TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TÊN ĐỀ TÀI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN THANH TRA NHÀ NƯỚC BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN Học phần PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA, KHIẾU NẠI, TỐ CÁO Hà Nội – 2021 LỜI CẢM ƠN[.]
Trang 1TÊN ĐỀ TÀI: TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN THANH TRA
NHÀ NƯỚC BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN Học phần: PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA, KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
Hà Nội – 2021
Trang 2vốn kiến thức bổ ích trong quá trình học tập.
Do trình độ, kinh nghiệm thực tiễn của bản thân em còn hạn chế nên trong quátrình nghiên cứu đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được ýkiến đóng góp của các thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 32 Bài tiểu luận này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã đượccông bố trước đó tại Việt Nam.
3 Các thông tin, dữ liệu, ví dụ và trích dân trong nghiên cứu là hoàn toàn chínhxác, trung thực, khách quan và có nguồn gốc rõ ràng
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này
Trang 42 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu 4
6 Kết cấu của tiểu luận 4
Chương I 5
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN THANH TRA NHÀ NƯỚC 5
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngành Thanh tra Việt Nam 5
1.2 Khái quát chung về cơ quan Thanh tra nhà nước 9
1.3 Tổ chức và hoạt động của cơ quan Thanh tra nhà nước 10
1.3.1 Thanh tra Chính phủ 11
1.3.2 Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ (sau đây gọi chung là Thanh tra bộ) 13
1.3.3 Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Thanh tra tỉnh) 15
1.3.4 Thanh tra sở 16
1.3.5 Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Thanh tra huyện) 18
Tiểu kết chương I 20
Chương II 21
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN THANH TRA NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 21
2.1 Kết quả đạt được 21
2.2 Hạn chế 23
Trang 5CỦA CƠ QUAN THANH TRA NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 27
3.1 Nguyên nhân của hạn chế 27
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra nhà nước ở nước ta hiện nay 27
Tiểu kết chương III 31
KẾT LUẬN 32
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thanh tra là hoạt động không thể thiếu trong hoạt động quản lí nhà nước, thanhtra là giai đoạn cuối của quá trình quản lý, có vai trò kiểm định, đánh giá sự hiệu quảcủa hoạt động quản lý nhà nước Bác quan điểm “Thanh tra là tai mắt của trên, là ngườibạn của dưới” Đây là quan điểm có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sâu sắc Chủ tịch Hồ ChíMinh đã chỉ rõ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của thanh tra trong hoạt động của nhànước và đời sống xã hội, Người ví thanh tra quan trọng như tai và mắt của con người,như một bộ phận cấu thành của cơ thể con người, là phương tiện cực kỳ trọng yếu giúpcho con người phát triển trí tuệ Điều đó có nghĩa là cũng giống như tai, mắt của cơ thểcon người Thanh tra được xem là một bộ phận cấu thành hữu cơ của cơ quan quản lýNhà nước, là phương tiện nhận thức của quá trình quản lý Nhà nước, giữa chúng không
có khoảng cách Bởi quản lý nhà nước, quản lý xã hội mà không có thanh tra, kiểm traxem như không có quản lý
