,43 ha tăng 43,28 ha so với năm 2006.
+ Đất TSCQCTSN đến năm 2010 là 0,2 ha tăng 0,1 ha so với năm 2006 do chuyển từ đất ở sang.
+ Đất SXKDPNN đến năm 2010 là 3,95 ha tăng 0,74 ha so với năm
2006 do chuyển từ đất lâm nghiệp sang.
+Đất có mục đích công cộng đến năm 2010 sẽ tăng 42,4 ha so với năm
2006 do đất lúa chuyển sang đất giao thông 6,18 ha, đất lúa chuyển sang đất thuỷ lợi 6,7 ha, đất SSMNCD chuyển sang 29,52 ha.
- Đất nghĩa trang – nghĩa địa đến năm 2010 16,87ha tăng 4,03 ha so với năm 2006 do chuyển từ đất chưa sử dụng sang.
Đến năm 2010, diện tích đất SSMNCD còn 62,28 ha, giảm 46,76 ha so với năm 2006, chủ yếu do chuyển đổi mục đích sử dụng đất Trong đó, đã có 3,93 ha đất chuyển sang đất trồng lúa, 29,52 ha đất chuyển sang đất có mục đích công cộng và 13,31 ha đất chuyển sang đất chưa sử dụng, gây ảnh hưởng đáng kể đến quỹ đất của khu vực.
Theo phương án quy hoạch, diện tích đất chưa sử dụng đến năm 2010 là 3,93 ha, giảm 90,1 ha do chuyển sang đất lâm nghiệp, 4,03 ha chuyển sang đất nghĩa trang – nghĩa địa, và 9,48 ha do đo đạc lại; đồng thời, diện tích đất tăng 13,31 ha do chuyển đổi từ đất SSMNCD.
Xã Thành Trực đã nỗ lực giải quyết các vấn đề tồn tại như tạo nguồn lao động tại chỗ, phát triển sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao để thúc đẩy tiểu thủ công nghiệp, và đảm bảo nguồn lương thực ứng phó với lũ lụt, hạn hán Tuy nhiên, yếu tố địa hình, thời tiết, lũ lụt, thiếu nguồn kinh phí và cán bộ chuyên môn đã ảnh hưởng không nhỏ đến kế hoạch sử dụng đất của địa phương trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Hiện trạng sử dụng đất và biến động sử dụng đất
4.3.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 của xã Thành Trực
4.3.1.1 Hiện trạng sử dụng các loại đất chính năm 2010
Bảng 4.3 Hiện trạng sử dụng đất xã Thành Trực năm 2010
Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
1.1 Đất sản xuất NN SXN 777,42 49,87
1.3 Đất nuôi trồng TS NTS 9,13 0,59
1.4 Đất nông nghiệp khác NKH 0,1 0,006
2.2.2 Đất quốc phòng,AN CQA 0 0
2.3 Đất tôn giáo TN TTN 0 0
2.5 Đất sông suối MNCD SMN 73,04 4,68
3 Đất chưa sử dụng CSD 3,03 0,19
(Nguồn: UBND xã Thành Trực )
Qua bảng 4.3 ta thấy năm 2010 tổng diện tích sử dụng đất của xã Thành Trực là 1559.18 ha, trong đó :
Đất nông nghiệp chiếm 78,6% tổng diện tích tự nhiên với tổng diện tích là 1.225,4 ha Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp phát triển trên 777,42 ha, chiếm gần 50% tổng diện tích tự nhiên, đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp địa phương Đất lâm nghiệp chiếm 28,14% với diện tích 438,75 ha, góp phần bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học Ngoài ra, diện tích đất nuôi trồng thủy sản là 9,13 ha, chiếm 0,59% tổng diện tích, phản ánh hoạt động nuôi trồng thủy sản đang được triển khai mở rộng Thậm chí, đất nông nghiệp khác được sử dụng với diện tích rất nhỏ, chỉ 0,1 ha, chiếm 0,006% tổng diện tích tự nhiên.
- Đất phi nông nghiệp 330,75 ha chiếm 21,21 % tổng diện tích tự nhiên. + Đất ở nông thôn 150,21 ha chiếm 9,63 % tổng diện tích tự nhiên.
+ Đất chuyên dùng 94,66 ha chiếm 6,08 % tổng diện tích tự nhiên.
