Luận văn : Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU:
1 Lý do chọn đề tài:
Năm 2008 chứng kiến cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới Các nước trên thếgiới đang cố gắng đưa đất nước mình thoát khỏi khủng hoảng và cùng với đó là sựphát triển đi lên của nền kinh tế thế giới Để khôi phục lại một nền kinh tế tăngtrưởng cần có các biện pháp và chính sách phù hợp ở từng quốc gia và đặc biệt làcác gói kích cầu của chính phủ các nước Khi đó NSNN với ý nghĩa là nội lực tàichính giúp Nhà nước trong việc quản lý và điều hành nền kinh tế sẽ là công cụ hữuhiệu để NN đưa ra các chính sách kích cầu hợp lý, kịp thời Một nước có nguồn lực
NS mạnh sẽ giúp chính phủ tốt hơn trong hoạt động thực hiện các chức năng nhiệm
vụ của mình Vì vậy NSNN là một nhân tố vô cùng quan trọng cần được quản lý tốtnhằm tạo động lực tiền đề cho sự phát triển kinh tế, ổn định xã hội và giữ vững anninh-quốc phòng
Nước ta đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa nhằmhướng tới một nền công nghiệp hiện đại Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng,công tác quản lý NS cũng có nhiều thay đổi phù hợp Việc phân cấp quản lý NSngày càng hoàn thiện nhằm tạo điều kiện cho các chính quyền địa phương chủ độnghơn trong việc thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ công tác của mình
NS Huyện có vai trò cung cấp phương tiện vật chất cho sự tồn tại và hoạtđộng của chính quyền huyện và cấp chính quyền cơ sở đồng thời là một công cụ đểchính quyền cấp Huyện thực hiện quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế xã hộitrên địa bàn Huyện Tuy nhiên do NS Huyện là một cấp NS trung gian ở giữa NScấp tỉnh và NS cấp xã nên đôi khi NS Huyện chưa thể hiện được vai trò của mìnhđối với kinh tế địa phương
Do vậy để chính quyền Huyện thực thi được hiệu quả những nhiệm vụ kinh
tế xã hội mà nhà nước giao cho thực hiện chiến lược phát triển kinh tế nhà nước,kinh tế địa phương trên các lĩnh vực đặc biệt là nông nghiệp nông thôn tại địa bànthì cần có một NS Huyện đủ mạnh và phù hợp là một đòi hỏi thiết thực, là một mục
Trang 2tiêu phấn đấu đối với cấp Huyện.Vì thế cần làm tốt công tác phân cấp quản lý NSHuyện một cách hiệu quả để NS Huyện thực sự là một cấp NS mạnh tạo điều kiệnchủ động cho chính quyền địa phương thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình.
Trong thời gian thực tập tại phòng Tài chính – kế hoạch Huyện Nam Đàn,Tỉnh Nghệ An, với những kiến thức đã được học ở nhà trường cùng với sự giúp đỡnhiệt tình của thầy giáo:TS.Phạm Ngọc Linh cùng với sự giúp đỡ của các cán bộphòng tài chính – kế hoạch đã hướng dẫn em tập trung tìm hiểu và phân tích tìnhhình phân cấp quản lý NS huyện trên địa bàn huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An với đề
tài: “Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An” 2.Mục tiêu nghiên cứu:
Khảo sát đánh giá phân cấp quản lý NS trên địa bàn Huyện Nam Đàn, TỉnhNghệ An Từ đó đề xuất các quan điểm, phương hướng và giải pháp tiếp tục hoànthiện phân cấp quản lý NS cho Huyện trong thời gian tới
- Về mặt lý luận: Trên cơ sở hệ thống các lý luận về NS như: NSNN và vai trò củaNSNN, Phân cấp NSNN của nước ta hiện nay để làm rõ vấn đề phân cấp quản lý
NS Huyện
- Về mặt thực tiễn: Đề ra các giải pháp nhằm tăng cường phân cấp quản lý NS choHuyện Nam Đàn trong nhiệm vụ quản lý NS Huyện cũng như nhiệm vụ phát triểnkinh tế xã hội
3.Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Huyện Nam Đàn ,Tỉnh Nghệ An
Về nội dung: phân cấp quản lý NS
Vê thời gian: Thu thập số liệu từ năm 2006-2008
4.Câu hỏi nghiên cứu:
Thế nào là phân cấp quản lý NS?
Thực trạng quản lý NS huyện Nam Đàn giai đoạn 2006-2008 như thế nào?
Giải pháp nào nhằm tăng cường phân cấp quản lý NS trên địa bàn huyện?
5.Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp thu thập số liệu, khảo sát , phân tích, so sánh
Trang 36 Bố cục chuyên đề:
Chuyên đề được chia thành 3 phần:
Phần I: Sự cần thiết tăng cường phân cấp quản lý NS cấp Huyện
Phần II: Thực trạng phân cấp quản lý NS Huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An
Phần III: Giải pháp tăng cường phân cấp quản lý NS Huyện
Qua việc nghiên cứu đề tài, em đã lĩnh hội được nhiều kiến thức mới về phân
cấp quản lý NS nói chung và NS Huyện nói riêng, cả về lý luận và thực tiễn Tuy
nhiên với một sinh viên sắp tốt nghiệp thì kinh nghiệm thực tế hạn chế, khả năngnhận thức lý luận và thực tiễn còn chưa sắc bén, thời gian hạn hẹp, cho nên đề tàikhông thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Vì vậy kính mong sự phê bình,
góp ý của thầy, các cán bộ quản lý NS và tất cả các bạn quan tâm đến đề tài để
chuyên đề thực tập của em được hoàn thiện và phong phú hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Sinh viên
Trần Đình Độ
Trang 4CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT CỦA TĂNG CƯỜNG PHÂN
CẤP QUẢN LÝ NS CẤP HUYỆN.
1.1 NSNN và phân cấp quản lý NSNN:
1.1.1.NSNN và vai trò của NSNN:
1.1.1.1 Khái niệm
Sự xuất hiện của nhà nước và sự tồn tại của nền kinh tế hàng hóa đã là tiền
đề cho sự ra đời của NSNN Cho đến nay, thuật ngữ “ ngân sách nhà nước”được sửdụng rộng rãi trong đời sống kinh tế xã hội ở mọi quốc gia Song, quan niệm vềNSNN lại chưa thống nhất Trên thực tế, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa vềNSNN không giống nhau tuỳ theo quan điểm của người định nghĩa thuộc cáctrường phái kinh tế khác nhau hoặc tuỳ theo mục đích nghiên cứu khác nhau
- Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển thì NSNN là mộtvăn kiện tài chính trong đó mô tả các khoản thu và chi của chính phủ được thiết lậphàng năm
- Còn theo các nhà kinh tế học hiện đại thì đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau
về NSNN.Ví dụ như:
+ Các nhà kinh tế Pháp đưa ra quan điểm: “NSNN là văn kiện được Nghịviện hoặc Hội đồng thảo luận và phê chuẩn mà trong đó, các nghiệp vụ tài chínhcủa một tổ chức công hoặc khu vực tư được dự kiến và cho phép”
+ Các nhà kinh tế Nga cho rằng “ NSNN là bảng liệt kê các khoản thu chibằng tiền trong một giai đoạn nhất định của NN”
+ Còn ở Trung Quốc xem xét: “NSNN là kế hoạch thu - chi tài chính hàngnăm của NN được xét duyệt theo trình tự pháp định”
Ngay ở Việt Nam trong các cuốn giáo trình của các tác giả cũng đưa ra địnhnghĩa NSNN khác nhau Cụ thể như sau:
- Giáo trình lý thuyết tài chính: “NSNN là phạm trù kinh tế và phạm trù lịch
sử NSNN được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính gắn liền vớiquá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của NN và các chủ thể trong xã hội,
Trang 5không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu”.
