Với định hướng nghiên cứu và phân tích về hoạt động bảo mật thông tinkhách hàng của các ngân hàng thương mại, đồng thời, hướng đến các quy định hiệnhành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát tri
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO MẬT THÔNG TIN KHÁCH HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG
Hoạt động ngân hàng thương mại
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Quan niệm về ngân hàng thương mại không đồng nhất giữa các khu vực khác nhau trên thế giới do tập quán pháp luật của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ bắt nguồn từ tính chất phức tạp của các nghiệp vụ ngân hàng, tính đa dạng của các loại hình ngân hàng cũng như tính đặc thù về truyền thống dân tộc, tập quán phong tục, luật lệ quốc gia và đặc biệt là sự thay đổi thường xuyên của các nghiệp vụ ngân hàng theo tiến trình phát triển kinh tế Theo định nghĩa của Đạo luật ngân hàng của Pháp ngày 13/6/1941 thì “ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hay dưới hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ, trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính” Đối với Đài Loan thì thuật ngữ “ngân hàng thương mại” được hiểu là một ngân hàng mà các chức năng chính là nhận tiền gửi tài khoản phát hành sẽ và cấp tín dụng ngắn hạn Luật ngân hàng thương mại của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định “các ngân hàng thương mại được nêu ra trong luật này là các bộ phận hợp nhất được thành lập theo bộ luật này và Luật công ty của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, để nhận tiền gửi từ công chúng, cấp các khoản vay, cung cấp các dịch vụ thanh toán và tiến hành các loại hình kinh doanh có liên quan khác” (Nguyễn Văn Tuyến, 2004, tr.9 – tr.10) Đối với Việt Nam, khái niệm ngân hàng thương mại lần đầu tiên được đề cập đến tại Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh số 38-LCT/HĐNN8 ngày 23/5/1990 về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính Theo đó, "ngân hàng thương mại" là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung về khái niệm này, Khoản 3 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 quy định “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” Như vậy, khái niệm ngân hàng thương mại hiện nay được mở rộng hơn về nghiệp vụ ngân hàng và làm rõ mục tiêu của ngân hàng thương mại là “lợi nhuận”.
1.1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại có ba chức năng chính sau đây (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 2013): a Trung gian tài chính
Ngân hàng là một trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư dưới hình thức nhận tiền gửi và cấp tín dụng Trong nền kinh tế luôn tồn tại hai nhóm đối tượng: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời có nhu cầu chi cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập/vốn hiện có nên phát sinh nhu cầu bổ sung vốn, (2) các cá nhân và tổ chức có thu nhập/vốn hiện có lớn hơn các khoản cho cho hàng hóa, dịch vụ, tiêu dùng nên dư thừa về vốn Vốn sẽ chuyển từ nhóm (2) sang nhóm (1) nếu cả hai cùng có lợi Như vậy, lợi nhuận tạo ra mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm Dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở lại với một lượng lớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định thì đó là quan hệ tín dụng Nếu không thì đó là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn Cơ sở cho chức năng trung gian tài chính là khả năng thẩm định thông tin của ngân hàng Sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tin được gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm hiệu quả của thị trường nhưng tạo ra khả năng sinh lợi cho ngân hàng, nơi có chuyên môn và kinh nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và có khả năng lựa chọn những công cụ với các yếu tố rủi ro – lợi nhuận hấp dẫn. b Trung gian thanh toán.
Khi ngân hàng nhận tiền gửi và cho vay (trung gian tài chính) thì tất yếu dẫn đến cơ sở của thanh toán hộ Trước tiên, ngân hàng là trung gian thanh toán cho những khách hàng có tiền gửi ở cùng một ngân hàng, sau đó mở rộng ra khi hệ thống thanh toán liên ngân hàng hình thành Ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng Tiền được chuyển từ tài khoản khách hàng tại ngân hàng này sang tài khoản của khách hàng khác tại ngân hàng khác, mở đầu hoặc kết thức một quá trình luân chuyển hàng hóa hoặc quan hệ kinh tế Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu… Ngân hàng cũng đầu tư, thiết lập mạng lưới thanh toán rộng khắp các chi nhánh, phòng giao dịch, máy rút tiền tự động, thiết bị chấp nhận thanh toán… kết nối với các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán Ngân hàng kết nối với các tổ chức cung cấp dịch vụ thông tin, dịch vụ công, các công ty nhằm cung cấp dịch vụ thanh toán 24/24, trên phạm vi toàn cầu với chi phí thấp và tính tiện ích cao Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa, góp phần tạo tính thống nhất, bảo mật trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên thế giới Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng tính hiệu quả thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế mỗi quốc gia và toàn cầu. c Tạo phương tiện thanh toán
Tiền có một chức năng quan trọng là phương tiện thanh toán Hệ thống ngân hàng tham gia tạo nên phương tiện thanh toán là tiền ghi sổ Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có được hàng hóa và các dịch vụ theo yêu cầu Tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng là phương tiện thanh toán song hành cùng tiền giấy Theo quan điểm hiện đại, đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông, thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng, thứ ba là tiền gửi trên tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn… Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, bằng cách đó, các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán cho khách hàng Toàn bộ hệ thống ngân hàng tham gia tạo phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở mở rộng cho vay Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nên khoản thu (tức làm tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng tại một ngân hàng khác, từ đó tạo ra các khoản vay mới Toàn bộ hệ thống có thể tạo ra khối lượng tiền gửi thanh toán nhiều hơn so với lượng tiền cơ sở thông qua hoạt động tín dụng Như vậy, chức năng tạo phương tiện thanh toán của ngân hàng được phát sinh dựa trên chức năng trung gian tài chính và chức năng trung gian thanh toán Khi thực hiện chức năng này, hệ thống ngân hàng tham gia cung tiền, tác động tới lượng tiền cung ứng, qua đó tới lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
1.1.2 Những nghiệp vụ ngân hàng chủ yếu
Căn cứ Khoản 12 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 thì hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây:
- Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ khách hàng với cam kết hoàn trả đúng hạn Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành được các khoản tiền gửi, ngân hàng đã trả lãi cho số tiền gửi như phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn sàng hi sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh.
Ngân hàng cung cấp dịch vụ giữ tiền một cách thuận lợi thông qua hệ thống mạng lưới dày đặc, giúp khách hàng có thể gửi tiền vào ngân hàng mọi lúc, mọi nơi với chi phí thấp nhất Nhiều tiện ích được kết nối với tài khoản tiền gửi, cho phép khách hàng có thể sử dụng tiền thuận tiện Ngân hàng cung cấp dịch vụ giữ tiền một cách an toàn do ngân hàng có cơ chế kiểm soát chặt chẽ nhằm đảm bảo khả năng chi trả và tham gia bảo hiểm tiền gửi. Đồng thời, ngân hàng mở tài khoản tiền gửi giao dịch cho mọi tổ chức và cá nhân có nhu cầu Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh cho khách hàng.
Theo Khoản 14 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010, cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Trong đó, các nghiệp vụ cụ thể bao gồm:
Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.
Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.
Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.
Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán.
1.1.2.3 Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản
Theo Khoản 15 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
Nghiệp vụ này đã chứng minh rõ nét chức năng trung gian thanh toán của ngân hàng thương mại Theo đó, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
1.1.3 Sự khác biệt giữa hoạt động ngân hàng với các hoạt động thương mại khác
Hiện nay, khái niệm “hoạt động thương mại” được quy định tại Khoản 1 Điều
3 Luật thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005 Theo đó, “hoạt động thương mại” là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Như vậy, cùng mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh nhưng hoạt động ngân hàng và hoạt động thương mại khác có những điểm khác nhau rõ rệt.
Bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 117/2018/NĐ-CP ngày 11/9/2018 về việc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quy định “Thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (sau đây gọi là thông tin khách hàng) là thông tin do khách hàng cung cấp, thông tin phát sinh trong quá trình khách hàng đề nghị hoặc được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung ứng các nghiệp vụ ngân hàng, sản phẩm, dịch vụ trong hoạt động được phép, bao gồm thông tin định danh khách hàng và thông tin sau đây: thông tin về tài khoản, thông tin về tiền gửi, thông tin về tài sản gửi, thông tin về giao dịch, thông tin về tổ chức, cá nhân là bên bảo đảm tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các thông tin có liên quan khác”. Đồng thời, theo quy định tại Quyết định số 45/2007/QĐ-NHNN và Thông tư số 10/2009/TT-NHNN thì tài liệu liên quan đến tiền gửi, tài sản khác của từng khách hàng tại các tổ chức tín dụng là tài liệu thuộc độ “Mật” trong ngành ngân hàng.
Trong quá trình thực hiện các giao dịch ngân hàng, khách hàng cung cấp nhiều loại thông tin khác nhau Do đó, ngân hàng cần phân loại thông tin khách hàng theo đối tượng khách hàng và loại thông tin để xác định những thông tin nào cần được bảo mật theo quy định của pháp luật.
Thứ nhất, xét trên phương diện đối tượng khách hàng Khách hàng của ngân hàng được phân loại thành hai đối tượng là cá nhân và tổ chức Do đó, với hai nhóm đối tượng này, pháp luật cũng quy định các thông tin định danh tương ứng quy định tại Khoản 2 Nghị định số 117/2018/NĐ-CP ngày 11/9/2018 về việc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Đối với khách hàng cá nhân, thông tin định danh bao gồm: họ và tên, mẫu chữ ký, chữ ký điện tử, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch, nghề nghiệp, địa chỉ nơi đăng ký thường trú, nơi ở hiện tại, địa chỉ nơi đăng ký cư trú ở nước ngoài đối với người nước ngoài, số điện thoại, địa chỉ thư điện tử, số, ngày cấp, nơi cấp chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu (thông tin về thị thực đối với khách hàng cá nhân là người nước ngoài) của khách hàng hoặc của người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền (gọi chung là người đại diện hợp pháp) và các thông tin có liên quan khác. Đối với khách hàng là tổ chức, thông tin định danh bao gồm: tên giao dịch đầy đủ, tên viết tắt, giấy phép hoặc quyết định thành lập, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc văn bản tương đương; địa chỉ đặt trụ sở chính, số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử và thông tin định danh của người đại diện hợp pháp và các thông tin có liên quan khác.
Thứ hai, xét trên phương diện loại thông tin khách hàng mà ngân hàng cần bảo mật thì pháp luật quy định hai nhóm thông tin, bao gồm thông tin định danh khách hàng và thông tin phát sinh trong quá trình khách hàng giao dịch Trong đó, mỗi nhóm thông tin có ý nghĩa khác nhau, cụ thể:
- Thông tin định danh là những thông tin riêng biệt của mỗi cá nhân, tổ chức và không trùng khớp với cá nhân, tổ chức khác Đồng thời, đây cũng là yếu tố gắn liền với mỗi cá nhân, tổ chức trong giao dịch ngân hàng nói riêng và hoạt động hàng ngày nói chung Vì vậy, thông tin định danh là căn cứ quan trọng để nhận diện, phân biệt các chủ thể với nhau.
- Thông tin phát sinh trong quá trình giao dịch phản ánh đầy đủ và chi tiết về nhu cầu của khách hàng, lịch sử và tần suất giao dịch, khả năng nắm giữ, luân chuyển và nhu cầu về tài sản của từng khách hàng Vì vậy, những thông tin này giúp ngân hàng nắm bắt, hiểu biết về khách hàng Các yếu tố về nhân thân, về bản chất pháp lý hay về những tiềm năng tài chính, năng lực chủ thể để ngân hàng có thể đảm bảo rằng các giao dịch với các chủ thể này là hợp pháp và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, hạn chế tối đa những rủi ro có thể xảy ra.
Thông tin phát sinh trong quá trình khách hàng giao dịch gồm năm loại thông tin, cụ thể:
- Thông tin về tài khoản của khách hàng là thông tin định danh khách hàng và thông tin sau đây: tên tài khoản, số hiệu tài khoản, số dư tài khoản, thông tin liên quan đến giao dịch nộp tiền, rút tiền, chuyển tiền, nhận tiền của khách hàng và các thông tin có liên quan khác.
- Thông tin về tiền gửi của khách hàng là thông tin định danh khách hàng và thông tin sau đây: thông tin liên quan đến giao dịch gửi tiền của khách hàng, số dư các loại tiền gửi theo quy định của pháp luật của khách hàng tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các thông tin có liên quan khác.
- Thông tin về tài sản gửi của khách hàng là thông tin về tài sản của khách hàng (vật, tiền, giấy tờ có giá, các quyền tài sản) gửi tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, thông tin về tài sản của khách hàng do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhận quản lý, bảo quản theo quy định của pháp luật, bao gồm thông tin định danh khách hàng và thông tin sau đây: tên loại tài sản, giá trị tài sản, chứng từ chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hoặc lợi ích hợp pháp đối với tài sản của khách hàng và các thông tin có liên quan khác.
- Thông tin về giao dịch của khách hàng là thông tin phát sinh từ các giao dịch của khách hàng với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, bao gồm thông tin định danh khách hàng và thông tin sau đây: chứng từ giao dịch, thời điểm giao dịch, số lượng giao dịch, giá trị giao dịch, số dư giao dịch và các thông tin có liên quan khác.
- Thông tin về tổ chức, cá nhân là bên bảo đảm tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các thông tin có liên quan khác.
1.2.1.2 Bảo mật thông tin khách hàng
Theo từ điển Tiếng Việt, “bảo mật” là một động từ với ý nghĩa là không tiết lộ bí mật “Bí mật” là một tính từ với nghĩa là được giữ kín không để lộ ra cho người ngoài biết hoặc là một danh từ với ý nghĩa là điều cần giữ bí mật hoặc điều khó hiểu chưa ai biết (Viện Ngôn ngữ học, 2003) Do đó, dưới góc độ của hoạt động ngân hàng, khái niệm “bảo mật thông tin khách hàng” được hiểu là nghĩa vụ của ngân hàng thương mại trong việc giữ kín, không được tiết lộ cho người khác về thông tin do khách hàng cung cấp hoặc phát sinh trong quá trình thực hiện giao dịch, ngoại trừ những trường hợp được pháp luật quy định.
Khái niệm “bảo mật thông tin” cũng chưa có định nghĩa chính xác, cụ thể trên thế giới Khái niệm này được đề cập đến như một phần của khái niệm “bí mật đời tư” Về vấn đề này, pháp luật của một số nước đã đề cập đến từ rất sớm, và có thể kể đến như Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền (UDHR) năm 1948 và Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966 Cụ thể, Điều 12 Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền (UDHR) năm 1948 quy định “Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy” và Điều 17 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966 quy định “Không ai bị can thiệp một cách tuỳ tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc xâm phạm như vậy”. Đối với Việt Nam, khái niệm “bí mật đời tư” cũng bắt đầu xuất hiện trong các quy định của pháp luật sau khi Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc năm 1977 và Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị năm 1982 Kể từ đó, hai văn kiện quốc tế nêu trên bắt đầu có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của các ngân hàng thương mại được đề cập tại Điều 14 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 Sau đó, ngày 21/11/2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 70/2000/NĐ-CP về việc giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi, tài sản gửi của khách hàng để cụ thể hóa nội dung trên Trên cơ sở này, ngày 04/4/2001, Ngân hàng nhà nước ban hành Thông tư số 02/2001/TT-NHNN để hướng dẫn Nghị định này.Tuy nhiên, hiện nay, Nghị định số 70/2000/NĐ-CP được thay thế bằng Nghị định số117/2018/NĐ-CP ngày 11/9/2018 Theo đó, pháp luật quy định rằng: Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải bảo đảm bí mật và không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các giao dịch của khách hàng tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho tổ chức, cá nhân khác, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc được sự chấp thuận của khách hàng.