+ Đất nghĩa trang – nghĩa địa 12,84 ha chiếm 0,82 % tổng diện tích tự nhiên. +Đất SSMNCD 73,04 ha chiếm 4,68 % tổng diện tích tự nhiên.
- Đất chưa sử dụng 3,03 ha chiếm 0,19 % tổng diện tích tự nhiên.
4.3.1.2 Thực trạng chuyển mục đích sử dụng năm 2010
Năm 2010, diện tích đất lúa đạt 268,26 ha, tăng 83,43 ha so với năm 2006 Trong đó, có sự chuyển đổi đất sang các mục đích khác như đất TSCQ và CTSN (0,07 ha), đất giao thông (1,6 ha), đất cây hàng năm (2,13 ha), đất ở nông thôn (9,18 ha) Ngoài ra, đất SSMNCD chuyển sang đất lúa với diện tích 29,23 ha, đất chưa sử dụng chuyển đổi sang 56,14 ha, và đất cây hàng năm chuyển sang 12,3 ha, thể hiện sự biến đổi linh hoạt của cơ cấu đất đai trong giai đoạn này.
Năm 2010, diện tích đất trồng cây hàng năm đạt 341,77 ha, tăng 22,89 ha so với năm 2006 Trong đó, đất lâm nghiệp chuyển đổi sang 12,3 ha, đất lúa chuyển đổi sang 2,13 ha, đất cây lâu năm chuyển đổi sang 33,06 ha, và còn có 12,3 ha đất chuyển sang đất lúa.
- Đất cây lâu năm năm 2010 là 167,39 ha giảm 73,35 ha so với năm
Năm 2006, diện tích đất đã được chuyển đổi mục đích sử dụng như sau: chuyển sang đất ở 40,51 ha, đất giao thông 1,1 ha, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 0,69 ha, đất cây hàng năm khác 33,03 ha, và còn tăng thêm 1,98 ha nhờ chuyển đổi đất lâm nghiệp sang các mục đích khác.
Năm 2010, diện tích đất lâm nghiệp đạt 438,75 ha, tăng 38,03 ha so với năm 2006 Trong đó, đã chuyển đổi 1,98 ha đất sang trồng cây lâu năm và 0,74 ha sang đất ở nông thôn, góp phần đa dạng hóa sử dụng đất nông nghiệp Ngoài ra, diện tích đất chưa sử dụng đã chuyển sang 28,45 ha, đồng thời 12,3 ha đất trồng cây hàng năm khác được chuyển sang đất lâm nghiệp, thúc đẩy phát triển rừng và bảo vệ môi trường.
- Đất nuôi trồng thuỷ sản năm 2010 là 9,13 ha tăng 6,73 ha so với năm
2006 do đất SSMNCD chuyển sang 6,73 ha
Năm 2010, diện tích đất ở nông thôn đã đạt 150,21 ha, tăng 42,8 ha so với năm 2006, phản ánh sự phát triển về quy hoạch và xây dựng khu dân cư Trong đó, có sự chuyển đổi diện tích đất như: 0,1 ha đất nông nghiệp chuyển sang đất TSCQCTSN, 2,15 ha thành đất có mục đích công cộng, 0,1 ha sang đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, và 5,33 ha giảm do công tác đo đạc lại Đặc biệt, đất lúa chuyển đổi sang 9,18 ha, đất cây lâu năm chuyển sang 40,51 ha, còn đất lâm nghiệp chuyển sang đất ở nông thôn 0,74 ha, thể hiện xu hướng đô thị hóa và chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất ở phù hợp với phát triển khu dân cư.
- Đất TSCQCTSN năm 2010 là 0,27 ha tăng 0,17 ha so với năm 2006 do đất ở nông thôn chuyển sang 0,1 ha, đất trồng lúa chuyển sang 0,07 ha.
- Đất SXKDPNN năm 2010 là 4 ha tăng 0,79 ha so với năm 2006 do đất cây lâu năm chuyển sang 0,69 ha, đất ở nông thôn chuyển sang 0,1 ha.