- Giáo trình quản lý tài chính công: NSNN là dự toán hàng năm về toàn bộcác nguồn tài chính được huy động cho NN và sử dụng các nguồn tài chính đónhằm đảm bảo thực hiện chức năng của NN do Hiến pháp quy định
- Giáo trình quản lý tài chính NN lại viết: NSNN là một phạm trù kinh tế lịch
sử gắn liền với sự ra đời của NN, gắn liền với kinh tế hàng hoá - tiền tệ Nói mộtcách khác, sự ra đời của NN, sự tồn tại của kinh tế hàng hoá tiền tệ như những điềukiện cần và đủ cho sự phát sinh tồn tại của kinh tế hàng hoá tiền tệ những điều kiệncần và đủ cho sự phát sinh tồn tại của NSNN Hai tiền đề nói trên xuất hiện rất sớmtrong lịch sử, nhưng thuật ngữ NSNN lại xuất hiện muộn hơn, vào buổi bình minhcủa phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Thuật ngữ này chỉ các khoản thu và cáckhoản chi của NN để thể chế hoá bằng pháp luật thực hiện quyền lập pháp vềNSNN ( quyết định về các khoản thu, các khoản chi, tổng số thu, tổng số chi ) cònquyền hành pháp giao cho chính phủ thực hiện
Có nhiều định nghĩa khác nhau về NSNN do cách tiếp cận và nhìn nhận vaitrò tác dụng của NSNN trên nhiều khía cạnh khác nhau Song trong bài chuyên đềnày chúng ta thống nhất sự dụng định nghĩa được đưa ra trong luật NSNN hiệnhành như sau:
Theo điều 1 luật NSNN: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chicủa nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thựchiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước
Như vậy có thể nói NSNN là một bảng dự toán bằng tiền các hoạt động thu
và chi của NN trong một thời gian nhất định ( thường là một năm) Trong đó có 2khoản mục thu chi được Quốc Hội phê chuẩn:
Quỹ NS được hình thành từ các khoản thu mà Quốc Hội quy định và tiếnhành giao cho các cơ quan chức năng làm nhiệm vụ thu tạo lập quỹ
Các khoản chi từ quỹ NS cũng được xem xét sao cho hợp lý để khuyến khíchphát triển kinh tế xã hội và đạt các mục tiêu quản lý của NN Chi NS gồmcác khoản chi cho các hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng
Trang 6Hoạt động của NSNN chính là việc tạo nguồn thu và sự dụng nguồn thu đócho các hoạt động chi từ quỹ tiền tệ quốc gia, làm cho nguồn tài chính vận độnggiữa một bên là chủ thể NN và một bên là các chủ thể kinh tế xã hội khác trong quátrình phân phối tổng sản phẩm quốc dân dưới hình thức giá trị Trong quá trình phânphối này làm xuất hiện các mối quan hệ tài chính đó là:
Quan hệ tài chính giữa NN và các chủ thể doanh nghiệp hoạt động sản xuấtkinh doanh
Quan hệ tài chính giữa NSNN và các đơn vị quản lý NN nằm trong lĩnh vực
sự nghiệp văn hóa xã hội hành chính và an ninh quốc phòng
Quan hệ kinh tế NSNN với cá hộ gia đình và dân cư
Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính
Như vậy chức năng của NSNN bao gồm các khía cạnh chủ yếu sau đây:NSNN là công cụ để thực hiện huy động và phân bổ nguồn lực tài chính trong xãhội, đằng sau hoạt động thu chi NS bằng tiền là sự thể hiện quá trình phân bổ cácyếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh
NSNN là bộ phận tài chính của NN nên nó có chức năng phân phối và chứcnăng giám đốc Trong nền kinh tế thị trường việc phân bổ nguồn lực được thực hiệnchủ yếu trên hai kênh: kênh của lực lượng thị trường và kênh của NN thông quahoạt động thu chi của tài chính NN nói chung và NSNN nói riêng từ đó nó còn cóchức năng điều chỉnh kinh tế xã hội thông qua các công cụ của nó
1.1.1.2 Vai trò của NSNN:
Vai trò tất yếu của NSNN ở mọi thời đại và trong mọi mô hình kinh tế làcông cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, là vai trò quan trọng của NS trong cơchế thị trường Vai trò này về mặt cụ thể có thể đề cập đến ở nhiều nội dung vànhững biểu hiện đa dạng khác nhau song trên góc độ tổng hợp có thể khái quát trênhai khía cạnh sau:
Vai trò của NSNN trong việc điều tiết quản lý nền kinh tế:
Thể hiện ở việc kích thích, tạo hành lang, môi trường và gây sức ép NN thựchiện chính sách thuế để vừa kích thích vừa gây sức ép Tạo điều kiện thuận lợi trên
Trang 7các mặt tài chính, để khuyến khích các thành phần kinh tế có doanh lợi trong đầu tưphát triển Đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, tạo môi trường thuận lợicho đầu tư khai thác tài nguyên, sức lao động, thị trường Đầu tư vào các ngànhkinh tế mũi nhọn các công trình trọng điểm, các cơ sở kinh tế then chốt để chuyểnđổi cơ cấu kinh tế, để có thêm những sản phẩm chủ lực tạo ra cơ sở vật chất kỹthuật làm chỗ dựa cho các ngành các thành phần kinh tế trong phát triển kinh tế.
Các khoản chi từ NSNN nhằm phân bổ có hiệu quả các nguồn lực vào cáclĩnh vực then chốt, các lĩnh vực mà khu vực tư nhân chưa có điều kiện hoặc khôngdám đầu tư
Ngoài ta NSNN còn được sự dụng để kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn địnhtiền tệ giá cả thị trường, góp phần ổn định và phát triển sản xuất, ổn định đời sốngnhân dân
Vai trò của NSNN trong việc ổn định xã hôi:
Việc NN phân phối tổng sản phẩm xã hội, trong ổn định và phát triển kinh tế,nâng cao đời sống nhân dân, tạo điều kiện cho ổn định chính trị thông qua NSNNbảo đảm các nhu cầu và điều kiện để không ngừng hoàn thiện bộ máy NN, phát huyvai trò của bộ máy NN trong việc quản lý mọi lĩnh vực của đất nước, bảo đảm anninh, quốc phòng, bảo vệ và phát triển những thành tựu đã đạt được trong sự nghiệpcách mạng
Các khoản chi từ NSNN nhằm tiến tới các mục đích xã hội to lớn: trợ cấpcho người nghèo, chi cho các chương trình xóa đói giảm nghèo, chi cho các mụctiêu quốc gia như kế hoạch hóa dân số,nước sạch nhằm tiến tới một xã hội vănminh và bình đẳng
1.1.2 Phân cấp NSNN:
1.1.2.1 sự cần thiết của phân cấp NSNN
Phân cấp quản lý NSNN là việc phân định nghĩa vụ, quyền hạn và tráchnhiệm của các cơ quan NN có thẩm quyền trong việc điều hành và quản lý NSNN.Chế độ pháp lý về phân cấp quản lý NSNN là tổng hợp các qui phạm pháp luật do
cơ quan NN có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
Trang 8trong quá trình phân định quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan NN có thẩmquyền trong lĩnh vực NSNN và các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thựchiện việc phân giao nguồn thu và chi của NS các cấp.
Quản lý NN về NS là một trong những nội dung quan trọng của công tácquản lý NN, đó là sự tác động, điều chỉnh của NN vào các quan hệ phát sinh trongviệc quản lý và sử dụng NSNN thông qua các công cụ pháp luật, chính sách nhằmquản lý và sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm nguồn lực tài chính quốc gia
Trong thời điểm hiện nay NN ta đã và đang tiến hành cải cách, đổi mới tổchức và hoạt động bộ máy NN, chúng ta đã thu được những thành tựu rất có ýnghĩa nhưng hiện tượng vi phạm pháp luật, nạn tham nhũng, sử dụng lãng phínguồn NSNN còn khá phổ biến, còn khá nhiều bất cập, tồn tại trong công tác Quản
lý và sử dụng NSNN, phân cấp quản lý NN về NS là một trong phương thức tốt đểkhắc phục những biểu hiện tiêu cực trên Bởi ngân phân cấp NSNN có tác dụng sau:
Phân cấp quản lý NSNN làm tăng quyền chủ động, linh hoạt, khắc phục sựthụ động, trông chờ và cơ chế xin cho trong hoạt động quản lý NN của cấpchính quyền, cơ quan NN cấp dưới đồng thời tạo điều kiện để các cơ quanquản lý NN ở trung ương tập trung vào thực hiện chức năng điều hành, chỉđạo, xây dựng và hoạch định các kế hoạch, chính sách, pháp luật chiến lượcquản lý vĩ mô nền kinh tế - xã hội đất nước
Phân cấp quản lý NSNN đảm bảo cho việc tương thích giữa thẩm quyền vàtrách nhiệm, giữa tổ chức bộ máy và việc cung cấp các nguồn lực và điềukiện hoạt động của các cơ quan quản lý NN, như vậy sẽ góp phần đảm bảohiệu lực, từng bước nâng cao hiệu quả công tác quản lý NN
Phân cấp quản lý NSNN sẽ giúp cho việc xác định một cách rõ ràng thẩmquyền và trách nhiệm giữa các cấp quản lý NN về NS, đảm bảo giải quyếtkịp thời các nhiệm vụ quản lý NN về NS
Phân cấp quản lý NSNN sẽ góp phần quan trọng tạo môi trường đầu tư sảnxuất - kinh doanh, dịch vụ phát triển nền kinh tế trong điểu kiện nước ta đã
Trang 9trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại Quốc tế WTO, đanghội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế Quốc tế
Phân cấp quản lý NSNN cũng tạo điều kiện tăng cường kiểm tra , thanh tracông tác quản lý NN về NS đối với hệ thống bộ máy quản lý NN các cấp,góp phần làm lành mạnh, minh bạch nền tài chính Quốc gia
Vì vậy phân cấp quản lý NSNN cũng là yêu cầu khách quan, tất yếu trong lộtrình xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại,từng bước hoàn thiện Nhànước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa Phân cấp quản lý NSNN cũng làphương pháp tốt để NN ta quản lý và sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm nguồn tàichính Quốc gia
1.1.2.2 Nguyên tắc phân cấp NSNN:
Phân cấp NSNN là một công việc cấp thiết nhằm tăng tính chủ động sáng tạocho các cấp địa phương trong công tác quản lý và phát triển kinh tế-xã hội Vì vậycần tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
Bảo đảm đúng quy định của Luật NSNN Việc phân cấp quản lý NSNN đãđược đưa vào Luật NSNN năm 1996 (sửa đổi năm 2002) Vì vậy để thựchiện phân cấp NSNN cho trung ương và địa phương, cũng như các cấp chínhquyền tại địa phương phải tuân thủ theo các quy định trong luật và các vănbản hướng dẫn thi hành của cấp trên
Phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của địaphương, đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư từng vùng và năng lực của đội ngũcán bộ, bảo đảm hiệu quả
Phân cấp tối đa các nguồn thu nhằm tăng quyền chủ động trong quá trìnhquản lý và điều hành NS phục vụ cho nhiệm vụ kinh tế - xã hội của các cấpchính quyền, nhất là cấp cơ sở, giảm dần sự phụ thuộc của NS cấp trên (sốtrợ cấp từ NS cấp trên) Kế thừa và phát huy những ưu điểm, khắc phụcnhững tồn tại của việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi, tỷ lệ % phân chiacác nguồn thu giữa các cấp NS trong thời gian qua
Trang 10 Phân cấp nhiệm vụ chi bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ pháttriển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội của cáccấp chính quyền.