Như vậy, bảo mật thông tin khách hàng là trách nhiệm của ngân hàng trong quá trình thực hiện các hoạt động ngân hàng Theo đó, ngân hàng áp dụng các biện pháp để bảo vệ hệ thống thông tin, chống lại việc truy cấp, sử dụng, chỉnh sửa, phá hủy, làm hộ và làm gián đoạn thông tin và hoạt động của hệ thống một cách trái phép.
Sự cần thiết phải bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng
1.3.1 Đảm bảo quyền riêng tư của khách hàng
Như đã trình bày, bảo mật thông tin là một khía cạnh của quyền riêng tư hay bí mật đời tư và hiện nay cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền riêng tư.Quyền riêng tư có thể hiểu là “quyền được cho phép một mình” (Global InternetLiberty Campaign) hay “sự kỳ vọng rằng những thông tin cá nhân bí mật được đề cập tại một nơi riêng tư sẽ không được tiết lộ cho bất kỳ bên thứ ba nào biết, khi việc tiết lộ đó có thể gây ra sự đau khổ hoặc bối rối về cảm xúc cho người có thông tin bị tiết lộ” (Ronald B.Standler, 1997) Ở Úc, quyền riêng tư là một quyền cơ bản của con người, củng cố quyền tự do liên kết, suy nghĩ và thể hiện, cũng như tự do khỏi sự phân biệt đối xử và quyền riêng tư bao gồm ba quyền gồm quyền không bị can thiệp và xâm nhập, quyền liên kết tự do với người mà bạn muốn và quyền có thể kiểm soát ai có thể xem hoặc sử dụng thông tin về mình (Australia Government – Office of the Australian Information Commissioner). Tuy được tiếp cận dưới nhiều phương diện khác nhau, nhưng quyền riêng tư đều là quyền của các cá nhân được phép giữ kín những thông tin, tư liệu, dữ liệu gắn liền với cuộc sống riêng tư của mình, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về nơi ở, về thư tín, điện thoại, điện tín và các thông tin điện tử khác mà không một chủ thể nào có quyền tiếp cận, công khai trừ trường hợp được chính người này đồng ý hoặc được bằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Thái Thị Tuyết Dung, 2012).
Quyền riêng tư là cơ sở quan trọng để hình thành trách nhiệm bảo mật thông tin khách hàng của ngân hàng thương mại nói riêng và các tổ chức tín dụng nói chung Khi thực hiện các giao dịch, khách hàng cung cấp cho ngân hàng các thông tin định danh và tùy vào tính chất giao dịch, khách hàng cung cấp bổ sung các thông tin về nhu cầu, tài liệu chứng minh năng lực tài chính, thẩm quyền giao dịch, mục đích sử dụng vốn vay, tài liệu bảo đảm khoản vay Đây là những thông tin nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến đời sống, hoạt động kinh doanh của khách hàng. Trường hợp những thông tin này bị tiết lộ cho bên thứ ba và ngoài ý muốn của khách hàng, không tuân thủ quy định của pháp luật để phục vụ những mục đích khác nhau của bên tiếp nhận thì có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, sinh hoạt hàng ngày của khách hàng (ví dụ: khách hàng bị làm phiền bởi những tin nhắn và email quảng cáo, những cuộc điện thoại giới thiệu sản phẩm/mô giới bất động sản…) Với đặc thù kinh doanh bằng nhiều nghiệp vụ khác nhau và triển khai trải dài từ thành thị đến nông thôn, từ miền biển đến núi cao, ngân hàng thường xuyên tiếp nhận khối lượng thông tin khách hàng lớn và đa dạng nên cần có cơ chế tiếp nhận, xử lý và bảo mật những thông tin này để đảm bảo khai thác hiệu quả và tối đa quyền riêng tư cho khách hàng.
Như đã trình bày ở trên, thông tin khách hàng mà ngân hàng tiếp nhận bao gồm thông tin định danh và những thông tin phát sinh trong quá trình giao dịch.Những thông tin này đều mang tính chất riêng tư và khách hàng mong muốn ngân hàng đảm bảo bí mật cho những thông tin này Trách nhiệm này của ngân hàng cũng tương tự như trách nhiệm của luật sư với khách hàng (Hội đồng luật sư toàn quốc, 2019) hay bác sĩ với bệnh nhân (Luật khám, chữa bệnh số 40/2009/QH12).
1.3.2 Đảm bảo an toàn và hạn chế rủi ro hoạt động ngân hàng
Về rủi ro hoạt động, Basel II định nghĩa “rủi ro hoạt động” là rủi ro xảy ra tổn thất do các quy trình, hệ thống hay nhân viên trong nội bộ ngân hàng vận hành không tốt hoặc do các nguyên nhân khách quan bên ngoài Đây là một trong những rủi ro trầm trọng mà ngân hàng thường phải đối mặt trong quá trình hoạt động (Ngân hàng nhà nước, 2008)
Hiện nay, rủi ro hoạt động được quy định tại Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 40/2018/TT-NHNN ngày 28/12/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư số 13/2018/TT-NHNN ngày 18/5/2018 quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quy định Theo đó, “rủi ro hoạt động” là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ hoặc có sai sót, do yếu tố con người, do các lỗi, sự cố của hệ thống hoặc do các yếu tố bên ngoài làm tổn thất về tài chính, tác động tiêu cực phi tài chính đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (bao gồm cả rủi ro pháp lý) Và rủi ro hoạt động bao gồm rủi ro danh tiếng và rủi ro chiến lược.
Danh tiếng ngân hàng là một trong những yếu tố quyết định việc lựa chọn ngân hàng giao dịch của khách hàng, bên cạnh yếu tố lãi suất và sự tiện ích của các sản phẩm dịch vụ Ví dụ, sau khi có thông tin bắt giữ một số nguyên lãnh đạo của Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) hồi tháng 8/2012, lượng tiền rút khỏi nhà băng này khá mạnh Theo báo cáo kết quả kinh doanh 9 tháng đầu năm 2012 hợp nhất của ACB, lượng tiền gửi của khách hàng tại thời điểm ngày 30/9/2012 chỉ đạt 122.848 tỷ đồng, giảm 13.620 tỷ tương đương 13,6% so với cùng kỳ năm 2011 Còn so với thời điểm 30/6/2012, lượng tiền gửi giảm tới 22.768 tỷ đồng, tương đương mức giảm 15,6% (Thành Hưng, 2012).
Với mong muốn ngân hàng bảo mật thông tin thì việc các thông tin khách hàng bị lộ cho bên thứ ba (không được sự đồng ý của khách hàng hoặc không thực hiện theo các quy định pháp luật) thì ảnh hưởng trực tiếp đến lòng tin của khách hàng và danh tiếng của ngân hàng Vì vậy, việc xây dựng cơ chế bảo mật thông tin khách hàng là yếu tố cần thiết để an toàn và hạn chế rủi ro hoạt động ngân hàng.
