HÀNG HÓA CÔNG - CÁCH PHÂN LOẠI - ĐẶC TRƯNG - AI NÊN CUNG CẤP HÀNG HÓA CÔNG VÀ VẤN ĐỀ NGOẠI TÁC
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
MÔN HỌC: TÀI CHÍNH CÔNG
GVHD: PGS TS NGUYỄN HOÀ NHÂN NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 4
1 TRẦN THÙY DUNG
2 TRẦN THỊ MINH THANH
3 NGUYỄN THỊ BẢO TRÂN
4 NGUYỄN LÊ ANH THƯƠNG
5 TRẦN THỊ TUYẾT VÂN
6 HỒ KIỀU THUÝ VY
Trang 2Ngoại tác có thể xảy ra trong nhiều tương tác hằng ngày với những mức độ và phạm
vi khác nhau Ngoại tác xảy ra ở mức độ nhỏ, như là bạn mở rađiô quá lớn, làm cho người bạn cùng phòng học không được Ngoại tác xảy ra ở mức độ lớn như là mưa axít hay trái đất nóng dần lên
1.2 Lý thuyết ngoại tác
Ngoại tác có thể xảy ra trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa hoặc tiêu dùng, có thể là tiêu cực hoặc tích cực
1.2.1 Ngoại tác sản xuất tiêu cực
Chúng ta xem xét một kịch bản sau: Một vài nơi ở Việt Nam có nhà máy thép được xây dựng gần dòng sông Những nhà máy này sản xuất ra thép, nhưng nó cũng tạo ra một chất “bùn quánh” - loại sản phẩm phụ không có ích gì đối với người chủ nhà máy thép
Để loại bỏ sản phẩm phụ không hữu ích này, người chủ nhà máy thép xây dựng đường ống dẫn chất bùn quánh đổ vào con sông Mức bùn quánh tạo ra theo tỷ lệ sản lượng thép sản xuất Mỗi đơn vị thép tăng thêm tạo ra thêm một đơn vị bùn quánh
Tuy nhiên, nhà máy thép không phải là đơn vị sản xuất duy nhất sử dụng dòng sông Xuôi theo hướng dòng sông chảy là vùng câu cá mà ở đó nhiều người làm nghề đánh cá
để sinh sống Bởi vì nhà máy thép đổ bùn quánh vào dòng sông, nên cá ít sống ở đây, và việc đánh bắt cá trở nên khó khăn và ít thuận lợi
Trang 3Kịch bản này là một ví dụ điển hình về vấn đề ngoại tác Nhà máy thép tạo ra một
ngoại tác sản xuất tiêu cực cho những người đánh bắt cá Sản xuất của nhà máy thép tạo
ra một tác động nghịch đảo đến tình trạng sinh sống của những người đánh bắt cá nhưng lại không bồi thường mức tổn thất cho những người đánh bắt cá
Hình 1.1 Ngoại tác sản xuất tiêu cực
Hình 1.1 trên đây minh họa thị trường thép được sản xuất bởi nhà máy này và so sánh lợi ích tư nhân và chi phí sản xuất với chi phí và lợi ích xã hội Lợi ích và chi phí tư nhân là lợi ích và chi phí mà các chủ thể trong thị trường thép phải gánh chịu trực tiếp (người mua và người bán) Lợi ích và chi phí xã hội là lợi ích và chi phí tư nhân cộng với lợi ích và chi phí đối với bất kỳ các chủ thể bên ngoài thị trường thép – những chủ thể chịu tác động bởi tiến trình sản xuất của nhà máy thép (người đánh cá)
Mỗi điểm trên đường cung phản ảnh chi phí biên của thị trường để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa – đó là chi phí biên tư nhân (PMC) của đơn vị hàng hóa thép Tuy nhiên, yếu tố quyết định kết quả phúc lợi của sản xuất là chi phí biên xã hội (SMC), bằng chi phí biên tư nhân đối với người sản xuất để sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa cộng cho bất
kỳ chi phí nào có liên quan đến sản xuất hàng hóa đó mà các chủ thể khác phải gánh chịu Nếu như không có thất bại thị trường thì PMC = SMC: chi phí xã hội của sản xuất thép bằng với chi phí của người sản xuất thép
Tuy nhiên cách tiếp cận này không đúng trong điều kiện có ngoại tác Khi có ngoại tác, thì SMC = PMC + MD, trong đó MD là mức tổn hại biên đối với các chủ thể bên
Trang 4ngoài thị trường thép (người đánh bắt cá) từ mỗi đơn vị sản xuất Giả sử mỗi đơn vị thép sản xuất tạo ra chất bùn quánh giết chết cá với giá là 100 đôla, trong hình 1.1, đường cong SMC chính là đường cong PMC, được di chuyển theo hướng đi lên bằng với chi phí tổn hại biên 100 đôla Ở tại đơn vị thép Q1 (điểm A), chi phí biên xã hội là chi phí biên tư nhân ở tại điểm đó (bằng với P1), cộng với 100 đôla (điểm B) Ứng với mỗi mức độ sản xuất, chi phí xã hội là cao hơn 100 đôla so với chi phí tư nhân, bởi vì cứ mỗi một đơn vị sản xuất thép tạo ra 100 đôla chi phí cho những người đánh cá nhưng không được bồi thường.