Không phân chia các nguồn thu có quy mô nhỏ cho các cấp NS Với mỗikhoản thu được phân cấp theo tỷ lệ rõ ràng Nhưng tùy theo điều kiện hoàncảnh kinh tế xã hội địa phương để áp dụng tỷ lệ phân chia, tránh trường hợpphân nhỏ các nguồn thu mà nên khuyến khích giao các khoản thu 100% chocấp dưới
1.1.2.3 Nội dung phân cấp NSNN:
Với định chế tổ chức hệ thống NN gồm nhiều cấp chính quyền, trong đóNSNN được coi là phương tiện vật chất chủ yếu để mỗi cấp chính quyền thực hiệncác nhiệm vụ, chức năng theo Hiến định và theo Luật định - thì phân cấp quản lýNSNN là sự giải quyết các quan hệ về NS giữa chính phủ trung ương và chínhquyền địa phương qua các mặt chủ yếu sau:
Thẩm quyền NS nhà nước
Phân định quyền hạn, trách nhiệm của Chính phủ và chính quyền địa phươngtrong các vấn đề chủ yếu của NSNN bao gồm: quyết định dự toán NS; phân bổ dựtoán NS; phê chuẩn quyết toán NS; điều chỉnh dự toán NS; ban hành chế độ, tiêuchuẩn, định mức về NSNN
Phân định nội dung cụ thể về từng nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các NSNN Phân chia giữa NSTW và NSĐP về nguồn thu và nhiệm vụ chi NSNN Đó là
sự xác định NSTW được thu những khoản gì và phải chi những khoản gì; NS tỉnh,
NS huyện, NS xã được thu những khoản gì và phải chi những khoản gì
Quy định mối quan hệ giữa các cấp NSNN
Quy định các nguyên tắc về chuyển giao NS của cấp trên xuống cấp dưới vàngược lại Đây là một vấn đề cốt tử của quá trình phân cấp NSNN, vì thông qua sốlượng, quy mô và cơ cấu chuyển giao giữa các cấp, người ta có thể đánh giá mức độđộc lập và đi liền với nó là quyền tự chủ của NS mỗi cấp trong hệ thống NSNN
Trang 111.2.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân cấp quản lý NSNN:
Hình thức cấu trúc nhà nước
Hình thức cấu trúc NN chính là sự phân chia cấu tạo NN thành các đơn vịhành chính lãnh thổ qua đó xác lập những mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan NNvới nhau và giữa các cơ quan NN trung ương với cơ quan chính quyền địa phương
Bộ máy NN được phân chia thành từng cấp và được giao nhiệm vụ, quyền hạn cụthể trong quản lý kinh tế, xã hội với mỗi hình thức cấu trúc nhà NN khác nhau
Hiện nay trên thế giới có hai hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu đó là: Nhànước liên bang và Nhà nước đơn nhất ( phi liên bang )
Kiểu 1: Nhà nước liên bang ( Đức, Mỹ, Malaysia, Canada…)
Nhà nước liên bang là kiểu NN có từ hai hay nhiều thành viên hợp lại, cơquan quyền lực và cơ quan quản lý được tổ chức thành hai hệ thống Trong đó một
hệ thống chung cho toàn liên bang và một hệ thống riêng của từng thành viên Đốivới những nước có cấu trúc nhà nước liên bang thì hệ thống NSNN được tổ chứcthành 3 cấp như sau: NS liên bang, NS các bang và NS của các cấp địa phương trựcthuộc bang
Kiểu 2: Nhà nước đơn nhất: ( Pháp, Anh, Ý, Nhật…)
Hình thức cấu trúc NN đơn nhất là NN có chủ quyền chung, cơ quan quyềnlực và cơ quan quản lý được thống nhất từ trung ương đến địa phương, tập trungquyền lực cao ở cấp trung ương Ở các nước này thì hệ thống NSNN bao gồm 2 cấp
đó là: NSTW và NSĐP Trong đó mức độ và giới hạn, phần lớn tập trung ở NSTW
Như vậy có thể thấy đối với mỗi hình thức cấu trúc NN khác nhau thì cáchphân cấp về quản lý hành chính NN cũng khác nhau và kéo theo là khác nhau trongphân cấp quản lý NSNN
Nhiệm vụ cung cấp hàng hoá công cộng
Một chức năng quan trọng của NN là việc cung cấp hàng hóa công cộng Và
để việc cung cấp hàng hoá công cộng, dịch vụ công công có hiệu quả và đáp ứngđược nhu cầu của nhân dân thì cũng cần được giao cho các cấp chính quyền thựchiện Những hàng hoá, dịch vụ cần nguồn vốn lớn, phải có khả năng quản lý cao và
Trang 12mang tính chất quan trọng như: an ninh, quốc phòng… thường do chính quyền NNtrung ương đảm bảo, còn những hàng hoá mang tính phổ biến hơn thường giao chochính quyền địa phương thực hiện, đảm bảo tính hiệu quả và phù hợp theo tình hìnhmỗi địa phương Mặt khác việc phân cấp về cung ứng hàng hoá và dịch vụ côngcộng chính là tiền đề để phân định nhiệm vụ thu, và nhiệm vụ chi cho từng cấp, vàtừng địa phương do đó nó ảnh hưởng đến việc phân cấp quản lý NSNN
Đặc điểm tự nhiên và trình độ phát triển kinh tế xã hội của vùng lãnh thổ:Đặc điểm tự nhiên ảnh hưởng rất nhiều đến việc phân cấp quản lý hành chính
NN Ví dụ như vùng hải đảo, vùng biên giới và vùng đồng bằng vùng đồi núi thìcách quản lý hành chính cũng khác nhau sao cho phù hợp với điều kiện tự nhiêntừng vùng Bên cạnh sự khác biệt về điều kiện tự nhiên thì khác biệt về trình độkinh tế- xã hội cũng ảnh hưởng đến quản lý NN như sự khác biệt giữa vùng thànhthị và vùng nông thôn Các yếu tố này hình thành nên sự phân cấp mang tính đặcthù Vì vậy sẽ có sự phân cấp đặc biệt trong phân cấp quản lý NSNN về phân địnhnguồn thu,nhiệm vụ chi
Trình độ tổ chức, mức độ phân cấp quản lý kinh tế xã hội
Việc phân cấp quản lý NSNN phải đi liền với phân cấp quản lý kinh tế xã hộikhác Vì vậy ở các cấp chính quyền khác nhau về trình độ tổ chức quản lý thì sựphân công, phân cấp quản lý NSNN cũng phải khác nhau để đảm bảo sử dụng hiệuquả nguồn NSNN
1.1.3 Hệ thống NSNN hiện nay:
Hệ thống các cấp NSNN là tổng thể các cấp NS gắn bó hữu cơ với nhau, cómối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu chicủa từng cấp NS
Tổ chức hệ thống NSNN luôn gắn liền với tổ chức bộ máy Nhà Nước và vaitrò vị trí của bộ máy đó trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước trên cơ sở hiếnpháp, pháp luật Phù hợp với mô hình chính quyền Nhà Nước ta hiện nay,hệ thốngNSNN theo luật định bao gồm NSTW và NSĐP Trong đó NSĐP bao gồm:
NS cấp tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương ( gọi chung là NS tỉnh )
Trang 13 NS cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ( gọi chung là NS huyện )
NS cấp xã , phường, thị trấn ( gọi chung là NS xã )
Sơ đồ 1: Hệ thống các cấp ngân sách Nhà nước:
Trong hệ thống NSNN của nước ta hiện nay thì NSTW chi phối phần lớn cáckhoản thu và chi quan trọng Còn NSĐP chỉ được giao nhiệm vụ đảm nhận cáckhoản thu và chi có tính chất địa phương Mỗi cấp chính quyền có một phân cấp NSriêng để cung cấp phương tiện vật chất cho chính quyền đó hoạt động thực hiện cácchức năng nhiệm vụ của mình trên vùng lãnh thổ Trong đó quan hệ giữa các cấp
NS trong hệ thống NSNN tuân thủ các nguyên tắc:
Phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể cho NSTW và NSĐP Thực hiệnphân chia theo tỷ lệ phần trăm các khoản thu giữa các cấp NS
Trang 14 Thực hiện bổ sung NS cấp trên cho cấp dưới để đảm bảo công bằng pháttriển cân đối giữa các vùng và các địa phương Số bổ sung này là khoản thu
NS cấp dưới
Tỷ lệ phần trăn phân chia các khoản thu và số bổ sung từ cấp trên cho cấpdưới ổn định trong vòng 3-5 năm (gọi chung là thời kỳ ổn định NS ) Chínhphủ trình Quốc Hội thời kỳ ổn định NS giữa NSTW và NSĐP UBND cấptỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định thời kỳ ổn định NS giữa các cấpNSĐP
Nhiệm vụ chi thuộc NS cấp nào do NS cấp đó đảm bảo, trường hợp cần banhành chính sách chế độ mới làm tăng các khoản chi NS sau khi dự toán thìphải có giải pháp đảm bảo nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của
NS từng cấp
Trong thời kỳ ổn định NS các địa phương được phép sự dụng nguồn tăng thucho NSĐP ( phần mà NSĐP được hưởng ) để chi cho các nhiệm vụ phát triểnkinh tế xã hội trên địa bàn quản lý, sau mỗi thời kỳ ổn định NS phải tăng khảnăng tự cân đối phát triển NSĐP thực hiện giảm dần số lượng bổ sung củacấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm điều tiết cho cấp trên
Trong trường hợp cơ quan quản lý NN cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản
lý cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình thì phải chuyển kinh phí chocấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi đó
UBND các cấp được sử dụng nguồn NS của mình đề hỗ trợ cho các đơn vị
do cấp trên quản lý đóng trên địa bàn trong các trường hợp: Khi xảy ra thiêntai và các trường hợp cấp thiết khác mà địa phương cần khẩn trương huyđộng nguồn lực để đảm bảo ổn định tình hình kinh tế xã hội
Ngoài việc bổ sung nguồn thu và thực hiện quyền nhiệm vụ chi thì khôngđược dùng NS cấp này đề chi cho NS cấp khác
1.2.Ngân sách huyện và quản lý NS huyện:
1.2.1 Ngân sách huyện:
1.2.1.1 Khái quát về NS huyện:
Trang 15Ngày 15/05/1978 Hội đồng Chính Phủ đã ra nghị quyết 108/CP xác địnhquyền hạn và trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp quận, huyện về quản lýtài chính, NS nhằm xây dựng quận, huyện thành một cấp có cơ cấu kinh tế hoànchỉnh Ngày 19/11/1983,Hội đồng bộ trưởng ra Nghị Quyết số 138/HĐBT về cảitiến phân cấp NS địa phương nói rõ hơn về quyền hạn và trách nhiệm NS quận,huyện.
Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, Đất nước ta tiến hành chuyển đổi mô hình kinh
tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủnghĩa Cùng với công cuộc đổi mới hiện đại hóa công nghiệp hóa của nước nhà, NShuyện cũng được xác định lại vai trò, nhiệm vụ của mình Vào ngày 27 /11 /1989HĐBT đã ra nghị quyết số 186 /HĐBT về phân cấp quản lý NS địa phương trong đó
có NS Huyện Tiếp đến vào ngày 16 /2 /1992 HĐBT ban hành Nghị quyết số 186 /HĐBT sửa đổi bổ sung nghị quyết186 / HĐBT ngày 27/11/1989
Và tại kỳ họp thứ 8 Quốc Hội khóa IX khẳng định: NS Quận-Huyện là mộtcấp NS thực hiện vai trò, chức năng , nhiệm vụ của NSNN trên phạm vi địa bànQuận-Huyện
Như vậy NS cấp huyện mang bản chất của NSNN, đó chính là các mối quan
hệ giữa cấp NS huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn quận trong quá trìnhphân bổ, sử dụng các nguồn lực cho Huyện và mối quan hệ đó được điều chỉnh chophù hợp với bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa
1.2.1.2 Vai trò của NS huyện:
Từ định nghĩa NS Huyện có thể thấy vai trò của NSNN trên địa bàn Huyện
đó là vai trò đảm bảo chức năng NN; an ninh, quốc phòng; thúc đẩy phát triển, ổnđịnh kinh tế; bù đắp những khiếm khuyết thị trường, công bằng xã hội và bảo vệmôi trường Thể hiện trên 3 khía cạnh sau:
NS Huyện bảo đảm thực hiện vai trò Nhà nước, bảo vệ quốc phòng và an ninh trật tự cấp Huyện.
Là một cấp chính quyền nên Huyện cũng tổ chức ra cho mình một hệ thốngcác cơ quan, đoàn thể hành chính nhằm thực hiện các chức năng và quyền hạn của
Trang 16NN Điều đó cũng có nghĩa là để cho các cơ quan đoàn thể đó hoạt động được cầnphải có một quỹ tài chính tập trung cho nó- đó chính là NS Huyện NS Huyện cũngtạo cho mình một vị thế nhất định nhằm chủ động trong việc thực hiện chức năngNhà nước ở điạ phương Tuỳ theo phạm vi địa lý, tình hình kinh tế xã hội trên từngHuyện mà nhu cầu đảm bảo này là khác nhau.
Trong các chức năng của Nhà nước, chức năng đảm bảo an ninh trật tự, quốcphòng đóng vai trò đặc biệt quan trọng Để đảm bảo cho chức năng đặc biệt này, NSHuyện cần phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết, có các khoản dự phòng hợp lý
Ngân sách Huyện là công cụ thúc đẩy, phát triển ổn định kinh tế
Để thực hiện tốt chiến lược kinh tế - tài chính của cấp tỉnh, cấp trung ương,cấp Huyện cần phải sử dụng các công cụ sẵn có của mình để điều tiết, định hướng
Sẽ không có một cơ cấu kinh tế ổn định, phát triển nếu không có NS làm công cụ.Các Huyện phải căn cứ vào thế mạnh của địa phương mình để định hướng, hìnhthành cơ cấu kinh tế, kích thích phát triển Đồng thời các Huyện phải cung cấp kinhphí, vốn đầu tư, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, tạo môi trường thuận lợi cho các doanhnghiệp hoạt động
Ngân sách Huyện là phương tiện bù đắp khiếm khuyết thị trường, đảm bảo công bằng xã hội.
Đây là vai trò không thể thiếu đối với NS mỗi quốc gia Nó có tác dụng xoadịu nền kinh tế thị trường Các vấn đề quan trọng sẽ xảy ra khi chúng ta chạy theocon đường kinh tế thị trường như: Thất nghiệp, hố ngăn cách giàu nghèo tăng,không quan tâm đến người già, trẻ em, người tàn tật, lừa đảo, chiếm đoạt, môitrường ô nhiễm Những điều đó tạo ra cho nền kinh tế - xã hội một vực thẳm phíatrước Cấp Huyện theo dõi các báo cáo tổng hợp từ cấp xã, phường phải có biệnpháp giải quyết
Bên cạnh quan tâm đến đời sống vật chất của người lao động, Huyện phảithường xuyên quan tâm đến đời sông văn hoá, tinh thần của quần chúng, cải tạo cácsân chơi, phương tiện giải trí lành mạnh, tiến bộ Các dịch vụ công cộng như giáo
Trang 17dục, y tế phải giảm được chi phí cho người dân, làm sao để ai cũng được học hành,chăm sóc sức khoẻ đầy đủ.
1.2.2 Quản lý ngân sách huyện:
Vì NS huyện chính là một cấp trong NSĐP và mang bản chất của NSNN nênquản lý NS huyện cũng cần phải tuân thủ theo các nguyên tắc quản lý NSNN.Đó là:
Nguyên tắc công khai minh bạch
Về mặt chính sách, thu chi NSNN là một chương trình hoạt động của Chínhphủ được cụ thể hoá bằng số liệu NSNN phải được quản lý rành mạch, công khai
để mọi người dân có thể biết nếu họ quan tâm Nguyên tắc công khai của NSNNđược thể hiện trong suốt chu trình NSNN và phải được áp dụng cho tất cả các cơquan tham gia vào chu trình NSNN
Nguyên tắc rõ ràng trung thực chính xác:
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý NSNN Nộidung của nguyên tắc này là: Mọi khoản thu, chi phải được ghi đầy đủ vào kế hoạchNSNN, mọi khoản chi phải được vào sổ và quyết toán rành mạch Chỉ có kế hoạch
NS đầy đủ, trọn vẹn mới phản ánh đúng mục đích chính sách và đảm bảo tính minhbạch của các tài khoản thu, chi
Nguyên tắc này là cơ sở, tạo tiền đề cho mỗi người dân có thể nhìn nhậnđược chương trình hoạt động của Chính quyền địa phương và chương trình này phảiđược phản ánh ở việc thực hiện chính sách tài chính Địa phương
Nguyên tắc này đòi hỏi: NSNN được xây dựng rành mạch, có hệ thống,các
dự toán thu, chi phải được tính toán một cách chính xác và phải đưa vào kế hoạchNS; không được che đậy và bào chữa đối với tất cả các khoản thu, chi NSNN;không được phép lập quỹ đen, NS phụ
Nguyên tắc thống nhất trong quản lý NS:
Nguyên tắc thống nhất trong quản lý NSNN bắt nguồn từ yêu cầu tăng cườngsức mạnh vật chất của NN Biểu hiện cụ thể sức mạnh vật chất của NN là thông quahoạt động thu - chi của NSNN Nguyên tắc thống nhất trong quản lý NSNN đượcthể hiện:
Trang 18Mọi khoản thu - chi của NSNN phải tuân thủ theo những quy định của LuậtNSNN và phải được dự toán hàng năm được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Tất cả các khâu trong chu trình NSNN khi triển khai thực hiện phải đặt dưới
sự kiểm tra giám sát của cơ quan quyền lực NN
Hoạt động NSNN đòi hỏi phải có sự thống nhất với hoạt động kinh tế, xã hộicủa Huyện Hoạt động kinh tế, xã hội của Huyện là nền tảng của hoạt động NSNNcấp Huyện Hoạt động NSNN phục vụ cho hoạt động kinh tế, xã hội, đồng thời làhoạt động mang tính chất kiểm chứng đối với hoạt động kinh tế, xã hội
Nguyên tắc cân đối NS:
Nguyên tắc này đòi hỏi các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủcác nguồn thu bù đắp UBND và HĐND luôn cố gắng để đảm bảo cân đối nguồnNSNN bằng cách đưa ra các quyết định liên quan tới các khoản chi để thảo luận vàcắt giảm những khoản chi chưa thực sự cần thiết, đồng thời nỗ lực khai thác mọinguồn thu hợp lý mà nền kinh tế có khả năng đáp ứng
1.2.3 Nội dung quản lý ngân sách huyện
1.2.3.1 Quản lý lập dự toán ngân sách:
Quản lý quá trình lập dự toán NS chính quản lý các quy trình lập dự toán cótheo đúng luật NS hay không, kiểm tra chất lượng bản dự toán NS có phù hợp vớicác yêu cầu và qui định không?
Căn cứ để lập bản dự toán NS huyện là:
Nhiệm vụ phát triển Kinh tế - Văn hoá - Xã hội đảm bảo an ninh quốc phòngcủa Đảng và Chính quyền địa phương trong năm kế hoạch và những năm tiếp theo
Lập dự toán NSNN phải dựa trên kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội củahuyện trong năm kế hoạch Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội là sơ sở, căn cứ đểđảm bảo các nguồn thu cho NSNN Đồng thời cũng là nơi sử dụng các khoản chitiêu của NSNN
Lập dự toán NSNN phải tính đến các kết quả phân tích, đánh giá tình hìnhthực hiện kế hoạch NS của các năm trước, đặc biệt là của năm báo cáo
Trang 19Lập dự toán NSNN phải dựa trên các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn địnhmức cụ thể về thu, chi tài chính NN Lập dự toán NSNN là xây dựng các chỉ tiêuthu chi cho năm kế hoạch, các chỉ tiêu đó chỉ có thể được xây dựng sát, đúng, ngoàidựa vào căn cứ nói trên phải đặc biệt tuân thủ theo các chế độ, tiêu chuẩn, định mứcthu chi tài chính NN thông qua hệ thống pháp luật và các văn bản pháp lý khác củaNN.
