BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
-🙞🙞🙞🙞🙞 -BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN: QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Đề tài: Phân tích bộ chỉ tiêu đánh giá chi tiêu công PEFA Liên hệ việc
áp dụng bộ chỉ tiêu này tại thành phố Đà Nẵng
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Hương Giang
Hà Nội – 2022
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN
cảm ơn, Phần 2.3
Làm đề cương, Phân côngcông việc, Chỉnh sửa bài, Làm Word, Phần 2.2
36 Trương Thị Bích Ngọc 19D270111 Thành viên Phần 2.1 và Phần 2.4
Trang 3MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHI TIÊU CÔNG PEFA 4
1.1 Đánh giá quản lý thu NSNN 4
1.1.1 Khái niệm đánh giá quản lý thu NSNN 4
1.1.2 Tiêu chí đánh giá quản lý thu NSNN 4
1.1.3 Kiểm toán thu NSNN 5
1.2 Đánh giá quản lý chi NSNN 6
1.2.1 Khái niệm đánh giá quản lý chi NSNN 6
1.2.2 Tiêu chí đánh giá quản lý chi NSNN 6
1.2.3 Phương pháp thu thập thông tin và đánh giá quản lý chi NSNN 7
1.2.4 Đánh giá quản lý chi NSNN theo kết quả 10
1.3 Khái quát về bộ chỉ tiêu đánh giá Chi tiêu công PEFA 11
1.3.1 Giới thiệu chung 11
1.3.2 Bộ chỉ tiêu đánh giá chi tiêu công PEFA 14
1.3.3 Phân tích một số chỉ tiêu của PEFA 17
PHẦN 2 PHÂN TÍCH BỘ CHỈ TIÊU PEFA ĐỂ ĐÁNH GIÁ CHI TIÊU CÔNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG (2016) 26
2.1 Giới thiệu thành phố Đà Nẵng và quá trình áp dụng PEFA tại Đà Nẵng 26
2.2 Báo cáo kết quả đánh giá của PEFA tại thành phố Đà Nẵng 27
2.3 Đánh giá việc áp dụng PEFA tại thành phố Đà Nẵng 30
2.3.1 Những thành tựu đạt được 30
2.3.2 Một số Hạn chế và nguyên nhân 32
2.4 Những khuyến nghị 34
KẾT LUẬN 36
LỜI CẢM ƠN 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 4PEFA thường đánh giá Chính phủ, chính quyền địa phương đạt được những cảithiện bền vững trong lĩnh vực quản lý tài chính công Chương trình PEFA được 7 đốitác phát triển quốc tế bao gồm Ủy ban châu Âu, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngânhàng Thế giới, chính phủ Pháp, Na Uy, Thụy Sỹ và Anh quốc khởi xướng vào năm
2001 và đến nay đã trở thành một chuẩn mực được quốc tế công nhận trong các hoạtđộng đánh giá phân tích về quản lý tài chính công Ở nước ta, TP.Đà Nẵng là thànhphố đầu tiên đủ chỉ tiêu để có thể áp dụng được PEFA
Từ quá trình nghiên cứu và thực tiễn xây dựng tại địa phương, với mong muốngóp phần giải quyết một số trong những nhiệm vụ đặt ra đó, nhóm 4 lựa chọn đề tài:
“Phân tích bộ chỉ tiêu đánh giá chi tiêu công PEFA và liên hệ việc áp dụng bộ chỉ tiêu này tại TP.Đà Nẵng” để giới thiệu những nội dung cơ bản về PEFA, kinh nghiệm
giải trình tài chính công tại TP Đà Nẵng và đề xuất khuyến nghị đối với đánh giá chitiêu công – giải trình tài chính cấp địa phương ở Việt Nam
Trang 5NỘI DUNG PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHI TIÊU CÔNG PEFA 1.1 Đánh giá quản lý thu NSNN
1.1.1 Khái niệm đánh giá quản lý thu NSNN
Đánh giá quản lý thu NSNN là quá trình thu thập, xử lý, phân tích thông tin vàđưa ra các kết luận về đối tượng đánh giá theo yêu cầu và mục tiêu trong quản lý thuNSNN