Mỗi một điểm trên đường cầu thị trường thép phản ảnh tổng cộng mức sẵn lòng của các cá nhân trong việc tiêu thụ thép hoặc là lợi ích biên tư nhân (PMB) của đơn vị thép Kết quả phúc lợi của tiêu dùng được xác định bằng lợi ích biên xã hội (SMB), đó là lợi ích biên tư nhân của người tiêu dùng cộng với chi phí liên quan đến tiêu dùng thép, nên SMB = PMB
Hình 1.1 cho thấy cân bằng cạnh tranh thị trường tư nhân là điểm A với mức sản lượng sản xuất Q1 và giá cả P1 Đây cũng là mức tiêu dùng tối đa hóa hiệu quả xã hội Thế nhưng trong điều kiện có ngoại tác, điều này lại không phù hợp Hiệu quả xã hội được xác định liên quan đến đường cong chi phí và lợi ích biên xã hội, chứ không phải là đường cong chi phí và lợi ích biên tư nhân Khi có ngoại tác tiêu cực, các đường cong xã hội (SMB và SMC) cắt nhau tại điểm C, với mức tiêu dùng là điểm Q2 Do người sản xuất thép không quan tâm đến sự kiện là cứ mỗi đơn vị thép sản xuất giết chết cá trong dòng sông, nên đường cung không phản ảnh đúng chi phí sản xuất Q1 ứng với điểm A mà đúng
ra là điểm B Kết quả là quá nhiều thép sản xuất (Q1>Q2), và cân bằng thị trường tư nhân không còn tối đa hóa hiệu quả xã hội
Nếu di chuyển ra xa số lượng tối đa hóa hiệu quả xã hội thì chúng ta tạo ra tổn thất
xã hội, bởi vì khi đó những đơn vị hàng hóa được sản xuất và tiêu dùng đều làm cho chi phí xã hội (SMC) vượt quá lợi ích biên xã hội (SMB) Trong ví dụ của chúng ta, tổn thất
xã hội được đo lường bằng diện tích tam giác ABC
Trang 51.2.2 Ngoại tác tiêu dùng tiêu cực
Ngoại tác không chỉ xảy ra ở khía cạnh sản xuất mà còn ở khía cạnh tiêu dùng Chúng ta cùng xem xét trường hợp hút thuốc lá Nếu trong một nhà hàng cho phép việc hút thuốc lá, khi đó việc hút thuốc lá của một người nào đó sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến
sự thưởng thức bữa ăn của những người khác trong nhà hàng, nhưng người đó lại không bồi thường cho những người kia để bù lại ảnh hưởng tiêu cực này Đây là một ví dụ về
ngoại tác tiêu dùng tiêu cực, nghĩa là sự tiêu dùng hàng hóa làm giảm đi tình trạng tiêu
dùng của người khác, sự tổn thất này không được bồi thường Khi có ngoại tác tiêu dùng tiêu cực, SMB – MD, trong đó MD là tổn thất biên mà người khác phải gánh chịu do tiêu dùng một đơn vị hàng hóa của bạn Giả sử hút một gói thuốc gây ra MD là 40 đôla
Hình 1.2: Ngoại tác tiêu dùng tiêu cực
Hình 1.2 cho thấy cung, cầu trong thị trường thuốc lá Cung và cầu phản ảnh PMC
và PMB Cân bằng thị trường là ở điểm A, trong đó cung (PMC) bằng với cầu (PMB) tương ứng mức tiêu dùng Q1 và giá cả P1 SMC bằng với PMC vì không có ngoại tác liên quan đến sản xuất thuốc lá Tuy nhiên khi có ngoại tác, SMB bây giờ nhỏ hơn PMB bằng
40 đôla/gói thuốc Đó là, ở những đơn vị sản xuất Q1 (điểm A), lợi ích biên xã hội bằng lợi ích biên tư nhân ở tại mức giá P1 trừ đi 40 đôla (điểm B) Đối với một bao thuốc lá, lợi ích xã hội thấp hơn 40 đôla so với lợi ích tư nhân, bởi vì cứ mỗi bao thuốc lá tiêu dùng gây ra 40 đôla chi phí cho người khác mà họ không được bồi thường
Trang 6Mức độ tiêu dùng tối đa hóa phúc lợi xã hội, Q2, được xác định bởi điểm C, ở đó SMB = SMC Sự tiêu dùng thuốc lá quá mức bằng Q1 – Q2: chi phí xã hội (điểm A trên đường cong SMC) vượt quá lợi ích xã hội (trên đường cong SMB) cho tất cả các đơn vị bao thuốc lá nằm ở giữa Q1 và Q2 Kết quả là, có sự tổn thất xã hội trong thị trường thuốc