Yêu cầu của bản dự toán NS huyện:
Dự toán NS phải bám sát kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và có tác độngtích cực đối với việc thực hiện kế hoạch phát triển kinhtế, xã hội,khi đó dự toán NSmới mang tính hiện thực và có tác động tích cực đến thực hiện kế hoạch phát triểnkinh tế, xã hội, cũng chính là thực hiện kế hoạch NSN
Dự toán NS phải đảm bảo thực hiện đầy đủ và đúng đắn các quan điểm củachính sách tài chính Huyện trong thời kỳ và yêu cầu của Luật NSNN Hoạt độngNSNN là nội dung cơ bản của chính sách tài chính Do vậy, lập dự toán phải thểhiện được đầy đủ và đúng đắn các quan điểm chủ yếu của chính sách tài chínhHuyện như: Trật tự và cơ cấu động viên các nguồn thu, thứ tự và cơ cấu bố trí cácnội dung chi tiêu Ngoài ra NSNN hoạt động luôn phải tuân thủ các yêu cầu củaLuật NSNN, nên ngay từ khâu lập dự toán NS cũng phải thể hiện đầy đủ các yêucầu của Luật NSNN như: Xác định phạm vi, mức độ của nội dung các khoản thu,chi phân định thu, chi giữa các cấp NS
1.2.3.2 Chấp hành dự toán ngân sách:
Công tác chấp hành dự toán NS là rất quan trọng Đây là khâu quyết định đến
sự ảnh hưởng của NSNN cấp huyện đối với sự phát triển kinh tế-xã hội ở địaphương Vì vậy cần bám sát vào dự toán để tổ chức quản lý việc chấp hành cáckhoản thu và khoản chi trên địa bàn Huyện
Trong thu ngân sách:
Chỉ có cơ quan tài chính, cơ quan thuế, và cơ quan khác được giao nhiệm vụthu NS (gọi chung là cơ quan thu) được tổ chức thu NSNN Cơ quan thu có nhiệm
vụ, quyền hạn như sau: Phối hợp với các cơ quan NN hữu quan tổ chức thu đúng
Trang 20pháp luật; chịu sự chỉ đạo, kiểm tra của UBND huyện và sự giám sát của HĐNDhuyện về công tác thu NS trên địa bàn; Phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam vàcác tổ chức thành viên tuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêmchỉnh nghĩa vụ nộp NS theo quy định của Luật NS và các quy định khác của Phápluật
Cơ quan thu các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có tráchnhiệm đôn đốc, kiểm tra các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp NS phải nộp đầy đủ,đúng hạn các khoản nộp vào NSNN
Trong chi NS:
Sau khi Uỷ ban nhân dân giao dự toán NS, các đơn vị dự toán tiến hành phân
bổ và giao dự toán chi NS cho các đơn vị sử dụng NS trực thuộc Dự toán chithường xuyên giao cho đơn vị sử dụng NS được phân bổ theo từng loại của mục lụcNSNN theo các nhóm mục Chi NS gồm 2 khoản mục lớn đó là:
Nội dung cơ bản của chi thường xuyên NS huyện bao gồm:Chi cho các hoạtđộng sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, thể dục thể thao, khoa học và côngnghệ, văn hoá xã hội, chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của NN,chi cho hoạtđộng hành chính NN, chi cho Quốc phòng - An ninh và trật tự an toàn xã hội,chikhác
Quản lý chi thường xuyên của NS huyện phải theo các nguyên tắc sau:Nguyên tắc quản lý theo dự toán; nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả; nguyên tắc chitrực tiếp qua Kho bạc nhà nước
Nội dung cơ bản của chi đầu tư phát triển: Trên nguyên tắc quản lý cấp phátthanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản như cấp phát vốn trên cơ sở thực hiệnnghiêm chỉnh trình tự đầu tư và xây dựng, đảm bảo đầy đủ các tài liệu thiết kế, dựtoán; Việc cấp phát thanh toán vốn đầu tư và xây dựng cơ bản phải đảm bảo đúngmục đích, đúng kế hoạch; Cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản chỉ được thực hiệntheo đúng mức độ thực tế hoàn thành kế hoạch, trong phạm vi giá dự toán đượcduyệt; Việc cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản được thực hiện bằng hai phươngpháp cấp phát không hoàn trả và có hoàn trả, cấp phát thanh toán vốn đầu tư xây
Trang 21dựng cơ bản phải thực hiện giám đốc bằng đồng tiền với việc sử dụng vốn đúngmục đích có hiệu quả vốn đầu tư.
Chi NS là công viêc vô cùng quan trọng vì nó ảnh hưởng đến quá trình pháttriển kinh tế xã hôi và có tác dụng lâu dài ở tầm vĩ mô Vì vậy cần đánh giá tínhhiệu quả của chi NS qua một loạt các chỉ tiêu, chỉ số bao gồm cả định tính và địnhlượng Điều đó sẽ giúp cho các nhà phân tích đúng đắn hơn, đánh giá chính xác hơntính hiệu quả của của chi NS và giúp chi NS đúng dự toán tiết kiệm và đạt hiệu quả
1.2.3.3 Quyết toán ngân sách:
Trước hết là quản lý về số liệu quyết toán NSNN có đảm bảo các quy địnhsau hay không:
- Số quyết toán thu NSNN là số thu đã được thực nộp hoặc hạch toán thu NSNNqua Kho bạc nhà nước Số quyết toán chi NSNN là số chi đã thực thanh toán hoặc
đã hạch toán chi theo quy định
- NS cấp dưới không được quyết toán các khoản kinh phí uỷ quyền của NS cấp trênvào báo cáo quyết toán NS cấp mình Cuối năm, Phòng Tài chính-kế hoạch được uỷquyền lập báo cáo quyết toán kinh phí uỷ quyền theo quy định gửi sở Tài chính
- Kho bạc nhà nước cấp Huyện có trách nhiệm tổng hợp số liệu quyết toán gửiphòng Tài chính-kế hoạch Huyện để lập báo cáo quyết toán Kho bạc nhà nước xácnhận số liệu thu, chi NS trên báo cáo quyết toán của NS các cấp, đơn vị sử dụng NS
Thứ hai là: Quản lý trong việc quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản
- Hết năm kế hoạch, chủ đầu tư lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư năm theo biểumẫu quy định trong chế độ kế toán áp dụng cho đơn vị chủ đầu tư
Nội dung báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành: Nguồn vốn đầu tư thựchiện dự án đến ngày khoá sổ lập báo cáo quyết toán, chi phí đầu tư đề nghị quyếttoán, chi tiết theo cơ cấu xây lắp, thiết bị, chi phí khác, chi tiết theo từng hạng mục,khoản mục chi phí đầu tư; Xác định chi phí đầu tư thiệt hại không tính vào giá trị tàisản hình thành qua đầu tư
Trang 22Thứ ba là: Quản lý quyết toán các khoản chi thường xuyên
- Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời các loại báo cáo đó đếncác cơ quan có thẩm quyền, số liệu trong báo cáo quyết toán phải đảm bảo tínhtrung thực, chính xác, báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán trước khitrình cơ quan NN có thẩm quyền phê chuẩn và phải có sự xác nhận của Kho bạc nhànước, báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán không được để xảy tình trạngquyết toán chi lớn hơn thu; Cơ quan kiểm toán NN thực hiện kế hoạch kiểm toán,xác định tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán NSNN các cấp, cơ quanđơn vị có liên quan theo quy định của pháp luật
Thứ tư là: Quản lý trình tự lập, gửi, xét duyệt và thẩm định quyết toán nămcủa các đơn vị dự toán
1.2.4 Sự cần thiết tăng cường phân cấp quản lý NS Huyện:
Như đã phân tích ở trên ta thấy rằng Huyện là một cấp quản lý hành chínhtrung gian giữa tỉnh và xã Chính quyền cấp Huyện đã được trao quyền phân cấp vềquản lý hành chính nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ quyền hạn của mìnhđối với địa phương Để chính quyền Huyện có thể thực hiện tốt chức năng nhằmphát triển kinh tế xã hội trên địa bàn cần phải có một nguồn lực tài chính đủ mạnh
Vì vậy NS cấp Huyện cần phải được phân cấp quản lý chặt chẽ đảm bảo hiệu quảcao nhất
Phân cấp quản lý NSNN cho cấp Huyện là bước quan trọng nhằm nâng caotính độc lập tự chủ về NS của Huyện đồng thời nâng cao tinh thần tự chịu tráchnhiệm của cơ quan quản lý cấp Huyện trước cơ quan quản lý cấp Tỉnh Trong côngcuộc cải cách hành chính nước ta hiện nay thì phân cấp quản lý NS là một nhiệm vụquan trọng do đó cần tăng cường công tác phân cấp quản lý NS cho cấp Huyện chophù hợp với năng lực quản lý và khả năng phát triển kinh tế xã hội của Huyện
Trang 23CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ NS
HUYỆN NAM ĐÀN GIAI ĐOẠN 2006-2008
2.1.Khái quát về Huyện Nam Đàn:
2.1.1 Đặc điểm địa lý Huyện Nam Đàn:
Chắc là con người Việt Nam không ai không biết đến Nam Đàn quê hươngcủa chủ tịch Hồ Chí Minh.Song cũng có rất nhiều người chỉ nghe tiếng chứ chưamột lần đặt chân đến Nam Đàn Sau đây là một số lời giới thiệu về quê hương NamĐàn của tôi:
Nam Đàn là huyện nằm ở hạ lưu sông Lam.Kéo dài từ 18o34’ đến 18o47’ vĩbắc và trải rộng từ 105o24’ đến 105o37’ kinh đông Huyện Nam Đàn phía bắc giáphuyện Đô Lương(tỉnh Nghệ An),phía nam giáp huyện Hương Sơn và huyện ĐứcThọ ( tỉnh Hà Tĩnh ) , phía đông giáp huyện Hưng Nguyên và huyện Nghi Lộc( tỉnhNghệ An ) ,phía tây giáp huyện Thanh Chương ( tỉnh Nghệ An ) Diện tích là 293,9
km2 Nam Đàn có 24 xã và thị trấn Bao gồm các xã: Nam Kim, Nam Thanh, NamThượng, Nam Thái, Nam Nghĩa, Nam Hưng, Nam Anh, Nam Phúc, NamCường,Nam Cát, Vân Diên,Xuân Hòa, Kim Liên, Hồng Long, Nam Lĩnh, HùngTiến, Nam Giang, Khánh Sơn, Nam Lộc, Nam Tân, Xuân Lâm, Nam Trung, NamXuân và thị trấn Nam Đàn Huyện lỵ đóng ở Thị Trấn Nam Đàn_nằm trên đườngquốc lộ 46 ( Nối Vinh đi Đô Lương ) cách Thành Phố Vinh 21 km về phía Tây
Nam Đàn nằm trong vùng khí hậu chuyển tiếp, vừa mang đặc tính mùa đônglạnh của khí hậu miền Bắc, vừa mang đặc tính nóng của khí hậu miền Nam, chiathành 2 mùa rõ riệt: mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9, mùa lạnh từ tháng 10 đếntháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình năm là 1900mm Lượng mưa phân bốkhông đều, mưa nhiều ở trung tuần tháng 9 đến đầu tháng 10 gây ngập úng cục bộ ởvùng thấp Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 4, lượng mưa chỉ đạt 10% lượng mưa cảnăm nên gây khô hạn nghiêm trọng Có hai hướng gió chính là gió mùa Đông Nam( tháng 4 đến tháng 10) và gió mùa Đông Bắc ( tháng 11 đến tháng 4 năm sau).Trong các tháng 5, 6, 7 thường có gió mùa Tây Nam ( gió Lào ) khô nóng gây ảnhhưởng nghiêm trọng đến mùa màng
Trang 24Nam Đàn nằm kẹp giữa hai dãy núi là Đại Huệ ở phía Bắc và Thiên Nhẫn ởphía Tây tạo ra thung lũng đồng bằng hình tam giác, có sông Lam chảy dọc theohướng Bắc Nam chia huyện thành 2 vùng tả ngạn và hữu ngạn sông Lam.