Đánh giá quản lý thu NSNN xem xét về mức độ đạt được các mục tiêu về kếtquả hoạt động quản lý thu từ lập dự toán, đến chấp hành, và quyết toán thu NSNN, baogồm mức độ đạt được của các mục tiêu thu, quy trình quản lý thu, mức độ tuân thủ cácchính sách thu của cơ quan thu và chi phí tuân thủ của đối tượng nộp
1.1.2 Tiêu chí đánh giá quản lý thu NSNN
Tiêu chí đánh giá quản lý thu ngân sách nhà nước được hiểu là những tiêu chuẩn
để nhận biết và phân loại kết quả quản lý thu Việc đặt ra các tiêu chí đánh giá kết quảquản lý thu ngân sách nhà nước là cần thiết để trả lời câu hỏi về “đánh giá cái gì” trongcác hoạt động đó Những tiêu chí đánh giá bao gồm: sự phù hợp; sự gắn kết; tính hiệuquả; tính hiệu lực
Sự phù hợp: Mức độ phù hợp của các mục tiêu quản lý thu ngân sách nhà nước
với các mục tiêu tổng thể có liên quan cũng như thực trạng kinh tế, xã hội của quốcgia Đánh giá sự phù hợp có thể xem xét cá mục tiêu quản lý thu ngân sách có phù hợpvới các mục tiêu quản lý ngân sách nhà nước, mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội nóichung, khả năng huy động nguồn thu cũng như khả năng và nhu cầu về lợi ích củangười nộp
Sự gắn kết: Đánh giá sự gắn kết giữa các mục tiêu quản lý thu NSNN và các
phương tiện sử dụng để thực hiện các mục tiêu đó
Trang 6Tính hiệu quả: Mức chi phí so với số thu NSNN, bao gồm các chi phí hành thu
và chi phí tuân thủ
Tính hiệu lực: Mức độ đạt được của kết quả thu NSNN so với mục tiêu đặt ra.
Đánh giá hiệu lực cho biết kết quả đạt được của các hoạt động có đúng với mục tiêuban đầu đã đặt ra hay không
Các tiêu chí đánh giá trên chỉ có thể đo lường với sự hỗ trợ của các công cụ mangtính kỹ thuật đó là các chỉ số và các phương pháp thu thập thông tin, phương phápđánh giá
1.1.3 Kiểm toán thu NSNN
Kiểm toán thu NSNN là một trong những công việc của kiểm toán nhà nước.Kiểm toán thu NSNN là hoạt động đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực củacác số liệu kế toán, báo cáo Quyết toán, việc chấp hành pháp luật và kết quả trong việcquản lý thu ngân sách của cơ quan Nhà nước, các đơn vị có nhiệm vụ thu NSNN theoquy định của pháp luật
Mục đích của kiểm toán thu NSNN
* Mục đích chung: Kiểm toán thu NSNN nhằm đánh giá tình hình chấp hành các quyđịnh của Nhà nước về thu nộp, kết quả việc lập, chấp hành và quyết toán thu NSNN
* Mục đích cụ thể: Mục đích kiểm toán thu ngân sách nhà nước gắn liền với các khâutrong quy trình quản lý thu ngân sách nhà nước, cụ thể:
Đánh giá tính hợp lý, tính tuân thủ của việc xây dựng dự toán, giao dự toánthu ngân sách nhà nước và tình hình thực hiện dự toán, bao gồm: trình tựxây dựng dự toán theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, phương pháplập dự toán, tình hình thực hiện dự toán Phân tích các nguyên nhân kháchquan và chủ quan ảnh hưởng đến thực hiện dự toán thu ngân sách nhà nước
Kiểm tra xác nhận tính chính xác, trung thực và hợp pháp của số liệu báocáo quyết toán thu ngân sách nhà nước; Đánh giá mức độ bao quát cácnguồn thu ngân sách nhà nước trong báo cáo quyết toán thu, việc phản ánhđầy đủ vâò quyết toán mọi nguồn thu; Cung cấp thông tin để Hội đồng nhân
Trang 7dân các cấp và Quốc hội phê chuẩn Báo cáo quyết toán thu ngân sách nhànước.