lá bằng diên tích tam giác ACB
1.2.3 Ngoại tác tích cực
Không phải mọi ngoại tác đều xấu, cũng có một số ngoại tác tích cực liên quan đến một thị trường mà ở đó các chủ thể hưởng thụ lợi ích sản xuất lớn hơn nhiều so với người sản xuất, nhưng người sản xuất không được bồi thường
Ví dụ: Giả sử, các cảnh sát thích bánh ngọt khi làm nhiệm vụ Càng có nhiều bánh ngọt được sản xuất gần nhà của bạn thì càng nhiều cảnh sát ở chung quanh nhà bạn Điều này tạo ngoại tác tích cực làm cho những người hàng xóm của bạn được bảm đảo an ninh
Do đó, việc sản xuất bánh ngọt tạo ra ngoại tác sản xuất tích cực đối với bạn, cứ mỗi một bánh ngọt được sản xuất làm gia tăng cơ hội một người cảnh sát ở gần nhà bạn khi bạn cần anh ta
Hình 1.3: Ngoại tác sản xuất tích cực
Hình 1.3 mô tả thị trường bánh ngọt và ngoại tác sản xuất tích cực đối với sản xuất bánh ngọt: chi phí biên xã hội sản xuất bánh ngọt thực tế là thấp hơn chi phí biên tư nhân
Trang 7bởi vì sản xuất bánh ngọt có tác động tích cực đến sự an toàn cho những người hàng xóm Giả sự lợi ích biên đối với người hàng xóm cho mỗi đơn vị bánh ngọt được sản xuất (thông qua gia tăng sự hiện diện của cảnh sát và cải thiện tình hình an ninh), là một hằng
số EMB Kết quả là SMC thấp hơn PMC với một mức là EMB Vì thế, cân bằng tư nhân trong thị trường bánh ngọt ở điểm A, tương ứng với số lượng Q1 là cân bằng sản xuất dưới mức khả năng so với mức tối ưu xã hội ở điểm B và số lượng Q2 Điều này do bởi người chủ cửa hàng bán bánh ngọt không nhận thấy lợi ích tạo ra cho những người hàng xóm (vì ông ta không được bồi thường một khoản lợi ích nào từ những người hàng xóm)
Bên cạnh ngoại tác sản xuất tích cực cũng có ngoại tác tiêu dùng tích cực Hãy hình dung người hàng xóm của bạn đang nỗ lực cải thiện cảnh quang chung quanh nhà của ông ta Chi phí cải thiện cảnh quanh tốn kém khoảng 1000 đôla, nhưng đối với ông ta chỉ đáng giá (lợi ích) là 800 đôla Phòng ngủ của bạn đối diện với nhà của người hàng xóm và bạn muốn cảnh quan đẹp hơn để ngắm nhìn và thư giãn Đối với bạn, cảnh quan tốt hơn mang lại cho bạn một giá trị là 300 đôla Điều này nghĩa là, tổng cộng lợi ích biên của xã hội về việc cải thiện cảnh quang của người hàng xóm là 1100 đôla (800+300) Bởi
vì lợi ích biên xã hội (1100 đôla) lớn hơn chi phí biên xã hội (1000 đôla), nên đó là hiệu quả xã hội của việc cải thiện cảnh quang của người hàng xóm Thế nhưng, người hàng xóm của bạn có thể sẽ không cải thiện cảnh quang chung quanh nhà của ông ta, vì chi phí
tư nhân (1000 đôla) lớn hơn lợi ích tư nhân (800 đôla) Sự cải thiện cảnh quang có tác động tích cực đến điều kiện sống bạn, nhưng trái lại người hàng xóm không được bồi thường một khoảng chi phí nào từ bạn, kết quả dẫn đến một sự tiêu dùng hay thưởng thức cảnh quang dưới mức khả năng
1.3 Những giải pháp của khu vực tư về vấn đề ngoại tác
1.3.1 Mặc cả thương lượng và định lý Coase
1.3.1.1 Trường hợp người đánh cá sở hữu dòng sông và định lý Coase I
Một câu hỏi đặt ra là tại sao thị trường không bồi thường cho những đối tác/ chủ thể bị tác động bởi ngoại tác?