Năm 2010, diện tích đất có mục đích công cộng đạt 90,39 ha, tăng 5,51 ha so với năm 2006, thể hiện sự biến động trong cơ cấu sử dụng đất Trong đó, đất ở nông thôn chuyển đổi sang 2,15 ha, đất lúa chuyển sang đất giao thông 1,6 ha, đất lúa chuyển sang mục đích thủy lợi 0,66 ha, và đất cây lâu năm chuyển sang 1,1 ha, phản ánh xu hướng chuyển đổi mục đích đất phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Năm 2010, diện tích đất Sở sản xuất, dịch vụ, nông nghiệp và công nghiệp (SSMNCD) giảm còn 73,04 ha, giảm 36 ha so với năm 2006 Trong đó, có 29,23 ha đất chuyển mục đích sang đất trồng lúa, 6,73 ha chuyển sang đất nuôi trồng thủy sản, và 0,04 ha chuyển sang đất chưa sử dụng.
Năm 2010, diện tích đất chưa sử dụng là 3,03 ha, giảm 91 ha so với năm 2006 Trong đó, có 56,14 ha đất đã được chuyển đổi sang đất trồng lúa, 28,45 ha sang đất lâm nghiệp, 6,45 ha do đo đạc lại, và đất SSMNCD chuyển sang 0,04 ha.
4.3.2 Biến động sử dụng đất thực tế trước và sau giai đoạn quy hoạch 2006 – 2010 Bảng 4.4 Diện tích, cơ cấu sử dụng đất trước và sau giai đoạn quy hoạch
Năm 2006 Năm 2010 Tăng (+), giảm (-) so với HT Diện tích (ha)
1 Đất nông nghiệp NNP 1147,67 73,61 1225,4 78,6 77,73 6,77 1.1 Đất sản xuất NN SXN 744,45 47,75 777,42 49,87 32,97 4,42 1.1.1 Đất trồng CHN CHN 503,71 32,31 610,03 39,13 106,32 20,03 1.1.1.1 Đất trồng lúa LUA 184,83 11,85 268,26 17,21 83,43 45,13 1.1.1.2 Đất trồng CHNK HNK 318,88 20,46 341,77 21,92 22,89 7,17 1.1.2 Đất trồng CLN CLN 240,74 15,44 167,39 10,74 - 73,35 - 30,46
1.3 Đất nuôi trồng TS NTS 2,4 0,15 9,13 0,59 6,73 280,41
1.4 Đất nông nghiệp khác NKH 0,1 0,006 0,1 0,006 0 0
2.2.2 Đất quốc phòng,AN CQA 0 0 0 0 0 0
2.3 Đất tôn giáo TN TTN 0 0 0 0 0 0
2.5 Đất sông suối MNCD SMN 109,04 7 73,04 4,68 - 36 - 33,01
3 Đất chưa sử dụng CSD 94,03 6,03 3,03 0,19 - 91 96,77
(Nguồn UBND xã Thành Trực )
Qua bảng 4.4 ta thấy sau khi thực hiện quy hoạch đất đai xã Thành Trực được phân bổ như sau :
* Đất nông nghiệp Đất nông nghiệp năm 2010 có 1225,4 ha chiếm 78,6 % tổng diện tích tự nhiên Tăng 77,73 ha và bằng 6,77 % so với hiện trạng năm 2006, trong đó:
- Đất sản xuất nông nghiệp năm 2010 tăng 32,97 ha bằng 4,42 % so với hiện trạng năm 2006.
+ Đất lúa năm 2010 có diện tích là 268,26 ha (17,21%) gồm 232,58 ha chuyên lúa, 35,68 ha đất lúa nước còn lại, tăng 83,43 ha bằng 45,13% so với hiện trạng năm 2006.
+ Đất cây hàng năm khác năm 2010 có diện tích 341,77 ha (21,92 %) tăng 22,898 ha bằng 7,71 % so với hiện trạng năm 2006.
Năm 2010, diện tích đất cây lâu năm đạt 167,39 ha, chiếm tỷ lệ 10,74% tổng diện tích, trong đó có 74,74 ha cây công nghiệp lâu năm và 92,65 ha cây lâu năm khác So với năm 2006, diện tích đất này giảm 73,35 ha, tương đương giảm 30,46%, phản ánh xu hướng thay đổi về cơ cấu cây trồng lâu dài trong vùng.