Kiểm toán việc tuân thủ các quy phạm pháp luật về thu ngân sách nhà nướcnhư Luật ngân sách nhà nước, các Luật thuế, Luật phí, lệ phí, Luật quản líThuế và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến quản lí, điềuhành thu ngân sách nhà nước, chỉ ra các thiếu sót, sai phạm nếu có, xác địnhtrách nhiệm của tập thể và cá nhân có liên quan để kiến nghị với cơ quan cóthẩm quyền nhà nước để xử lí kịp thời, nhằm đảm bảo thu đúng thu kịp thờitheo quy định pháp luật về thu ngân sách nhà nước
Kiểm toán hoạt động đánh giá tính kinh tế, tính hiệu quả, hiệu lực của hoạtđộng quản lí thuế
Thông qua các hoạt động kiểm toán, có thể đưa ra ý kiến tư vấn về công tácquản lý và điều hành thu ngân sách nhà nước, khuyến nghị về các bất cậpcủa chính sách thu ngân sách nhà nước với cơ quan Nhà nước có thẩmquyền
1.2 Đánh giá quản lý chi NSNN
1.2.1 Khái niệm đánh giá quản lý chi NSNN
Đánh giá quản lý chi NSNN là quá trình thu nhập, xử lý, phân tích thông tin vàđưa ra nhận xét nhận định, kết luận theo mục tiêu và yêu cầu quản lý chi NSNN đãđịnh
Đánh giá quản lý chi NSNN thực chất là xem xét và phân tích làm rõ các mụctiêu và yêu cầu quản lý chi NSNN được thực hiện như thế nào? Mục tiêu đánh giáquản lý chi NSNN nhằm cung cấp thông tin hỗ trợ việc ra các quyết định quản lý, tăngcường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình
1.2.2 Tiêu chí đánh giá quản lý chi NSNN
Đánh giá các hoạt động kinh tế - xã hội nói chung và quản lý chi ngân sách nhànước nói riêng cần thiết phải đo lường, phản ánh các đối tượng đánh giá được gọi làchỉ số Chỉ số có ý nghĩa chi phối toàn bộ quá trình hay tất cả các hoạt động đánh giá
Trang 8Đánh giá chỉ đạt được mục tiêu nếu có được các chỉ số tốt Một chỉ số tốt phải đảmbảo các tiêu chí: rõ ràng; phù hợp; kinh tế; thỏa đáng; đo lường được.
Rõ ràng: Thông tin chỉ số đo lường, phản ánh phải cụ thể, chính xác, dễ hiểu,
không mập mờ
Phù hợp: Thông tin chỉ số đo lường, phản ánh phải giải thích đáng, liên quan
trực tiếp và đối tượng và mục tiêu đánh giá
Kinh tế: Chỉ số có cho phí thu nhập, xử lý, phân tích thông tin thấp.
Thỏa đáng: Chỉ số có đủ cơ sở, căn cứ cho việc đánh giá.
Đo lường được: Chỉ số thuận tiện cho việc kiểm chứng, đo lường được theo
những mốc thời gian khác nhau
1.2.3 Phương pháp thu thập thông tin và đánh giá quản lý chi NSNN
Các phương pháp thu thập thông tin
Nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu tài liệu là phương pháp thu nhập thông tin từ các tài liệu sẵn có.Thu nhập thông tin theo phương pháp nghiên cứu tài liệu đòi hỏi phải xác định rõ cáctài liệu sẵn có lưu các thông tin phù hợp với mục tiêu và đối tượng đánh giá
Các tài liệu sẵn có phục vụ đánh giá quản lý chi NSNN như dự toán và quyếttoán chi ngân sách, báo cáo kiểm toán, các văn bản pháp luật về quản lý NSNN, cácbáo cáo đánh giá, các tào liệu thống kê… đã công bố
Thu thập thông tin theo phương pháp tài liệu có ưu điểm là tiết kiệm chi phí vàthời gian Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi các tài liệu lưu trữ thông tin phải cótính hệ thống, toàn diện và tin cậy
Phát phiếu điều tra hay bảng hỏi
Trang 9Phát phiếu điều tra hay bảng hỏi là phương pháp thu nhập thông tin phỏng vấnvới nhiều người theo phiếu điều tra hoặc bảng hỏi đã thiết kế sẵn các câu hỏi để thuthập thông tin phù hợp với mục tiêu và đối tượng đánh giá.
Các câu hỏi được thiết kế trong phiếu điều tra hay bảng hỏi có thể đã có sẵnphương án trả lời hoặc câu hỏi mở để đối tượng được phát phiếu có thể lựa chọn trả lờitheo các phương án trả lời đã có sẵn hoặc trình bày ngắn gọn ý kiến riêng của mìnhtheo câu hỏi mở
Phỏng vấn trực tiếp
Phỏng vấn trực tiếp là phương pháp thu nhập thông tin hỏi và trả lời trực tiếpgiữa người phỏng vấn và người được phỏng vấn để thu thập thông tin trực tiếp từ mộthoặc một nhóm người
So với phương pháp phát phiếu điều tra hay bảng hỏi thì phương pháp phỏngvấn trực tiếp đòi hỏi nhiều thời gian và chi phí cho việc thu thập thông tin Tuy vậy,phỏng vấn trực tiếp phù hợp với các câu hỏi không thể thiết kế sẵn các phương án trảlời và là các câu hỏi mở nên có thể thu thập những thông tin phong phú và hưu ích chođánh giá
Thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là phương pháp thu nhập thông tin qua tổ chức thảo luận mộtnhóm người được lựa chọn có chung những đặc điểm nhất định phù hợp với thông tincần thu nhập Thảo luận nhóm thường được sử dụng để thu thập thông tin đánh giá có
sự nhất quán của nhiều người về điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn, cơ hội,thách thức, nhu cầu
Nghiên cứu điển hình
Nghiên cứu điển hình có thể thực hiện kho trong một cuộc điều tra chung vềmột chương trình, chính sách hay dự án tổng thể cần có những nghiên cứu sâu hơn vềmột số đối tượng tham gia hoặc hưởng lợi từ các chương trình, dự án hoặc để đánh giátheo vấn đề và tình huống cụ thể Nghiên cứu điển hình có ưu điểm cung cấp thông tin
Trang 10một cách chi tiết, có chiều sâu về một vấn đề hoặc tình huống cụ thể thuộc đối tượngđánh giá Tuy nhiên, phương pháp này không phù hợp với việc thu thập thông tinmang tính đại diện cho đối tượng đánh giá.