Trang 8Để xem xét thị trường thực hiện bồi thường những chủ thể bị tác động bởi ngoại tác như thế nào, chúng ta hãy xem xét hai trường hợp nếu người đánh cá sở hữu dòng sông Chắc chắn lúc này, họ sẽ bắt buộc nhà máy thép bồi thường và yêu cầu chấm dứt đổ chất bùn quánh vào dòng song vì ảnh hưởng đến cuộc sống của họ Họ có quyền làm điều đó, vì họ
là người sở hữu tài sản đối với dòng sông; quyền sở hữu trao cho họ khả năng kiểm soát dòng sông
Giả sử kịch bản của chúng xảy ra trong bối cảnh không có công nghệ kiểm soát ô nhiễm
để làm giảm bớt tổn thất của chất bùn quánh; cách duy nhất để giảm chất bùn quánh là giảm mức sản xuất Vì vậy, chấm dứt việc thải chất bùn quánh có nghĩa là đóng cửa nhà máy Trong trường hợp này nhà máy thép đưa ra đề nghị: họ sẽ trả cho những người đánh
cá 100 đôla cho mỗi đơn vị thép được sản xuất Đây là mức bồi thường thiệt hại cho những người đánh cá Với điều kiện, nhà máy thép kiếm được lợi nhuận từ phần vượt quá
100 đôla trên mỗi đơn vị thép sản xuất Như thế, đó là giải pháp tốt hơn so với việc nhà máy thép đóng cửa
Loại hình giải pháp này gọi là nội hóa ngoại tác Bởi vì, những người đánh cá bây giờ có quyền tài sản đối với dòng sông, họ đã dùng thị trường để giành được mức bồi thường từ nhà máy thép vì sự gây ô nhiễm dòng song Những người đánh cá ngầm ý đã tạo ra một thị trường ô nhiễm bằng việc định giá hành vi xấu của nhà máy thép Từ góc độ của nhà máy thép, sự tổn hại gây ra cho những người đánh cá trở thành một khoản phí đầu vào, bởi vì nó chi trả để được duy trì sản xuất
Trang 9Hình 1.4: Ngoại tác sản xuất tiêu cực và sự mặc cả
Điểm này được minh họa ở hình 1.4 Ban đầu, thị trường thép cân bằng ở điểm A, với số lượng Q1 vàgiá P1, ở đó PMB = PMC1 Mức sản xuất thép tối ưu của xã hội là ở điểm B, với sản lượng Q2 và giá cả P2, ở đó SMB = SMC = PMC1 + MD Do chi phí biên sản xuất mỗi đơn vị thép tăng 100 đôla (chi phí thanh toán cho những người đánh cá), nên đường cong chi phí biên tư nhân di chuyển theo hướng đi lên từ PMC1 đến PMC2, bằng với SMC Nghĩa là, chi phí xã hội biên bằng chi phí biên tư nhân cộng cho 100 đôla Bằng việc cộng thêm 100 đôla vào chi phí biên tư nhân, ta có PMC = SMC Như thế sẽ không
có sản xuất quá mức, bởi vì chi phí và lợi ích biên xã hội của mỗi đơn vị sản xuất là bằng nhau
Phần I của định lý Coase: Khi quyền tài sản được xác định rõ rang và sự mặc cả không tốn kém chi phí, thì sự thương lượng giữa bên đối tác tạo ra ngoại tác và đối tác bị ảnh hưởng bởi ngoại tác có thể dẫn đến số lượng thị trường tối ưu xã hội Định lý này cho rằng, ngoại tác không nhất thiết tạo ra thất bại thị trường, bởi vì sự thương lượng giữa các bên đối tác có thể hướng người sản xuất (hoặc người tiêu dùng) gây ra vi phạm nội hóa ngoại tác hoặc quan tâm đến những ảnh hưởng bên ngoài trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng của họ
Trang 10Định lý Coase đưa ra lý tưởng sự giới hạn vai trò rất đặc biệt của chính phủ trong quá trình giải quyết ngoại tác, đó là: tạo lập quyền sở hữu hợp lý Theo quan điểm của Coase, giới hạn cơ bản để thực hiện giải quyết vấn đề ngoại tác của khu vực tư là sự thiết lập quyền tài sản yếu kém Nếu như chính phủ có thể thiết lập và tăng cường quyền tài sản hợp lý thì khu vực tư sẽ giải quyết tốt vấn đề còn lại.