Năm 2010, diện tích đất lâm nghiệp đạt 438,75 ha, chiếm 28,14% tổng diện tích đất nông nghiệp Trong đó, có 231,39 ha đất có rừng trồng sản xuất và 181,37 ha đất trồng rừng sản xuất, tăng 38,03 ha tương đương 9,49% so với năm 2006.
- Đất nuôi trồng thuỷ sản năm 2010 có diện tích 9,13 ha (0,59%) tăng 6,73 ha bằng 280,41 % so với hiện trạng năm 2006.
- Đất nông nghiệp khác giữ nguyên hiện trạng.
* Đất phi nông nghiệp Đất phi nông nghiệp năm 2010 có 330,75 ha chiếm 21,21 % tổng diện tích tự nhiên, tăng 13,21 ha bằng 4,17 % so với hiện trạng năm 2006, trong đó:
- Đất ở năm 2010 có diện tích 150,21 ha (9,63%) tăng 42,8 ha bằng39,84% so với hiện trạng năm 2006.
- Đất chuyên dùng năm 2010 có diện tích 94,66 ha (6,08 %) tăng 6,47 ha so với năm 2006, trong đó :
Năm 2010, diện tích đất TSCQ, CTSN đạt 0,27 ha, tăng 0,17 ha so với năm 2006, cho thấy sự mở rộng trong lĩnh vực đất đai này Đất SXKDPNN năm 2010 là 4 ha, tăng 0,79 ha so với năm 2006, phản ánh sự phát triển trong hoạt động sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp Ngoài ra, diện tích đất có mục đích công cộng năm 2010 là 90,39 ha, tăng 5,51 ha so với năm 2006, góp phần nâng cao cơ sở hạ tầng và dịch vụ cộng đồng.
- Đất giao thông năm 2010 là 63,39 ha tăng 2,7 ha so với năm 2006.
- Đất thuỷ lợi năm 2010 là 20,67 ha tăng 3,36 ha so với năm 2006.
- Đất công trình năng lượng năm 2010 là 0,03 ha giữ nguyên hiện trạng so với năm 2006.
- Đất bưu chính viễn thông năm 2010 là 0,02ha giữ nguyên hiện trạng so với năm 2006.
- Đất cơ sở văn hoá năm 2010 là 1,15 ha giữ nguyên hiện trạng so với năm 2006.
- Đất cơ sở y tế năm 2010 là 0,19ha giữ nguyên hiện trạng so với năm 2006.
- Đất cơ sở giáo dục năm 2010 là 2 ha giữ nguyên hiện trạng so với năm 2006.
- Đất thể dục thể thao năm 2010 là 2,65 ha tăng 2,2 ha so với năm 2006.
- Đất chợ năm 2010 là 0,29 ha giảm 2,75 ha so với năm 2006.
- Đất nghĩa trang – nghĩa địa năm 2010 có diện tích 12,84 ha (0,82%) giữ nguyên hiện trạng so với năm 2006.
- Đất SSMNCD năm 2010 có diện tích 73,04 ha (4,68 %) giảm 36 ha
* Đất chưa sử dụng Đất chưa sử dụng năm 2010 có 3,03 ha chiếm 0,19 % tổng diện tích tự nhiên, giảm 91 ha so với năm 2006
Năm 2010, sự phân bố đất đai cho thấy rõ sự chuyển dịch tích cực với việc tăng diện tích đất nông nghiệp, đồng thời giảm diện tích đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng Điều này phản ánh xu hướng đáp ứng yêu cầu của xã nông nghiệp ngày càng phát triển Trong giai đoạn quy hoạch mới, xã cần chú trọng phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ nhằm thúc đẩy kinh tế địa phương bền vững Bên cạnh đó, nông nghiệp cũng cần phát triển theo chiều sâu để nâng cao giá trị sản xuất và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của xã Thành Trực
Dưới sự phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, đời sống nhân dân đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao vị thế của đất nước trên thị trường toàn cầu Để duy trì đà phát triển này, cần có những thay đổi mạnh mẽ từ cấp xã, phường thông qua các phương án quy hoạch hiệu quả Tuy nhiên, quá trình thực hiện thường gặp phải những thuận lợi lẫn khó khăn, ảnh hưởng đến việc hoàn thành các chỉ tiêu đề ra trong quy hoạch.