1.3.3 Yêu cầu tất yếu của thời đại công nghệ số
Hoạt động điều hành và quản trị của ngân hàng thương mại hiện nay có xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng tăng như một xu thế tất yếu trong thời đại công nghệ Thống kê đến năm 2015, số lượng người dùng Mobile Banking đã vượt mốc 1,8 tỉ trên toàn cầu Đồng thời, có tới 34% các giao dịch bán lẻ trên toàn cầu được thực hiện từ điện thoại di động, trong đó, một số thị trường như Nhật, Hàn Quốc, Anh con số này hơn 45% Riêng thị trường Việt Nam, với dân số 92 triệu người có đến 55% người sử dụng smartphone và truy cập mạng bình quân 2 giờ mỗi ngày Mua sắm trực tuyến chiếm tỉ lệ 58% Tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường thẻ ngân hàng cũng cho thấy xu hướng tiêu dùng không bằng tiền mặt, góp phần phát triển các dịch vụ thanh toán trên di động Đến nay, có khoảng 45 ngân hàng cung cấp dịch vụ SMS banking, Internet Banking và 32 ngân hàng phát triển ứng dụng Mobile Banking Theo báo cáo Mobile Banking năm 2015 của KPMG, kênh mobile giúp tiết kiệm đến 43 lần so với một chi nhánh, 13 lần so với call center, 13 lần so với máy rút tiền tự động và hai lần so với kênh online (tức Internet Banking) Hơn nữa, các thiết bị di động này cũng là vật sở hữu của từng cá nhân (Forbes Việt Nam, 2017).
Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới, việc ứng dụng những thành tựu công nghệ vào lĩnh vực ngân hàng đã đem đến những cơ hội phát triển lớn cho các ngân hàng thương mại Việt Nam như: (1) nền tảng hạ tầng được cải thiện, (2) nhiều sản phẩm trên ứng dụng công nghệ được xây dựng như Mobile Banking, Internet Banking với các tính năng tiện ích cho cuộc sống hiện đại (thanh toán hóa đơn điện, nước sinh hoạt, internet, chuyển tiền, đặt vé tàu/xe/máy bay/vé xem phim…), (3) tiết kiệm chi phí về nhân lực, chi phí quảng bá, phân phối sản phẩm và nâng cao lợi nhuận; (4) nâng cao khả năng tiếp cận khách hàng trong và ngoài nước, mở rộng mạng lưới hợp tác quốc tế.
Như vậy, với sự thuận lợi, nhanh chóng nên các giao dịch ngân hàng trên nền tảng công nghệ đang được phát triển Vì vậy, lượng thông tin khách hàng tương ứng với mỗi giao dịch được khách hàng cung cấp, xác nhận trên những ứng dụng công nghệ của ngân hàng thương mại là rất lớn Đồng thời, rủi ro về bảo mật thông tin khách hàng cũng tiềm ẩn do xu hướng tội phạm công nghệ ngày càng gia tăng, với phương thức tấn công vào những điểm yếu về công nghệ ngân hàng và sơ hở của khách hàng trong quá trình giao dịch Do đó, yêu cầu bảo mật thông tin khách hàng không chỉ dừng lại ở công tác lưu trữ hồ sơ giấy tại các kho lưu trữ/bảo quản của ngân hàng thương mại mà cần quan tâm đến các nên tảng công nghệ.
Nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của các ngân hàng thương mại là nghĩa vụ pháp lý phát sinh trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng theo quy định của pháp luật và cũng phát sinh từ những yêu cầu tất yếu Nghĩa vụ này mang tính chất bắt buộc đối với các ngân hàng, đối với người quản lý, cán bộ, nhân viên làm việc tại ngân hàng theo các chức năng, nhiệm vụ tương ứng của các vị trí Đặc biệt, công tác bảo mật thông tin khách hàng cần được nhìn nhận toàn diện, từ giai đoạn tiếp nhận thông tin khách hàng/yêu cầu cung cấp thông tin đến giai đoạn xử lý và lưu trữ thông tin.
Hiện nay tại Việt Nam, nghĩa vụ này được quy định cụ thể tại Luật Ngân hàng nhà nước số 46/2010/QH12 ngày 16/6/2010; Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng; Nghị định số 117/2018/NĐ-CP ngày 11/9/2018 về về việc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Bên cạnh đó, một số văn bản quy phạm pháp luật khác cũng quy định về nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của các ngân hàng thương mại.
Trên cơ sở đó, tùy thuộc vào điều kiện riêng mà mỗi ngân hàng thương mại xây dựng, tổ chức và thực hiện nghĩa vụ này theo những cơ chế, chính sách khác nhau nhằm bảo mật thông tin khách hàng theo quy định và tối đa hóa lợi nhuận và sự thuận tiện trong quá trình hoạt động kinh doanh.
CÔNG TÁC BẢO MẬT THÔNG TIN KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔNVIỆT NAM
Khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
2.1.1 Sự hình thành và phát triển
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, tiền thân là Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập ngày 26/3/1988, thành lập và hoạt động theo Luật các Tổ chức tín dụng Tính đến nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam luôn được đánh giá là một trong những ngân hàng thương mại uy tín và có quy mô lớn hàng đầu về số lượng chi nhánh, đồng thời giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trong sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là sự nghiệp “tam nông”- nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
Xét về mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch, với hơn 2.233 chi nhánh và phòng giao dịch, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là ngân hàng thương mại có quy mô chi nhánh lớn nhất Việt Nam hiện nay Năm
2010, bằng việc khai trương chi nhánh tại Vương quốc Campuchia, Ngân hàngNông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam bắt đầu mở rộng mạng lưới ra nước ngoài Giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế đất nước, chủ lực trong sự nghiệp tam nông, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam luôn chú trọng mở rộng mạng lưới hoạt động đến các huyện, xã nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng ở mọi vùng, miền đất nước để dễ dàng và an toàn tiếp cận nguồn vốn ngân hàng.Đồng hành sự lớn mạnh và phát triển của nền kinh tế đất nước, nông nghiệp, nông thôn được xác định là “mặt trận” hàng đầu Vì vậy, dưới sự chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, cùng với ý chí và bản lĩnh vượt lên những khó khăn, thử thách trong thời đại mới, với những đột phá sáng tạo, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đảm trách nhiệm vụ chính trị trọng yếu trên thị trường tín dụng nông nghiệp nông thôn, khẳng định vai trò chủ đạo trong đầu tư cho lĩnh vực có nhiều đóng góp tích cực đối với thành tựu đổi mới kinh tế Việt Nam, khi nước ta có tới 70% lực lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, 80% dân số sinh sống ởkhu vực nông thôn, và nông nghiệp đóng góp khoảng 22% GDP, chiếm 30% kim ngạch xuất khẩu.Khẳng định vai trò chủ lực, tiên phong của định chế tài chính lớn nhất Việt Nam, ngoài việc chủ động tham gia đầu tư các chương trình lớn của Chính phủ, các dự án trọng điểm quốc gia với số vốn cho vay lên tới hàng chục ngàn tỷ đồng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam tập trung cung ứng nguồn vốn và dịch vụ tài chính vào lĩnh vực truyền thống, sở trường đó là “Tam nông” và các lĩnh vực ưu tiên của Đảng, Chính phủ Qua đó, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam góp sức cùng ngành ngân hàng thực thi hiệu quả chính sách tiền tệ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân, góp phần tạo nên những thay đổi tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, ổn định các vấn đề kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn Việt Nam.
Riêng năm 2019, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã ký kết 109 biên bản ghi nhớ, thỏa thuận với các đối tác nước ngoài, ký kết thỏa thuận hợp tác với nhiều đối tác lớn trong nước, tạo cơ sở khai thác cơ hội kinh doanh và dư địa cung ứng sản phẩm dịch vụ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnNông thôn Việt Nam tiếp nhận, triển khai mới 04 dự án ngân hàng phục vụ với tổng giá trị 325 triệu USD Năm 2019, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thônViệt Nam tiếp tục được khẳng định là Quán quân các ngân hàng thương mại được vinh danh vị trí thứ 8 trong Bảng xếp hạng VNR500; được tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody’s công bố mức xếp hạng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là Ba3, tương đương mức tín nhiệm quốc gia và là mức xếp hạng cao nhất đối với các ngân hàng thương mại ở Việt Nam; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam được xếp hạng thứ 142/500 ngân hàng lớn nhất Châu Á về quy mô tài sản; Giữ vững vị thế TOP 3 ngân hàng thương mại dẫn đầu trên thị trường thẻ; Vinh dự đón nhận các giải thưởng: Ngân hàng hỗ trợ đầu tư nông nghiệp công nghệ cao tiêu biểu năm 2019, Ngân hàng tiêu biểu vì cộng đồng năm 2019, Top 10 Ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2019, Top 20 doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất Việt Nam, 02 Giải thưởng Sao Khuê 2019 dành cho hạng mục hệ thống công nghệ thông tin xuất sắc trong lĩnh vực ngân hàng đối với 02 sản phẩm
Hệ thống thanh toán Kiều hối tập trung (ARS) và Hệ thống thanh toán hóa đơn (Bill Payment), Giải thưởng thương hiệu Quốc gia (đối với 05 sản phẩm: Thẻ chip EMV, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam E-Mobile Banking, AgriTax, Thanh toán biên mậu qua Internet Banking, Cho vay nông nghiệp).