Ngành Thanh tra luôn thể hiện được vị trí, vai trò quan trọng của mình Chính vìvậy, chỉ hơn 2 tháng kể từ ngày 02/9/1945 sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc BảnTuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, thì ngày23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban Thanh tra đặcbiệt, nhằm giải quyết những yêu cầu cấp thiết trước mắt đó là thường xuyên nghiên cứu
và giải quyết các đơn, thư khiếu nại và phản ánh của các tầng lớp nhân dân từ khắp cácđịa phương gửi lên Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh Và từ đó, Ban Thanh tra đặcbiệt đã trở thành tiền thân của ngành Thanh tra Việt Nam, ngày 23/11/1945 là cột mốcđánh dấu sự ra đời của ngành Thanh tra Việt Nam
Khác với các lĩnh vực công tác khác, công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tốcáo và đấu tranh chống tham nhũng lại thuộc trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, củatoàn bộ hệ thống chính trị Tuy nhiên, có thể thấy rằng, các tổ chức Thanh tra chính là
Trang 7người đóng vai trò quan trọng nhất trong công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo
và đấu tranh chống tham nhũng. Đặc biệt là cơ quan Thanh tra nhà nước
Pháp luật hiện hành đã khẳng định cơ quan thanh tra nhà nước thuộc hệ thốnghành pháp, có địa vị pháp lý độc lập, có phạm vi quản lý nhà nước ngành, lĩnh vựcriêng Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan thanh tra nhà nướcthực hiện và giúp thực hiện quản lý nhà nước về thanh tra, tiếp công dân, giải quyếtkhiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, tiếp công dân, giảiquyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật Cơquan thanh tra vừa chịu sự chỉ đạo, điều hành của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nướccùng cấp, vừa chịu sự chỉ đạo về công tác, hướng dẫn về tổ chức, nghiệp vụ cơ quanthanh tra cấp trên
Nhận thấy tầm quan trọng của tổ chức và hoạt động của cơ quan Thanh tra nhà
nước cùng với những lý do trên, em lựa chọn đề tài “Tổ chức và hoạt động của cơ quan
Thanh tra nhà nước” làm đề tài cho tiểu luận thi kết thúc học phần Pháp luật về thanh
tra, khiếu nại, tố cáo của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích tổ chức và hoạt động của cơ quan Thanh tra nhà nước vàmột số quy định pháp luật hiện hành Tiểu luận đi sâu vào phân tích, đánh giá thựctrạng tổ chức và hoạt động của cơ quan Thanh tra nhà nước đặc biệt những thuận lợi,khó khăn vướng mắc, những thành tựu hạn chế trong quá trình nghiên cứu Để từ đó đềxuất một số giải pháp và ý kiến góp phần nâng cao tổ chức và hoạt động của cơ quanThanh tra nhà nước ở nước ta hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, tiểu luận phải tập trung vào một số nhiệm vụ:
- Một là, tìm hiểu khái quát những quy định của pháp luật về tổ chức và hoạtđộng của cơ quan Thanh tra nhà nước;
Trang 8- Hai là, từ kết quả tìm hiểu khái quát được những quy định của pháp luật về tổchức và hoạt động của cơ quan Thanh tra nhà nước nhằm phân thích thực trạng và rút
ra những mặt tích cực và hạn chế của tổ chức và hoạt động của cơ quan Thanh tra nhànước;
- Ba là, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt độngcủa cơ quan Thanh tra nhà nước ở nước ta hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động của cơ quan Thanhtra nhà nước, qua đó nghiên cứu thực trạng nhằm rút ra được những mặt tích cực vàbên cạnh đó còn tồn tại một số tiêu cực, hạn chế