4.4.1 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010 4.4.1.1 Kết quả biến động diện tích đất đai trong giai đoạn quy hoạch
Theo kế hoạch được duyệt, diện tích đất nông nghiệp đến năm 2010 dự kiến tăng thêm 41,45 ha; tuy nhiên, thực tế ghi nhận đến năm 2010, diện tích đất nông nghiệp đã tăng thêm 77,73 ha, gấp 1,87 lần so với dự kiến ban đầu.
Đến năm 2010, diện tích đất sản xuất nông nghiệp theo kế hoạch dự kiến giảm 96,23 ha nhưng thực tế lại tăng 32,97 ha, cho thấy sự điều chỉnh tích cực trong quản lý đất đai Trong khi đó, đất trồng cây hàng năm theo kế hoạch giảm 12,88 ha, thì thực tế lại tăng đến 106,32 ha, gấp 8,25 lần so với chỉ tiêu đề ra, phản ánh sự tăng trưởng mạnh mẽ của diện tích trồng cây hàng năm ngoài dự kiến Đặc biệt, diện tích đất lúa theo kế hoạch giảm 15,99 ha, nhưng thực tế lại tăng lên 83,43 ha, vượt gấp 5,21 lần so với mục tiêu ban đầu, cho thấy sự phục hồi và mở rộng của diện tích đất trồng lúa trong giai đoạn này.
+ Đất cây hàng năm khác theo chỉ tiêu tăng 3,11 ha thực tế tăng 22,89 ha gấp 7,36 lần so với chỉ tiêu.
+ Đất cây lâu năm theo kế hoạch thì đến năm 2010 giảm 73,35 ha thực tế đạt 100% chỉ tiêu đề ra.
Bảng 4.5 Kết quả biến động diện tích đất đai xã Thành Trực giai đoạn
Kế hoạch biến động đã được duyệt (ha) tăng (+), giảm (-)
Kết quả thực hiện (ha)
1.1 Đất sản xuất NN SXN - 86,23 32,97 38,23
1.3 Đất nuôi trồng TS NTS 0 6,73 0
1.5 Đất nông nghiệp khác NKH 0 0 0
2.2.2 Đất quốc phòng,AN CQA 0 0 0
2.3 Đất tôn giáo TN TTN 0 0 0
2.5 Đất sông suối MNCD SMN - 46,46 - 36 76,98
3 Đất chưa sử dụng CSD - 90,1 - 91 100,99
(Nguồn UBND xã Thành Trực )
- Đất lâm nghiệp theo chỉ tiêu tăng 127,68 ha thực tế mới tăng được 38,03 ha đạt 29,78 % so với chỉ tiêu.
- Đất nuôi trồng thuỷ sản theo chỉ tiêu giữ nguyên hiện trạng thực tế tăng
- Đất nông nghiệp khác theo kế hoạch giữ nguyên thực tế không thay đổi.
Theo kế hoạch đến năm 2100 sẽ tăng thêm 48,65 ha thực tế mới tăng 13,27 ha đạt 27,27 % so với chỉ tiêu, trong đó:
- Đất ở theo kế hoạch đến năm 2010 tăng 48,14 ha thực tế tăng 42,8 ha đạt 88,9 % so với chỉ tiêu.
- Đất chuyên dùng theo kế hoạch sẽ tăng 43,28 ha thực tế tăng 6,47 ha đạt 14,94 % so với chỉ tiêu.
+ Đất TSCQ, CTSN sẽ tăng 0,1 ha thực tế tăng 0,17 ha đạt 170 % so với chỉ tiêu.
+ Đất mục đích công cộng theo kế hoạch tăng 0,74 ha thực tế tăng 5,51 ha đạt 12,99 % so với chỉ tiêu.
- Đất nghĩa trang – nghiã địa theo kế hoạch tăng 4,03 ha thực tế không tăng thêm.
- Đất SSMNCD theo kế hoạch giảm 46,76 ha thực tế giảm được 36 ha đạt 76,98 % so với chỉ tiêu đề ra.
* Đất chưa sử dụng theo kế hoạch giảm 90,1 % thực tế giảm được 91 ha đạt 100,99 % so với chỉ tiêu đề ra.
