1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực thi pháp luật bảo vệ môi trườngtrong lĩnh vực nuôi trồngvà chế biến thủy sảnthực tiển tại tỉnh cà mau

56 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản thực tiễn tại tỉnh Cà Mau
Trường học Trường Đại Học Cà Mau
Chuyên ngành Quản lý Môi trường và Nuôi Trồng Thủy Sản
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Cà Mau
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với doanh nghiệp trong khu công nghiệp ở Việt Nam Nguyễn Thị Bình, 2013, Luận văn thạc sĩ; Thực hiện pháp luậ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài

Hiện nay bảo vệ môi trường (BVNT) là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc giahướng đến.Một đất nước muốn phát triển bền vững thì yếu tố môi trường phải đượcquan tâm đúng mức.Ô nhiễm môi trường đã và đang là vấn đề mang tính toàn cầu, vàViệt Nam không phải là ngoại lệ.Môi trường ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của conngười, của sinh vật vàkinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc và toàn nhânloại Đặc biệt trong thời kỳ đất nước ta đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xâydựng nền kinh tế tri thức thì bảo vệ môi trường càng trở nên cấp bách Môi trường nóichung không chỉ là vấn đề của hiện tại mà còn là của tương lai, chúng ta phải quan tâm

và chủ động giải quyết nhằm đảm bảo phát triển bền vững đất nước

Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã giành được nhiềuthành tựu quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, từng bước xây dựng vàhoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, cùng với những thànhtựu đạt được trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, vấn đề môi trường đã và đang đặt

ra những thách thức lớn Bảo vệ môi trường hiện nay là nghĩa vụ của tất cả các cánhân, tổ chức ở nước ta và được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Điều 50 Hiến pháp

Hiến pháp 2013 ghi nhận ở Điều 63 như sau:

“Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền

vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu”2

Bên cạnh đó, Nghị quyết của Bộ Chính trị số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 về

bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

1 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp, Nxb Sự thật, Hà Nội

Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp, Nxb Sự thật, Hà Nội

Trang 2

[6];Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020,

đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày

02/12/2003; Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ban hành Định hướng chiến lược phát

triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) do Chính phủ ban hành 3[13], chính là những tiền đề cơ bản khẳng định sự cần thiết của hoạt động BVMT

ở nước ta trong tiến trình hội nhập và phát triển Ngoài ra, trong các văn bản khác như

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 [47]; Bộ luật hình sự 2015, Luật xử phạt vi phạm hành chính [45]; Bộ luật dân sự 2015 [49]và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thihành,… là tiền đề để nhà nước thống nhất quản lý về công tác BVMT nói chungcũng như cũng như xử lý các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường ở nước tatrong giai đoạn hiện nay

Phải nhìn nhận khách quan rằng từ khi Đảng và Nhà nước ta ban hành chủtrương và pháp luật bảo vệ môi trường cho đến nay, chúng ta đã triển khai thực hiệnchủ trương và luật rộng khắp trong cả nước Chính quyền các cấp, các tổ chức đoànthể, các tổ chức kinh tế xã hội và cộng đồng ngày càng chú ý hơn đến vấn đề bảo vệmôi trường, đặc biệt là trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản 4

Tại tỉnh Cà Mau, trên cơ sở đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước về bảo vệ môi trường, chính quyền các cấp của tỉnh đã ban hành các văn bản vàtriển khai thi hành pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh nuôi trồng và chế biến thủysản Nhìn chung, đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phần nâng cao tráchnhiệm, ý thức của cộng đồng và xã hội trong bảo vệ môi trường Nhưng công tác thựchiện pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản cònbộc lộ nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triểnbền vững Chính vì vậy cần được tiếp tục nghiên cứu, đề ra các giải pháp hoàn thiệnchính sách, pháp luật về vấn đề BVMT nói chung và trong lĩnh vực nuôi trồng và chếbiến thủy sản nói riêng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác ngăn ngừa, xử lý viphạm và bảo vệ môi trường ngày càng tốt hơn Xuất phát từ tình hình nói trên, tác giả

chọn đề tài “Thực thi pháp luật Bảo vệ môi trường trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản- thực tiển tại tỉnh Cà Mau” làm chủ đề luận văn thạc sĩ luật học, với

3 Chính phủ (2004), Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam(Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam), Hà

Nội

4 Chính phủ (2004), Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam(Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam), Hà

Nội

Trang 3

mong muốn góp phần hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật bảo

vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sảntrong giai đoạn hiện nay

