PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĂN GIANGTRƯỜNG THCS THỊ TRẤN VĂN GIANG ---SÁNG KIẾN PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG CỦA HỌC SINH TRONG VIỆC DẠY CA DAO MÔN NGỮ VĂN 7 Môn: NGỮ VĂN Tên gi
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO VĂN GIANG
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THỊ TRẤN VĂN GIANG
SÁNG KIẾN
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG CỦA HỌC SINH TRONG VIỆC DẠY CA DAO
MÔN NGỮ VĂN 7
Môn: NGỮ VĂN Tên giáo viên: NGUYỄN THỊ THU HIỀN Giáo viên môn: VĂN – SỬ
Năm học: 2021 - 2022
Trang 2PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĂN GIANG
TRƯỜNG THCS THỊ TRẤN VĂN GIANG
-SÁNG KIẾN
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG CỦA HỌC SINH TRONG VIỆC DẠY CA DAO
MÔN NGỮ VĂN 7
Môn: NGỮ VĂN Tên giáo viên: NGUYỄN THỊ THU HIỀN
Trang 3Năm học: 2021 – 2022
PHẦN 1:LÍ LỊCH
- Họ và tên: NGUYỄN THỊ THU HIỀN
- Chức vụ: GIÁO VIÊN TỔ KHOA HỌC XÃ HỘI
- Đơn vị công tác: TRƯỜNG THCS THỊ TRẤN VĂN GIANG
- Tên đề tài:
SÁNG KIẾNPHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG CỦA HỌC SINH TRONG VIỆC DẠY CA DAO
Trang 4đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực Trong đó, phương pháp họccủa học sinh là mối quan tâm hàng đầu.
Mỗi giáo viên chúng ta, nhất là giáo viên dạy Văn cần hiểu rõ điều đó Muốnthực hiện tốt sự đổi mới ấy, đòi hỏi giáo viên chúng ta vừa phải kế thừa, vừa phảiphát triển những mặt tích cực trong các phương pháp giáo dục truyền thống Đồngthời áp dụng các phương tiện dạy học hiện đại một cách thích hợp Một số phươngpháp truyền thống nếu vận dụng hợp lý vẫn đạt hiệu quả cao như: giảng bình, nêuvấn đề, đặt câu hỏi Ngoài ra, giáo viên buộc phải cập nhật những phương phápmới, kĩ thuật dạy học mới, những phương tiện dạy học hiện đại như: sơ đồ tư duy,
Trang 5Trên đây cũng chính là lí do khiến người viết chọn vấn đề về phương pháp,
về sự đổi mới phương pháp và cách vận dụng linh hoạt các phương pháp truyềnthống và hiện đại sao cho đạt hiệu quả dạy và học cao nhất Đặc biệt là chú trọngcải tiến phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn là hết sức cần thiết, mà cụ thể là cảitiến phương pháp giảng dạy các bài ca dao trong chương trình Ngữ văn 7 Qua đó,nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh
2 Ý nghĩa và tác dụng của sáng kiến
- Giúp cho học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, hình thànhphát triển năng lực tự học ( sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếmthông tin )
- Trau dồi các phẩm chất: Linh hoạt, tư duy, độc lập sáng tạo
- Rèn cho học sinh kĩ năng hợp tác để hoàn thành nhiệm vụ học tập
- Hỗ trợ các thầy cô tiết kiệm được thời gian tìm kiếm thông tin, dành nhiềuthời gian để chuẩn bị bài, làm đồ dùng dạy học nâng cao chất lượng mônhọc
3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này được giới hạn, tập trung chủ yếutrong chương trình Ngữ văn 7 Cụ thể là phần ca dao Trong các tiết học này,học sinh được tìm hiểu đặc điểm của thể loại ca dao, được rèn luyện kĩ năngđọc - hiểu văn bản, kĩ năng phân tích, so sánh, đối chiếu, kĩ năng làm việcnhóm, cá nhân cùng năng lực cảm thụ văn học
II Phương pháp tiến hành
1 Cơ sở lý luận và thực tiễn có tính định hướng cho việc nghiên cứu, tìm giải pháp của đề tài.
a) Cơ sở lí luận
- Phương pháp giáo dục Trung học sơ sở là phải phát huy được tính tíchcực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng bộ môn,đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp; bồi dưỡng cho học sinhphương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức
Trang 6vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và tráchnhiệm học tập của học sinh.