Trong giai đoạn 2006 – 2010, xã Thành Trực đã thực hiện quy hoạch sử dụng đất được duyệt với tỉ lệ tương đối cao, đảm bảo đúng mục đích sử dụng nhờ thay đổi về hướng dẫn kiểm kê đất đai và đo đạc lại Một số loại đất vượt chỉ tiêu, đặc biệt là đất nông nghiệp, đã được xét duyệt gấp nhiều lần do tăng diện tích đất lúa và đất nuôi trồng thủy sản, trong khi diện tích đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng được được đưa vào sử dụng với diện tích lớn Tuy nhiên, hiện tượng lũ lụt vào mùa mưa, do ảnh hưởng của khí hậu phân hóa theo mùa, đã gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của người dân vào mùa khô Ngoài ra, nguồn tài nguyên đất đai chưa được đánh giá đầy đủ để phát triển nông nghiệp chuyên canh và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, đồng thời diện tích đất canh tác nhỏ, không tập trung do điều kiện địa hình hạn chế ảnh hưởng đến khả năng đa dạng hóa vùng sản xuất.
4.4.1.2 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu trong quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 – 2010
Việc triển khai quy hoạch sử dụng đất còn phụ thuộc vào tình hình phát triển của địa phương theo từng giai đoạn và ảnh hưởng của thời tiết khắc nghiệt Sau khi thực hiện phương án quy hoạch, cơ cấu sử dụng đất của xã đã có sự điều chỉnh phù hợp nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Kết quả thực hiện các chỉ tiêu SDĐ trong quy hoạch SDĐ của xã Thành Trực giai đoạn 2006 – 2010 được thể hiện qua bảng 4.6
Theo quy hoạch thì năm 2010 tổng diện tích đất nông nghiệp của xã là
1189 ha, thực tế năm 2010 tăng lên 1225,4 ha Vậy còn 36,28 ha đã vượt quá không sử dụng đúng kế hoạch đã duyệt
- Trong đất sản xuất nông nghiệp theo quy hoạch là 568, 22 ha, thực tế tăng lên 77,42 ha tăng 119,2 ha chưa theo kế hoạch được duyệt.
+ Đất cây hàng năm tăng 119,2 ha không theo kế hoạch được duyệt.+ Cây lâu năm đạt kế hoạch được duyệt.
Bảng 4.6 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu SDĐ trong quy hoạch SDĐ giai đoạn 2006 - 2010 xã Thành Trực
Kế hoạch SDĐ được duyệt (ha)
Kết qủa thực hiện (ha)
Diện tích chưa thực hiện được (ha)
Diện tích chuyển kỳ sau (ha)
1.1 Đất sản xuất NN SXN 658,22 777,42 119,2 119,2
1.1.1.1 Đất trồng lúa LUA 168,84 268,26 99,42 99,42 1.1.1.2 Đất trồng CHNK HNK 321,99 341,77 19,78 19,78
1.3 Đất nuôi trồng TS NTS 2,4 9,13 6,73 6,73
1.4 Đất nông nghiệp khác NKH 0,1 0,1 0 0
2.2.2 Đất quốc phòng,AN CQA 0 0 0 0
2.3 Đất tôn giáo TN TTN 0 0 0 0
2.5 Đất sông suối MNCD SMN 62,28 73,04 10,76 10,76
3 Đất chưa sử dụng CSD 3,93 3,03 -0,9 0,9
(Nguồn UBND xã Thành Trực )
- Đất lâm nghiệp theo quy hoạch đến năm 2010 là 528,4 ha thực tế chỉ mới có 438,75 ha còn 89,65 ha chưa sử dụng theo kế hoạch được duyệt.
- Đất nuôi trồng thuỷ sản theo quy hoạch đến năm 2010 là 2,4 ha thực tế có 9,13 ha tăng 6,73 ha không theo kế hoạch được duyệt.
- Đất nông nghiệp khác theo kế hoạch và thực tế không thay đổi
Theo phương án quy hoạch của xã Thành Trực, quá trình thực hiện đã đạt kết quả cao, phản ánh sự chuyển dịch trong cơ cấu nội bộ nhóm đất nông nghiệp Tuy nhiên, một số diện tích đất không phù hợp với mục đích quy hoạch do nguyên nhân chủ yếu là sự sử dụng không đúng mục đích Điều này cho thấy cần có các giải pháp điều chỉnh và quản lý chặt chẽ hơn để đảm bảo hiệu quả của quy hoạch đất đai.