Với xuất phát điểm mới thành lập có tổng tài sản chưa tới 1.500 tỷ đồng; tổng nguồn vốn 1.056 tỷ đồng, trong đó vốn huy động chỉ chiếm 42%, còn lại 58% phải vay từ Ngân hàng Nhà nước; tổng dư nợ 1.126 tỷ đồng trong đó 93% là ngắn hạn; tỷ lệ nợ xấu trên 10%; khách hàng là những doanh nghiệp quốc doanh và các hợp tác xã phần lớn làm ăn thua lỗ, thiếu việc làm và luôn đứng trước nguy cơ phá sản Đến nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã trở thành ngân hàng thương mại nhà nước hàng đầu Việt Nam về tổng tài sản, nguồn vốn, dư nợ, mạng lưới hơn 2.300 chi nhánh và phòng giao dịch, đội ngũ nhân viên gần 40.000 cán bộ, viên chức và số lượng khách hàng đông đảoHiện nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là đối tác tin cậy của trên 60.000 doanh nghiệp, 4 triệu hộ sản xuất và 10 triệu khách hàng cá nhân Mạng lưới hoạt động rộng khắp góp phần tạo nên thế mạnh vượt trội của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong việc nâng cao sức cạnh tranh trong giai đoạn hội nhập nhưng nhiều thách thức Nhằm đáp ứng mọi yêu cầu thanh toán xuất, nhập khẩu của khách hàng trong và ngoài nước, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam luôn chú trọng mở rộng quan hệ ngân hàng đại lý trong khu vực và quốc tế Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam có quan hệ ngân hàng đại lý với 837 ngân hàng tại 88 quốc gia và vùng lãnh thổ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã tiến hành ký kết thỏa thuận với Ngân hàng Nông nghiệp Lào, Ngân hàng Phongsavanh (Lào), Ngân hàng ACLEDA (Campuchia) Trong thanh toán biên mậu với Trung Quốc, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chiếm ngôi đầu và đã ký kết thỏa thuận với Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc (ABC), Ngân hàng Trung Quốc
(BOC), Ngân hàng Kiến thiết Trung Quốc (CCB), Ngân hàng Công thương Trung Quốc (ICBC), Ngân hàng Vịnh Bắc Bộ Trung Quốc, Ngân hàng Phú Điền, Ngân hàng Tiết kiệm bưu điện Trung Quốc, Ngân hàng Quế Lâm Thông qua việc triển khai thực hiện thanh toán biên mậu, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đem lại nhiều ích lợi cho đông đảo khách hàng cũng như các bên tham gia.
Với vị thế là Ngân hàng thương mại – Định chế tài chính lớn nhất Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã, đang không ngừng nỗ lực, đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, đóng góp to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế của đất nước (Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, 2018).
Năm 2019 là năm bản lề, đóng vai trò quan trọng cho việc hoàn thành nhiệm vụ đặt ra cho năm 2020 và cho giai đoạn tái cơ cấu 2016 – 2020 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã bám sát định hướng, chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng nhà nước, quyết liệt chỉ đạo các đơn vị trong toàn hệ thống triển khai linh hoạt, hiệu quả những nhiệm vụ và giải pháp kinh doanh (Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, 2020).
Tính đến 31/12/2019, tổng nguồn vốn huy động đạt 1.331.404 tỷ đồng, trong đó huy động thị trường 1 là 1.347.382 đồng, tăng trường 13,6% Vốn huy động nội tệ đạt 1.332.638 tỷ đồng, chiếm 98,9% tổng vốn huy động thị trường 1 Cơ cấu vốn dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn do sự sụt giảm của tiền gửi của Kho bạc nhà nước và Bảo hiểm xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam phát hành trái phiếu Nguồn vốn huy động từ dân cư tăng trưởng ổn định, đạt 1.065.285 tỷ đồng, chiếm 79,1% vốn huy động thị trường
1, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam tiếp tục duy trì thị phần huy động vốn lớn nhất từ khách hàng dân cư và tổ chức kinh tế (chiếm khoảng14,4% thị phần) Các tỷ lệ về đảm bảo an toàn thanh khoản phù hợp với quy định của Ngân hàng nhà nước.
2.1.2.2 Cấp tín dụng Đến 31/12/2019, tổng dự nợ và đầu tư đạt 1.325.463 tỷ đồng, trong đó cho vay nền kinh tế đạt 1.121.970 tỷ đồng và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam tiếp tục là ngân hàng chiếm thị phần lớn nhất trong cho vay khách hàng Dự nợ cho vay nông nghiệp, nông thông đạt 782.154 tỷ đồng Bên cạnh việc tiếp tục áp dụng ưu tiên cân đối vốn để triển khai bảy chương trình tín dụng chính sách và hai mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã cho vay hỗ trợ thu mua lúa gạo đạt 7.079 tỷ đồng, chiếm 40% doanh số cho vay toàn ngành Dư nợ cho vay đối với ngành chăn nuôi lợn đạt 20.959 tỷ đồng Doanh số cho vay gói tín dụng tiêu dùng đạy 7.457 tỷ đồng với 193.000 hộ gia đình, cá nhân.
Năm 2019, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cho vay các tổ chức tín dụng đạt 28.431 tỷ đồng, tiền gửi có kỳ hạn tại Ngân hàng chính sách xã hội là 22.279 tỷ đồng, đầu tư giấy tờ có già là 129.776 tỷ đồng, tổng thu từ hoạt động kinh doanh vốn là 8.792 tỷ đồng.
Bên cạnh việc đầu tư cho hệ thống thiết bị, máy móc nhằm vận hành ổn định, đáp ứng yêu cầu mở rộng và phát triển sản phẩm dịch vụ, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam còn đẩy mạnh nghiên cứu áp dụng các giải pháp công nghệ để bổ sung tiện ích dịch vụ E-banking; mở rộng hợp tác với các đơn vị
Fintech và triển khai dịch vụ thu hộ ; tăng cường các kênh thanh toán điện tử; đẩy mạnh triển khai thanh toán qua ngân hàng đối với dịch vụ công (thuế, điện nước sinh hoạt, học phí…); mở rộng sản phẩm trực tuyến tại máy rút tiền tự động đa chức năng; triển khai đề án phát triển dịch vụ thẻ tại thị trường nông thôn và hoàn thiện việc chuyển đổi thẻ Chip không tiếp xúc thương hiệu Visa, Master card; tiếp tục thực hiện 8.705 phiên giao dịch phục vụ trên 800.000 khách hàng qua 68 điểm giao dịch lưu động bằng ô tô chuyên dùng.
