CHI TIÊU CÔNG - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CHO ĐẾN PHỨC TẠP NHẤT
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đã đạt được những kết quả nhấtđịnh trong quá trình chuyển đổi kép: từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung mang nặngtính hành chính chuyển hẳn sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từmột xã hội nông nghiệp lạc hậu chuyển sang một xã hội công nghiệp Sự phát triển đó đòihỏi Nhà nước cần phải đổi mới chính sách tài chính trong đó có chính sách quản lý chitiêu công để phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính của xã hội cá hiệu quả và hiệulực Chi tiêu công gắn liền với chức năng quản lý của nhà nước và có nhiều lĩnh vực kinh
tế, chính trị, xã hội Quản lý có hiệu quả chi tiêu công được đặt ra trong bối cảnh nguồnlực tài chính mỗi quốc gia có sự giới hạn nhất định nhưng phải làm như thế nào để thỏamãn tốt nhất những nhu cầu cần thiết để đạt được mục tiêu quản lý kinh tế, chính trị xãhội của đất nước Hơn nữa, trên tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, vấn đề quản lý chi tiêucông một cách hợp lý là yêu cầu cấp thiết đối với Việt nam
Trang 2Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1 Khái niệm Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước, hay Ngân sách chính phủ, là một thành phần trong hệ
thống tài chính Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đờisống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia Tuy sự ra đời của ngân sách Nhà nước đã khá lâu,song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiềuđịnh nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiêncứu Các nhà kinh tế Nga quan niệm: Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoảnthu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia Luật Ngân sách Nhànước đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sáchNhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước cóthẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện cácchức năng và nhiệm vụ của nhà nước Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trungương và ngân sách địa phương Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơquan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương Ngânsách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhândân và Ủy ban nhân dân
1.2 Bản chất cuả Ngân sách nhà nước Việt nam
Trang 3Ngân sách nhà nước là mối quan hệ kinh tế-xã hội giữa Nhà nước với các chủthể kinh tế khác trong nền kinh tế, thông qua việc tạo lập, phân phối và sử dụng quỹtiền tệ tập trung của nhà nước.
Từ khái niệm bản chất trên, ta có thể rút ra các đặc điểm sau:
Thứ nhất: Hoạt động thu-chi ngân sách Nhà nước và gắn liền với việc thựchiện các nhiệm vụ kinh tế-xã hội của Nhà nước
Thứ hai: Mọi hoạt động thu-chi của Ngân sách nhà nước đều phải dựa trên cơ
sở pháp luật của Nhà nước Ví dụ như: pháp lệnh, chế độ, quy định về huy động vàongân sách và chi tiêu Ngân sách nhà nước
Thứ ba: Quỹ Ngân sách nhà nước được hình thành thông qua quá trình phânphối lại dưới nhiều hình thức, trong đó thuế là hình thức chủ yếu và phổ biến nhất
Thứ tư: Đằng sau các hoạt động thu-chi Ngân sách nhà nước là các quan hệkinh tế mà trước hết là quan hệ lợi ích kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể kinh tế -
xã hội
1.3 Vai trò của Ngân sách nhà nước trong quá trình phát triển nền kinh tế
- xã hội của các quốc gia
1.3.1 Điều tiết trong kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế
Ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kíchthích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền
Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đivào quỹ đạo mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điềukiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững
Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho
cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ
sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanhnghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực,viễn thông, hàng không đến hoạt động kinh doanh của các Doanh nghiệp) Bên cạnh
đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nước là một trong những biện pháp
Trang 4căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranhkhông hoàn hảo Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sáchcũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảotính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn.Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngânsách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chếsản xuất kinh doanh.
1.3.2 Giải quyết các vấn đề xã hội
Trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnhđặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặthàng thiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm,chống mù chữ, hỗ trợ đồng bào bão lụt
1.3.3 Góp phần ổn định thị trường, chống lạm phát, bình ổn giá cả
thị trường hàng hoá
Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng, những mặt hàng mang tínhchất chiến lược Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế suất thuế xuất nhậpkhẩu, dự trữ quốc gia Thị trường vốn, sức lao động: thông qua phát hành trái phiếu vàchi tiêu của chính phủ Kiềm chế lạm phát: cùng với ngân hàng trung ương với chínhsách tiền tệ thích hợp Ngân sách nhà nước góp phần điều tiết thông qua chính sáchthuế và chi tiêu của chính phủ
1.4 Các hoạt động chính của Ngân sách nhà nước
1.4.1 Thu và chi Ngân sách nhà nước:
a Thu Ngân sách nhà nước
Đứng về phương diện pháp lý, thu Ngân sách nhà nước bao gồm những khoảntiền Nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Vềmặt bản chất, thu Ngân sách nhà nước là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhànước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để
Trang 5của mình Thu Ngân sách nhà nước chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy độngvào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượngnộp Theo Luật Ngân sách nhà nước hiện hành, nội dung các khoản thu Ngân sách nhànước bao gồm:
o Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định củapháp luật;
o Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước:
o Lợi tức từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế;
o Tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế;
o Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi)
o Thu từ hoạt động sự nghiệp;
o Thu hồi quỹ dự trữ Nhà nước;
o Tiền sử dụng đất; thu từ hoa lợi công sản và đất công ích;
o Các khoản huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tưxây dựng các công trình kết cấu hạ tầng cơ sở;
o Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong
và ngoài nước;
o Các khoản di sản Nhà nước được hưởng;
o Thu kết dư ngân sách năm trước;
o Tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước tại các đơn
vị hành chính, sự nghiệp;
o Các khoản tiền phạt, tịch thu;
o Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật;
o Các khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền, bằng hiện vật củaChính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài;
Trang 6o Các khoản vay trong nước, vay nước ngoài của Chính phủ để bùđắp bội chi và khoản huy động vốn đầu tư trong nước của tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương (gọi chung là tỉnh) quy định tại khoản 3 Điều 8 của LuậtNgân sách Nhà nước được đưa vào cân đối ngân sách.
Cần lưu ý là không tính vào thu Ngân sách nhà nước các khoản thu mang tínhchất hoàn trả như vay nợ và viện trợ có hoàn lại Vì thế, các văn bản hướng dẫn LuậtNgân sách nhà nước (Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ vàThông tư 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính) chỉ tính vào thu Ngânsách nhà nước các khoản viện trợ không hoàn lại; còn các khoản viện trợ có hoàn lạithực chất là các khoản vay ưu đãi không được tính vào thu Ngân sách nhà nước
Căn cứ vào tính chất sử dụng của các khoản thu, thu ngân sách nhà nước chia làm 2 loại : thu trong cân đối ngân sách và thu để bù đắp thâm hụt ngân sách.
* Thu trong cân đối ngân sách
- Thuế: đây là hình thức cổ truyền được sử dụng từ trước đến nay để tạo nguồnthu cho ngân sách nhà nước Tỉ lệ đóng góp của thuế vào ngân sách nhà nước luôn ởmức cao Chẳng hạn như các nước ASEAN có tỉ lệ thuế trong thu thường xuyên củangân sách rất cao Ở Việt Nam, nguồn thu ngân sách nhà nước chủ yếu là nguồn thu từthuế Mặt khác nếu so sánh tỉ lệ thuế động viên vào ngân sách Nhà nước từ GDP củaViệt Nam so với những nước thành viên ASEAN tỉ lệ này ở nước ta cũng cao nhất
- Phí và lệ phí : tuy chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng thu ngân sách nhà nước, song vẫnđược huy động và khai thác nguồn thu đưa vào ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng nhucầu chi tiêu ngày càng tăng của Nhà nước
- Thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước: khoản thu này phản ánh hoạt độngkinh tế đa dạng của Nhà nước Nhà nước có thể sử dụng các khoản thu này để xâydựng các công trình công cộng y tế, giáo dục, đường sá, nhà ở Tiền thu từ hoạt độngkinh tế của Nhà nước sẽ là phần đóng góp quan trọng trong giai đoạn trước mắt đểNhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình
Trang 7- Viện trợ không hoàn lại : bao gồm môt phần vốn ODA (chiếm khoản25%) và toàn bộ khoản viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ (NGO ) để phục vụ chođầu tư cộng cộng ; giáo dục, y tế, giao thông Trong tương lai, khoản viện trợ khônghoàn lại này có xu hướng giảm dần Do đó, Nhà nước cần tranh thủ tối đa nguồn vốnnày bằng việc cải tiến các khâu điều tra và quản lý để giải ngân nhanh hơn các chươngtrình ODA, và cần quan tâm nhiều hơn đến việc quản lý, sử dụng nguồn vốn này cóhiệu quả
Như vậy toàn bộ khoản thu trên sẽ là khoản ổn định và thường xuyên của ngânsách nhà nước Nhà nước sử dụng nguồn thu này để chi cho những hoạt động quản lýthường xuyên và chi trả nợ của Nhà nước Khoản chi này tuy không trực tiếp làm tăngthêm giá trị tổng sản phẩm, nhưng rất cần thiết cho sự phát triển xã hội Theo LuậtNgân Sách Nhà nước qui định là toàn bộ khoản thu trong cân đối này sẽ tài trợ cho cácloại chi nói trên, phần còn lại sẽ được dùng cho chi đầu tư phát triển kinh tế Đâychính là mức tiết kiệm của ngân sách nhà nước Nếu số thu này không đủ cho chithường xuyên thì cương quyết cắt giảm chi Do đó, có thể nói thông qua nguồn thunày, Nhà nước đã tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển tốt nhất
* Thu để bù đắp thâm hụt ngân sách
- Các khoản vay nợ của Chính phủ gồm có vay trong nước và vay ngoài nước.Theo Luật Ngân Sách của nước ta ban hành năm 1996, qui định là Nhà nước sẽ dùngkhoản tiết kiệm của ngân sách để chi cho đầu tư phát triển kinh tế, nếu không đủ Nhànước sẽ đi vay để bù đắp thâm hụt ngân sách, không sử dụng khoản vay nợ cho chithường xuyên Vay của Nhà nước bao gồm vay trong nước và vay nước ngoài.Vaytrong nước được thực hiện bởi việc phát hành công trái dưới các hình thức : tín phiếukho bạc, trái phiếu kho bạc, và trái phiếu công trình Vay nợ nước ngoài được thựchiện dưới các hình thức như: hiệp ước hay hiệp định vay mượn giữa hai Chính phủ.Hiệp định vay mượn giữa Chính phủ với các tổ chức tài chính tiền tệ thế giới hoặcphát hành trái phiếu ra nước ngoài Vay nợ nước ngoài có 2 loại: vay ưu đãi với lãisuất rất thấp, thời gian hoàn vốn khá dài; vay thương mại với lãi suất cao hơn, thời
Trang 8gian hoàn vốn cũng dài Đối với khoản vay trong nước, nếu Nhà nước vay quá nhiều
sẽ ảnh hưởng đến mức tiết kiệm và tích luỹ của các thành phần kinh tế khác trong nềnkinh tế quốc dân Do đó đầu tư của các thành phần này cũng có thể giảm Hơn nữa,nếu Chính phủ vay trong nước nhiều, lãi suất có xu hướng gia tăng, giá cả hàng hoátăng, lạm phát có nguy cơ xảy ra
- Phát hành tiền: trước năm 1992, để bù đắp thâm hụt ngân sách Nhà nước còn
sử dụng hình thức này Tuy nhiên, đối với tình trạng sản xuất yếu kém như nước tatrước đây việc chọn giải pháp này thường làm cho nền kinh tế không ổn định, do lạmphát có xu hướng gia tăng Vì thế đối với nước ta từ năm 1993 đến nay không pháthành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách Như vậy để đầu tư phát triển kinh tế, trongkhi nguồn thu ngân sách trong cân đối không đáp ứng đủ, Nhà nước sử dụng biện phápvay nợ hoặc phát hành tiền để bù đắp Trong điều kiện hiện nay việc phát hành tiền bịhạn chế nhiều Do đó, nếu nguồn vay được sử dụng có hiệu quả thì tổng sản phẩmquốc nội tăng đáng kể Tuy nhiên để có thể thực hiện tốt chức năng mở đường và tạođiều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng tham gia phát triển kinh tế Đồng thời
để có thể kiểm soát được các mặt hoạt động của nền kinh tế, Nhà nước cần khống chế
tỷ lệ vay nợ bù đắp thâm hụt ngân sách ở một mức nhất định nào đó, chẳng hạn mứckhống chế hiện nay là dưới 3,5% GDP
Toàn bộ khoản thu ngân sách nói trên đã tác động mạnh mẽ đến sự thay đổicủa tổng sản phẩm quốc nội hay sự tăng trưởng kinh tế một cách gián tiếp hoặc trựctiếp Tuy nhiên, việc huy động vốn vào ngân sách nhà nước chỉ nên huy động ở mứcvừa phải, hợp lý để Nhà nước vẫn thực hiện được chức năng quản lý kinh tế xã hội.Đồng thời còn thực hiện vai trò động viên các thành phần kinh tế khác cùng tham giaphát triển sản xuất, đưa đất nước phát triển một cách vững chắc nhất
b Chi Ngân sách nhà nước.
Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách nhànước theo những nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước
Trang 9Thực hiện chi ngân sách nhà nước chính là việc cung cấp các phương tiện tạichính cho các nhiệm vụ của nhà nước Song việc cung cấp này có những đặc thù riêng,
đó là:
Xét về mặt tính chất, phần lớn các khoản chi ngân sách nhà nước đều là cáckhoản cấp phát không hoàn trả trực tiếp và mang tính bao cấp Chính vì vậy các nhàquản lý tài chính cần có sự phân tích, tính toán trên nhiều khía cạnh trước khi đưa racác quyết định chi tiêu để tránh được những lãng phí không cần và nâng cao hiệu quảchi tiêu ngân sách nhà nước
Tuỳ theo yêu cầu của việc phân tích, đánh giá và quản lý ngân sách trong từngthời kỳ người ta có thể phân chia các khoản chi ngân sách theo nhiều tiêu thức khácnhau Theo chức năng nhiệm vụ của nhà nước, nội dung chi ngân sách nhà nước gồm:
• Chi kiến thiết kinh tế
• Chi văn hoá – xã hội
• Chi quản lý hành chính
• Chi an ninh - quốc phòng
• Các khoản chi khác
Theo tính chất kinh tế, chi ngân sách nhà nước được chia các nội dung sau đây:
Chi thường xuyên về:
o Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội,văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, sự nghiệp khoa học, công nghệ vàmôi trường và các sự nghiệp khác;
o Các hoạt động sự nghiệp kinh tế;
o Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội;
o Hoạt động của các cơ quan nhà nước;
o Hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam;
o Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn laođộng Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến
Trang 10binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân ViệtNam;
o Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
o Các chương trình quốc gia;
o Hỗ trợ quỹ Bảo hiểm xã hội theo quy định của Chính phủ;
o Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội;
o Tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp theoquy định của pháp luật;
o Trả lãi tiền do Nhà nước vay;
o Viện trợ cho các Chính phủ và tổ chức nước ngoài;
o Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
Chi đầu tư phát triển:
o Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xãhội không có khả năng thu hồi vốn;
o Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các Doanh nghiệp nhà nước; gópvốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết
có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật;
o Chi cho Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các Quỹ hỗ trợ pháttriển đối với các chương trình, Dự án phát triển kinh tế;
o Dự trữ nhà nước;
o Cho vay của Chính phủ để đầu tư phát triển
o Chi trả nợ gốc tiền do Nhà nước vay
o Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính
Ngoài ra, còn có thể phân loại chi ngân sách nhà nước theo các ngành kinh tế,theo tính chất của quá trình tái sản xuất xã hội
1.4.2 Tổ chức hệ thống Ngân sách nhà nước
Trang 11Hệ thống ngân sách nhà nước là tổng thể ngân sách của các cấp chính quyềnnhà nước Ở nước ta với mô hình nhà nước thống nhất nên hệ thống ngân sách được tổchức theo hai cấp: ngân sách trung ương và ngân sách của các cấp chính quyền địaphương, trong đó ngân sách địa phương bao gồm các cấp ngân sách: ngân sách thànhphố (hay tỉnh), ngân sách quận (huyện), ngân sách xã (phường)
Hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam được tổ chức và quản lý thống nhấttheo nguyên tắc tập trung và dân chủ, thể hiện những đặc điểm sau đây:
Tính thống nhất: đòi hỏi các khâu trong hệ thống ngân sách phải hợp thành một
thể thống nhất, biểu hiện các cấp ngân sách có cùng nguồn thu, cùng định mức chi tiêu
và cùng thực hiện một quá trình ngân sách
Tính tập trung: thể hiện ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các
nguồn thu lớn và các nhiệm vụ chi quan trọng Ngân sách cấp dưới chịu sự chi phốicủa ngân sách cấp trên và được trợ cấp từ ngân sách cấp trên nhằm đảm bảo cân đốicủa ngân sách cấp mình
Tính dân chủ: Dự toán và quyết toán ngân sách phải được tổng hợp từ ngân
sách cấp dưới, đồng thời mỗi cấp chính quyền có một ngân sách và được quyền chiphối ngân sách cấp mình
Đảm bảo tính phủ hợp giữa cấp Ngân sách với cấp chính quyền Nhà nước.Căn cứ vào Luật Ngân sách nhà nước quy định, Ngân sách nhà nước bao gồmngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương (ngân sách địaphương)
Ngân sách các cấp chính quyền địa phương gồm:
- Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ngân sáchcấp tỉnh);
- Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngânsách cấp huyện);
- Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã)
1.4.3 Thâm hụt ngân sách nhà nước
Trang 12Thâm hụt ngân sách nhà nước, hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước, làtình trạng khi tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu "khôngmang tính hoàn trả" của ngân sách nhà nước.
Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách người ta thường sử dụng chỉ tiêu tỉ lệthâm hụt so với GDP hoặc so với tổng số thu trong ngân sách nhà nước
Thâm hụt ngân sách nhà nước có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nềnkinh tế một nước tùy theo tỉ lệ thâm hụt và thời gian thâm hụt Nói chung nếu tìnhtrạng thâm hụt ngân sách nhà nước với tỷ lệ cao và trong thời gian dài sẽ gây ảnhhưởng tiêu cực
1.4.4 Năm ngân sách và chu trình quản lý ngân sách nhà nước
Năm ngân sách (hay còn gọi là năm tài chính, tài khoá), là giai đoạn mà trong
đó dự toán thu – chi tài chính của nhà nước đã được phê chuẩn có hiệu lực thi hành
Hiện nay ở tất cả các nước trên thế giới, thời gian cho một năm ngân sách bằngvới thời gian của một năm dương lịch (bằng với 12 tháng) Tuy nhiên, do điều kiệnkinh tế, chính trị, xã hội ở mỗi nước khác nhau nên thời điểm bắt đầu và kết thúc củamột năm ngân sách được tính từ ngày mùng 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng 12 nămdương lịch
Trong chu trình ngân sách, lập ngân sách là khâu khởi đầu, có ý nghĩa quyếtđịnh đến toàn bộ các khâu của chu trình quản lý ngân sách Lập ngân sách thực chất là
dự toán các khoản thu chi của ngân sách trong một năm ngân sách Việc dự toán thuchi đúng đắn, có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng đối với kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung và thực tiễn ngân sách nói riêng
Sau khi ngân sách được phê chuẩn và năm ngân sách bắt đầu, việc thực hiệnngân sách được triển khai Nội dung của quá trình này là tổ chức thu Ngân sách nhànước và bố trí cấp ngân sách nhà nước cho các nhu cầu đã được phê chuẩn Việc chấphành ngân sách nhà nước thuộc về tất cả các pháp nhân và thể nhân dưới sự điều hànhcủa chính phủ Trong đó, Bộ Tài chính có vai trò quan trọng
Trang 13Mục tiêu đặt ra trong việc tổ chức chấp hành dự toán thu là không ngừng bồidưỡng, tăng nguồn thu, tìm mọi biện pháp động viên mà Quốc hội đã phê chuẩn, đápứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đã hoạch định.
Đối với tổ chức chấp hành dự toán chi, mục tiêu đặt ra là đảm bảo đầy đủ và kịpthời nguồn kinh phí của ngân sách cho hoạt động của bộ máy nhà nước và thực hiệncác chương trình kinh tế - xã hội đã được hoạch định trong năm kế hoạch một cách tiếtkiệm và hiệu quả
Khâu cuối cùng trong chu trình trong chu trình quản lý ngân sách nhà nước làkhâu quyết toán ngân sách nhà nước Thông qua quyết toán ngân sách sẽ thấy được kếtquả toàn diện về hoạt động kinh tế - xã hội của Nhà nước, hoạt động Ngân sách nhànước với tư cách là công cụ vĩ mô của nhà nước trong thời gian qua, từ đó rút kinhnghiệm cần thiết trong điều hành ngân sách nhà nước Do đó, yêu cầu của quyết toánNgân sách nhà nước phải đảm bảo chính xác, tính trung thực và kịp thời
Khi phân cấp quản lý ngân sách cần phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
Phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế xã hội của Nhà nước;
Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồnlực cơ bản để bảo đảm thực hiện các mục tiêu trọng yếu trên phạm vi cả nước;
Phân định rõ nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp và ổn định tỷ
lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu, số bổ sung từ ngân sách cấp trên chongân sách cấp dưới từ 3 đến 5 năm Hàng năm, trong trường hợp có trượt giá,chỉ xem xét điều chỉnh tăng số bổ sung cho ngân sách cấp dưới theo một phầntrượt giá;
Kết thúc mỗi kỳ ổn định, căn cứ khả năng thu và yêu cầu chi,Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện việc điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%)phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp và mức bổ sung từ ngân sáchcấp trên cho ngân sách cấp dưới