- Sự thay đổi của thời tiết, lũ lụt kéo dài và trên diện rộng, buộc người dân phải chuyển đổi mục đích sử dụng.
Việc tuyên truyền quy hoạch đến người dân còn chưa sâu sát, dẫn đến nhận thức về đường lối, chủ trương của Đảng ủy và UBND liên quan đến quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất của địa phương còn yếu Điều này khiến người dân dễ hiểu sai về các chính sách, kế hoạch phát triển đô thị, gây ảnh hưởng đến quá trình triển khai dự án và quản lý đất đai hiệu quả Cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao hiểu biết của cộng đồng để đảm bảo thực thi quy hoạch đúng hướng, phù hợp với chủ trương của cấp trên.
- Sự phối hợp của các ngành các cấp thiếu đồng bộ, nhịp nhàng.
Theo phương án quy hoạch diện tích đất phi nông nghiệp đến năm
2010 là 366,13 ha trong thực tế 330,75 ha như vậy có 35,38 ha chưa đưa vào sử dụng đúng mục đích, trong đó :
- Đất ở theo kế hoạch năm 2010 là 155,55 ha thực tế năm 2010 là 150,21 ha còn 5,54 ha chưa đưa vào sử dụng đúng kế hoạch được duyệt.
- Đất chuyên dùng theo phương án quy hoạch là 131,43 ha thực tế có 94,66 ha còn 36,77 ha sử dụng không theo kế hoạch được duyệt.
- Đất nghĩa trang – nghĩa địa theo quy hoạch là 16,84 ha thực tế là 12,84 ha còn 4 ha chưa sử dụng đúng theo kế hoạch được duyệt.
- Đất SSMNCD theo phương án quy hoạch có 62,28 ha thực tế có 73,04 ha còn 10,76 ha chưa sử dụng đúng theo kế hoạch được duyệt.
Vậy nguyên nhân đất phi nông nghiệp chưa sử dụng theo quy hoạch là do:
- Sự chuyển dịch dân đi làm ăn xa làm diện tích đất ở không theo quy hoạch dự tính về dân số ban đầu.
- Xây dựng lại trụ sở UBND, trường PTCS và trường tiểu học làm tăng diện tích đất TSCQCTSN.
- Các ngành nghề dịch vụ mở rộng.
- Quá trình chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng phức tạp, do tính cửa quyền của cán bộ xã.
- Một số dự án chậm thực hiện
* Đất chưa sử dụng: Đất chưa sử dụng theo quy hoạch thì đến năm 2010 còn 3,39 ha thực tế chỉ còn 3,03 ha.
Theo phân tích, diện tích đất nông nghiệp đã tăng nhờ quy hoạch hợp lý, đặc biệt là đất lâm nghiệp nhờ dự án trồng rừng KFW4, trong khi đất phi nông nghiệp cũng đã mở rộng Đất chưa sử dụng đã được đưa vào khai thác nhiều hơn để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Để đáp ứng nhu cầu về công cộng, cần mở rộng diện tích đất nghĩa trang do diện tích hiện tại chưa đủ đáp ứng nhu cầu chôn cất Tuy nhiên, việc thực hiện quy hoạch còn gặp nhiều khó khăn do điều kiện thời tiết, tình hình quốc tế, cùng với năng lực của đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế, quản lý và chỉ đạo hệ thống dịch vụ phát triển chưa hiệu quả, thiếu các giải pháp kịp thời trong chỉ đạo và điều hành các thôn, ban ngành, làm hạn chế tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ.