Nam Đàn được coi là trọng điểm phát triển ngành du lịch đứng thứ 2 của tỉnhNghệ An bởi có cảnh quan thiên nhiên hữu tình và đặc biệt có nhiều di tích lịch sửđược Bộ Văn Hóa công nhận Đó là: Nhà lưu niệm cụ Phan Bội Châu ở Thị trấnNam Đàn, Mộ và Điền Thờ vua Mai Hắc Đế ở Thị trấn và xã Vân Diên, Điền thờNhạn Tháp ở xã Hồng Long, Đình Hoành Sơn ở xã Khánh Sơn, Đình Trung Cần và
Mộ Tống Tất Thắng ở xã Nam Trung, Mộ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp ở xã NamKim, Thành Lục Niên trên dãy núi Thiên Nhẫn.Đặc biệt là khu di tích nhà lưu niệmChủ Tịch Hồ Chí Minh
Nam Đàn là quê hương của nhiều danh nhân và cũng là mảnh đất hiếu học
Đi lên từ mảnh đất nghèo khổ, khí hậu khắc nghiệt con người nơi đây đã cố gắnghọc hành, tu luyện để thành tài Và ngày nay hòa nhập trong xu hướng phát triển đilên của đất nước Đảng bộ và nhân dân huyện Nam Đàn đã có những bước đi đáng
kể đưa đời sống nhân dân trong huyện đi lên
2.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội Huyện Nam Đàn:
2.1.2.1 Về kinh tế:
Nam Đàn là huyện có nền kinh tế thuần nông Nền kinh tế chưa phát triển,quy mô nền kinh tế còn nhỏ; sản xuất nông lâm nghiệp là chủ yếu; các ngành côngnghiệp xây dựng, thương mại dịch vụ còn nhỏ bé Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ sở vậtchất nhỏ bé chưa đáp ứng yêu cầu phát triển
Nền kinh tế mới có bước phát triển nhanh và ổn định trong những năm trở lạiđây Tốc độ tăng trưởng kinh tế ( GDP) bình quân hàng năm thời kỳ thời kỳ 2000-
2005 là 11,82%; và trong các năm 2006-2008 tốc độ tăng trưởng luôn đạt ở mứccao ( cụ thể như sau: năm 2006 tốc độ tăng trưởng là 15,78% ,năm 2007 là 14,65%,
và năm 2008 là 15,72%
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, theo đúng định hướng côngnghiệp hoá hiện đại hoá đề ra đó là: giảm dần tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp, tăng
Trang 25dần các ngành công nghiệp xây dựng cơ bản và thương mại dịch vụ: Tỷ trọng ngànhnông-lâm nghiệp chiếm 69,8% năm 2006 xuống còn 53,05% năm 2008, ngành côngnghiệp - xây dựng chiếm từ 19,86% năm 2006 lên 26,33% năm 2008; Thương mại
- dịch vụ chiếm từ 20,22% năm 2006 lên 20,62% năm 2008 Tuy nhiên cơ cấu kinh
tế chuyển dịch tương đối chậm và tỷ trọng của ngành nông,lâm,ngư nghiệp cònchếm tỷ lệ cao
Bảng 1: Cơ cấu kinh tế huyện Nam Đàn.
(Nguồn: Số liệu Phòng thống kê huyện Nam Đàn)
Sản xuất nông nghiệp có bước phát triển nhanh và ổn định Tổng sản lượnglương thực tăng dần qua các năm : năm 2007 là 80.869 tấn và năm 2008 đạt 87.367tấn Trong trồng trọt cơ cấu giống cây trồng được chuyển đổi theo hướng tăng giống
có năng suất, chất lượng,chỉ đạo mở rộng trồng dưa đỏ, rau màu có giá trị cao, pháttriển cây ớt cay,cây sắn dây… trong 3 năm 2006 đến năm 2008 Năm 2008 đưađược một số giống mới có năng suất chất lượng cao vào sản xuất như: lúa KhảiPhong 7, khang dân đột biến, TH3-3, ĐB1, ớt cay Thái Lan NĐ1, HT9, gấc hànghóa Trong chăn nuôi thì do làm tốt công tác phòng chống, khống chế dập dịch để
ko xảy ra lây lan nên trên địa bàn huyện chăn nuôi tiếp tục được duy trì Chăn nuôitrâu bò hàng hóa, chăn nuôi gia cầm có bước phát triển
Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trong những năm gần đây có sựthay đổi và những bước phát triển mới, ngày càng tăng về cơ sở và số hộ sản xuất,
đa dạng hoá ngành nghề và số lượng sản phẩm, đặc biệt phát triển các cơ sở chếbiến lương thực thực phẩm, sản xuất đồ mộc gia dụng, mộc xây dựng, sửa chữamáy móc, thiết bị Các sản phẩm thuộc ngành công nghiệp như :khai thác khoángsản, sản xuất gạch ngói luôn vượt các chỉ tiêu kế hoạch đề ra Bên cạnh đó tiếp tụcđầu tư thu hút xây dựng các cơ sở sản xuất công nghiệp như: nhà máy gạch Tuynel
Trang 26tại rú Bùi xã Khánh Sơn, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ bằng đá quý tại Kim Liêncủa doanh nghiệp Xuân Việt-Hà Nội, nhà máy Phú Sơn chuyên khai thác đá xâydựng tại xã Nam Thanh.
Thương mại dịch vụ ngày càng phát triển, khối lượng hàng hoá cũng nhưtổng mức lưu chuyển hàng hoá bán buôn và bán lẽ ngày càng tăng nhanh; giá trị sảnxuất ngành thương mại dịch vụ từng bước tăng trưởng Vào năm 2006 giá trị sảnxuất ngành dịch vụ là 168785 triệu đồng đến năm 2008 đã tăng lên 260489 triệuđồng Các hoạt động giao thông vận tải và tín dụng ngân hàng hoạt động tốt đápứng cho nhu cầu phát triển kinh tế ở địa phương
Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội trong những năm qua đã đạtđược những kết quả tích cực, tập trung khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồnvốn đầu tư của tỉnh, huy động có hiệu quả sự đóng góp của dân, khai thác mọinguồn thu, tiết kiệm chi thường xuyên, tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh
tế xã Trong 2 năm 2007-2008 đã hoàn thành các công trình như: xây dựng đườngTân-Thượng, nhà học cao tầng trường THCS Anh-Xuân, Cống 3/2, Trạm BơmNam Thượng, chợ Nam Cường, nâng cấp mở rộng chợ Sáo tại xã Nam Giang vàchợ Hôm tại xã Khánh Sơn, cứng hóa mặt đê đoạn bến đò Vạn Rú, tiếp tục xâydựng trường THCS Đặng Chánh Kỷ và trường tiểu học Anh Xuân, Kè 5 Nam, xâydựng đường ven sông Lam, nhà máy nước Thị Trấn, chợ Cầu Kim Liên
2.1.2.2.Về xã hội:
Đi đôi với phát triển kinh tế, các lĩnh vực xã hội được chú trọng: Trongnhững năm qua sự nghiệp giáo dục đào tạo có bước phát triển mới cả về quy mô,chất lượng và hiệu quả Công tác xã hội hóa giáo dục có tiến bộ, nhất là trong việchuy động nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất trường học Tranh thủ sự giúp đỡ củacác tổ chức cá nhân xây dựng nhà học cao tầng (trường tiểu học Xuân Lâm,trườngtiểu học Hoàng Trù, trường THCS Đặng Chánh Kỷ, trường THCS Nam Lĩnh ).Hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng được duy trì, một số nơi phát huy tốthiệu quả Các tổ chức Khuyến học từ huyện đến cơ sở các xã, cơ quan, đơn vị, khối
Trang 27xóm, dòng họ hoạt động ngày càng hiệu quả, khích lệ phong trào học tập ngày càngtốt hơn.