Hiện nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam có
Thực tế triển khai công tác bảo mật thông tin khách hàng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
2.2.1 Ban hành các văn bản chỉ đạo, triển khai
Nhận thấy tầm quan trọng của công tác bảo mật thông tin khách hàng và tính chất phức tạp của các yêu cầu đề nghị cung cấp thông tin này từ các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình xác minh, thu thập thông tin để giải quyết các vụ án, vụ việc, tin tố giác…, ngay từ năm năm 2007, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã ban hành văn bản hướng dẫn việc cung cấp thông tin khách hàng trong toàn hệ thống trên cơ sở Nghị định số 70/2000/NĐ-CP ngày 21/11/2000 và Thông tư số 02/2001/TT-NHNN ngày 02/4/2001 Xét về bản chất, văn bản này mới dừng lại ở mức độ hướng dẫn cách áp dụng quy định pháp luật vào hoạt động giữ bí mật và cung cấp thông tin khách hàng, chưa cụ thể hóa từng giai đoạn và nguyên tắc thực hiện của trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Tuy nhiên, văn bản cũng là cơ sở quan trọng để các đơn vị trong toàn hệ thống tổ chức triển khai và thực hiện, đảm bảo yếu tố bí mật trong quá trình cung cấp thông tin khách hàng theo quy định.
Sau 05 năm triển khai và căn cứ Quyết định số 45/2007/QĐ-NHNN ngày 17/12/2007 về độ mật của từng tài liệu,vật mang bí mật nhà nước trong ngành ngân hàng, Thông tư số 10/2009/TT-NHNN về sửa đổi, bổ sung Quyết định số 45/2007/QĐ-NHNN, đến năm 2012, Hội đồng thành viên Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã ban hành Quyết định số 980/QĐ-HĐTV-PC ngày 12/6/2012 về ban hành quy định cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng và các thông tin liên quan đến người nộp thuế trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Đặc biệt nhấn mạnh các thông tin này là thông tin “MẬT” thuộc danh mục bí mật nhà nước trong ngành ngân hàng được lưu trữ, vảo vệ theo chế độ mật của nhà nước Quyết định này là văn bản nội bộ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam để cụ thể hóa Mục III Khoản 7 của Thông tư số 02/2001/TT-NHNN, cụ thể Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc (Giám đốc) các Tổ chức tín dụng và các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng có hoạt động ngân hàng chịu trách nhiệm ban hành các quy định cụ thể để tổ chức thực hiện. Quyết định này gồm hai nội dung chính, đó là đối tượng điều chỉnh và phân công, phân cấp ủy quyền cung cấp thông tin trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Trong đó, đối tượng điều chỉnh tập trung hướng đến hai nhóm thông tin là tiền gửi, tài sản gửi của khách hàng và thông tin liên quan đến hoạt động cấp tín dụng Về phân công, phân cấp, ủy quyền thì tại Trụ sở chính, Hội đồng thành viên ủy quyền cho Tổng Giám đốc quyết định và quản lý cung cấp thông tin Ban Pháp chế và Ban Tài chính kế toàn là những đơn vị xử lý yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng và các thông tin liên quan đến người nộp thuế được gửi tới Trụ sở chính và trình Tổng Giám đốc xem xét quyết định Tổng Gám đốc ủy quyền thường xuyên cho Phó Tổng Giám đốc phụ trách Ban Pháp chế cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi, tài sản gửi; ủy quyền thường xuyên cho Phó Tổng Giám đốc phụ trách Ban Tài chính kế toán cung cấp thông tin liên quan đến người nộp thuế Mặc dù các quy định pháp luật chỉ quy định về thông tin và tiền gửi, tài sản gửi và thông tin người nộp thuế, tuy nhiênNgân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã dự trù trường hợp các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu những loại thông tin khác liên quan đến khách hàng Đối với những trường hợp này, Tổng Giám đốc sẽ có ý kiến chỉ đạo và trực tiếp xem xét, quyết định Về cơ bản, Ngân hàng Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn Việt Nam đã cụ thể hóa các quy định của pháp luật về giữ bí mật và cung cấp thông tin khách hàng trên cơ sở cơ cấu tổ chức, đặc thù của các nghiệp vụ ngân hàng để xây dựng quy định nội bộ phù hợp với thực tiễn phát sinh.
Sau quá trình triển khai và trên cơ sở lấy ý kiến của các tổ chức tín dụng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 117/2018/NĐ-CP ngày 11/9/2018 về về giữ bí mật và cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (thay thế Nghị định số 70/2000/NĐ-CP) Ngay sau khi Nghị định này được ban hành, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã ban hành Văn bản phổ biến Nghị định số 117/2018/NĐ-CP và tổ chức xây dựng Quy định về cung cấp thông tin khách hàng trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trên cơ sở những quy định của pháp luật.
Về thông tin khách hàng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam có trách nhiệm cung cấp các thông tin do khách hàng cung cấp; thông tin phát sinh trong quá trình khách hàng đề nghị hoặc được Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cung ứng các nghiệp vụ ngân hàng, sản phẩm, dịch vụ, gồm: thông tin định danh khách hàng; thông tin về tài khoản của khách hàng; thông tin về tiền gửi của khách hàng; thông tin về tài sản gửi của khách hàng; thông tin về giao dịch của khách hàng; thông tin về tổ chức, cá nhân là bên bảo đảm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và các thông tin khác có liên quan Để các đơn vị thống nhất triển khai thực hiện, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã quy định cụ thể về những loại thông tin trên. Theo đó, thông tin định danh khách hàng được phân loại theo đối tượng là khách hàng cá nhân và khách hàng tổ chức: thông tin định danh của khách hàng cá nhân là họ và tên, mẫu chữ ký, chữ ký điện tử, ngày tháng năm sinh, quốc tịch, nghề nghiệp,địa chỉ nơi đăng ký thường trú, nơi ở hiện tại, địa chỉ nơi đăng ký cư trú ở nước ngoài đối với người nước ngoài, số điện thoại, địa chỉ thư điện tử, số, ngày cấp và nơi cấp chứng minh thư nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu (thông tin về thị thực đối với khách hàng cá nhân là người nước ngoài) của khách hàng hoặc người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền và các thông tin có liên quan khác; thông tin định danh của khách hàng tổ chức là tên giao dịch đầy đủ,tên viết tắt, giấy phép hoặc quyết định thành lập, giấu chứng nhân đăng ký doanh nghiệp hoặc văn bản tương đương, địa chỉ đặt trụ sở chính, số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử và các thông tin định danh của người đại diện hợp pháp và các thông tin khác có liên quan.
Thông tin về tài khoản của khách hàng bao gồm thông tin định danh khách hàng và thông tin về tài khoản, số hiệu tài khoản, số dư tài khoản, thông tin liên quan đến giao dịch nộp, rút tiền, chuyển tiền, nhận tiền của khách hàng…
Thông tin về tiền gửi của khách hàng bao gồm thông tin định danh khách hàng và thông tin liên quan đến giao dịch gửi tiền của khách hàng, số dư các loại tiền gửi và các thông tin có liên quan khác.
Thông tin về tài sản gửi của khách hàng bao gồm thông tin về tài sản của khách hàng (vật, tiền, giấy tờ có giá, các quyền tài sản) gửi tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và thông tin về tài sản do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam nhận quản lý, bảo quản Với mỗi nhóm thông tin trên đều bao gồm thông tin định danh khách hàng và thông tin về tài sản gửi, cụ thể: tên loại tài sản, giá trị tài sản, chứng từ chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hoặc lợi ích hợp pháp đối với tài sản của khách hàng và các thông tin có liên quan khác.
Thông tin về giao dịch của khách hàng bao gồm thông tin định danh khách hàng và thông tin về chứng từ giao dịch, thời điểm giao dịch, số lượng giao dịch, giá trị giao dịch, số dư giao dịch và các thông tin có liên quan khác.
Thông tin về tổ chức, cá nhân là bên bảo đảm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là thông tin định danh của bên bảo đảm.
Tại Quy định về cung cấp thông tin khách hàng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cũng quy định việc cung cấp thông tin khách hàng phải dựa trên các nguyên tắc cụ thể:
- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chỉ cung cấp thông tin khách hàng cho các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi có yêu cầu bằng văn bản, có đầy đủ tài liệu để chứng minh cho yêu cầu cung cấp thông tin đó.
- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam không được cung cấp thông tin xác thực khách hàng sử dụng khi truy cập các dịch vụ ngân hàng bao gồm mã khóa bí mật, dữ liệu sinh trắc học, mật khẩu truy cập của khách hàng, thông tin xác thực khách hàng khác cho bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào, trừ trường hợp được sự chấp thuận của khách hàng đó vằng văn bản hoặc hình thức khác theo thỏa thuận với khách hàng.
- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam có trách nhiệm giữ bí mật thông tin khách hàng Việc cung cấp thông tin khách hàng thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam phải được ban hành, phát hành, chuyển phát, bảo quản, sử dụng, lưu trữ theo quy định của pháp luật, của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam về quản lý, sử dụng tài liệu bí mật nhà nước và bí mật kinh doanh.
Theo quy định tại Quyết định số 45/2007/QĐ-NHNN và Thông tư số 10/2009/TT-NHNN thì tài liệu liên quan đến tiền gửi, tài sản khác của từng khách hàng tại các tổ chức tín dụng là tài liệu thuộc độ “Mật” trong ngành ngân hàng Vì vậy, để đảm bảm tính an toàn, bí mật trong quá trình cung cấp thông tin khách hàng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã ban hành Quy định về quản lý, sử dụng tài liệu bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Như vậy, hiện nay, công tác giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng được ngân hàng thực hiện theo Quy định về quản lý, sử dụng tài liệu bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và Quy định về cung cấp thông tin khách hàng trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
Bên cạnh việc xây dựng quy định, cơ chế nội bộ và triển khai đến các đơn vị trong hệ thống bằng văn bản, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ViệtNam cũng tập trung công tác tập huấn, đào tạo các nội dung liên quan Trong cácHội nghị tổng kết chuyên đề kiểm tra kiểm soát nội bộ và pháp chế được tổ chức hàng năm – Hội nghị này được tổ chức với sự tham gia của các đơn vị tại Trụ sở chính và đại diện lãnh đạo, phòng nghiệp vụ của các chi nhánh trong toàn hệ thống, bên cạnh việc đánh giá về hai công tác này trong năm trước đó, ban tổ chức cũng triển khai tập huấn những cơ chế, chế độ của ngân hàng và phổ biến những điểm mới của quy định pháp luật – trong có có nội dung về công tác giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng Nhận thấy sự quan trọng của công tác này trong lĩnh vực ngân hàng, việc triển khai các quy định nội bộ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam năm 2019, Trường đào tạo cán bộ tổ chức Hội nghị chuyên đề pháp thông qua ba lớp tập huấn với sự tham gia đầy đủ của cán bộ đang công tác tại các đơn vị của Trụ sở chính với các nội dung chính: Quy định về quản lý, sử dụng tài liệu bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam; Quy định về cung cấp thông tin khách hàng trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam; Phân công, phân cấp ủy quyền.
Đánh giá chung về công tác bảo mật thông tin khách hàng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Thứ nhất, trên cơ sở các quy định pháp luật và tình hình thực tế về cơ cấu tổ chức, hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam,những quy định nội bộ do ngân hàng ban hành đảm bảo hai yếu tố: thứ nhất, triển khai đầy đủ, kịp thời những quy định của pháp luật về giữ bí mật và cung cấp thông tin khách hàng; thứ hai, linh động, phù hợp với mạng lưới tổ chức để công tác này được thực hiện kịp thời, hiệu quả và không ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các đơn vị Đây là cơ sở quan trọng để tổ chức triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất trong toàn hệ thống, đảm bảo sự phối hợp của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và thực hiện đúng trách nhiệm của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong công tác giữ bí mật và cung cấp thông tin khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng.
Thứ hai, để đảm bảo yêu cầu giữ bí mật trong quá trình cung cấp thông tin khách hàng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã đồng thời triển khai thực hiện rà soát các điều kiên tiên quyết để giái quyết đề nghị của các đơn vị khác để xác định đúng đối tượng được phép tiếp cận thông tin cách hàng và hồ sơ yêu cầu tuân thủ các quy định pháp luật Bên cạnh đó, ngân hàng áp dụng các giải pháp công nghệ (mạng nội bộ, hạ tầng ứng dụng quản lý người dùng, trung tâm lưu trữ tập trung, trung tâm điều hành an ninh mạng tập trung ), yêu cầu kỹ thuật trong luân chuyển tài liệu chứa đựng thông tin khách hàng (bao bì chắc chắn, riêng biệt, được làm bằng loại giấy dai,bền, khó thấm nước, có đóng dấu chỉ độ mật…) để hỗ trợ trong quá trình tác nghiệp và hình thành khu vực lưu trữ riêng. Đồng thời, Ngân hàng cũng ban hành quy định các giai đoạn xử lý yêu cầu cung cấp thông tin và những điều kiện tương ứng, nhằm tạo sự thống nhất, đồng bộ triển khai trong toàn hệ thống nói chung và tại Trụ sở chính nói riêng.
Thứ ba, việc phân công, phân cấp, ủy quyền đối với thẩm quyển chỉ đạo giải quyết và ban hành tài liệu mật tạo sự thông suốt trong quá trình xử lý công việc vì thẩm quyền này quy định theo chức danh, không quy định cụ thể đối với cá nhân nên không xảy ra việc gián đoạn trong quá trình xử lý Ví dụ với Ban Tổng Giám đốc thì Phó Tổng Giám đốc giải quyết các công việc trong phạm vi được Tổng Giám đốc phân công, ủy quyền Các công việc cung cấp thông tin do Ban Pháp chế và Kiểm soát tuân thủ đầu mối xử lý thì sẽ do Phó Tổng Giám đốc phụ trách BanPháp chế và Kiểm soát tuân thủ chỉ đạo và quyết định (theo phân công công tác củaTổng Giám đốc và các Phó Tổng Giám đốc) Trường hợp Phó Tổng Giám đốc phụ trách Ban Pháp chế và Kiểm soát tuân đi vắng thì căn cứ cơ chế phối hợp giữa Tổng Giám đốc và các Phó Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc/Tổng Giám đốc khác sẽ có thẩm quyền giải quyết.
2.3.2 Một số hạn chế và nguyên nhân
2.2.2.1 Thời gian xử lý yêu cầu cung cấp thông tin
Việc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chưa thực hiện cung cấp thông tin theo thời hạn quy định xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau:
Thứ nhất, đối với hồ sơ yêu cầu cung cấp thông tin có quy định cụ thể về thời hạn nhưng được gửi tới Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam sau thời hạn này hoặc khoảng thời gian từ ngày Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam nhận được hồ sơ đến thời hạn trả lời rất ngắn (01-03 ngày) Với thời hạn này, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam không đủ thời gian để tổng hợp thông tin, tài liệu từ các đơn vị Đây là nguyên nhân khách quan.
Thứ hai, cơ chế phối hợp giữa các đơn vị chưa phát huy hiệu quả tối đa Ví dụ, đối với việc cung cấp thông tin tiền gửi, tài sản gửi của khách hàng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ban Pháp chế và Kiểm soát tuân thủ là đầu mối xử lý đối với các yêu cầu cung cấp thông tin được gửi tới Trụ sở chính Tuy nhiên, Ban Pháp chế và Kiểm soát tuân thủ chưa thể chủ động khai thác và cung cấp thông tin khách hàng xuất phát từ nhiều lý do:
- Hồ sơ, tài liệu và các chứng từ liên quan theo yêu cầu cung cấp thông tin doChi nhánh, phòng giao dịch (đơn vị trực tiếp tiếp nhận yêu cầu và giao dịch với khách hàng được yêu cầu cung cấp thông tin) lưu trữ Cán bộ của Ban Pháp chế vàKiểm soát tuân thủ chỉ khai thác được một số thông tin chung của khách hàng tại Hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng Như vậy, đối với yêu cầu cung cấp thông tin chung về khách hàng thì Trụ sở chính có thể trực tiếp khai thác và cung cấp,nhưng nếu yêu cầu cung cấp thông tin và tài liệu (sao kê giao dịch, hồ sơ mở tài khoản, chứng từ giao dịch, hình ảnh giao dịch…) thì phải thu thập những tài liệu này từ Chi nhánh, phòng giao dịch thì mới đủ thông tin để cung cấp.