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Với khuôn khổ của tiểu luận sẽ tập trung nghiên cứu về một vấn đề thiết yếutrong thực tiễn, đề tài em nghiên cứu tập trung chủ yếu về những vấn đề cơ bản nhất vềnhững quy định của pháp luật hiện hành mà chủ yếu dựa trên Luật Thanh tra
số 56/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội và các văn bản quy phạmpháp luật hướng dẫn thi hành về tổ chức và hoạt động của cơ quan Thanh tra nhà nước.Việc áp dụng trên thực tế những quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của cơquan Thanh tra nhà nước trên nước ta trong giai đoạn hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập thông tin
Nhận thức rõ tầm quan trọng của các thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu đềtài, trong suốt quá trình thực hiện đề tài, em đã xác định rõ định hướng và mục tiêu cụthể để có thể có những thông tin có độ chính xác cao, những tài liệu phục vụ cho việcnghiên cứu đề tài đều có nguồn gốc rõ ràng
4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trang 9Phương pháp phân tích được vận dụng để tìm hiểu các vấn đề lí luận chung vềcông tác thi đua khen thưởng và thực trạng thực hiện công tác đó ở nước ta trongnhững năm qua Trên cơ sở phân tích và nghiên cứu này, đưa ra những nhận xét đánhgiá và đề xuất những giải pháp
4.3 Phương pháp thống kê
Được vận dụng trong việc liệt kê, tổng hợp các quy định của pháp luật có liênquan và các số liệu, báo cáo từ thực tiễn về tổ chức và hoạt động của cơ quan Thanh tranhà nước Từ đó đưa ra những đánh giá một cách khách quan, toàn diện các vấn đềthực tiễn và pháp lý;
5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu
- Về lý luận: tiểu luận đã hệ thống, phân tích, bổ sung những vấn đề có tính lýluận về công tác tổ chức và hoạt động của cơ quan Thanh tra nhà nước Thứ hai, đánhgiá, tổng kết được thực trạng của công tác tổ chức và hoạt động của cơ quan Thanh tranhà nước ở nước ta trong thởi gian vừa qua Thứ ba, đề xuất một số giải pháp mangtính thực tiễn nhằm nâng cao công tác tổ chức và hoạt động của cơ quan Thanh tra nhànước ở nước ta hiện nay
- Về thực tiễn: các luận cứ và giải pháp của đề tài có thể sử dụng được cho việchoàn thiện các chế định pháp luật có liên quan đến công tác tổ chức và hoạt động của
cơ quan Thanh tra nhà nước; ngoài ra tiểu luận là tài liệu tham khảo phục vụ chonghiên cứu, đào tạo về luật học
6 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận bao gồm
Trang 10Chương III Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tổ chức và hoạt động của cơ quan Thanh tra nhà nước ở nước ta hiện nay.
Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
CƠ QUAN THANH TRA NHÀ NƯỚC 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngành Thanh tra Việt Nam
1.1.1 Ban Thanh tra đặc biệt
Tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòangày 4 tháng 10 năm 1945, Chính phủ đã yêu cầu Bộ Nội vụ lập một Ủy ban Thanh trahành chính để đi điều tra công việc hành chính ở các địa phương, làm nhiệm vụ tiếpnhận và xử lý các thư từ, đơn kiện hoặc gặp gỡ trực tiếp bày tỏ nguyện vọng cần sớmchấm dứt các hiện tượng, việc làm sai trái của một số nhân viên trong bộ máy chínhquyền các cấp, nhất là ở các địa phương