Mạng lưới trường, lớp phát triển vững mạnh, đáp ngày một tốt hơn nhu cầugiảng dạy và học tập; tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi huy động đến trường đạt trên 99,5 %.Chất lượng giáo dục đào tạo được nâng lên qua cuộc hưởng ứng phong trào “Haikhông” trong ngành giáo dục và đào tạo
Công tác phòng bệnh, chữa bệnh chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân
có nhiều tiến bộ Cơ sở vật chất trang thiết bị được đầu tư cho ngành y tế tăng quacác năm giúp cho ngành y tế có khả năng nâng cao chất lượng khám và chữa bệnh.Hàng năm triển khai và thực hiện tốt các chương trình Quốc gia về y tế, hàng nămtrẻ em được tiêm chủng đạt trên 95% Mạng lưới y tế từ huyện đến xã, thôn bảnđược củng cố cả về số lượng và chất lượng Hầu hết các trạm xã đã có bác sỹ, cácthôn đều có y sỹ phục vụ tận tình cho đời sống sức khỏe của bà con
Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình, giáo dục và chăm sóc trẻ em đã đạtđược những tiến bộ rất quan trọng: tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm phòng đủ 6loại vắc sin đạt 87,6%, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng hiện nay còn 21,5%,
tỷ lệ giảm sinh hàng năm đạt từ 0,5-0,6%o
Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, làngvăn hoá, gia đình văn hoá từng bước thực hiện có hiệu quả, đến năm 2008 đã có78% số hộ đạt gia đình văn hoá; có 100% số hộ được nghe đài tiếng nói Việt Nam,100% số hộ được xem truyền hình, 100% số xã có sân chơi thể thao Trên nhiều xãphát động phong trào mạnh mẽ bằng cách khuyên góp xây dựng nhà văn hóa , nhàtình nghĩa, khu vui chơi giải trí cho trẻ em Triển khai thực hiện tốt phong trào "Đền ơn đáp nghĩa", " Uống nước nhớ nguồn", giải quyết tốt chính sách đối vớingười có công, gia đình chính sách, các hoạt động từ thiện và các chính sách xã hộikhác
Hệ thống bưu chính viễn thông phát triển nhanh, đến nay mạng lưới điện tín
và viễn thông phủ khắp Huyện; 22/24 xã có bưư điện; 100% xã có báo đọc trongngày Các hoạt động văn hoá thông tin phong phú, đa dạng và có nhiều chuyển biến
Trang 28tịch cực, tuyên truyền có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luậtcủa nhà nước, nhằm nâng cao dân trí, định hướng dư luận góp phần giữ gìn và từngbước được phát huy truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc.
Các cấp uỷ, chính quyền đã triển khai nhiều biện pháp tích cực để xoá đóigiảm nghèo Do vậy, tỷ lệ hộ đói nghèo năm 2007 chỉ còn 15% và năm 2008 còn11,82%; số hộ khá và giàu ngày càng tăng Hiện nay trên toàn Huyện tất cả các xãđều được công nhận thoát nghèo
Song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, nhiệm vụ quốc phòng anninh luôn được quan tâm, củng cố; thực hiện tốt huấn luyện dân quân, tự vệ; tăngcường công tác giáo dục quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng dự bị động viên;chỉ đạo thực hiện tốt việc đảm bảo an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội,chủ động phòng chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, tạo môi trường và bảo vệcuộc sống yên lành cho nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội
2.2 Thực trạng quản lý ngân sách huyện Nam Đàn giai đoạn 2006-2008:
2.2.1 Công tác lập dự toán hàng năm:
Hàng năm cùng với việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện,việc lập dự toán NS năm cũng được thực hiện theo quy định của Luật NSNN Saukhi nhận được quyết định giao nhiệm vụ thu chi của UBND tỉnh, phòng tài chính-kếhoạch Huyện thực hiện tham mưu cho UBND huyện trình HĐND huyện quyết định
dự toán thu, chi NS Căn cứ Nghị quyết của HĐND, UBND huyện quyết định giaonhiệm vụ thu, chi cho từng cơ quan trực thuộc, các đơn vị thụ hưởng NS trên địabàn Phòng Tài chính-kế hoạch huyện xem xét quyết toán NS năm trước của cácđơn vị trực thuộc huyện quản lý, dự toán thu do chi cục thuế lập được xác định trên
cơ sở tăng trưởng kinh tế và các chỉ tiêu có liên quan, dự toán thu chi của NS các
xã, thị trấn Lập dự toán thu chi NS huyện, dự toán các khoản kinh phí uỷ quyềntrình UBND huyện để báo cáo thường trực HĐND cấp huyện Nhìn chung hàngnăm công tác lập dự toán NS đã đi vào ổn định đúng theo các hướng dẫn quy trìnhcủa sở tài chính giao
Trang 29Công tác lập dự toán NSNN đã dựa trên các chính sách, chế độ, tiêu chuẩnđịnh mức cụ thể về thu, chi tài chính NN và thể hiện được đầy đủ và đúng đắn cácquan điểm chủ yếu của chính sách tài chính Huyện như: Trật tự và cơ cấu động viêncác nguồn thu, thứ tự và cơ cấu bố trí các nội dung chi tiêu.
Nhưng bên cạnh đó bản dự toán NS vẫn chưa bám sát kế hoạch phát triểnkinh tế, xã hội Bản dự toán vẫn chưa luận giải được các mục tiêu chi cho công cuộcphát triển kinh tế xã hội và chưa tính toán đầy đủ các khoản thu sẽ dựa trên tăngtrưởng kinh tế
2.2.2 Công tác chấp hành dự toán ngân sách:
2.2.2.1 Công tác thu NS:
Công tác chỉ đạo, điều hành chấp hành dự toán các nguồn thu được củng cố
và có nhiều đổi mới, Công tác tổ chức thực hiện dự toán thu được kiện toàn mộtbước và luôn được các cấp uỷ chính quyền địa phương quan tâm đúng mức:
Nhìn chung lực lượng được giao thu NS đã có nhiều cố gắng trong việc tổchức thu; cơ quan quản lý thu đã phối hợp với các ngành, các xã và thị trấn triểnkhai đồng bộ các biện pháp tổ chức thu, nghiệp vụ quản lý thu, thực hiện thu dứtđiểm các khoản thu tồn đọng, tăng cường kiểm tra, rà soát, điều chỉnh kịp thời mứcthu cho phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh; thực hiện tốt việc ký hợp đồng
uỷ nhiệm thu cho các xã, thị trấn; các xã trực tiếp tổ chức, quản lý thu, nắm rõ đượcnguồn thu đối tượng thu
Công tác quản lý và khai thác nguồn thu có nhiều tiến bộ, có sự phối hợpchặt chẽ giữa các ngành các cấp trong việc tăng cường chỉ đạo tập trung thu cácnguồn thu trong dự toán và các nguồn thu mới
Tăng cường kiểm tra tình hình thực hiện đăng ký kinh doanh trên địa bàn và
đã xử phạt nặng nhiều hộ kinh doanh không đăng ký, kinh doanh không đúng mặthàng, ngành hàng, hoặc trốn lậu thuế
Công tác quản lý và sử dụng hoá đơn chứng từ được triển khai thực hiện tốttheo quy định của NN, trong quá trình thực hiện cơ quan thuế thường xuyên kiểmtra, uốn nắn những sai sót của các hộ sử dụng hoá đơn chứng từ; nên việc quản lý
Trang 30thu thuế đối với các hộ sử dụng hoá đơn đạt kết quả thu cao.