- Căn cứ vào chỉ thị 14/2001/CT – TTG về đổi mới chương trình giáo dụcphổ thông Cụ thể là đổi mới về nội dung giảng dạy: Nội dung dựa trên cơ sởmột chương trình chuẩn và đảm bảo tính phổ thông, toàn diện, hướng nghiệp;Nội dung chương trình phải cơ bản, tinh giảm, thiết thực và cập nhật; Tiếnkịp trình độ chung của các nước trong khu vực và thế giới
- Quan điểm xây dựng và phát triển chương trình môn Ngữ văn Trung học
cơ sở là hướng vào việc hình thành các năng lực cần thiết cho người học Mụctiêu giáo dục Ngữ văn không chỉ nhằm cung cấp cho học sinh các tri thức vềvăn học một cách có hệ thống mà còn phải hướng tới việc phát triển nhữngnăng lực cần thiết của người học, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước tronggiai đoạn mới
Ca dao, dân ca là những khái niệm tương đương, chỉ các thể loại trữ tìnhdân gian, kết hợp lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con người Hiện nay,người ta có phân biệt khái niệm dân ca và ca dao Dân ca là những sáng tác kếthợp lời và nhạc Ca dao là lời thơ của dân ca Ca dao còn gồm cả những bài thơdân gian mang phong cách nghệ thuật chung với lời thơ dân ca
- Đặc điểm nội dung: Diễn tả đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm củanhân dân trong các quan hệ đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước,… Trong đó cócác chủ đề chính là những tiếng hát than thân, những lời ca yêu thương tình nghĩacất lên từ cuộc đời còn nhiều xót xa, cay đắng nhưng đằm thắm ân tình của conngười Việt Nam và những bài ca dao hài hước thể hiện tinh thần lạc quan củangười lao động
- Đặc điểm nghệ thuật:
+ Lời thơ thường ngắn gọn
+ Sử dụng thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể
+ Ngôn ngữ gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày, giàu hình ảnh so sánh,
ẩn dụ
Trang 7+ Lối diễn đạt bằng một số hình ảnh mang đậm sắc thái dân gian.
Từ những đặc trưng cơ bản trên của thể loại, khi dạy vào từng bài ca dao,giáo viên cần xác định trọng tâm mục tiêu bài học Và kết thúc bài học, cần giúp
HS nhận diện được đặc điểm thể loại, nội dung chính và đặc sắc nghệ thuật củatừng ca dao, cũng như có sự mở rộng liên hệ Muốn đạt được những mục tiêu trên,yếu tố then chốt là: Giáo viên cần áp dụng những phương pháp dạy học tích cựccũng như những kỹ thuật dạy học tích cực một cách nhuần nhuyễn, thành thạogiúp học sinh phát huy được khả năng tự học, sáng tạo của mình
b) Cơ sở thực tiễn
- Môn Ngữ văn cũng là môn khoa học gắn liền với thực tiễn Phươngpháp dạy học hiện nay lấy học trò làm trung tâm, học sinh tích cực, chủ độngtìm hiểu kiến thức qua sự hướng dẫn của thầy Học sinh được làm việc quakênh chữ, kênh hình, các câu hỏi, bài tập trong sách giáo khoa, qua các đồdùng, thiết bị dạy học của các bộ môn Vì vậy, các tiết dạy văn học dân giantrong chương trình Ngữ văn 7 có vai trò vô cùng quan trọng, giúp các em cảmnhận được cái hay, cái đẹp của nền văn học dân tộc, phát huy năng lực vàphẩm chất người học, bao gồm các năng lực chung và năng lực riêng mônNgữ văn:
+ Năng lực chung: Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lựcsáng tạo, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng công nghệthông tin và truyền thông
+ Năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn: Năng lực sáng tạo ngôn từ,năng lực cảm xúc thẩm mĩ, năng lực tái hiện hình tượng, năng lực tự đánhgiá, năng lực cảm thụ tác phẩm văn học
*Về phía giáo viên
Trong một tiết dạy ca dao có cùng một chủ đề, mỗi bài ca dao có một nộidung, thông điệp riêng Song, một số GV còn chưa nghiên cứu kĩ và nắm chắc đặctrưng thể loại của ca dao, chưa khai thác được hết giá trị nội dung, nghệ thuật của
Trang 8bài Vì thế, phương pháp dạy ca dao còn chung chung, giống với phương phápgiảng dạy thơ trữ tình.