Ngày 13 tháng 11 năm 1945, Hội đồng Chính phủ giao cho ông Phạm NgọcThạch dự thảo một đề án về tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra của Chính phủ,đồng thời quyết định thành lập ở mỗi bộ một Ban Thanh tra đặt dưới quyền viên Thanhtra hành chính do Bộ Nội vụ cử Một ngày sau, ngày 14 tháng 11, Hội đồng Chính phủ
đã họp và thông qua quyết định thành lập một Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ.Ngày 23 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64/SL thànhlập Ban Thanh tra đặc biệt Đây chính là tổ chức tiền thân của Thanh tra Chính phủ saunày và ngày 23 tháng 11 trở thành ngày truyền thống của ngành Thanh tra Việt Nam
Tiếp theo đó, ngày 31 tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số80/SL cử các ông Bùi Bằng Đoàn và Cù Huy Cận vào Ban Thanh tra đặc biệt Ông BùiBằng Đoàn được cử giữ chức Trưởng ban Thanh tra đặc biệt, trở thành vị Tổng thanhtra đầu tiên của Việt Nam
Bên cạnh Ban Thanh tra Đặc biệt, Đảng và Chính phủ thành lập các đặc ủy đoàn
và các đặc phái viên hoạt động có tính cách như thanh tra của Chính phủ Nhiệm vụ và
Trang 11phạm vi hoạt động của các đặc ủy đoàn và các đặc phái viên rất rộng lớn, bao gồm toàn
bộ công việc kháng chiến, kiến quốc của tất cả các cơ quan quân, dân, chính, đảng vàcác tổ chức quần chúng Các đặc ủy đoàn và các đặc phái viên có nhiệm vụ kiểm tra,chỉnh đốn công việc của ủy ban nhân dân và các cơ quan hành chính địa phương; giảiquyết với ủy ban nhân dân các vấn đề thường nhật; liên lạc giữa Chính phủ Trung ương
và các ủy ban nhân dân địa phương; thu nạp các đơn từ khiếu nại hoặc nguyện vọngcủa quần chúng nhân dân
1.1.2 Ban Thanh tra Chính phủ
Trong hoàn cảnh chiến tranh ngày càng ác liệt, giao thông, liên lạc giữa các khu,các tỉnh trở nên khó khăn Nhận thấy Ban Thanh tra Đặc biệt đã làm tròn vai trò lịch
sử, Chính phủ đã quyết định thành lập Ban Thanh tra mới để thống nhất hoạt độngthanh tra trong cả nước và tổ chức lại các ban thanh tra ở các bộ
Giữa tháng 12 năm 1949, Hội đồng Chính phủ ra quyết nghị giải thể Ban Thanhtra Đặc biệt và thành lập Ban Thanh tra Chính phủ Ngày 18 tháng 12 năm 1949, Chủtịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 138B/SL thành lập Ban Thanh tra Chính phủ, ông HồTùng Mậu được cử làm Tổng Thanh tra
Do điều kiện chiến tranh và đặc điểm lãnh đạo, nên mặc dù đã được thành lập
và có một văn phòng riêng, nhưng Ban Thanh tra Chính phủ vẫn gần như là một cơquan chung với Ban Kiểm tra Trung ương Đảng
1.1.3 Ban Thanh tra Trung ương của Chính phủ
Sau khi kiểm soát được miền Bắc, ngày 28 tháng 3 năm 1956, Chủ tịch Hồ ChíMinh ra Sắc lệnh số 261/SL thành lập Ban Thanh tra Trung ương của Chính phủ ÔngNguyễn Lương Bằng được cử làm Tổng Thanh tra, các ông Nguyễn Côn và Trần TửBình làm Phó Tổng Thanh tra
Ban Thanh tra Trung ương của Chính phủ có nhiệm vụ thanh tra công tác củacác bộ, các cơ quan hành chính và chuyên môn các cấp, các doanh nghiệp Nhà nước;
Trang 12thanh tra việc chống phá hoại, tham ô và lãng phí; tiếp nhận và xem xét đơn thư khiếunại, tố cáo của nhân dân, của cán bộ, nhân viên…
Tiếp đó, Ban Thanh tra ở các liên khu, khu, thành phố và tỉnh được thành lậptheo Nghị định số 1194/TTg ngày 26/12/1956 của Chính phủ
1.1.4 Ủy ban Thanh tra của Chính phủ
Ngày 27/6/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 18/SL công bố Luật Tổchức Hội đồng Chính phủ, trong đó có Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ thay cho BanThanh tra Trung ương của Chính phủ.
Ngày 29 tháng 9 năm 1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 136/CPquyết định thành lập Ủy ban Thanh tra của Chính phủ thay cho Ban Thanh tra Trungương của Chính phủ và quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của cơ quannày Ông Nguyễn Lương Bằng được cử giữ chức Tổng Thanh tra, ông Trần Mạnh Quỳlàm Phó Tổng Thanh tra và ông Nguyễn Cáo, Đặng Văn Quang giữ chức Ủy viênthanh tra
Sau 4 năm hoạt động, ngày 11 tháng 10 năm 1965, Ủy ban Thường vụ Quốc hộiphê chuẩn việc giải thể Ủy ban Thanh tra của Chính phủ, công tác thanh tra sẽ giao chothủ trưởng các cơ quan, các ngành, các cấp phụ trách để gắn liền công tác thanh tra vớiviệc chỉ đạo thực hiện chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước Do đó, trong 4 năm (1965-1968), hệthống Thanh tra Nhà nước từ Trung ương đến cấp khu, tỉnh, thành phố bị giải thể, chỉcòn các Ban Thanh tra của các Bộ, ngành hoạt động Các Ban Thanh tra ngành donhiều nguyên nhân đã không hoạt động đúng chức năng thanh tra mà chỉ dừng lại ởviệc xét khiếu tố, và trong công tác này cũng còn nhiều hạn chế
Ngày 15/1/1969, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 08/CP thành lập đoànthanh tra quản lý vật tư của Đảng và Nhà nước do đồng chí Đỗ Mười, Chủ nhiệm Uỷban Vật giá Nhà nước làm trưởng đoàn
Ngày 11 tháng 8 năm 1969 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số780/NQ-TVQH, tái thành lập Ủy ban Thanh tra của Chính phủ Ông Nguyễn Thanh
Trang 13Bình được cử giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban, ông Trần Mạnh Quỳ và Nguyễn Thừa Kếđược bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Chính phủ.
Ngày 31/8/1970, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 164/CP về việctăng cường công tác thanh tra và chấn chỉnh hệ thống cơ quan thanh tra của Nhà nước
Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, cơ cấu tổ chức ngành Thanh tra cũngthống nhất trên toàn quốc Ông Trần Nam Trung được bầu làm Chủ nhiệm đầu tiên của
Ủy ban Thanh tra của Chính phủ thống nhất
1.1.5 Ủy ban Thanh tra Nhà nước
Ngày 15 tháng 2 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị quyết số 26/HĐBT,trong đó còn đổi tên gọi chính thức của hệ thống thanh tra là Ủy ban Thanh tra Nhànước Ông Bùi Quang Tạo, Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra của Chính phủ, giữ chức vụChủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước
Ngày 20/2/1984, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 38-CT/TW về việctăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh tra
1.1.6 Thanh tra Nhà nước
Từ giữa năm 1989 đến đầu năm 1990, tình hình thế giới có biến động phức tạp
đã tác động mạnh kinh tế - xã hội của đất nước, tạo ra những khó khăn thách thức
không nhỏ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam
Ngày 1 tháng 4 năm 1990, Pháp lệnh Thanh tra được ban hành Ủy ban Thanhtra Nhà nước được chuyển đổi thành một cơ cấu ngành dọc với tên gọi Thanh tra Nhànước Ông Nguyễn Kỳ Cẩm, Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước, giữ chức vụTổng Thanh tra Nhà nước
1.1.7 Thanh tra Chính phủ
Ngày 25 tháng 4 năm 2005, Nghị định 55/2005/NĐ-CP ban hành, thay thế Nghịđịnh 46/2003/NĐ-CP ngày 9 tháng 5 năm 2003 Theo đó, ngành Thanh tra Nhà nướcđổi tên thành Thanh tra Chính phủ và chức vụ Tổng Thanh tra Nhà nước cũng được đổithành Tổng Thanh tra Chính phủ
Trang 14Tháng 11/2010, Quốc hội thông qua Luật Thanh tra (sửa đổi) Luật Thanh tra đãxác lập hành lang pháp lý cho hoạt động thanh tra, đã được triển khai, đi vào thực tiễn
và phát huy hiệu quả
Nhìn lại cả quá trình xây dựng và phát triển, ngành Thanh tra đã có nhữngchuyển biến quan trọng cả về tổ chức và hoạt động; đã xây dựng và từng bước hoànthiện thể chế về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng,chống tham nhũng; đã tạo điều kiện, tiền đề để công tác thanh tra chuyển dần theohướng chuyên nghiệp, chính quy, hiện đại Đi liền với xây dựng thể chế, công tác tổchức, cán bộ cũng được quan tâm đầu tư đúng mức, đã tạo những chuyển biến lớn về
số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ thanh tra toàn ngành Đã hình thành một hệ thốngthanh tra tương đối toàn diện, đồng bộ, chuyên sâu trên các lĩnh vực của quản lý Nhànước
1.2 Khái quát chung về cơ quan Thanh tra nhà nước
1.2.1 Khái niệm Thanh tra nhà nước
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Thanh tra 2010 thì: “Thanh tra nhà nước là hoạt độngxem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhànước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạncủa cơ quan, tổ chức, cá nhân Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính vàthanh tra chuyên ngành.”
1.2.2 Cơ quan thực hiện chức năng thanh tra
Theo Điều 4 Luật Thanh tra 2010, Cơ quan thực hiện chức năng thanh tra, cơquan thanh tra nhà nước bao gồm:
- Thanh tra Chính phủ;
- Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ (sau đây gọi chung là Thanh tra bộ);
- Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Thanhtra tỉnh);
- Thanh tra sở;
Trang 15- Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung làThanh tra huyện).
- Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành
1.3 Tổ chức và hoạt động của cơ quan Thanh tra nhà nước
Căn cứ Khoản 1 Điều 4 Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm
2010 của Quốc hội cơ quan thực hiện Thanh tra nhà nước bao gồm:
- Thanh tra Chính phủ;
- Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ (sau đây gọi chung là Thanh tra bộ);
- Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Thanhtra tỉnh);
vi quản lý nhà nước của ngành và cấp đó; nhiệm vụ, quyền hạn chung của các cơ quanthanh tra nhà nước là thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ kế hoạchnhà nước của các cơ quan, tổ chức và cá nhân thuộc phạm vi quản lý của cơ quan đó;xem xét, kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết hoặc giải quyết theo thẩm quyền cáckhiếu nại, tố cáo; chỉ đạo về tổ chức và hoạt động đối với cơ quan, tổ chức hữu quantrong phạm vi chức năng của mình; tuyên truyền, hướng dẫn việc thực hiện pháp luật
về thanh tra; kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền những vấn đề về quản lýnhà nước cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các quy định phù hợp với yêu cầu quản
lý nhà nước
Trang 16-Thanh tra Chính phủ có Tổng Thanh tra Chính phủ, các Phó Tổng Thanh traChính phủ và Thanh tra viên.
+ Tổng Thanh tra Chính phủ là thành viên Chính phủ, là người đứng đầu ngànhthanh tra Tổng Thanh tra Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội, Thủ tướngChính phủ về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống thamnhũng
+ Phó Tổng Thanh tra Chính phủ giúp Tổng Thanh tra Chính phủ thực hiệnnhiệm vụ theo sự phân công của Tổng Thanh tra Chính phủ
- Cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ do Chính phủ quy định
1.3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ
Trong hoạt động thanh tra, Thanh tra Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn đượcquy định tại Điều 15 Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2010 củaQuốc hội như sau:
- Trong quản lý nhà nước về thanh tra, Thanh tra Chính phủ có nhiệm vụ, quyềnhạn sau đây:
+ Xây dựng chiến lược, Định hướng chương trình, văn bản quy phạm pháp luật
về thanh tra trình cấp có thẩm quyền ban hành, phê duyệt hoặc ban hành theo thẩmquyền; hướng dẫn, tuyên truyền, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật thanh tra;
Trang 17+ Lập kế hoạch thanh tra của Thanh tra Chính phủ; hướng dẫn Thanh tra bộ,Thanh tra tỉnh xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra;
+ Chỉ đạo về công tác, hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra; bồi dưỡng nghiệp vụthanh tra đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh tra;
+ Chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ hướng dẫn về tổ chức bộ máy, biên chế thanhtra các cấp, các ngành, điều kiện, tiêu chuẩn bổ nhiệm Chánh Thanh tra, Phó ChánhThanh tra, Thanh tra viên các cấp, các ngành;
+ Yêu cầu bộ, cơ quan ngang bộ (sau đây gọi chung là bộ), Ủy ban nhân dân cấptỉnh báo cáo về công tác thanh tra; tổng hợp, báo cáo kết quả về công tác thanh tra;tổng kết kinh nghiệm về công tác thanh tra;
+ Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử
lý về thanh tra của Thủ tướng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ;
+ Thực hiện hợp tác quốc tế về công tác thanh tra
- Trong hoạt động thanh tra, Thanh tra Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn sau:+ Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; thanh tra đối với doanh nghiệpnhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập;
+ Thanh tra vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều bộ,
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
+ Thanh tra vụ việc khác do Thủ tướng Chính phủ giao;
+ Kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định xử lýsau thanh tra của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ (sau đây gọi chung là Bộtrưởng), Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi cần thiết
- Quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện nhiệm vụgiải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo
- Quản lý nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng; thực hiện nhiệm vụphòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng
Trang 181.3.2 Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ (sau đây gọi chung là Thanh tra bộ)
1.3.2.1 Cơ cấu tổ chức
Tổ chức của Thanh tra Bộ được quy định tại Điều 17 Luật Thanh tra số
56/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội như sau:
- Thanh tra bộ là cơ quan của bộ, giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về công tácthanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh trahành chính đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của bộ; tiến hànhthanh tra chuyên ngành đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý nhànước theo ngành, lĩnh vực của bộ; giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống thamnhũng theo quy định của pháp luật
- Thanh tra bộ có Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra và Thanh tra viên.+ Chánh Thanh tra bộ do Bộ trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khithống nhất với Tổng Thanh tra Chính phủ
+ Phó Chánh Thanh tra bộ giúp Chánh Thanh tra bộ thực hiện nhiệm vụ theo sựphân công của Chánh Thanh tra bộ
- Thanh tra bộ chịu sự chỉ đạo, điều hành của Bộ trưởng và chịu sự chỉ đạo vềcông tác, hướng dẫn về tổ chức, nghiệp vụ của Thanh tra Chính phủ
1.3.2.2 Chức năng, nhiệm vụ
Trong hoạt động thanh tra, Thanh tra bộ có nhiệm vụ, quyền hạn được quy địnhtại Điều 18 Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2010 của Quốc hộinhư sau:
- Trong quản lý nhà nước về thanh tra thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ,Thanh tra bộ có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Xây dựng kế hoạch thanh tra trình Bộ trưởng phê duyệt; tổ chức thực hiện kếhoạch thanh tra thuộc trách nhiệm của Thanh tra bộ; hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc,
Trang 19kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thanh tra thuộc trách nhiệm của cơ quan được giaothực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc bộ;
+ Hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành đối với cơ quan được giao thựchiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc bộ, Thanh tra sở; hướng dẫn, kiểm tra cơquan, đơn vị thuộc bộ thực hiện quy định của pháp luật về thanh tra;
+ Yêu cầu Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyênngành thuộc bộ báo cáo về công tác thanh tra; tổng hợp, báo cáo kết quả về công tácthanh tra thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ;
+ Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử
lý về thanh tra của Bộ trưởng, Thanh tra bộ
- Trong hoạt động thanh tra, Thanh tra bộ có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:+ Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của cơquan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của bộ; thanh tra đối với doanhnghiệp nhà nước do Bộ trưởng quyết định thành lập;
+ Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn –
kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm viquản lý nhà nước của ngành, lĩnh vực do bộ phụ trách;
+ Thanh tra vụ việc khác do Bộ trưởng giao;
+ Kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định xử lýsau thanh tra của Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyênngành thuộc bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với vụ việc thuộc ngành, lĩnhvực quản lý nhà nước của bộ khi cần thiết
- Giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; thựchiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo
- Giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng; thựchiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật về phòng, chốngtham nhũng