Các phương pháp đánh giá quản lý chi NSNN
Phương pháp định lượng
Phương pháp đánh giá định lượng là phương pháp đánh giá sử dụng các phươngpháp phân tích định lượng để lượng hóa, đo lường, phản ánh và diễn giải các mối quan
hệ giữa các nhân tố thuộc đối tượng đánh giá hoặc liên quan đến đối tượng đánh giá
Trong đánh giá quản lý chi NSNN, các phương pháp phân tích định lượngthường được sử dụng để đo lường và phân tích mức độ biến thiên về quy mô, cơ cấuchi NSNN ở từng thời kỳ, đo lường và phân tích mối quan hệ tương quan giữa chi phí
và lợi ích, đo lường và phân tích hiệu quả…
Phương pháp đánh giá định lượng đưa ra các kết luận dựa trên bằng chứngkhách quan không phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của người phân tích Tuy nhiênphương pháp này đòi hỏi dữ liệu thông tin đầy đủ, có hệ thống và bảo đảm dộ tin cậy;các giả định về các yếu tố tác động đến các biến số phân tích để đánh giá phải có căn
Trong đánh giá quản lý chi NSNN, phương pháp phân tích định tính thườngđược sử dụng để đánh giá tính toàn diện, tính minh bạch, tính phù hợp, tính tuân thủ,tính kịp thời Khi cần phân tích, đánh giá về ưu nhược điểm, nguyên nhân theo chiều
Trang 11sâu từng vấn đề, từng trường hợp thì đây là phương pháp phù hợp Nhưng cũng cầnlưu ý rằng phương pháp định tính đưa ra nhận xét, đánh giá dựa trên quan điểm và ýkiến chủ quan của người phân tích, đánh giá
1.2.4 Đánh giá quản lý chi NSNN theo kết quả
Khái niệm: Quản lý chi NSNN theo kết quả là phương pháp quản lý tập trung vào
kết quả các khoản chi NSNN
Kết quả chi NSNN gồm:
Kết quả trực tiếp các khoản chi NSNN là các đầu ra
Kết quả phát triển là những thay đổi về KT – XH do tác động, ảnh hưởng của cácđầu ra hay hàng hóa, dịch vụ được tạo ra
Vì vậy, quản lý chi NSNN theo kết quả có nhiều cấp độ khác nhau
Đánh giá quản lý chi NSNN theo kết quả là đánh giá quản lý chi ngân sáchnhà nước theo khung logic kết quả phát triển và gắn với mục tiêu kết quả đã định củacác chính sách, kế hoạch, chương trình, dự án, nhiệm vụ hay hoạt động do các cấp,các ngành, các tổ chức, các cơ quan và các đơn vị thực hiện
Khung đánh giá quản lý chi NSNN theo kết quả
Logic dọc của khung đánh giá quản lý chi NSNN theo kết quả:
Cơ sở để xây dựng logic dọc của khung đánh giá quản lý chi NSNN theo kếtquả là khung logic kết quả phát triển, trong đó trọng tâm là đầu ra và kết quả pháttriển Logic dọc của khung đánh giá quản lý chi NSNN theo kết quả được xây dụngbắt đầu từ xác định mục tiêu kết quả phát triển đã định và kết nối Kết quả phát triển -Đầu ra - Hoạt động - Đầu vào với các chỉ số, chỉ tiêu tương ứng
Trang 12Sơ đồ: Logic dọc của khung đánh giá quản lý chi NSNN theo kết quả
Logic ngang của khung đánh giá quản lý chi NSNN theo kết quả:
Logic ngang của khung đánh giá chi NSNN theo kết quả được xây dựng bắt đầu
từ các chỉ số, chỉ tiêu cần đo lường, phản ánh và kết nối các Chỉ số, chỉ tiêu về Thôngtin cần thu thập, Phương pháp thu thập thông tin, Người thu thập, cung cấp thông tin
Sơ đồ: Logic ngang của khung đánh giá quản lý chi NSNN theo kết quả
Để đảm bảo tính khả thi, toàn diện và kịp thời trong thu thập thông tin theo từngchỉ số, chỉ tiêu đòi hỏi phải xác định cụ thể người chịu trách nhiệm thu thập, cung cấphoặc nguồn thông tin và tần suất, thời gian thu thập hoặc cung cấp thông tin Tần suất,thời gian thu thập hoặc cung cấp thông tin theo từng chỉ số, chỉ tiêu phải phù họp vớitừng đối tượng đánh giá và thời gian lập báo cáo đánh giá
1.3 Khái quát về bộ chỉ tiêu đánh giá Chi tiêu công PEFA
1.3.1 Giới thiệu chung
Đánh giá chi tiêu công và trách nhiệm giải trình tài chính PEFA trong tiếng
Anh gọi là: The Public Expenditure and Financial Accountability
Trang 13Đánh giá chi tiêu công và trách nhiệm giải trình tài chính (PEFA) là quá trìnhđánh giá dựa trên những bằng chứng về thông lệ quản lý tài chính ở khu vực công,thông tin thống kê về các khía cạnh khác nhau về thu và chi NSNN trong 2-3 năm gầnđây nhất.
Chương trình Đánh giá Chi tiêu công và Trách nhiệm giải trình tài chính (gọitắt là PEFA) được 7 đối tác phát triển quốc tế khởi xướng năm 2001, gồm: Ủy banchâu Âu, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Chính phủ Pháp, Na Uy, Thụy Sỹ
và Anh Quốc Kể từ năm 2001, PEFA đã trở thành một chuẩn mực được công nhậntrong các hoạt động đánh giá về quản lý tài chính công Chương trình PEFA đều có sứmệnh chung là nhằm cải thiện về quản lý tài chính công đối với quốc gia hay chínhquyền địa phương; Hỗ trợ các quốc gia/địa phương phát triển bền vững Đến ngày 31tháng 12 năm 2015 đã có trên 500 báo cáo đánh giá quản lý tài chính công đã đượchoàn thành cho 149 quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam (2013)
Một ban chỉ đạo gồm 7 đối tác quản lý chương trình họp 2 lần/năm và thành lậpBan thư ký triển khai các hoạt động nhằm xây dựng và duy trì khung đánh giá PEFA,đào tạo, theo dõi về đánh giá PEFA trên khắp thế giới Khung đánh giá PEFA được
Trang 14cập nhật bổ sung thường xuyên, bản khung đánh giá mới nhất đối với địa phương lànăm 2016.
Đặc điểm chung của PEFA là đánh giá hiệu quả hoạt động theo các nội dungchính về quản lý tài chính công như: Chiến lược tài khóa, độ tin cậy ngân sách, minhbạch, kiểm soát tài chính, thông tin quản lý, trách nhiệm giải trình, đánh giá về nănglực đảm bảo kỷ cương ngân sách, hiệu suất phân bổ nguồn nhân lực về hiệu suất cungcấp dịch vụ công…
Phương pháp luận PEFA được trình bày trong Khuôn khổ đánh giá hiệu quảquản lý tài chính công dựa trên điểm số định lượng cho 31 chỉ số và 94 nội dung đánh
giá hiệu quả được nhóm thành 7 trụ cột bao trùm toàn bộ các khía cạnh về hệ thống
quản lý tài chính công của một quốc gia/địa phương
PEFA căn bản là quá trình đánh giá dựa trên những bằng chứng về thông lệquản lý tài chính hiện tại ở khu vực công, có xét đến những thông tin thống kê về cáckhía cạnh khác nhau về thu và chi trong 2-3 năm gần đây nhất Mỗi chỉ số được chấmtheo thang điểm A, B, C và D
+ A: Điểm cao nhất đạt được khi đáp ứng chuẩn mực được quốc tế công nhận về hiệu quả hoạt động quản lý tài chính công tốt.
+ B: Mức hiệu quả đạt được khi đáp ứng chuẩn mực được quốc tế công nhận về hiệu quả hoạt động quản lý tài chính công tốt.
+ C: Mức hiệu quả hoạt động cơ bản theo thông lệ quốc tế công nhận về hiệu quả hoạt động quản lý tài chính công tốt.
+ D: Dưới mức hiệu quả hoạt động quản lý tài chính công tốt, hoặc không đủ thông tin cho điểm.
Cơ sở cho điểm là các yêu cầu tối thiểu được đề ra trong phương pháp luận.Hầu hết các chỉ số bao gồm từ hai nội dung đánh giá trở lên, được “cộng lại với nhau”,
sử dụng phương pháp chấm điểm cụ thể của PEFA là M1 hoặc M2 Tuy nhiên, PEFAkhông đánh giá về nguyên nhân dẫn đến hiệu quả hoạt động quản lý tài chính công tốt
Trang 15hoặc yếu kém, cũng như không đánh giá về các chính sách tài chính của chínhphủ/chính quyền địa phương.
1.3.2 Bộ chỉ tiêu đánh giá chi tiêu công PEFA
PEFA giúp kiểm tra bản chất của chiến lược và việc hoạch định chính sách,đồng thời phân tích các quyết định ngân sách được thực hiện như thế nào; kiểm chứnglại cách công cụ điều hành của chính phủ để đảm bảo rằng các nguồn lực thu được vàđược sử dụng như kế hoạch đã đề ra; đánh giá tính minh bạch và trách nhiệm trongviệc tiếp cận thông tin, báo cáo và kiểm toán, đối thoại về các chính sách và hành độngtrong việc quản lý tài chính công; xem xét các thể chế, luật, các quy định và các tiêuchuẩn được sử dụng bởi chính phủ trong quá trình quản lý tài chính công, đồng thờikiểm tra các kết quả thu được từ sự vận hành của hệ thống quản lý tài chính công trongmột vài lĩnh vực chính như sản lượng sản xuất, hiệu quả kiểm soát và tiến độ báo cáo
và kiểm toán
PEFA giúp đánh giá điểm mạnh và điểm yếu của hệ thống quản lý tài chínhcông của một quốc gia; giúp người sử dụng thấy được ý nghĩa của toàn bộ các kết quảhoàn thành cho những mục tiêu chính của kỷ luật tài chính, phân bổ nguồn lực và cungcấp dịch vụ hiệu quả Qua đó, các phân tích PEFA góp phần vào việc quyết định vềnhu cầu và thứ tự ưu tiên cho cải cách hệ thống tài chính công
Khung đánh giá PEFA là một bộ 31 chỉ số đánh giá dưới hình thức cho điểm,trong đó có 28 chỉ số liên quan đến hoạt động của hệ thống quản lý tài chính công và
03 chỉ số liên quan đến kết quả hoạt động tài trợ quốc tế; mỗi chỉ số có thể xem xétđánh giá, chấm điểm cho một hoặc nhiều tiêu chí khác nhau Khung đánh giá PEFAnhằm đưa ra bức tranh thực trạng hoạt động quản lý tài chính công về: (i) Độ tin cậycủa ngân sách; (ii) Tính toàn diện và minh bạch; (iii) Sự vận hành trong chu kỳ ngânsách (bao gồm các cơ chế lập ngân sách, khả năng kiểm soát và tiên liệu trong thựchiện ngân sách, kế toán, báo cáo và kiểm toán); và (iv) Hoạt động của các nhà tài trợ
(i)
Độ tin cậy của ngân sách: Bao gồm các chỉ số từ PI-1 đến PI-4, nhằm đánh
giá trực tiếp kết quả hoạt động ngân sách về: (1) tổng thực chi ngân sách sovới tổng dự toán ban đầu được phê duyệt; (2) Các nội dung thực chi ngân
Trang 16sách so với các nội dung trong dự toán ban đầu được phê duyệt; (3) thực thungân sách so với tổng dự toán ban đầu được phê duyệt; (4) số nợ chi vàkiểm soát tình trạng nợ chi
Mục tiêu của nhóm chỉ số này nhằm đánh giá mức độ tin cậy của ngân sáchthể hiện bằng sự chênh lệch giữa dự toán ban đầu và kết quả thực hiện.Thông lệ tốt yêu cầu thực tế thu chi phải sát với ngân sách gốc và nợ chiphải được ngăn ngừa
(ii)
Tính toàn diện và minh bạch: Bao gồm các chỉ số từ PI-5 đến PI-10, nhằm
xem xét các nội dung về (5) phân loại ngân sách, (6) tính toàn diện củathông tin trong tài liệu ngân sách, (7) các hoạt động tài chính của Chính phủkhông được báo cáo, (8) mối quan hệ tài chính giữa các cấp chính quyền, (9)việc giám sát rủi ro tài chính xuất phát từ các chủ thể khác hoạt động trongkhu vực công, và (10) việc tiếp cận các thông tin tài chính của công chúng Mục tiêu của nhóm chỉ số này là nhằm đánh giá mức độ toàn diện và minhbạch của ngân sách và các hoạt động tài chính công khác của Nhà nước.Thông lệ tốt yêu cầu phạm vi ngân sách càng toàn diện càng tốt, và thông tinphải được công khai đầy đủ cho cả cơ quan lập pháp cũng như công chúngnói chung, những rủi ro tài khóa phát sinh từ hoạt động của các cấp chínhquyền địa phương và doanh nghiệp nhà nước (DNNN) phải được giảmthiểu
(iii)
Chu trình ngân sách: Nhóm này có các chỉ số từ PI-11 đến PI-28, nhằm
xem xét các vấn đề của chu trình ngân sách, bao gồm lập ngân sách trên cơ
sở chính sách (PI-11 và PI12); khả năng tiên liệu và kiểm soát trong thựchiện ngân sách (PI-13 đến PI-21); kế toán, ghi sổ và báo cáo (PI-22 đến PI-25); kiểm tra và kiểm toán từ bên ngoài (PI-26 đến PI-28) Thông lệ tốt đòihỏi (11) một quy trình lập ngân sách có trình tự, bao gồm (12) kế hoạch tàikhóa trung hạn được lập và có hiệu lực; (13-15) một hệ thống thuế côngbằng, hiệu quả và minh bạch; (16) Kho bạc hoạt động hiệu quả và với khảnăng tiên liệu; (17) công tác quản lý nợ chính xác và cẩn trọng; (18) kiểm
Trang 17soát hiệu quả về lương; (19) các cơ chế minh bạch, cạnh tranh trong muasắm công; (20) kiểm soát có hiệu quả đối với các khoản chi ngoài lương;(21) các cơ chế hiệu quả về kiểm toán nội bộ; (22) công tác đối chiếu tàikhoản đầy đủ và kịp thời; (23) thông tin về nguồn lực phân bổ cho từngtrường học, cơ sở y tế địa phương, v.v được công khai; (24) báo cáo thựchiện ngân sách trong năm được lập chính xác và kịp thời; (25) báo cáo tàichính năm về các hoạt động của chính phủ được ban hành đầy đủ, chính xác
và kịp thời; (26) kiểm toán bên ngoài được thực hiện hiệu quả và nhanhchóng, bao gồm cả kiểm toán tài chính các báo cáo tài chính năm và mộtloạt các báo cáo về hiệu quả hoạt động/ hiệu quả chi tiêu trên các khía cạnhkhác nhau trong hoạt động của Chính phủ; (27) cơ quan lập pháp được giámsát toàn diện các đề xuất ngân sách của Chính phủ và (28) các báo cáo củakiểm toán bên ngoài
(iv)
Hoạt động của các nhà tài trợ: Nhóm này bao gồm các chỉ số từ D1 đến
D3, nhằm xem xét về (1) khả năng dự báo và tính minh bạch về mức hỗ trợngân sách của các tài trợ, (2) thông tin của các nhà tài trợ về các chươngtrình/ dự án sử dụng vốn vay của họ; và (3) mức độ các nhà tài trợ sử dụngcác quy định của Việt Nam về thủ tục giải ngân, quản lý dự án, Việc đưacác chỉ số này vào Báo cáo đánh giá PEFA phản ánh thực tiễn chung trênthế giới thực trạng thiếu tính tiên liệu của các nguồn viện trợ nhiều khikhông hỗ trợ cải thiện hệ thống quản lý tài chính công của nước sở tại, thậmchí còn làm cho phức tạp hơn Trong một môi trường lý tưởng, các nhà tàitrợ phải tuân thủ đúng lộ trình giải ngân hỗ trợ ngân sách hàng tháng theo kếhoạch, thông báo cho Chính phủ nước chủ nhà nhanh chóng về mọi khíacạnh trong thực hiện dự án, và dựa hoàn toàn vào nước chủ nhà về mua sắm,thanh toán, kế toán và kiểm toán
Trong quá trình đánh giá này, căn cứ trên những bằng chứng về hoạt động quản
lý tài chính công gần đây (liên quan đến số liệu thống kê về hoạt động hàng năm, sốliệu phải lấy trong ba năm từ 2008-2010), mỗi Chỉ số được cho điểm từ A đến D Có 2phương pháp cho điểm, M1 và M2
Trang 18- Phương pháp M1, được sử dụng để đánh giá các chỉ số có một tiêu chí và