*Về phía học sinh
Nhiều em có xu hướng không thích học Văn (Các em thích học các môn
Tự nhiên hơn), thụ động trong học tập, chưa tích cực và sáng tạo Các em nhìnchung chưa mạnh dạn, tự tin để thể hiện hết các năng lực của bản thân mình Một
số em cho rằng: Văn học dân gian không xa lạ gì với các em, nên không cần tìmhiểu kĩ Do đó, có những kiến thức lệch lạc khi tiếp cận tác phẩm
Trong chương trình Ngữ văn 7, phần ca dao tập trung ở 4 tiết (Tiết 9, 10,
13, 14) của học kì I, với các bài ca dao có chủ đề riêng Do vậy, trong bài viết này,
tôi mạnh dạn đưa ra biện pháp: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong việc dạy ca dao môn Ngữ văn 7 ”
2 Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp
- Khảo sát thực trạng học sinh của trường, của các trường bạn tronghuyện về kĩ năng dạy các tiết ca dao nhằm phát huy sự chủ động, sáng tạo củaHS
- Nghiên cứu thật kĩ nội dung các tiết dạy văn bản ca dao
- Xem xét, lựa chọn các kĩ năng trọng tâm và những năng lực cần đạtđược trong một tiết dạy văn bản
- Chuẩn bị bài dạy, thiết bị, đồ dùng giảng dạy…
- Xây dựng phương pháp dạy phù hợp đối tượng, vừa sức với học sinhnhằm phát huy năng lực học sinh
- Dạy thực nghiệm, trao đổi qua tổ nhóm chuyên môn
- Sau mỗi tiết dạy cần rút kinh nghiệm, tìm ra giải pháp tối ưu, tiếp cậnnăng lực học sinh
- Thời gian tạo ra giải pháp: Tháng 8 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020.
Trang 9NỘI DUNG
A Mục tiêu
Đề tài này nhằm thực hiện nhiệm vụ:
- Nghiên cứu để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài
- Nghiên cứu nội dung phạm vi kiến thức của các bài dạy ca dao, để vậndụng các phương pháp hướng tới phát triển năng lực học sinh, giải quyết cácvấn đề phức hợp
- Chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ dạy văn bản, để đảm bảo họcsinh hiểu và nắm bắt được bài, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng caohứng thú cho người học
- Đề xuất một số hướng và giải pháp tốt nhất khi dạy ca dao, nhằm pháthuy sự chủ động, sáng tạo và tạo hứng thú học cho học sinh
B Mô tả giải pháp của đề tài
I Thuyết minh tính mới (tính sáng tạo)
- Học sinh học tập theo quan điểm phát triển năng lực, chú ý tích cực hóahọc sinh về hoạt động trí tuệ, rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn vớinhững tình huống cuộc sống
Trang 10- Học sinh có ý thức vận dụng các kiến thức ở nhiều môn học khác nhau,
để giải quyết các tình huống thực tiễn thông qua hoạt động nhóm Học sinhđược chủ động tìm hiểu kiến thức và được tiếp nhận tri thức
- Giáo viên chủ động trong khâu tổ chức các hoạt động dạy học Khắcphục được tình trạng dạy học theo phương pháp thuyết trình ở các tiết dạyvăn bản ca dao
- Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giữa giáo viên vàhọc sinh theo hướng cộng tác nhằm phát triển năng lực xã hội
Từ thực tế giảng dạy môn Ngữ văn 7, tôi nhận thấy có rất nhiều phươngpháp, kĩ thuật để phát huy tính chủ động, tích cực và sáng tạo của học sinh GV ápdụng nhiều cách để gợi mở vấn đề, vấn đáp, tương tác, thảo luận nhóm hay chơicác trò chơi Sau đây, tôi xin trình bày một số phương pháp và kĩ thuật dạy họctích cực được áp dụng trong giảng dạy ca dao Qua đó, sẽ phát huy được tính tíchcực, chủ động và nâng cao khả năng sáng tạo của các em
1 Các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực
1.1 Phương pháp dạy học tích cực
a) Đọc sáng tạo
Đọc diễn cảm chính là một phương pháp đọc sáng tạo Hiểu được tácphẩm, người đọc sẽ thể hiện được tình cảm, cảm xúc của mình qua cách đọc
Ví dụ: Khi dạy bài: "Những câu hát nghĩa tình", (bài ca dao 3) với hình thức
đặc trưng: Đối đáp giao duyên, nên GV cho HS đọc phân vai:
Phần hỏi (Nam), phần đáp (Nữ)
Thông qua việc nhập vai nhân vật trong bài ca dao, giúp HS cảm thấy hứngkhởi hơn với việc tiếp cận các đơn vị kiến thức, và nắm được nội dung tác phẩmhơn, góp phần hình thành năng lực, phẩm chất cần có của người học
b) Phương pháp thảo luận nhóm (dạy học hợp tác)
Đây là một trong những phương pháp được sử dụng thường xuyên tronghoạt động dạy học Trong các tiết dạy về ca dao, thì phương pháp này thường
Trang 11được sử dụng trong hoạt động hình thành kiến thức mới, để tìm hiểu cái hay, cáiđẹp của bài ca dao Nó đòi hỏi mỗi GV phải nắm vững phương pháp, có kỹ năngtrong tổ chức, điều khiển các hoạt động học.
Hầu hết các tiết học về ca dao trong chương trình Ngữ văn 7 được cấu trúcnhiều bài ca dao trong cùng một chủ đề (chùm ca dao) Do vậy, giáo viên có thể
sử dụng phương pháp dạy học theo nhóm, để giúp HS hình thành và khắc sâukiến thức hơn
Các thức tổ chức: Giáo viên thực hiện theo quy trình 4 bước:
+ Bước 1: GV nêu nhiệm vụ, có thể chiếu câu hỏi lên máy chiếu
+ Bước 2: Giao nhiệm vụ cho học sinh thảo luận Bao quát, kiểm tra quá
trình hoạt động của học sinh
+ Bước 3: Các nhóm báo cáo kết quả, nhận xét, bổ sung.
+ Bước 4: Giáo viên nhận xét, đánh giá – kết luận
Ví dụ 1: Khi dạy bài:"Những câu hát than thân, châm biếm", GV cho HS thảo
Các hình ảnh ẩn dụ: Con tằm, con kiến, con hạc, con cuốc
Ý nghĩa: - Con tằm suốt đời chỉ ăn lá dâu, cuối đời phải nhả tơ cho người
- Kiến là loài vật nhỏ bé, cần ít thức ăn nhất, nhưng ngày ngày vẫn cần mẫnkiếm mồi
- Hạc: Biểu tượng cho cuộc đời phiêu bạt vô định và những cố gắng tuyệtvọng của người lao động trong xã hội cũ
Trang 12- "Cuốc giữa trời": Gợi hình ảnh của sinh vật nhỏ nhoi, cô độc giữa khônggian rộng lớn
"Kêu ra máu": Đau thương, khắc khoải, tuyệt vọng
Đây đều là những con vật vô cùng nhỏ bé, gần gũi, không có giá trị nhiềutrong cuộc sống Nhưng khi gắn với cuộc sống, với thân phận người nông dân thì
nó lại có ý nghĩa to lớn
Với cách nói ẩn dụ, bước đầu giúp HS nhận biết được nội dung của bài cadao: Thương xót, cảm thông với cuộc đời, số phận trớ trêu của tầng lớp lao độngchịu nhiều bất công trong xã hội cũ Qua đó, HS thấy được giá trị cuộc sống, giá trịcon người cần được xã hội trân trọng, nâng niu và bảo vệ
Sau đây là một số hình ảnh minh họa thêm cho thân phận của người lao độngxưa trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ:
Trang 13Ngoài ra, GV đưa ra bài tập và nhiệm vụ cho HS chuẩn bị ở nhà: Sưu tầm một
số tranh ảnh, hình ảnh có liên quan tới bài học (than thân và châm biếm) và thuyếttrình POIWERPOINT cho nội dung ấy vào buổi học hôm sau
Trang 15c) Phương pháp trực quan (phương tiện dạy học)
Là phương pháp quan trọng góp phần lĩnh hội kiến thức ở học sinh Phươngtiện dạy học bao gồm: Sơ đồ tư duy, bản đồ, băng hình, tranh ảnh, phiếu họctập…Việc sử dụng đúng lúc, đúng thời điểm, phù hợp với các phương phápgiảng dạy, góp phần kích thích hứng thú giảng dạy của giáo viên, và học tậpcủa học sinh
Khái quát các bài ca dao sẽ tìm hiểu trong chương trình, tôi có sơ đồ sau:
Với sơ đồ hệ thống hóa khái quát kiến thức trên, HS sẽ biết thời lượng 4 tiếttìm hiểu ca dao trong chương trình, mỗi tiết học mình được tìm hiểu các nội dunggì? Khái niệm ca dao là gì? Đặc điểm của ca dao? Khi học ca dao, nó xoay quanhnhững chủ đề gì? Giá trị nghệ thuật và giá trị nội dung của từng bài ca dao trong
Trang 16mỗi chủ đề đó Từ đó, giúp các em hiểu hơn về đặc trưng thể loại, góp phần tạohứng thú, sự sôi nổi, hăng say trong học tập của HS Đồng thời, có cách khai tháckiến thức phù hợp với từng chủ điểm ca dao
Khi dạy xong: "Những câu hát than thân, châm biếm", tôi tóm tắt các kiếnthức trọng tâm cho HS qua sơ đồ sau:
Từ đó, hệ thống và khái quát lại những kiến thức trọng tâm, cô đọng nhất về
cả nội dung và nghệ thuật trong bài học
Ngoài ra, để giờ dạy thêm sinh động, giáo viên có thể cho học sinh vẽ tranhtheo chủ điểm của từng bài ca dao: Cánh đồng lúa bát ngát, hình ảnh thầy bói, hìnhảnh người chú bên chai rượu
d) Phương pháp trò chơi
Bản chất của phương pháp sử dụng trò chơi học tập là dạy học thông quaviệc tổ chức hoạt động cho học sinh Từ đó, hình thành kiến thức, kỹ năng mớihoặc củng cố kiến thức, kỹ năng đã học Trong thực tế dạy học, GV thường tổchức trò chơi học tập để củng cố kiến thức, kỹ năng
Trang 17Ví dụ 1: Sau khi học xong hai chùm ca dao trong chương trình, GV cho HS
chơi trò chơi: Thử tài đoán ca dao bằng cách: Đưa ra các hình ảnh, video có liênquan tới nội dung bài học Yêu cầu HS trả lời câu hỏi: Hình ảnh, video trên giúp
em liên tưởng tới bài ca dao nào?
Ví dụ 2: Tìm các bài ca dao khác có môtip "Thân em" hoặc "Thương thay",
hoặc có nội dung tương tự các bài ca dao đã học
- Cách chơi: Hai đội chơi Lần lượt mỗi thành viên trong đội đọc một bài Haiđội luân phiên nhau
- Đội nào đọc được bài ca dao khi đội bạn không đọc được nữa là đội chiến thắng Chẳng hạn:
Cảm thương cho thân phận người phụ nữ xưa:
- "Thương thay thân phận con rùa
Trên đình đội hạc, dưới chùa đội bia."
- "Thương thay con hạc đầu đình
Muốn bay chẳng cất nổi mình mà bay."
- "Thương thay thân phận trái dừa
Non thời khoét mắt, già cưa lấy đầu."
Về những con người lười biếng nhưng lại thích hưởng thụ cuộc sống nhàn hạ:
- "Ăn no rồi lại nằm khoèo
Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem."
- "Đời người có một gang tay
Ai hay ngủ ngày còn được nửa gang."
- "Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa
Sang đâu đến kẻ say sưa tối ngày."
1.2 Kĩ thuật dạy học tích cực
a) Kĩ thuật động não (Công não)
Được sử dụng thường xuyên trong các tiết học Văn, trong đó có ca dao Với
kĩ thuật này, HS được động não, suy nghĩ, được phát huy trí sáng tạo của mình
Trang 18Điều này đồng nghĩa với việc sẽ tạo sự phấn khởi, tinh thần hăng hái trong học tậpcủa các em.