Công tác tuyên truyền về quản lý tài chính NS được chú trọng đã tạo cho cácđối tượng nộp thuế dần có thói quen tự giác kê khai nộp thuế theo thông báo của cơquan thuế, nhằm tăng cường sự giám sát lẫn nhau giữa các bộ phận quản lý thu,giữa người nộp thuế và cán bộ thu thuế, để đảm bảo đúng chính sách chế độ nhànước quy định, nhằm hạn chế những tiêu cực trong quá trình thực hiện dự toán thu
Với công tác quản lý nguồn thu trên địa bàn được thực hiện khá tốt nên nhìnchung các khoản thu đều vượt quá dự toán NS đề ra.Cụ thể như sau:
Năm 2007:
Bảng 2: Báo cáo tình hình thu NS Huyện Nam Đàn năm 2007
Đơn vị :nghìn đồng; %
Tổng thu NS trên địa bàn 21487000 21814253 102
Thuế sử dụng đất nông nghiệp: 118%
Thuế nhà đất đạt 114%
Trang 31Phí và lệ phí đạt 130 %
Năm 2008:
Bảng 3: Báo cáo tình hình thu NS Huyện Nam Đàn năm 2008
Đơn vị :nghìn đồng; %
Tổng thu NS trên địa bàn 28135000 34541583 123
Thuế giá trị gia tăng đạt 150%
Thuế môn bài đạt 121%
Nhìn vào 2 bảng biểu các nguồn thu NS của 2 năm 2007 và 2008 có thể thấy
có nhiều khoản thu luôn vượt quá dự toán đặt ra như: Thuế sử dụng đất nôngnghiệp, Thuế nhà đất, phí và lệ phí Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều khoản thu
Trang 32không đạt dự toán đặc biệt như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế chuyển QSDĐtrong 2 năm không được như dự toán và có các khoản thuế nguồn thu không ổnđịnh vào các năm như: Tiền thuê đất, thuế PTVT và xây dựng nhà ở…
Bên cạnh những thành tựu trong quản lý nguồn thu NS thì có những tồn tạinhư trên Đó là do các nguyên nhân sau:
- Các nguồn thu trên địa bàn còn nhỏ, công tác quy hoạch chợ chưa tốt còn
bỏ lỡ nhiều nguồn thu phí và thuế khác Tình trạng thất thu vẫn còn diễn ra ở nhiều
xã Việc tăng nguồn thu còn nhiều khó khăn vướng mắc
- Công tác phối hợp giữa một số đội thuế với hội đồng tư vấn thuế xã, thị trấnchưa tốt nhất là trong công tác quản lý đối tượng trong kiểm tra và xử lý các tồnđọng Còn có biểu hiện né tránh, ngại va chạm trong công tác thu thuế của các cơquan có thẩm quyền
Trang 332.2.2.2 Công tác thực hiện nhiệm vụ chi NS:
Trong những năm qua nhờ có sự tăng nguồn thu NS trên địa bàn Huyện cùngvới sự quan tâm tạo điều kiện bổ sung nguồn NS của Tỉnh cho Huyện, do vậy côngtác thực hiện nhiệm vụ chi của địa phương đã đảm bảo nhiệm vụ cho hoạt động pháttriển kinh tế xã hội an ninh quốc phòng, chi tiêu thường xuyên được nâng lên, tăngđược các khoản chi hoạt động, chi đảm bảo kinh tế xã hội Đặc biệt là các khoảnđầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư các chương trình xoá đói giảm nghèo…cũngđược Huyện quan tâm chú ý
Bảng 4: Báo cáo thực hiện nhiệm vụ chi Huyện Nam Đàn.( Đơn vị: Nghìn đồng)
C Chi bổ sung NS cấp dưới 18175320 22787327 40280639
( Nguồn: Phòng Tài chinh-kế hoạch Huyện Nam Đàn ).Theo bảng trên thì tổng chi NS Huyện qua các năm như sau:
Trang 34Nhìn chung các khoản chi cũng được kiểm soát theo quy định và đúng quytrình cấp phát Các xã và thị trấn trong huyện thực hiện quy trình cấp pháp và quản
lý NS theo Luật ngày càng tốt hơn, không để tình trạng nợ lương
Trong quá trình chấp hành NS tăng cường kiểm tra, kiểm soát chi từ khâu chithường xuyên đến chi cho mua sắm và sửa chữa tài sản cơ quan; thẩm định quyếttoán các công trình xây dựng cơ bản hoàn thành chặt chẽ; qua đó đã giảm trừ hoặcxuất toán những khoản chi sai, chi vượt chế độ quản lý tài chính hiện hành của nhànước
Bên cạnh đó các khoản chi ngoài dự toán phát sinh nhiều gây khó khăn chođiều hành NSNN, nhất là chi cho lễ hội, các cuộc thi Các đơn vị thụ hưởng NSchưa chủ động bố trí dự toán được duyệt, còn tư tưởng bao cấp nguồn kinh phí.Công tác thực hành tiết kiệm chống lãng phí theo quyết định 08/QĐ-UBND củaUBND tỉnh chưa được quan tâm ở một số cơ sở
2.1.3 Công tác quyết toán ngân sách huyện hàng năm:
Hết năm NS các đơn vị dự toán thuộc NS Huyện căn cứ số liệu thực hiện saukhi có xác nhận của Kho bạc Nhà nước lập báo cáo quyết toán trình cơ quan tàichính Huyện thẩm định, sau khi thẩm định Phòng Tài chính-kế hoạch tổng hợp báocáo quyết toán thu chi NS Huyện có xác nhận của kho bạc Nhà nước báo cáoUBND Huyện trình HĐND Huyện phê duyệt rồi quyết toán NS gửi sở Tài Chính
Trang 35Các mẫu biểu được lập quyết toán sử dụng theo đúng luật định nhưng nhìnchung trình độ năng lực của cán bộ tài chính cấp xã còn yếu nên còn có nhiều saisót trong báo cáo quyết toán Và công tác quyết toán chưa được quan tâm đúng mứcđôi khi chỉ mang tính hình thức.
2.2 Đánh giá mức độ phân cấp quản lý ngân sách:
2.2.1 Nội dung phân cấp quản lý NS Huyện Nam Đàn:
Hàng năm căn cứ vào Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng BộTài Chính về việc giao dự toán thu, chi NS cho tỉnh Nghệ An; Căn cứ vào NghịQuyết của HĐND tỉnh về dự toán và phân bổ NS hàng năm; Căn cứ vào Quyết địnhcủa UBND tỉnh về việc ban hành quy chế công, phân cấp và quản lý điều hành NStrong năm Sở Tài chính và kho bạc nhà nước hướng dẫn các khoản phân cấp thuchi NS Huyện Nam Đàn như sau:
Phân cấp nguồn thu cho Huyện
Các khoản thu NS Huyện được hưởng 100% là:
- Thuế môn bài của công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh ( trừthuế môn bài thu từ cá nhân và hộ kinh doanh)
- Thuế tiêu thụ đặc biệt của công thương nghiệp dịch vụ ngoài quốc doanh
- Thuế SDĐNN các doanh nghiệp trên địa bàn Huyện
- Các khoản nộp NSNN theo quy định của pháp luật từ các khoản phí và lệphí do các cơ quan, đơn vị trực thuộc Huyện tổ chức thu ( bao gồm các đơn
vị y tế, giáo dục thuộc Huyện quản lý ), không kể phí xăng dầu và lệ phítrước bạ
- Thu từ các hoạt động sự nghiệp của các cơ quan, đơn vị do cấp huyện quảnlý
- Thu thanh lý tài sản do cấp Huyện quản lý
- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trựctiếp cho cấp Huyện theo quy định của pháp luật
- Đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kếtcấu hạ tầng theo quy định của Chính Phủ
Trang 36- Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho NSHuyện.
- Thu kết dư NS Huyện
- Thu từ bổ sung NS cấp trên
- Thu chuyển nguồn NS cấp Huyện năm trước chuyển sang
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Các khoản thu được điều tết theo tỷ lệ:
- 70% lệ phí trước bạ ( không kể trước bạ nhà đất )
- 30% thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà đất, lệ phí trước bạ nhà đất,thuế môn bài cá thể ngoài quốc doanh
- 80% thuế GTGT, thu nhập doanh nghiệp và thu khác của công thươngnghiệp-dịch vụ ngoài quốc doanh
- 40% Tiền cấp quyền sử dụng đất
Nhiệm vụ chi của NS cấp Huyện:
a.Chi đầu tư phát triển:
- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội theo phâncấp của UBND tỉnh
- Chi đầu tư hỗ trợ các chương trình mục tiêu, các dự án phát triển kinh tếtheo Nghị Quyết của UBND Huyện
b.Chi thường xuyên:
- Các hoạt động sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao vàcác sự nghiệp khác do cơ quan cấp Huyện quản lý
- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do cơ quan cấp Huyện quản lý
- Quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội
- Hoạt động của các cơ quan quản lý NN ( bao gồm cả chi cho tôn giáo ) cấpHuyện
- Hoạt động cơ quan Đảng Cộng Sản Việt Nam ( bao gồm cả tôn giáo và chỉđạo cơ sở, khám sức khỏe…)
Trang 37- Các tổ chức chính trị xã hội cấp Huyện ( Mặt trận tổ quốc, Đoàn thanh niêncộng sản Hồ Chí Minh,Cựu chiến binh, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân…)
- Hỗ trợ các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp cấp Huyện theo quy định củapháp luật
c.Chi bổ sung cấp dưới
d.Chi chuyển nguồn từ NS Huyện năm trước sang
Phân cấp nguồn thu cho Xã:
Các khoản thu NS Xã được hưởng 100% là:
- Thu từ kinh doanh vận tải tư nhân, xây dựng nhà ở tư nhân, trông giữ
xe ( trừ các đơn vị sự nghiệp có thu được giao tự chủ, tự chịu tráchnhiệm theo nghị định số43/2006/ND-CP), cho thuê nhà, đất của hộ giađình và các dịch vụ tổ chức dạy thêm
- Thuế SDĐNN thu từ hộ gia đình
- Phần nộp NSNN theo quy định của pháp luật từ các khoản phí và lệphí do các cơ quan, đơn vị thuộc cấp xã tổ chức thu (bao gồm cả cácđơn vị y tế, giáo dục đào tạo thuộc cấp xã quản lý), không kể phíxăng, dầu và lệ phí trước bạ
- Thu thanh lý tài sản do cấp Xã quản lý
- Các khoản đóng góp cho NS Xã, thị trấn theo quy định của pháp luật
- Thu từ sử dụng quỹ đất công ích và hoa lợi cộng sản khác
- Thu từ các hoạt động sự nghiệp do xã, thị trấn quản lý
- Các khoản đóng góp tự nguyện cho xã, thị trấn
- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài trựctiếp cho xã, thị trấn theo quy định của pháp luật
- Thu kết dư của NS xã, thị trấn
- Thu bổ sung từ NS cấp trên
- Thu chuyển nguồn NS từ NS cấp xã năm trước chuyển sang
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Các khoản thu được điều tiết theo tỷ lệ:
Trang 38- 70% thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà đất, lệ phí trước bạ nhàđất, thuế môn bài cá thể ngoài quốc doanh
- 20% thuế GTGT, thu nhập doanh nghiệp và thu khác của công thươngnghiệp-dịch vụ ngoài quốc doanh
- 40% Tiền cấp quyền sử dụng đất
Nhiệm vụ chi của NS Xã:
a Chi cho đầu tư phát triển: Chi cho các công trình xây dựng các công trình kếtcấu hạ tầng kinh tế xã hội thep phân cấp của Huyện
b Chi thường xuyên:
- Chi công tác xã hội và hoạt động văn hóa, TDTT do xã, thị trấn quảnlý
- Hoạt động của các cơ quan NN, cơ quan Đảng Cộng Sản Việt Nam,các tổ chức chính trị xã hội ( Mặt trận tổ quốc, đoàn thanh niên, hộicựu chiến binh, hội nông dân, hội phụ nữ…) do xã, thị trấn quản lý
Hỗ trợ các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp theo quy định của Phápluật
- Chi hỗ trợ bổ túc văn hóa, nhà trẻ mẫu giáo do xã, thị trấn quản lý
- Chi lương, phụ cấp cán bộ y tế xã và hỗ trợ hoạt động y tế xã, thị trấn
- Quản lý duy tu bảo dưỡng các công trình kiến trúc, các công trìnhphúc lợi xã hội do xã, thị trấn quản lý Phòng chống cháy rừng, chicho tôn giáo
- Chi khuyến nông, khuyến ngư
- Chi hỗ trợ cán bộ công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội
- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
c Chi chuyển nguồn từ NS xã, thị trấn từ năm trước sang
Ngoài việc phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cho NS cấp Huyện thìUBND tỉnh còn trình HĐND tỉnh quyết định phân cấp chức năng nhiệm vụ quyềnhạn cho Huyện trong công tác quản lý NS trên địa bàn như sau: