Luận văn : Thực trạng công tác thẩm định dự án vay vốn tại NHTM CP Sài Gòn chi nhánh Ba Đình
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay ,khu vực hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế đã trở thành xu hướng phát triển chung của nền kinh tế thế giới Trong giai đoạn hiện nay ,nền kinh tế Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó ,do vậy hoạt động của toàn ngành ngân hàng trong điều kiện hội nhập sẽ có rất nhiều thay đổi và khó khăn,đó là sự cạnh tranh trở lên gay gắt giữa các ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài
Trong điều kiện kinh doanh đó ,buộc các ngân hàng phải tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng mình
để có thể đứng vững trên thị trường Tuy nhiên ,hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng phụ thuộc rất nhiều yếu tố ,một trong những yếu tố chủ quan thuộc về ngân hàng đó là công tác thẩm định dự án đầu tư tại mỗi ngân hàng Có thể nói công tác thẩm định là yếu tố quyết định trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của mỗi ngân hàng nói một cách khác công tác thẩm định quyết định sự thành công của mỗi ngân hàng
Do vậy thẩm định dự án đầu tư (vốn vay) có vai trò đặc biệt quan trọng đối với mỗi ngân hàng Từ thực tế đó mà trong quá trình thực tập tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn tôi đã chọn đề tài “Thẩm định dự án vay vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn chi nhánh Ba Đình” để nghiên cứu
Chuyên đề được chia làm 3 chương :
Chương I: Lý luận chung về thẩm định dự án vay vốn tại các NHTMCPChương II: Thực trạng công tác thẩm định dự án vay vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn chi nhánh Ba Đình
Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án vay vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn chi nhánh Ba Đình
Trang 2CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH
DỰ ÁN VAY VỐN TẠI CÁC NHTMCP
1 Thẩm định dự án đầu tư:
1.1 Khái niệm dự án đầu tư:
Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất trên những căn cứ khoa học và thực tiễn về việc bỏ vốn đầu tư xây dựng mới, mở rộng, cải tạo, đổi mới kỹ thuật và công nghệ với đối tượng là tài sản cố định nhằm đạt được
sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ trong một khoảng thời gian xác định
Một dự án đầu tư thường có thời gian dài, nhu cầu vốn lớn và thường
có rất nhiều rủi ro bởi vì thời gian càng kéo dài, kéo theo sự không chắc chắn, có thể là sự thay đổi của nhu cầu thị trường, các biến động trong nền kinh tế (tỷ giá, lạm phát ), sự thay đổi trong chính các dự đoán hiện nay không thể hoàn toàn chính xác trong tương lai
Một dự án đầu tư từ khi hình thành ý định bỏ vốn đầu tư đến khi công trình đi vào hoạt động phải trải qua 3 giai đoạn:
• Giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư
• Giai đoạn đầu tư
• Giai đoạn đi vào hoạt động
Đầu tư là một nhân tố chủ yếu cho sự phát triển một doanh nghiệp cũng như nền kinh tế quốc dân Trong nền kinh tế thị trường, quyết định đầu
tư có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp vay vốn, đối với tổ chức cho vay mà còn có ý nghĩa đối với toàn bộ nền kinh tế
1.2 Thẩm định dự án đầu tư
1.2.1 Khái niệm:
Trang 3Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách quan khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới công cuộc đầu tư để ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư.
1.2.2 Ý nghĩa của công tác thẩm định dự án đầu tư:
• Giúp cho chủ đầu tư lựa chọn được phương pháp đầu tư tốt nhất
• Giúp các cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá được sự cần thiết và tính phù hợp của dự án đối với quy hoạch phát triển chung của ngành, của địa phương và cả nước trên các mặt mục tiêu, quy mô
và hiệu quả
• Thông qua thẩm định giúp chủ đầu tư xác định được sự lợi hại của
dự án khi dự án đi vào hoạt động trên các khía cạnh: công nghệ, vốn, môi trường và lợi ích kinh tế xã hội khác
• Giúp các nhà tài chính ra quyết định chính xác về cho vay hay tài trợ dự án
• Giúp xác định rõ tư cách pháp nhân của bên tham gia đầu tư
1.2.3 Mục đích thẩm định dự án đầu tư (vay vốn) của ngân hàng:
Đối với ngân hàng việc thẩm định dự án đầu tư nhằm mục đích:
• Rút ra các kết luận chính xác về tính khả thi, hiệu quả kinh tế của dự
án đầu tư, khả năng trả nợ, những rủi ro có thể xảy ra để ra quyết định cho vay hoặc từ chối cho vay một cách đúng đắn, đảm bảo hiệu quả của vốn đầu tư
• Tham gia góp ý cho các chủ đầu tư, tạo tiền đề đảm bảo hiệu quả cho vay, thu được nợ cả gốc và lãi đúng hạn, hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất
• Thông qua thẩm định, ngân hàng đã tạo ra căn cứ để kiểm tra việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, đúng đối tượng và tiết kiệm vốn
Trang 4• Thông qua những lần thẩm định sẽ giúp ngân hàng rút ra những kinh nghiệm và bài học bổ ích để thực hiện thẩm định các dự án sau được tốt hơn.
• Làm cơ sở để xác định số tiền cho vay, thời gian cho vay, mức thu nợ hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả
Để công tác thẩm định dự án đạt kết quả cao nhất, cán bộ thẩm định cần phải thu thập các thông tin về dự án vay vốn, về khách hàng vay vốn, các văn bản tài liệu của Nhà nước và của các ngành liên quan đến dự án để phục
vụ cho công tác thẩm định
1.2.4 Nội dung thẩm định dự án đầu tư:
1.2.4.1 Thẩm định phương diện thị trường
Đây là nội dung quan trọng và có ý nghĩa sống còn với dự án Bởi lẽ, thị trường là nơi phát ra những tín hiệu cần thiết đối với chủ đầu tư Bước nghiên cứu này sẽ góp phần khẳng định dự án có thực sự thích nghi được với thị trường hay không, sản phẩm của dự án có được thị trường chấp nhận hay không Khả năng cạnh tranh cũng như tính hiện thực của dự án ra sao…?
Như chúng ta đã biết cạnh tranh là điều thường xuyên xảy ra trong nền kinh tế thị trường do có nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất một loại sản phẩm và quá trình cạnh tranh này diễn ra gay gắt Vì vậy, phân tích đánh giá khả năng cạnh tranh sản phẩm của dự án là một điều rất được coi trọng
So sánh giá thành sản phẩm của dự án với giá thành của sản phẩm cùng loại trên thị trường đắt hay rẻ hơn, chỉ rõ nguyên nhân đó Phải phân tích để thấy rõ được những ưu việt của sản phẩm dự án so với các sản phẩm hiện tại
Hình thức, mẫu mã, chất lượng sản phẩm của dự án so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường như thế nào, có ưu điểm gì không? Sản phẩm
Trang 5có phù hợp với thị hiếu của người tiêu thụ, xu hướng thị trường hiện nay hay không?
Đánh giá sản phẩm của dự án dự kiến được tiêu thụ theo phương thức nào, có cần hệ thống phân phối không? Mạng lưới phân phối của sản phẩm
dự án đã được xác lập hay chưa, có phù hợp với đặc điểm của thị trường hay không?
1.2.4.2 Thẩm định trên phương diện kỹ thuật
Thẩm định dự án về phương diện kỹ thuật là việc kiểm tra, phân tích các yếu tố kỹ thuật và công nghệ chủ yếu của dự án Nó là tiền đề cho việc tiến hành thẩm định tính khả thi về phương diện tài chính
• Thẩm định về địa điểm xây dựng công trình
Địa điểm phải thuận lợi về mặt giao thông
Gần nguồn cung cấp vật liệu và thị trường tiêu thụ
Cơ sở vật chất hạ tầng phải được đảm bảo…
• Thẩm định về quy mô công suất:
Quy mô công suất phải cân đối với nhu cầu thị trường và khả năng cung cấp nguyên vật liệu cũng như khả năng quản lý và nhu cầu nhân lực
• Thẩm định nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào khác:
Trang 6Nguyên vật liệu đầu vào bao gồm tất cả các nguyên vật liệu chính và phụ, vật liệu bao bì đóng gói Đảm bảo NVL là một khía cạnh quan trọng trong lập và thẩm định dự án.
• Thẩm định về môi trường, PCCC
Những biện pháp (công nghệ, thiết bị) mà dự án dự kiến đầu tư để xử
lý phù hợp với từng loại chất thải (nước thải, hơi độc, khói bụi nhiệt độ cao…) Hiệu quả xử lý như thế nào?
• Thẩm định về mô hình tổ chức, quản trị và nhân lực cho dự án Thành công của một dự án đầu tư, bên cạnh sự đầy đủ về các yếu tố
cơ sở vật chất còn được quyết định rất lớn bởi trình độ, năng lực của các nhà quản lý, bởi tay nghề của người lao động… Do đó, khi thẩm định dự án, việc xem xét về phương thức tổ chức quản lý dự án, tính hợp lý trong bố trí lao động thực sự là một nội dung cần thiết
Căn cứ vào yêu cầu kỹ thuật của sản xuất và điều hành dự án để ước tính số lao động cần dùng, yêu cầu về kỹ năng, bậc thợ và trình độ quản lý
• Thẩm định về kế hoạch triển khai của dự án
Đây là khâu quan trọng trong thẩm định về phương diện kỹ thuật Một công trình đầu tư bao gồm nhiều hạng mục khác nhau, quá trình thực hiện xây lắp đòi hỏi một trình tự thời gian nhất định để đảm bảo các yêu cầu
về mặt kỹ thuật
1.2.4.3 Thẩm định về mặt tài chính của dự án
• Thẩm định về tổng vốn đầu tư của dự án
Xác định dòng tiền dự kiến hàng năm (tháng, quý…)
Dòng tiền ròng = Thu nhập trong kỳ - chi phí trong kỳ
NCFi = Bi - Ci
Thu nhập trong kì (Bi): Gồm tất cả các khoản thu của dự án như doanh thu bán hàng, vốn đi vay, tiền thu của các hoạt động khác…
Trang 7 Chi phí trong kì (Ci) : Gồm tất cả các khoản chi phí như: chi vốn đầu tư, chi vốn lưu động thường xuyên, trả gốc và vốn vay ngân hàng.
• Tính toán chỉ tiêu chi phí vốn của dự án
Để tính được các chỉ tiêu hiệu quả tài chính, đặc biệt là những chỉ tiêu hiệu quả tài chính có chiết khấu, ta cần tính được chi phí sử dụng vốn bình quân
m k k k I
r I r
1 1
Trong đó : Ik là số vốn đầu tư của nguồn vốn thứ k
rk là lãi suất tương ứng của nguồn vốn đó
m là số nguồn vốn huy động được cho dự án
• Tính toán chỉ tiêu thời gian hoàn vốn (the Payback Period)
Khái niệm : Thời gian hoàn vốn là khoảng thời gian cần thiết để cho thu nhập ròng từ dự án vừa đủ bù đắp số vốn đầu tư ban đầu
Thời gian hoàn vốn được tính theo hai cách : thời gian hoàn vốn giản đơn (không có chiết khấu) và thời gian hoàn vốn có chiết khấu
Thời gian hoàn vốn giản đơn
T i i
B
0Trong đó T: thời gian hoàn vốn giản đơn
Chỉ tiêu này cho phép tính toán nhanh nhưng xét đến giá trị thời gian của đồng tiền nên tính chính xác thấp
Thời gian hoàn vốn có chiết khấu
T i
i i
.
Trang 8Ý nghĩa : T cho ta biết sau bao lâu dự án sẽ có thu nhập đủ bù chi phí vốn đầu tư Đối với hoạt động đầu tư, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường đầy biến động và rủi ro thì thu hồi nhanh vốn đầu tư là vấn đề được chủ đầu
tư và ngân hàng rất quan tâm
Nhược điểm:
Không cho biết thu nhập lớn sau khi hoàn vốn Đôi khi một phương án có thời gian hoàn vốn dài, nhưng thu nhập về sau lại cao hơn thì vẫn có thể là phương án tốt
Phụ thuộc vào lãi suất chiết khấu Nếu lãi suất càng lớn thì thời gian hoàn vốn càng dài và ngược lại vì vậy cần phải chọn lãi suất chiết khấu sao cho phù hợp với từng dự án trên cơ sở tính toán chi phí sử dụng vốn của từng dự án
• Tính chỉ tiêu tỷ suất sinh lời vốn đầu tư- ROI (Return on Investment)
Chỉ tiêu ROI cho ta biết một đồng vốn đầu tư cho dự án được mấy đồng lợi nhuận sau thuế ROI là chỉ tiêu biểu hiện khả năng sinh lời của vốn đầu
tư cũnh như của dự án nói chung
Công thức:
Trang 9I x100%
r
P
Trong đó: I: tổng vốn đầu tư ban đầu
Pr: Lợi nhuận sau thuế hàng năm
ROI khi tính xong được so sánh với ROI của các doanh nghiệp, các dự án khác cùng ngành nghề và lĩnh vực
• Tính chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng- NPV (Net Present Value) Chỉ tiêu NPV cho ta biết quy mô tiền lời của dự án sau khi đã hoàn đủ vốn Khi tính toán chỉ tiêu này cũng dựa trên cơ sở giá trị hiện tại, tức là phải xét đến chiết khấu
i i
i
B NPV
1 1
Trong đó: n: thời hạn đầu tư hoặc thời gian hoạt động của dự án (năm)
i : năm thứ i
Bi: khoản thu hồi ròng của năm thứ i
Ci: Vốn đầu tư thực hiện tại năm thứ i
r : lãi suất chiết khấu
Vì NPV cho ta biết tổng giá trị hiện tại thu hồi ròng sau khi đã hoàn vốn nên:
+ Nếu NPV > 0 dự án có lời, có thể đầu tư
+ Nếu NPV = 0 dự án chỉ hoà vốn
+ Nếu NPV > 0 dự án lỗ
NPV càng lớn càng có lợi, vì vậy nếu có hai dự án cần so sánh thì dự án nào có NPV lớn hơn sẽ được chọn Trường hợp có nhiều ds thì ta chọn ds có giá trị hiện tại ròng tối đa (max NPV)
Trang 10Ưu điểm : Phản ánh hiệu quả của việc đầu tư về phương diện tài chính z Nhược điểm:
Phụ thuộc vào lãi suất chiết khấu r càng lớn thì NPV càng nhỏ
và ngược lại Do đó, cần chọn lãi suất chiết khấu sao cho phù hợp với từng dự án, trên cơ sở tính toán chi phí sử dụng vốn của từng dự án
NPV cho biết khả năng sinh lợi của dự án dưới tác động của lãi suất chiết khấu Nói một cách khác, nó không cho ta biết được
tỷ lệ sinh lợi (lãi suất) mà bản thân dự án có thể tạo ra được
• Tính suất thu hồi nội bộ- IRR (Internal Rate of Return)
Khái niệm: IRR là lãi suất chiết khấu r mà ứng với nó tổng giá trị hiện tại thu hồi ròng bằng tổng giá trị hiện tại chi phí (tức NPV = 0)
r 1 n 0
1 1
2 1
NPV NPV
NPV r
r r IRR r
+
− +
=
=
Chỉ tiêu IRR cho biết lãi suất mà bản thân dự án có thể mang lại cho nhà đầu tư IRR càng lớn càng tốt Nếu có hai hoặc nhiều dự án cần so sánh thì
dự án nào có IRR tối đa (max IRR) sẽ được lựa chọn
Nếu IRR < r; dự án sẽ không đủ tiền để trả nợ
Nếu IRR = r: dự án chỉ vừa đủ tiền để trả nợ, nhà đầu tư không có lợi gì Nếu IRR > r: lúc này nhà đầu tư không những có thể trả được nợ mà còn
có lợi
Trang 11• Xác định điểm hoà vốn của dự án (Break Even Point Analysis)
Khái niệm: Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ trang trải các khoản chi phí phải bỏ ra
Xác định điểm hoà vốn:
Gọi: X - số lượng sản phẩm bán ra (cái)
a - giá bán một đơn vị sản phẩm (đồng/cái)
b - biến phí tính cho một đơn vị sản phẩm (đồng)
c- định phí (đồng)
Sản lượng hoà vốn:
a b
c X
−
=
1 0
2 Vốn trong doanh nghiệp(ngân hàng)
Y = aX Lãi
Y = bX + c bXE
c
Sản lượng Lỗ
Đồ thị điểm hoà vốn
Trang 12thiết ban đầu như chi phí thành lập ngân hàng, chi phí mua nguyên vật liệu, trả tiền công, lãi vay , đồng thời đầu tư công nghệ, mua sắm máy móc thiết
bị để tái sản xuất mở rộng, phát triển ngân hàng Do vậy, vốn đưa vào sản xuất kinh doanh có nhiều hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra hàng hoá, dịch vụ nhằm tiêu thụ trên thị trường Số tiền doanh nghiệp thu về sau quá trình tiêu thụ phải bù đắp được các chi phí bỏ ra và có lãi Quá trình này diễn ra liên tục bảo đảm sự tồn tại và phát triển của ngân hàng
Vậy: Vốn là một lượng tiền nào đó được đưa vào sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh hay quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội với tư cách là phương tiện tạo ra giá trị tăng thêm cho cá nhân và xã hội
2.2 Vai trò của vốn:
Vốn được thể hiện dưới hình thái vật chất của toàn bộ tư liệu sản xuất kết hợp với sức lao động trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm Do vậy vốn là nhân tố trực tiếp tác động đến kết quả sản xuất kinh doanh
Vốn bao gồm vốn cố định và vốn lưu động, trong đó vốn cố định là nhân tố quyết định tính khả thi của trang thiết bị máy móc, cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như đổi mới công nghệ, đổi mới kỹ thuật sản xuất Hơn nữa vốn
cố định còn là nhân tố quan trọng đảm bảo sự tái sản xuất mở rộng Vốn cố định là một nhân tố quyết định hiện đại hoá máy móc trang thiết bị của doanh nghiệp Vì vậy giúp cho việc nâng cao năng suất chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận - đảm bảo sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp
Cũng như vốn cố định, vốn lưu động cũng có tính chất quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh Nó còn chi phối trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó quyết định việc kết hợp giữa các bộ phận và trong từng bộ phận sản xuất, quyết định khả năng hoạt động tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu, chu chuyển vốn nhanh hay chậm Đặc biệt trong khâu dự trữ và lưu thông, nếu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpluôn được tiến hành một cách thường xuyên liên tục và sử dụng tối đa công suất máy móc và thiết bị sẵn có
Trang 132.3 Cấu tạo của nguồn vốn:
2.3.1 Vốn cố định
2.3.1.1 Khái niệm vốn cố định:
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng
2.3.1.2 Đặc điểm vốn cố định:
Trong nền sản xuất hàng hoá - tiền tệ, để mua sắm, xây dựng tài sản
cố định thì trước hết phải có một số vốn ứng trước - là khoản vốn ứng trước
về tài sản cố định, quy mô của vốn cố định sẽ quyết định quy mô của tài sản
cố định Song đặc điểm vận động của tài sản cố định lại quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố định Vốn cố định vận động trong sản xuất kinh doanh như sau:
• Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất
• Vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần, sau thời gian dài vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển vốn 2.3.1.3 Phân loại vốn cố định:
Tài sản cố định thể hiện trong các báo cáo tài chính, trong các hoá đơn mua hàng và trong sổ sách của đơn vị là giá trị bằng tiền Do đó cấu trúc của tài sản cố định cũng là cấu trúc của vốn cố định.Vậy nên trước hết chúng ta hãy tìm hiểu " thế nào là tài sản cố định trong doanh nghiệp"?
Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu, được tham gia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, như: máy móc, thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải, các công tình kiến trúc, các chi phí mua bằng sáng chế, các chi phí sử dụng và cải tạo đất
• Đặc điểm của tài sản cố định:
Trang 14 Tài sản cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh Đối với tài sản cố định có hình thái vật chất, khi tham gia vào quá trình kinh doanh nó không thay đổi hình thái vật chất ban đầu.
Trong quá trình tham gia vào kinh doanh, tài sản cố định bị hao mòn, giá trị hao mòn của tài sản cố định được chuyển dịch dần dần vào giá trị của sản phẩm Chỉ khi nào tài sản cố định bị hao mòn, hư hỏng hoàn toàn hoặc xét thấy không có lợi về kinh tế thì khi đó mới thay thế, đổi mới
• Phân loại tài sản cố định (TSCĐ)
Trong doanh nghiệp, TSCĐ bao gồm 3 bộ phận chính: TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình và TSCĐ thuê tài chính Tuy cũng là TSCĐ nhưng mỗi loại lại có những đặc điểm riêng
TSCĐ hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất, có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, như: nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị
TSCĐ vô hình: là những TSCĐ không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, như: chi phí về bằng phát minh, sáng chế; bản quyền tác giả; chi phí sử dụng đất
TSCĐ thuê tài chính: là những TSCĐ mà doanh nghiệp thuê của công ty cho thuê tài chính và trong hợp đồng thuê phải thoả mãn
ít nhất một trong bốn điều kiện sau đây:
1) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên
2) Nội dung hợp đồng thuê có quy định: khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chon mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tái sản thuê tại thời điểm mua lại
Trang 153) Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời hạn cần thiết để khấu hao tái sản thuê.
4) Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó trên thị trường vào thời điểm ký hợp đồng
Mọi hợp đồng thuê TSCĐ nếu không thoả mãn bất kỳ điều kiện nào trong bốn điều kiện trên thì được coi là TSCĐ thuê hoạt động
TSCĐ tài chính: là các khoản đầu tư để góp vốn liên doanh liên kết mua chứng khoán dài hạn, ký cược ký quỹ dài hạn
Xây dựng cơ bản dở dang: là các khoản đầu tư XDCB, đó là TSCĐ trong tương lai
2.3.1.4 Nguồn hình thành vốn cố định:
• Nguồn vốn chủ sở hữu:
Đối với doanh nghiệp Nhà nước là do vốn Ngân sách Nhà nước đầu tư, vốn có nguồn đầu tư từ Ngân sách do doanh nghiệp tự bổ sung theo quy định của Nhà nước Đối với các doanh nghiệp tư nhân thì vốn do tư nhân bỏ ra
Đối với hợp tác xã là vốn do xã viên đóng góp
• Nợ phải trả: là khoản nợ phải trả cho các tổ chức tín dụng, cho khách hàng, nhà cung cấp, cho các trái chủ dưới hình thức phát hành trái phiếu
Nguồn vốn liên doanh
Trang 16 Hao mòn hữu hình: là sự giảm dần về mặt giá trị và giá trị sử dụng
do chúng được sử dụng trong kinh doanh hoặc do tác động của các yếu tố tự nhiên gây ra
Hao mòn vô hình: là sự giảm dần thuần tuý mặt giá trị của tài sản
do có những TSCĐ cùng loại nhưng được sản xuất ra với giá rẻ hơn hoặc hiện đại hơn
Như trên đã trình bầy, TSCĐ khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh đã bị hao mòn dần cho nên để bù đắp giá trị TSCĐ đã bị hao mòn và
có điều kiện thay thế khi TSCĐ hư hỏng, doanh nghiệp phải tính và đưa vào chi phí sản xuất một khoản tương ứng với phần giá trị TSCĐ đã bị hao mòn
và chuyển dịch giá trị hao mòn đó vào chi phí sản xuất trong kỳ, gọi là khấu hao TSCĐ
Như vậy Khấu hao TSCĐ là việc chuyển dịch dần phần giá trị hao mòn của TSCĐ vào chi phí sản suất trong kỳ theo phương pháp tính toán thích hợp Phần giá trị hao mòn của TSCĐ được chuyển dịch vào chi phí sản xuất biểu hiện dưới hình thức tiền tệ gọi là tiền khấu hao Số tiền khấu hao được tích luỹ gọi là quỹ khấu hao
• Phương pháp tính khấu hao:
Việc tính khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp có thể được thực hiện theo nhiều phương pháp khác nhau Mỗi phương pháp tính đều có những ưu nhược điểm riêng Việc lựa chọn đúng đắn các phương pháp khấu hao TSCĐ là một nội dung quan trọng của công tác quản lý vốn cố định trong các doanh nghiệp Khi tính toán khấu hao có thể dùng các phương pháp sau:
* Phương pháp khấu hao đường thẳng (phương pháp tuyến tính cố định)
Trang 17TSD: thời gian sử dụng của TSCĐXác định tỷ lệ khấu hao TSCĐ:
Tỷ lệ khấu hao cá biệt:
% Trong đó:
TK: tỷ lệ khấu hao hàng năm của TSCĐ
MK: mức tính khấu hao trung bình của TSCĐ
NG : nguyên giá của TSCĐ
Tỷ lệ khấu hao bình quân:
MK mức tính khấu hao bình quân của TSCĐ
* Phương pháp khấu hao nhanh:
- Số tiền NG x Số năm còn lại đến hết thời hạn SD
khấu hao
hàng năm Tổng luỹ kế số năm còn lại đến hết thời hạn SD
- Tỷ lệ Mức khấu hao năm thứ i
Trang 18*Ưu nhược điểm của từng phương pháp:
Phương pháp khấu hao đường thẳng có ưu điểm tính toán đơn giản Nhưng lại có nhược điểm: khả năng thu hồi vốn chậm, TSCĐ khó tránh khỏi bị hao mòn vô hình
Phương pháp khấu hao nhanh giúp cho doanh nghiệp có khả năng thu hồi vốn nhanh, điều này rất hợp với cơ chế thị trường khi mà đồng vốn tự bản thân nó luôn luôn phải sinh lời
2.3.2 Vốn lưu động:
2.3.2.1 Khái niệm vốn lưu động
Trong điều kiện tồn tại các quan hệ tiền tệ đòi hỏi phải ứng ra số tiền ứng trước để đầu tư vào các tài sản đó
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp thực hiện được thường xuyên, liên tục
2.3.2.2 Đặc điểm của vốn lưu động:
Vốn lưu động của doanh nghiệp có những đặc điểm sau:
• Vốn tiền tệ ứng ra luôn vận động
• Do vận động nên vốn luôn thay đổi hình thái biểu hiện
• Đồng thời tồn tại dưới mọi hình thái
• Hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ sản xuất
Như vậy vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất Vốn lưu động của doanh nghiệp trong cùng một lúc được phân bổ trên khắp các giai đoạn của quá trình sản xuất và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Muốn cho quá trình sản xuất được liên tục thì doanh nghiệp phải có đủ vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau
đó và việc đầu tư đó phải hợp lý đồng bộ Nếu như doanh nghiệp nào không
có đủ vốn đầu tư thì quá trình sản xuất sẽ bị trở ngại hoặc gián đoạn
2.3.2.3 Phân loại vốn lưu động
Dựa vào vai trò của vốn lưu động trong quá trình sản xuất , ta phân chia vốn lưu động thành ba loại, trong mỗi loại dựa theo công dụng được chia thành nhiều khoản vốn như sau:
• Vốn lưu động nằm trong quá trình dự trữ sản suất:
Trang 19 Vốn nguyên vật liệu chính: là số tiền biểu hiện giá trị các loại vật liệu dự trữ cho sản xuất, khi tham gia sản xuất nó hợp thành thực thể của sản phẩm.
Vốn vật liệu phụ: là những giá trị vật tư dự trữ dùng trong sản xuất, giúp cho việc hình thành sản phẩm nhưng không hợp thành thực thể chủ yếu của sản phẩm
Vốn nhiên liệu: là giá trị nhiên liệu dùng cho sản xuất
Vốn phụ tùng thay thế: bao gồm giá trị những phụ tùng dự trữ để thay thế mỗi khi sửa chữa tài sản cố định
Vốn công cụ dụng cụ: thực chất là giá trị tư liệu lao động, nhưng giá trị thấp và thời gian sử dụng ngắn
• Vốn lưu động nằm trong quá trình sản xuất:
Vốn sản phẩm đang chế tạo: là giá trị sản phẩm dở dang trong quá trình sản xuấ
Vốn nửa thành phẩm tự chế: là những phí tổn chi ra trong năm nhưng chưa tính hết vào các giá thành trong năm mà tính dần vào giá thành của các năm sau
• Vốn lưu động nằm trong quá thình lưu thông
Vốn thành phẩm: biểu hiện bằng số sản phẩm đã nhập kho và chuẩn bị các công việc cho việc tiêu thụ
Vốn tiền tệ: tiền mặt, tiền gửi Nhân hàng mà trong quá trình luân chuyển vốn lưu động thường xuyên có bộ phận tồn tại dưới hình thức này
Vốn thanh toán: là những khoản phải thu, tạm ứng phát sinh trong quá trình mua bán vật tư hàng hoá hoặc quá trình thanh toán.Trong các khoản vốn lưu động nói trên, các khoản vốn dự trữ, vốn sản xuất và vốn thành phẩm là những khoản chiếm dụng cần thiết trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Những khoản vốn này luân chuyển theo những quy luật nhất định, có thể căn cứ vào nhiệm vụ sản xuất, định mức tiêu hao, điều kiện sản xuất cùng tiêu thụ của doanh nghiệp để tính
ra số lượng chiếm dụng cần thiết tối thiểu nên ta gọi là khoản vốn lưu động định mức Việc xác định chiếm dụng cần thiết, tối thiểu gọi là xác định mức vốn lưu động
Trang 20Hai khoản vốn còn lại trong quá trình lưu thông là những khoản vốn luôn biến động, luân chuyển không theo quy luật nhất định, khó xác định số cần thiết chiếm dùng và việc xác định cũng không cần thiết nên gọi các khoản vốn lưu dộng không phải định mức.
2.3.2.4 Nguồn hình thành vốn lưu động:
• Nguồn vốn chủ sở hữu:
Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, nguồn vốn chủ sở hữu thể hiện số vốn lưu động Ngân sách Nhà nước cấp, hoặc có nguồn gốc từ Ngân sách như: chênh lệch giá và các khoản phải nộp nhưng được Nhân sách để lại, trích từ quỹ đầu tư phát triển để
bổ sung nguồn vốn lưu động
Đối với hợp tác xã, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân: đó là một bộ phận vốn cổ phần về vốn lưu động do xã viên, cổ đông đóng góp; vốn do chủ doanh nghiệp bỏ ra; trích từ lợi nhuận để
bổ sung vốn lưu động
• Nguồn vốn liên doanh: để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp khác; các doanh nghiệp có thể góp vốn bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư hàng hoá
• Nguồn vốn huy động thông qua phát hành cổ phiếu: đối với loại hình công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu, để tăng thêm vốn sản xuất, công
ty có thể phát hành thêm cổ phiếu mới
• Nguồn vốn đi vay: đây là nguồn vốn quan trọng mà doanh nghiệp sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết trong doanh nghiệp; tuỳ diều kiện cụ thể của doanh nghiệp có thể vay vốn của Nhân hàng, các tổ chức tín dụng khác, vay vốn của các đơn vị, các cá nhân trong và ngoài nước
Việc phát hành trái phiếu là hình thức vay vốn cho phép các doanh nghiệp có thể thu hút rộng rãi số tiền nhàn rỗi trong các tầng lớp đân cư để
mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
2.4 Một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn:
2.4.1 Hiệu suất sử dụng tài sản cố định (TSCĐ)
Trang 21Công thức: Hiệu suất Doanh thu thuần
2.4.3 Tỷ suất lợi nhuận VCĐ
Công thức: Tỷ suất Lợi nhuận kinh doanh
Trang 222.4.6 Tỷ suất lợi nhuận VLĐ
Công thức: Lợi nhuận kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận VLĐ = x 100
Vốn lưu động bq trong kỳ
2.4.7 Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí
Tỷ suất lợi nhuận
2.4.8 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh (KD)
Công thức: Tỷ suất Lợi nhuận hoạt động KD
lợi nhuận =
trên vốn KD Vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh Qua chỉ tiêu này ta biết được một đồng vốn làm ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trên vốn kinh doanh
Trang 23CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP
SÀI GÒN CHI NHÁNH BA ĐÌNH
1 Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng
1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP Sài Gòn chi nhánh Ba Đình:
Tiền thân là Ngân hàng TMCP Quế Đô được thành lập năm 1992 theo Giấy phép hoạt động số 00018/NH-GP ngày 06/06/1992 của Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam và giấy phép thành lập số 308/GP-UB ngày 26/06/1992 của Ủy ban Nhân dân TP.HCM cấp, đến ngày 08/04/2003, chính thức đổi tên thành Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) Từ đó SCB phát triển thành nhiều chi nhánh lớn nhỏ trên khắp cả nước và dc: 39 Giang Văn Minh_Quận Ba Đình_Hà Nội là một trong những chi nhánh của nó
Đến nay, SCB là một trong những Ngân hàng TMCP hoạt động có hiệu quả trong hệ thống tài chính Việt Nam
Trang 24Với các chính sách linh hoạt và các sản phẩm dịch vụ toàn diện, đáp ứng được yêu cầu đa dạng của khách hàng là cơ sở vững chắc để SCB đạt được kết quả và hiệu quả kinh doanh ngày càng cao và luôn là người bạn đồng hành đáng tin cậy của các khách hàng, theo đúng phương châm “SCB luôn hướng đến sự hoàn thiện vì khách hàng”
1.2 Mô hình tổ chức của ngân hàng TMCP Sài Gòn chi nhánh Ba Đình:
Bộ máy tổ chức của chi nhánh được tổ chức theo sơ đồ sau :
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức chi nhánh Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công
thương
1.2.1 Phòng kế toán:
• Chức năng:
Phòng Kinh Doanh
Phòng Ngân Quỹ Phó Giám Đốc
Bộ phận thanh toán quốc tế
Bộ phận tín dụng Phòng Kế Toán
Giám Đốc
Trang 25 Phòng kế toán của chi nhánh NH Sài Gòn Công Thương cũng
là phòng giao dịch, cung cấp các dịch vụ của NH cho khách hàng, đồng thời kết hợp với phòng ngân quỹ để thu chi tiền mặt theo chứng từ hợp lý, hợp lệ
Phòng kế toán thực hiện hạch toán kế toán các nghiệp vụ huy động vốn, cho vay thu nợ thu lãi và các nghiệp vụ khác của chi nhánh NH Sài Gòn Công Thương theo quy định của NH Sài Gòn Công Thương thực hiện công tác thanh toán, xây dựng kế hoạch tài chính, quyểt toán thu chi theo kế hoạch tài chính, tổng hợp lưu giữ hồ sơ, hạch toán kinh tế, lập báo cáo thống kê…
• Nhiệm vụ:
Huy động tiết kiệm dân cư: không kỳ hạn, có kỳ hạn bằng VNĐ và ngoại tệ
Tiền gửi các nhân và doanh nghiệp
Chuyển tiền trong nứơc
Cho vay: giải ngân, thu gốc, thu lãi
Kế toán nguồn vuốn
Kế toán nghiệp vụ công cụ tài chính phái sinh
Kế toán thu chi nội bộ
Kế toán tổng hợp
• Quyền hạn:
Sử dụng hợp lý, hợp pháp cơ sở vật chất kỹ thuật để thực hiện nhiệm vụ
Yêu cầu phối hợp với các phòng ban khác cung cấp các tài liệu
có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ theo quy định
Có quyền tham gia vào việc tuyển dụng, đào tạo và bố trí sắp xếp các nhân viên
Trang 26 Kiến nghị đề xuất về quy trình nghiệp vụ giao dịch với khách hàng.
• Nhiệm vụ:
Nhận hồ sơ, kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ, chuyển đến Ban, Phòng liên quan để thực hiện theo chức năng
Phân tích doanh nghiệp, khách hàng vay theo quy trình nghiệp
vụ, đánh giá tài sản đảm bảo nợ vay, tổng hợp các ý kiến tham gia của các đơn vị chức năng có liên quan Sau đó, quyết định trong hạn mức được giao hoặc trình duyệt các khoản cho vay bảo lãnh, tài trợ thương mại
Thực hiện cho vay, thu nợ theo quy định
Xử lý, gia hạn nợ, đôn đốc khách hàng trả nợ đúng hạn, chuyển nợ quá hạn, thực hiện các biện pháp thu nợ
1.2.2.2 Bộ phận thanh toán quốc tế
Trang 27Trên cơ sở các hạn mức, khoản vay, bảo lãnh, L/C đã được phê duyệt, phòng thanh toán quốc tế thực hiện các tác nghiệp trong tài trợ thương mại, phục vụ các giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu cho khách hàng.
• Chức năng:
Thực hiện dịch vụ hỗ trợ thanh toán quốc tế cho các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu và các cá nhân có nhu cầu chi trả kiều hối theo đúng các quy định hiện hành của ngành Ngân hàng và của Nhà nước
• Nhiệm vụ:
Dịch vụ hàng nhập: thư tín dụng, DP/DA, chuyển tiền
Hàng xuất: L/C xuất, kiều hối, thẻ chuyển tiền nhanh
Làm đầu mối quản lý hoạt động thanh toán quốc tế cho các chi nhánh và phòng giao dịch khác
Kết hợp với các bộ phận nghiệp vụ của NH trong quá trình thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế và các nghiệp vụ ngân hàng khác
Thực hiện các nghiệp vụ thu chi tiền mặt, vận chuyển tiền trên đường
đi và quản lý an toàn kho quỹ Thực hiện các dịch vụ két sắt, nghiệp vụ nhận, cất giữ giấy tờ có giá bằng tiền và các tài sản quý của khách hàng, nhận kiểm đếm tiền cho các ngân hàng khác, thu đổi ngoại tệ cho khách hàng, chế độ báo cáo theo quy định
Trang 28Nhờ có bộ máy bố trí hợp lý, gọn nhẹ, đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ Đặc biệt là sự quản lý điều hành của ban lãnh đạo, Ngân hàng TMCP Sài gòn Công Thương- Chi nhánh Ba Đình đã đạt được những thành công đáng kể Đến nay ngân hàng đã và đang tạo được một thị phần đáng kể trên địa bàn, xây dựng mối quan hệ gắn bó với khách hàng, tạo cơ sở vững chắc cho ngân hàng phát huy sức mạnh tổng hợp, tạo niềm tin cho khách hàng.
1.3 Tình hình huy động vốn của chi nhánh:
Nhận thức sâu sắc vai trò vị trí của công tác huy động vốn phục vụ đầu tư phát triển ,vốn là khâu mở đường ,quyết định quy mô ,tầm cỡ hoạt động tín dụng của ngân hàng ,ban lãnh đạo chi nhánh đã tập trung chỉ đạo công tác huy động vốn Các biện pháp được thực hiện một cách có hiệu quả như :Giao chỉ tiêu kế hoạch huy động vốn từng quý ,năm đến từng đơn vị trực thuộc và đôn đốc thực hiện mở rộng mạng lưới huy động vốn dân cư hoàn thiện quy trình huy động vốn thực hiện đa dạng hoá các hình thức huy động vốn đổi mới phong cách giao dịch :Lịch sự ,tận tình với khách hàng linh hoạt trong điều kiện hành chính chính sách lãi suất ,phí dịch vụ ;chú trọng công tác tiếp thị quảng cáo ;chủ động tìm kiếm và thu hút khách hàng có tiềm năng tiền gửi lớn ;chú trọng huy động nguồn vốn trung và dài hạn từ các hình thức như :Huy động kỳ phiếu dài hạn ,huy động trái phiếu SCB Ba Đình tạo nguồn vốn thông qua hình thức bảo lãnh để nhập thiết bị trả chậm cho dự án đầu tư
Bảng 1: Tình hình huy động vốn của chi nhánh
(Đơn vị: nghìn đồng,ngoại tệ quy đổi )
Huy động vốn 2,587,786 3,611,584 2,856,485
I.TG khách hàng 2,503,502 3,526,264 2,767,235
TG ngắn hạn 1,531,924 2,198,278 1.589,439
Trang 29Sang đến năm 2007 nguồn vốn huy động tăng lên 39,5 % so với năm
2006 đạt 3,611,584 nghìn đồng trong đó nguồn vốn ngắn hạn tăng 43,4% đạt 2,198,278 nghìn đồng ,nguồn vốn trung dài hạn tăng 36,6% đạt 1,327,986 nghìn đồng nhưng nguồn vốn vay tổ chức khác lại có sự giảm xuống ,giảm 1,23% đạt 87,035 nghìn đồng Điều này có thể do nguồn vốn huy động trong năm của ngân hàng tăng mạnh cả về nguồn vốn ngắn hạn lẫn nguồn vốn trung dài hạn đã làm cho ngân hàng giảm tỷ lệ vay các tổ chức khác để giảm chi phí vốn do nguồn vốn vay các tổ chức khác thường có lãi suất cao hơn các nguồn vốn huy động
Năm 2008 tốc độ tăng trưởng nguồn vốn đạt 10.38% so với năm
2006, nhưng lại giảm 20.9% so với năm 2007 Có sự sụt giảm này là do sự khủng hoảng của kinh tế thế giới trong năm 2008
1.4 Hoạt động sử dụng vốn của chi nhánh:
Trang 30Chuyển sang kinh doanh đa năng tổng hợp, ban lãnh đạo chi nhánh đã tập trung chỉ đạo thực hiện tốt công tác tín dụng, tổ chức nghiên cứu và ban hành quy trình nghiệp vụ cho vay ngắn hạn, cho vay đầu tư phát triển, cho vay trung dài hạn gắn liền với công tác huy động vốn với
sử dụng vốn ,tăng cường mở rộng tín dụng để nâng cao hiệu quả kinh doanh, mở rộng, đa dạng hoá các hình thức tín dụng, tích cực đẩy mạnh cho vay khép kín đối với doanh nghiệp lớn ;thực hiện nhanh chóng đổi mới nhận thức, phong cách làm việc của cán bộ công nhân viên Ngoài ra chủ động tìm kiếm dự án ,khách hàng để cho vay : “thực hiện chế độ giao dịch một cửa” thực hiện tốt chính sách khách hàng ,mở rộng cho vay đối với nhiều đối tượng khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế không ngừng củng cố và giữ vững quan hệ tốt với khách hàng truyền thống, đồng thời thu hút thêm khách hàng mới Chỉ tính riêng trong năm 2008, chi nhánh đã tăng được 110 khách hàng tiền gửi mới và 199 khách hàng
có quan hệ tín dụng, trong đó có 104 khách hàng ngắn hạn đặc biệt có 5 khách hàng mới là Tổng công ty và có 25 khách hàng vay khép kín tại chi nhánh Trong những năm gần đây số lượng khách hàng liên tục tăng
Do đổi mới mạnh mẽ công tác chỉ đạo và thực hiện nghiệp vụ, nên mặc
dù trong điều kiện cạnh tranh gay gắt giữa gần 100 ngân hàng và các tổ chức tín dụng trên địa bàn thủ đô chi nhánh vẫn đảm bảo chất lượng công tác tín dụng Tuy nhiên do sự biến động theo chiều hướng xấu của nền kinh tế thế giới trong một vài năm trở lại đây nên việc sử dụng nguồn vốn của chi nhánh cũng ở một chừng mực nào đó
Bảng 2 : Tình hình sử dụng vốn của chi nhánh
Đơn vị : nghìn đồng
Tổng nguồn VĐT 2,587,786 3,611,584 2,856,485