- Hạn chế về số lượng cán bộ có thể khai thác thông tin khách hàng trên hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng và số lượng màn hình liên quan đến khách hàng có thể tiếp cận trên hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng Để truy cập vào hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng, người dùng phải đáp ứng các yêu cầu: có tài khoản và mật khẩu truy cập hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng, có thẻ truy cập hạ tầng khóa công khai và được phân quyền truy cập.
Theo Quy định về quản lý người dùng và quyền giao dịch trên phần mềm ứng dụng hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam phân loại người dùng thành bảy nhóm với những đặc tính khác nhau: giao dịch viên, kiểm soát viên, người quản trị, cán bộ kiểm tra kiểm soát nội bộ, cán bộ vận hành hệ thống tại Trung tâm công nghệ thông tin, cán bộ hỗ trợ kỹ thuật và cán bộ hỗ trợ chi nhánh Để quản lý chặt chẽ các tài khoản truy cập hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng, một cán bộ chỉ được cấp một mã người dùng duy nhất trên một cân đối (mã người dùng là chuỗi ký tự được ấp duy nhất trên một mã cân đối cho từng cán bộ tham gia vào hệ thống để làm căn cứ tham chiếu đến họ và tên người dùng Mã người dùng có định dạng [CNH] [XXXXXXX], trong đó CNH là ký tự viết tắt của đơn vị có độ dài từ 02 đến 03 ký tự, XXXXXXX là ký tự viết tắt của họ và tên của người dùng có độ dài từ 02 đến
07 ký tự) và nghiêm cấm người quản trị tạo mã người dung cho cán bộ đang trong thời gian thử việc Hiên nay, yêu cầu tối thiểu đối với người dùng bao gồm: (1) Là cán bộ nhân viên công tác tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn tối thiểu là 12 tháng trở lên; (2) Có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc;
(3) Hiểu rõ và chấp hành đúng các quy định về cấp, quản lý và sử dụng mã người dùng; (4) đã qua đào tạo sử dụng hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng trước khi cấp mới mã người dùng. Để sử dụng hiệu quả hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng tương ứng với các chức năng của từng nhóm người dùng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam thực hiện phân quyền theo ma trận phân quyền Cụ thể, các Phòng, Ban, Trung tâm tại Trụ sở chính và các đơn vị xây dựng danh mục các nhóm chức năng nghiệp vụ theo vị trí công việc; mỗi chức năng nghiệp vụ bao gồm các chức năng giao dịch, quyền nghiệp vụ cụ thể Trên cơ sở đó, Trung tâm công nghệ thông tin phối hợp ban hành danh mục các nhóm chức năng nghiệp vụ được thiết lập hoặc thay đổi trên hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng và hướng dẫn các đơn vị phân quyền người dùng theo ma trận phân quyền Do đặc thù tính chất và khối lượng công việc của các đơn vị có thể thay đổi và cần thêm hoặc bớt quyền hạn trên hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng, nên Trung tâm công nghệ thông tin định kỳ rà soát nhu cầu thực tế về phân quyền để thay đổi phù hợp Việc phân quyền này là biện pháp quản lý phạm vi người dùng được tiếp cận thông tin khách hàng trên hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng, hạn chế những người dùng không có chức năng khai thác các thông tin trên hệ thống Để có thể truy cập vào hệ thống hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng, cán bộ cần được trang cấp thẻ truy cập hạ tầng khóa công khai Đây là công nghệ bảo mật thông tin khách hàng trên cơ sở xác thực yêu cầu với hai yếu tố phụ thuộc vào nhau để chứng minh tính đúng đắn của một danh tính Xác thực 2 yếu tố dựa trên những thông tin mà người dùng biết (số PIN, mật khẩu) cùng với những gì mà người dùng có (SmartCard, e- Token, …) để xác thực danh tính người truy cập.
Thực tế hiện nay, chỉ có 02 cán bộ của Ban Pháp chế và Kiểm soát tuân thủ có đầy đủ điều kiện để truy cập và khai thác thông tin khách hàng trên hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng (có tài khoản, mật khẩu đăng nhập và thẻ truy cập hạ tầng khóa công khai) Như vậy, về số lượng cán bộ có thể trực tiếp khai thác thông tin trên hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng là rất hạn chế so với số lượng yêu cầu cung cấp thông tin mà Ban Pháp chế và Kiểm soát tuân thủ phải giải quyết(trung bình 7 yêu cầu/ngày làm việc) Đồng thời, hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng được xây dựng trên cơ sở các trường, các nhóm thông tin với việc phân định theo tiêu chuẩn và trật tự nhất định Tuy nhiên, cán bộ Ban Pháp chế và Kiểm soát tuân thủ chỉ được cấp quyền khai thác thông tin trường thông tin chung - một phần của hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng.
Hiện nay, cơ chế phối hợp giữa các đơn vị dựa trên chức năng và nhiệm vụ tương ứng của các đơn vị, cụ thể: đối với các yêu cầu thông tin chung về khách hàng (họ và tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ, số tài khoản, số dư tài khoản, trạng thái của tài khoản…) thì Ban Pháp chế và Kiểm soát tuân thủ gửi Phiếu yêu cầu đến Trung tâm công nghệ thông tin để hỗ trợ tra soát thông tin trên hệ thống hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng; đối với các yêu cầu thông tin về thẻ của khác hàng (số thẻ, số hiệu máy bán hàng chấp nhận thẻ ngân hàng để thanh toán hóa đơn ) thì Ban Pháp chế và Kiểm soát tuân thủ gửi Phiếu yêu cầu đến Trung Tâm thẻ và các yêu cầu về hồ sơ mở tài khoản, giao dịch của khách hàng thì Ban Pháp chế và Kiểm soát tuân thủ gửi Phiếu yêu cầu hỗ trợ đến Chi nhánh nơi khách hàng mở tài khoản hoặc giao dịch…
Mặc dù trong Phiếu yêu cầu do Trưởng đơn vị ký, ban hành có quy định về thời hạn cung cấp thông tin của những đơn vị được đề nghị phối hợp, tuy nhiên không phải lúc nào cũng thực hiện theo thời hạn này Xuất phát từ đặc thù về nghiệp vụ của từng đơn vị, số lượng công việc, yêu cầu đề nghị phối hợp từ các đơn vị khác rất nhiều nên có trường hợp đơn vị gửi kết quả cung cấp thông tin chậm 1-2 tuần sau khi Ban Pháp chế và Kiểm soát tuân thủ gửi Phiếu yêu cầu lần 2, 3, đồng thời liên hệ trao đổi trực tiếp.
2.2.2.2 Sự hỗ trợ của giải pháp công nghệ còn hạn chế
Thứ nhất, đối với công tác cảnh báo giao dịch của khách hàng theo yêu cầu của cơ quan ngoại ngành được thực hiện theo phương thức truyền thống Trụ sở chính sao gửi Công văn đến các Chi nhánh trong hệ thống để thực hiện Bên cạnh đó, hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng chưa có màn hình, chức năng hỗ trợ về cảnh báo giao dịch cần lưu ý đối với những người/tổ chức không phải khách hàng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Như vậy, việc cung cấp thông tin khách hàng trong trường hợp này được thực hiện theo cách truyền thống và không có sự hỗ trợ của hệ thống công nghệ thông tin.