Trong "Những câu hát than thân, châm biếm", ở bài ca dao số 3 khi phân tíchgiá trị bài ca dao GV đặt câu hỏi để HS động não: Em có nhận xét gì khi dân gianđặt "chú tôi" cạnh "cô yếm đào"?
HS động não, suy nghĩ và phản hồi lại như sau:
Dân gian đã đặt nhân vật "chú tôi" bên cạnh hình ảnh "cô yếm đào" như một phép tương phản, ngầm ý mỉa mai, giễu cợt, phê phán những con người lười
nhác nhưng lại đòi cao sang Khẳng định, đề cao giá trị của người lao động
b) Kĩ thuật “Khăn trải bàn”:
Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạtđộng cá nhân và nhóm Từ đó kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực, tăngcường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh
Ví dụ: Dạy bài ca dao 2 trong "Những câu hát than thân, châm biếm".
"Thân em như trái bần trôiGió dập sóng dồi biết tấp vào đâu"
Tôi sử dụng kĩ thuật này khi triển khai nội dung bài ca dao
- Thời gian: 7 phút
- Nội dung:
1 Hình ảnh người phụ nữ được so sánh với quả gì? Tại sao tác giả lại sử dụngloại quả đó?
2 Chỉ ra biện pháp nghệ thuật tác giả sử dụng
3 Qua loại quả đó, em hiểu gì về thân phận người phụ nữ trong xã hội phongkiến xưa
Sau khi HS bàn bạc, thảo luận và đưa ra bài làm nhóm mình, GV đưa ra thôngtin phản hồi - chốt ý:
1.Trái bần (Là loại quả mà cây mọc ở ven sông, hình tròn, dẹt, vị chua chát-> Loại quả tầm thường không có giá trị)
2 Nghệ thuật: Ẩn dụ, so sánh
Trang 193 Thân phận bé nhỏ, chìm nổi, trôi dạt vô định giữa sóng gió cuộc đời củangười phụ nữ xưa.
2 Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh thông qua các hoạt động học trong bài học.
a) Trước tiên cần nói tới khâu tổ chức hoạt động khởi động
Muốn tạo cho HS một tâm thế thoải mái để bước vào tiết học đạt kết quả cao,thì hoạt động khởi động đóng vai trò vô cùng quan trọng Vậy làm thế nào để khởigợi niềm đam mê, tạo hứng khởi cho HS trước khi bước vào nội dung chính củabài học?
Để hoạt động khởi động được sôi nổi khi giảng dạy ca dao, tôi đưa ra một sốcách thức tiến hành khởi động như sau:
- HS quan sát tranh rồi đọc các bài ca dao (trò “đuổi hình bắt ca dao”)
- HS xem tranh/ video và trả lời các câu hỏi liên quan đến nội dung các bài
ca dao
Ví dụ 1: Khi vào bài “Những câu hát than thân và châm biếm” (tiết 13, 14),
tôi đã làm như sau: Cho HS quan sát tranh:
Trang 20Và trả lời câu hỏi: Hình ảnh này gợi em liên tưởng tới bài ca dao nào?
HS trả lời GV hỏi tiếp: Bài ca dao thể hiện điều gì?
Sau đó, GV chốt ý - dẫn dắt vào bài mới
Ví dụ 2: Khi dạy bài:"Những câu hát nghĩa tình" (Tiết 9, 10), tôi cho HS
nghe video bài hát:"Việt Nam quê hương tôi" Sau đó đặt câu hỏi: Qua đoạnvideo trên, em có cảm nhận gì?
Hoặc: GV cho HS xem video phim ngắn: "Người mẹ gù":
Trang 21Sau đó, đặt câu hỏi: Qua đoạn video trên em có cảm nhận như thế nào vềtình cảm gia đình?