4.4.1.3 Kết quả thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất trong giai đoạn quy hoạch 2006 – 2010 Để đảm bảo lương thực cung cấp cho toàn xã và mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội theo hướng CNH- HĐH cần sử dụng đất đai một cách hợp lí, đạt hiệu quả cao Trong những năm qua việc chuyển mục đích sử dụng của xã đã có kế hoạch, xong việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn Kết quả việc chuyển mục đích của xã Thành Trực được thể hiện qua bảng 4.7 sau :
Bảng 4.7 Kết quả chuyển mục đích sử dụng đất
Kế hoạch SDĐ được duyệt (ha)
Kết quả thực hiện (ha)
DT chưa thực hiện được
1 Đất NN chuyển sang đất PNN NNP/PNN 61,92 55,15 89,06 - 6,77 6,77 1.1 Đất sản xuất nông nghiệp SXN/PNN 61,18 54,41 88,93 - 6,77 6,77 1.1.1 Đất trồng cây hàng năm CHN/PNN 12,88 12,11 94,02 - 0,77 0,77
1.1.1.1 Đất trồng lúa LUA/PNN 12,88 12,11 94,02 - 0,77 0,77
1.1.1.2 Đất trồng cây hàng năm khác HNK/PNN 0 0 0 0 0
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm CLN/PNN 48,3 42,3 87,57 - 6 6
1.2 Đất lâm ngiệp LNP/PNN 0,74 0,74 100 0 0
2 Chuyển đổi cơ cấu trong nội bộ đất NN
2.1 Đất chuyên trồng lúa chuyển sang đất trồng cây hàng năm
(Nguồn UBND xã Thành Trực )
Trong giai đoạn quy hoạch 2006 – 2010, việc chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp vẫn chưa đạt đầy đủ chỉ tiêu đề ra, tuy nhiên, tỷ lệ thực hiện đạt tới 89,06% so với kế hoạch đề ra, thể hiện sự nỗ lực và tiến bộ trong quá trình điều chỉnh mục đích sử dụng đất.
Trong kế hoạch đã được duyệt, diện tích đất sản xuất nông nghiệp chuyển sang mục đích phi nông nghiệp là 61,18 ha, tuy nhiên thực tế mới chuyển khoảng 54,41 ha, đạt tỷ lệ 88,93% so với mục tiêu đề ra Trong đó, đất trồng lúa chuyển sang mục đích phi nông nghiệp chiếm phần lớn diện tích cần chuyển đổi.
Trong kế hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tổng diện tích cần chuyển là 12,88 ha, nhưng thực tế đã chuyển được 12,11 ha, đạt 94,02% so với mục tiêu Đối với đất trồng cây lâu năm, theo quy hoạch phải chuyển 48,3 ha sang mục đích phi nông nghiệp, tuy nhiên, thực tế mới chuyển được 42,3 ha, đạt 87,57% kế hoạch đề ra Ngoài ra, diện tích đất lâm nghiệp theo quy hoạch là 0,74 ha đã được chuyển đổi thành công, đảm bảo chỉ tiêu đề ra.
Trong nội bộ đất nông nghiệp, kế hoạch chuyển đổi đất trồng lúa sang đất trồng cây hàng năm là 3,11 ha, nhưng thực tế chỉ chuyển được 2,13 ha, đạt 68,48% so với mục tiêu đề ra Ngoài ra, diện tích đất trồng cây lâu năm đã chuyển sang đất cây hàng năm là 33,03 ha, và diện tích đất lâm nghiệp chuyển sang đất trồng cây lâu năm là 1,98 ha.
Trong giai đoạn quy hoạch 2006 – 2010, xã Thành Trực đã chuyển đổi nhiều diện tích đất nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp và phân loại trong nội bộ đất nông nghiệp, đạt tỷ lệ thực hiện cao theo kế hoạch đề ra Tuy nhiên, diện tích còn lại chưa được chuyển đổi do một số nguyên nhân nhất định.
- Người dân tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng khác so với quy hoạch.
- Sự tàn phá của thời tiết.
- Kế hoạch chuyển mục đích không rõ ràng, cụ thể.
4.4.1.4 Kết quả sử dụng đất để thực hiện các công trình dự án Để phát triển kinh tế xã hội trong xã, UBND xã Thành Trực đã xây dựng các công trình, dự án tạo cơ sở vật chất cho các hoạt động lao động, sản xuất, dịch vụ trong xã Trong giai đoạn quy hoạch 2006- 2010 xã đã xây dựng kế hoạch sử dụng đất để thực hiện công trình, dự án thể hiện ở bảng 4.8 sau:
Bảng 4.8 Kết quả sử dụng đất để thực hiện các công trình, dự án trong giai đoạn quy hoạch 2006 -2010 xã Thành Trực
Kế hoạch SDĐ được duyệt (ha)
Kết quả thực hiện (ha)
Diện tích chưa thực hiện được
- Khu dân xư xen kẽ 8,75 8,75 100 0 0
(Nguồn UBND xã Thành Trực )