1.3.1.2 Trường hợp nhà máy thép sở hữu dòng sông và định lý Coase II
Định lý Coase có phần II rất quan trọng: Giải pháp hiệu quả để giải quyết vấn đề ngoại tác không tùy thuộc vào đối tác nào được phân định quyền sở hữu, miễn là có đối tác nào
đó được phân định quyền sở hữu Chúng ta có thể chứng minh phần II của định lý này bằng việc sử dụng ví dụ nhà máy thép Giả sử nhà máy thép, chứ không phải là người đánh cá, sở hữu dòng sông
Trong trường hợp này, những người đánh cá không có quyền để yêu cầu người sở hữu chi trả 100 đôla phí bồi thường cho mỗi đơn vị thép được sản xuất Tuy nhiên, những người đánh cá cũng quan tâm đến việc chi trả cho nhà máy thép để họ sản xuất ít thép hơn Nếu như những người đánh cá hứa thanh toán 100 đô cho mỗi đơn vị thép không được sản xuất, thì nhà máy thép sẽ coi 100 đôla là chi phí tăng thêm cho mỗi đơn vị thép được sản xuất Việc những người đánh cá từ chối thanh toán 100 đôla cho mỗi đơn vị thép không được sản xuất có ảnh hưởng đến quyết định sản xuất giống như là bị ép buộc phải thanh toán 100 đôla thêm cho mỗi đơn vị thép được sản xuất Nếu như nhà máy thép quyết định sản xuất thêm một đơn vị thép thì họ sẽ mất đi 100 đola tiền bồi thường từ những người đánh cá Một lần nữa, đường cong chi phí biên tư nhân bao gồm chi phí cơ hội, dịch chuyển đến đường cong chi phí biên xã hội Vì thế không có xảy ra sản xuất thép quá mức
Trong cả hai trường hợp đều dẫn đến kết quả như nhau về sản lượng và về mức độ ô nhiễm
1.3.1.3 Các giả thiết của định lý Coase
Trong phân tích trên ta có hai giả thiết quan trọng là
Trang 11- Chi phí để thương lượng đối với cả hai bên là thấp
- Chủ sở hữu của các nguồn lực có thể xác định nguồn gây thiệt hại cho tài sản của
họ và có thể ngăn chặn một cách hợp pháp
Dù vậy, các ngoại tác như ô nhiễm không khí có thể liên quan đến hàng triệu người Do
đó ta khó có thể tưởng tượng được việc tập hợp tất cả mọi người lại để thương lượng mặc
cả với chi phí thấp Hơn thế, ngay cả khi quyền sở hữu đối với không khí là có thể thiết lập được thì người chủ cũng không thể nào chỉ ra được ai trong số hàng vạn người gây ô nhiễm tiềm năng là phải chịu trách nhiệm cho phần không khí của họ hay tỷ lệ gây ô nhiễm thiệt hại nào mà mỗi người phải chịu
Định lý Coase chỉ thích hợp cho các trường hợp trong đó chỉ có một vài bên liên quan và các nguồn của ngoại tác được xác định đầy đủ Ngay cả khi đã có những điều kiện trên,
sự chỉ định quyền sở hữu cũng liên quan trên quan điểm phân phối thu nhập
1.3.1.4 Những hạn chế của giải pháp của định lý Coase
Như trên đã phân tích, định lý Coase thiết lập vai trò thích hợp của chính phủ trong nền kinh tế và nêu lên các giải pháp giải quyết vấn đề thất bại thị trường Tuy nhiên, thực
tế, định lý Coase không thể giải quyết nhiều loại hình ngoại tác, gây ra thất bại thị trường
Trang 12hóa mức tổn thất để được nhận nhiều tiền bồi thường hay không? Số tiền thanh toán được phân phố trong số những người đánh cá như thế nào ?