HS trả lời - GV chốt và dẫn dắt vào nội dung bài học: Tình cảm gia đình là thứtình cảm rất đỗi thiêng liêng và cao quý trong mỗi con người Mỗi cá nhân dù đi
xa, dù bận rộn với cuộc sống thường nhật như thế nào nhưng vẫn luôn luôn dànhmột góc trong tâm hồn để lưu giữ, nâng niu tình cảm với những người thân yêu,với nơi mình đã sinh ra và gắn bó lâu dài
b) Thứ 2: Phát huy tính tích cực của học sinh trong hoạt động hình
thành kiến thức và luyện tập
*Hoạt động hình thành kiến thức mới
Đây chính là nội dung chính trọng tâm, được triển khai trong bài học Ở phầnnày, GV phải tổ chức được các hoạt động học Làm thế nào để có hệ thống câu hỏihợp lí, phù hợp, cách dẫn dắt chuyển giao nhiệm vụ hợp lý? Khi dạy một đơn vịkiến thức cụ thể, GV cho HS hoạt động trên phiếu học tập, sau đó yêu cầu HS thảoluận, trình bày trong khoảng thời gian nhất định (5 - 7 phút)
Ví dụ: Bài 3 trong "Những câu hát than thân, châm biếm", tôi cho HS thảo
luận dựa trên phiếu học tập
- Thời gian: 5 phút
- Câu hỏi:
1 Bài ca dao nhại lại lời của ai? Nói với ai? Nhân vật trong bài ca dao nói gì?
2 Nhận xét về giọng điệu, cách nói?
3 Nội dung đề cập trong bài ca dao là gì?
GV đưa ra nội dung phản hồi:
1.- Nhại lời của thầy bói nói với người đi xem bói
- Thầy bói phán: Số cô: chẳng giàu thì nghèo, có mẹ có cha/ mẹ đàn bà, chađàn ông, có vợ có chồng, sinh con không gái thì trai
3 Giọng mỉa mai, châm biếm
4 Phê phán những kẻ hành nghề mê tín dốt nát, lừa lịp
-> Châm biếm sự mê tín mù quáng, ít hiểu biết
Trang 22Như vậy: Trong quá trình dạy học, việc sử dụng nhiều phương pháp, kĩ thuậtdạy học tích cực giúp tôi triển khai triệt để kiến thức hơn Đồng thời, HS rất tíchcực, chăm chỉ, chịu khó Đặc biệt, khi trình bày báo cáo của nhóm mình, các emrất tự tin, sôi nổi và kĩ năng giao tiếp, thuyết trình, phản biện, làm việc nhóm đượccủng cố thêm.
*Hoạt động luyện tập
Đây là hoạt động không thể thiếu, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của
HS giúp HS hiểu hơn, khắc sâu thêm về những kiến thức mà các em vừa tiếp cận,vận dụng các kiến thức vừa học, giải quyết các bài tập Qua đó, giúp các em cónhững sáng tạo, ý tưởng mới, khám phá những tri thức mới mẻ của văn chương Sau khi học xong nội dung bài: "Những câu hát than thân, châm biếm", GV cho HS hoạt động cá nhân
- Thời gian: 3 phút
- Câu hỏi: Suy nghĩ và thái độ của em về những điều phê phán, châm biếm ởhai bài ca dao trên?
HS nêu suy nghĩ cá nhân GV gợi ý các ý chính sau:
- Thái độ châm biếm, đả kích của nhân dân lao động mà còn thích thú bởi đờisống tinh thần phong phú, lạc quan yêu đời của họ
- Nghiêm khắc phê phán những con người xấu xa, hiện tượng xã hội tiêu cực Bên cạnh những PP, KTDH tích cực trên, tùy vào thực tế tiết dạy, nếu còn thờigian thì tôi sẽ mở rộng thêm cho các em sự tích hợp liên môn khi học ca dao, đểcác em thấy được sự gắn bó, sự gần gũi của ca dao với đời sống tâm hồn của conngười Bởi, suy cho cùng, ca dao luôn luôn gắn với con người, với các địa danh cụthể
Địa lý: Tích hợp dạy các địa danh (Hà Nội, Lạng Sơn ); dạy các di tích lịch
sử, văn hóa (Sông Lục Đầu; Núi Đức Thánh Tản; Đền Sòng )
Lịch sử: Bối cảnh xã hội, đất nước con người Việt Nam trong xã hội phongkiến (Khi dạy về các bài ca dao than thân hay châm biếm )