các chỉ số có nhiều tiêu chí nhưng trong đó chất lượng hoạt động của mộttiêu chí có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các tiêu chí khác (tìm điểm yếunhất trong các tiêu chí có mối quan hệ biện chứng)
- Phương pháp M2 áp dụng cho các chỉ số có nhiều tiêu chí đánh giá, nhưng
việc tính điểm chung cho chỉ số dựa trên cơ sở điểm trung bình của các tiêuchí Quy tắc áp dụng Phương pháp M1 hay M2 cho từng tiêu chí được quyđịnh trong tài liệu các tiêu chí đánh giá PEFA được công bố bởi Ban Thư kýPEFA có trụ sở tại Ngân hàng Thế giới, Washington D.C
Mặc dù phạm vi bao quát của Báo cáo PEFA là tương đối toàn diện, songkhông phải là báo cáo đánh giá chi tiết các hoạt động tài chính công cụ thể Điều đó cónghĩa là, khi xem xét từng lĩnh vực hoạt động tài chính công cụ thể, bên cạnh Báo cáoPEFA, cần nghiên cứu thêm các báo cáo đánh giá chuyên sâu về lĩnh vực đó
Báo cáo đánh giá PEFA phản ánh khách quan thực trạng hoạt động của hệthống quản lý tài chính công trong những năm gần đây Nếu điểm số đánh giá phụthuộc vào số liệu hàng năm tại năm cụ thể, việc cho điểm không xét tới những cải cáchthực hiện sau đó, nhưng chưa đem lại tác động có thể lượng hóa trên số liệu thống kê.Tuy nhiên, trong phần diễn giải từng chỉ số, Báo cáo cũng cố gắng nêu ra đủ thông tin
về các biện pháp cải cách đã được triển khai và những thay đổi tiếp theo hiện đangđược chuẩn bị
1.3.3 Phân tích một số chỉ tiêu của PEFA
1.3.3.1 Đánh giá độ tin cậy của dự toán thu NSNN
* Độ tin cậy ngân sách: Ngân sách chính phủ là thực tế và được thực hiện như
dự định Điều này được đo lường bằng cách so sánh thu nhập và chi tiêu thực tế vớingân sách được phê duyệt ban đầu
Chỉ số PI-3 Thực thu
Trang 19Dự báo chính xác về thu trong nước là yếu tố quan trọng để xác định nguồn chitiêu chính phủ, phân bổ chi ngân sách nhà nước cho các dịch vụ công cung cấp chongười dân, cũng như số nợ vay
Mục đích của chỉ số PI-3 là đánh giá chất lượng dự báo thu ngân sách nhà nước
thông qua việc so sánh kết quả thực hiện theo báo cáo quyết toán với dự toán ban đầuđược phê duyệt Chênh lệch càng cao, điểm số càng thấp
- Nội dung đánh giá:
Thứ nhất, đánh giá tổng thực thu ngân sách cuối năm so với dự toán ngân sách
ban đầu được phê duyệt bằng cách đo lường chênh lệch giữa số thực hiện so với dựtoán
Thứ hai, đánh giá cơ cấu thực thu ngân sách cuối năm so với dự toán ngân sách
ban đầu được phê duyệt bằng cách đo lường chênh lệch về cơ cấu thu trong ba nămqua giữa số thực hiện so với dự toán Thực thu được cơ cấu theo số thu từ thuế, số thungoài thuế và viện trợ không hoàn lại Nội dung đánh giá này nhằm thể hiện độ chínhxác trong dự báo cơ cấu thu và khả năng hành thu của chính phủ cho mỗi nội dung thu
Điểm Yêu cầu tối thiểu về điểm số
3.1 Tổng thực thu
A Thực thu bằng từ 97% đến 106% dự toán thu tại ít nhất 2 trong 3 năm qua
B Thực thu bằng từ 94% đến 112% dự toán thu tại ít nhất 2 trong 3 năm qua
C Thực thu bằng từ 92% đến 116% dự toán thu tại ít nhất 2 trong 3 năm qua
D Kết quả thấp hơn so với yêu cầu để đạt điểm C
3.2 Cơ cấu thực thu
A Chênh lệch về cơ cấu thu vượt mức ± 5% tại 2 trong 3 năm qua
B Chênh lệch về cơ cấu thu vượt mức ± 10% tại 2 trong 3 năm qua
C Chênh lệch về cơ cấu thu vượt mức ±15% tại 2 trong 3 năm qua
D Kết quả thấp hơn so với yêu cầu để đạt điểm C
1.3.3.2 Đánh giá thực hiện dự toán thu ngân sách nhà nước