Vấn đề quy trách nhiệm
Quy trách nhiệm có phải là rào chắn để nội hóa ngoại tác hay không còn tùy thuộc vào bản chất của ngoại tác Nếu như loa stereo của tôi chơi quá lớn gây phiền phức đến việc học tập của bạn, thì việc quy trách nhiệm và tổn thất là rõ ràng Tuy nhiên,trong trường hợp khí hậu nóng dần lên toàn cầu, làm sao chúng ta có thể quy trách nhiệm một rõ ràng khi mà sự thải cacbon đến từ nhiều nguồn khác nhau? Làm sao chúng ta quy mức độ tổn thất rõ ràng khi mà một số cá nhân muốn khí hậy thế giới nóng lên, trong khi số còn lại thì không? Có lẽ giải pháp Coase thích hợp cho những ngoại tác được xác định địa điểm
rõ ràng và xảy ra ở phạm vi nhỏ so với ngoại tác lớn hơn và toàn cầu
• Vấn đề yêu sách của người sở hữu trong giải pháp của Coase
Giả sử cứ mỗi đơn vị bùn quánh thải ra từ nhà máy thép làm chết cá với giá trị là 1 đô
là và nếu có 100 người đánh cá thì tổng số thiệt hại là 100 đô la cho mỗi đơn vị thép được sản xuất
Giả sử tất cả những người đánh cá đều có quyền sở hữu tài sản đối với dòng sông và nhà máy thép không thể sản xuất trừ khi tất cả những người đánh cá đều đồng ý Giải pháp của định lý Coase là mỗi một người đánh cá ( trong số 100 người) đến nhận khoản tiền thanh toán 1 đô la cho mỗi đơn vị thép sản xuất và nhà máy thép liên tục sản xuất thép Cứ như vậy cho đến người đánh cá cuối cùng Thế nhưng, một tình huống mới xảy
ra là, người đánh cá cuối cùng nhận thấy rằng: nhà máy thép không thể sản xuất nếu như không có sự cho phép của ông ta bởi vì ông ta sở hữu một phần dòng sông Tại sao ông ta lại chấp nhận 1 đôla cho mỗi đơn vị thép sản xuất? Đã thanh toán hết 99 đôla để vượt qua hàng rào cản cuối cùng và tiến hành sản xuất Tại sao không yêu cầu 2 đô là và hơn nữa?
Ví dụ trên minh họa vấn đề yêu sách của người sở hữu trong giải pháp của Coase Quyền sở hữu dòng sông là thuộc của nhiều người: quyền sở hữu được chia sẽ thì trao cho mỗi người sở hữu quyền lực vượt trội so với tất cả những người còn lại Nếu như
Trang 13người đánh cá còn lại đều nhận thấy trước rằng đây là vấn đề cốt lõi trong giải pháp của Coase thì họ sẽ gắng để là người cuối cùng trong cuộc thương lượng Như vậy, kết quả sẽ làm cho cuộc thương lượng bị phá vỡ và không thể thực hiện giải pháp Coase.
• Vấn đề người thụ hưởng tự do không trả tiền
Để giải quyết vấn đề yêu sách của người sở hữu, đơn giản chúng ta có thể phân định quyền sở hữu cho một người thương lượng duy nhất, trong trường hợp này là nhà máy thép có được hay không? Điều này lại làm nảy sinh vấn đề rắc rối mới
Giả sử nhà máy thép có quyền sở hữu dòng sông và chấp nhận giảm sản xuất 1 đơn vị thép để nhận 100 đô la từ người đánh cá Khi đó, giải pháp Coase nghiêng về giải pháp là người đánh cá phải chi trả 100 đôla cho nhà máy thép để di chuyển đến mức sản xuất tối
ưu Giả sử mức giảm tối ưu của nhà sản xuất thép( chi phí xã hội biên bằng lợi ích xã hội biên) là 100 đơn vị.Như vậy,100 người đánh cá tổng cộng phải trả 10000 đô la để cho nhà máy thép cắt giảm 100 đơn vị
Giả sử bạn là người đánh cá cuối cùng để thanh toán tiền Nhà máy thép đã nhận được
99000 đô la để sẵn long giảm sản xuất 99 đơn vị thép sẽ mang lại lợi ích cho nhau cho tất
cả những người đánh cá, bởi tất cả họ cùng chia sẽ lợi ích của dòng sông Vì thế, kết quả
là nếu bạn không chi trả 100 đô la của bạn,bạn vẫn đánh bắt cá bình thường.Song, cần thấy rằng sự tổn thất sẽ được tránh khỏi hoàn toàn nếu như bạn bỏ ra 100 đôla để mua sự giảm đi đơn vị thép sản xuất cuối cùng và khi đó sự chia sẽ như nhau trong số 100 người đánh cá Thật là rất công bằng,nhưng động cơ già bạn lại không chi trả? Đây là ví dụ về người hưởng thụ tự do không trả tiền: khi một cá nhân đầu tư nhưng mang lại lợi ích chung, thì cá nhân sẽ đầu tư dưới mức tiềm năng Nhận thức được động cơ này, những người đồng nghiệp đánh cá của bạn cũng sẽ không chi trả 100 đôla của họ, và ngoại tác sẽ không được giải quyết
• Chi phí giao dịch và vấn đề thương lượng
Cuối cùng cách tiếp cận của Coase bỏ qua vấn đề cơ bàn: đó là rất khó để thương lượng khi có nhiều cá nhân ở một bên hoặc hai bên thương lượng Một trăm người đánh
Trang 14cá có đồng long với nhau hay không trong việc tính toán bao nhiêu số tiền phải trả hoặc đòi bồi thường đối với nhà máy thép? Vấn đề này càng khó khăn hơn khi ngoại tác xảy ra
ở mức độ lớn như là khí hậu nóng lên toàn cầu, trong đó có hàng tỷ lợi ích khác nhau ở cùng một bên thương và không biết làm thế nào để tổng hợp thành lợi ích chung
Hơn nữa, vấn đề này cũng quan trọng thậm chí đối với những ngoại tác có phạm vi nhỏ Về lý thuyết, người hàng xóm của tôi và tôi có thể thương lượng để giải quyết thỏa đáng vấn đề mà tôi chơi nhạc lớn làm ảnh hưởng đến việc học của ông ta Thực tế, liệu tôi
có thể khuyên họ chấp nhận tiếng nhạc lớn hoặc là tôi trả cho ông ta một khoản tiền? Tương tự, nếu người ngồi cạnh tôi trong nhà hàng hút thuốc, chẳng lẽ tôi phải trả 5 đôla
để ông ta thôi hút thuốc Nhìn chung, thế giới không thể hoạt động theo cách thức như các nhà kinh tế mong muốn
1.3.2 Giải quyết bằng liên kết
Một cách khác để đối phó với ngoại tác là “nội bộ hóa” nó bằng cách kết hợp lại các bên
có liên quan Giả sử ta chỉ có một người gây ô nhiễm và một người chịu ô nhiễm như trường hợp nhà máy thép và người đánh cá ở trên Nếu họ cùng kết hợp hoạt động của họ lại thì lợi nhuận từ doanh nghiệp liên kết của cả hai sẽ cao hơn tổng lợi nhuận của từng cá nhân khi họ không có sự kết hợp Thực vậy, nếu không hoạt động cùng với nhau được, họ đơn giảng là đang quẳng tiền xuống sông Khi đó thị trường có thể cung cấp động cơ để hai công ty hợp nhất lại – người đánh cá có thể mua nhà máy thép, nhà máy thép có thể mua lưới đánh cá của người đánh cá, hoặc có người khác mua cả hai Khi hai bên hợp nhất lại, ngoại tác được nội bộ hóa đi Ví dụ, nếu nhà máy thép mua lại thuyền đánh cá,
họ sẵn sảng sản xuất ít sản phẩm hơn trước bởi vì tại điểm hoạt động biên có thể làm tăng lợi nhuận từ thuyền đánh cá hơn là giảm lợi nhuận từ nhà máy Do vậy, ngoại tác có thể không tồn tại, và thị trường là hiệu quả
1.3.3 Giải quyết theo các quy ước xã hội
Không giống như các công ty, các cá nhân không thể hợp nhất lại để “nội bộ hóa” ngoại tác Dù vậy, các quy ước xã hội có thể được xem như là nỗ lực buộc mọi người phải quan tâm đến các ngoại tác do họ gây ra Học sinh trong trường được dạy xả rác là vô trách
Trang 15nhiệm và không “đẹp” Nếu việc dạy dỗ là hiệu quả, đứa trẻ hiểu rằng ngay cả khi nó phải chịu một ít chi phí để mang rác đến thùng rác, nó vẫn thực hiện hành động này bởi vì chi phí đó là bé hơn chi phí lên người khác khi có rác trên đường Chúng ta nghĩ đến một quy tắc vàng: hãy nghĩ đến người khác như là đến bản thân mình Một cách khác giải nghĩa quy tắc trên là: “trước khi bạn hành động, hãy nghĩ đến chi phí và lợi ích biên ngoại vi của hành động đó” Những quy tắc đạo đức làm cho con người thông cảm người khác và
do đó nội bộ hóa được các ngoại tác Do vậy, các quy tắc đạo đức điều chỉnh lại các khiếm khuyết của thị trường
1.4 Khu vực công giải quyêt vấn đề ngọai tác
Những người hoạch định chính sách công có thể thực hiện 3 loại giải pháp để giải quyết vấn đề liên quan đến ngoại tác tiêu cực
1.4.1 Đánh thuế để điều chỉnh
Chúng ta đã thấy rằng mục tiêu nội hóa ngoại tác của Coase có lẽ rất khó để đạt được trong thực tiễn của thị trường tư nhân Chính phủ có thể đạt được kết quả tương tự bằng việc đánh thuế vào nhà máy thép với giá trị MD cho mỗi đơn vị thép được sản xuất
Hình 1.5 minh chứng sự tác động của một chính sách thuế như vậy Thị trường thép ban đầu cân bằng ở điểm A, ở đó cung (= PMC1) bằng với cầu (= PMB = SMB) và
Q1 đơn vị thép được sản xuất ở mức giá P1 Xét ngoại tác với mức chi phí MD, thì sản xuất tối ưu xã hội tại thời điểm B,ở đó chi phí và lợi ích biên xã hội bằng nhau Giả sử chính phủ đánh thuế trên một đơn vị thép sản xuất với mức thuế là MD.Thuế này được xem như là một khoản chi phí đối với người sản xuất thép và như vậy sẽ làm dịch chuyển đường chi phí biên tư nhân lên bằng MD cho mỗi đơn vị thép được sản xuất Điều này tạo
ra đường cong PMC mới, đó là PMC2, bằng với đường cong SMC Kết quả là, thuế đã làm nội hóa ngoại tác một cách hiệu quả và dẫn đến kết quả tối ưu xã hội (điểm B, số lượng Q2) Thuế đơn vị mà chính phủ đánh trên mỗi đơn vị thép giống như là trường hợp những người đánh cá sở hữu dòng sông Mô hình này được gọi là thuế điều chỉnh A.C.Pigou là nhà kinh tế đầu tiên đưa ra giải pháp này để giải quyết vấn đề ngoại tác
Trang 16Hình 1.5: Đánh thuế Pigou để giải quyết vấn đề ngoại tác
1.4.2 Trợ cấp
Như đã đề cập trước đây, không phải tất cả ngoại tác đều là tiêu cực Trong nhiều trường hợp chẳng hạn như: cửa hàng bán bánh cam hoặc cảnh quang đẹp của người hàng xóm là những ngoại tác tích cực
Giải pháp của Coase đối với những trường hợp như là cửa hàng bán bánh cam là thu một khoản tiền của người hàng xóm để thanh toán cho cửa hàng bán bánh cam để sản xuất bánh cam hơn nữa (để thu hút nhiều cảnh sát hơn), nhưng điều này thì không khả thi Chính phủ có thể đạt được kết quả tương tự bằng chính sách trợ cấp cho chủ cửa hàng để giảm bớt chi phí, qua đó sản xuất nhiều bánh cam hơn Số tiền tài trợ cấp chính xác bằng với lợi ích của những người hàng xóm
Trang 17Hình 1.6: Trợ cấp Pigou để giải quyết ngoại tác
Sự tác động trợ cấp được minh chứng trong hình 1.6 Trong thị trường bánh cam, ban đầu điểm cân bằng ở vị trí A, ở đó PMC1 bằng với PMB, và Q1 bánh cam được sản xuất với mức giá P1 Xét ngoại tác tích cực với lợi ích MB, thì sản xuất tối ưu xã hội ở điểm B, ở
đó chi phí biên xã hội bằng với lợi ích biên xã hội Giả sử chính phủ trợ cấp trên đơn vị bánh cam được sản xuất là S=MB Mức trợ cấp này làm giảm đi chi phí biên sản xuất bánh cam, theo đó làm dịch chuyển đường cong chi phí biên tư nhân xuống bằng MB cho mỗi đơn vị được sản xuất Kết quả là tạo ra đường cong PMC mới, PMC2 bằng với đường cong SMC Trợ cấp đã khiến cho chủ cửa hàng nội hóa ngoại tác tích cực và thị trường di chuyển từ một tình trạng sản xuất dưới mức tiềm năng đến mức sản xuất tối ưu
1.4.3 Điều tiết lượng sản xuất
Đánh thuế, trợ cấp là các công cụ giải quyết vấn đề ngoại tác theo cơ chế giá Bên cạnh
đó, chính phủ có thể điều tiết lượng sản xuất để giải quyết ngoại tác Trở lại nhà máy thép trong hình 1.7 Chính phủ có thể yêu cầu nhà máy thép không được sản xuất nhiều hơn mức sản lượng Q2
Trang 18Hình 1.7: Quy định số lượng
Trong một thế giới lý tưởng, đánh thuế Pigou và điều tiết lượng sản xuất có tác động như nhau Thế nhưng trong thực tế, thuế chưa phải là phương tiện có hiệu quả để giải quyết vấn đề ngoại tác Còn điều tiết lượng sản xuất thường là sự lựa chọn truyền thống của nhiều quốc gia trên thế giới
PHẦN 2 HÀNG HÓA CÔNG 2.1 Khái niệm hàng hoá công
Trong nền kinh tế xã hội, các loại hàng hóa được sản xuất và cung cấp hằng ngày
có thể chia thành 2 loại: hàng hóa công và hàng hóa cá nhân Điểm phân biệt giữa hàng
hóa công so với hàng hóa tư nhân ở chỗ nó có thể cung cấp lợi ích cho nhiều người cùng một lúc, trong khi hàng hóa tư nhân chỉ có thể cung cấp lợi ích cho một người sử dụng duy nhất tại một thời điểm