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thực thi pháp luật BVMT trong lĩnhvực nuôi trồng và chế biến thủy sản là một trong những nội dung rất quan trọng trongcông cuộc xây dựng và phát triển bền vững ở nước ta Đồng thời nhằm đáp ứng côngcuộc cải cách trong tình hình mới nên nghiên cứu lĩnh vực thực thi pháp luật BVMTtrong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản thu hút sự quan tâm của nhiều nhànghiên cứu lý luận và chỉ đạo thực tiễn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Lĩnhvực BVMT đã có nhiều đề tài khoa học, luận văn, bài viết trên tạp chí đã đề cập một

cách trực tiếp hoặc lồng ghép những nội dung liên quan Các công trình Xử lý vi phạm

hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với doanh nghiệp trong khu công nghiệp ở Việt Nam (Nguyễn Thị Bình, 2013, Luận văn thạc sĩ); Thực hiện pháp luật môi trường ở tỉnh Nam Định (Nguyễn Thị Thu Hường, 2008, Luận văn thạc sĩ)

[23];Pháp luật về bảo vệ môi trường qua thực tiễn tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh

ở tỉnh Cà Mau (Nguyễn Đức Đồng2018, luận văn thạc sĩ luật học)Đinh Thị Mai

Phương (2003), “Trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực môi trường của pháp luật Việt

Nam”, bài viết trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp), Thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ môi trường ở các làng nghề Việt Nam (Lê Kim Nguyệt, Tạp chí khoa học Đại học

quốc gia Hà Nội, năm 2012);Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (2020) NXB Kinh

tế thành phố Hồ Chí Minh – các tác giả Hồ Viết Tiến – Từ Văn bình – Đặng Thị Mỹ

Ngân; Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường do hoạt động của làng nghề gây ra (Lê Kim Nguyệt, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, 2014); Tổng quan về Ô nhiễm Nông

nghiệp ở Việt Nam(Nhóm Ngân hàng thế giới, Báo cáo tóm tắt, 2017),Cơ sở pháp lý đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành ở Việt Nam(Lê Kim Nguyệt,

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 10/2015);Một số vấn đề pháp lý đảm bảo

quyền tiếp cận thông tin về môi trường ở Việt Nam (Lê Kim Nguyệt, Tạp chí Thanh

tra, số 01/2016); Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cộng đồng dân cư trong kiểm

soát ô nhiễm môi trường làng nghề ở Việt Nam (Lê Kim Nguyệt, Tạp chí Dân chủ và

Pháp luật, số chuyên đề tháng 01/2017);Kế hoạch số: 60/KH-UBND Hành động phát triển ngành tôm tỉnh cà mau đến năm 2025ngày 15/ 06/2018…là những công trình

Trang 4

nghiên cứu, các bài viết trên ít nhiều đều đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường ở nước

ta dưới mọi góc nhìn của đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, số lượng công trìnhnghiên cứu triển khai trực tiếp về nội dung thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vựcnuôi trồng và chế biến thủy sản tại một địa phương cụ thể còn khá khiêm tốn Tác giả

dự kiến nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn

đề thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản trên địabàn tỉnh Cà Mau giai đoạn điều tra hiện nay Do vậy, chưa tìm thấy bất kỳ một côngtrình khoa học nào trùng lặp với đề tài luận văn mà tác giả lựa chọn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn

3.1 Mục tiêu nghiên cứu chung

Những năm trở lại đây, vấn đềô nhiễm môi trường và bảo vệ môi trường luônđược xã hội quan tâm Chọn lĩnh vực thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôitrồng và chế biến thủy sản làm đối tượng nghiên cứu, chúng ta có điều kiện đi sâuphân tích những quy định của pháp luật Việt Nam và thực trạng thực thi pháp luậtBVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản, khẳng định tính tất yếu kháchquan của việc cần thiết nâng cao hiệu quả xử lý các hành vi vi phạm pháp luật BVMT

ở Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật về thực thi pháp luật BVMTtrong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản, tìm hiểu và đánh giá đúng tình hìnhthực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản trên địa bàntỉnh Cà Mau trong những năm qua, Luận văn đề xuất những phương hướng và giảipháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật BVMTtrong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triểnbền vững kinh tế - xã hội tại Cà Mau nói riêng và cả nước nói chung

3.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

Để có thể đạt được mục đích đặt ra khi nghiên cứu đề tài, đòi hỏi luận văn phảigiải quyết các vấn đề sau:

Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận về thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực

nuôi trồng và chế biến thủy sản Trong đó nêu lên khái niệm, giải thích vì sao phảithực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản và trình bàyyêu cầu và các yếu tố đảm bảo thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và

Trang 5

chế biến thủy sản.

Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi

trồng và chế biến thủy sản được quy định trong hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam hiệnhành

Ba là, nêu và phân tích thực trạng thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi

trồng và chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau, trong đó chú trọng các vi phạm

đã xảy ra Đánh giá thực trạng thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng vàchế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau Tìm hiểu các khiếm khuyết của pháp luậtthực định về thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản,đồng thời tìm hiểu các nguyên nhân của các khiếm khuyết đó Từ đó, đề xuất phươnghướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật BVMTtrong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu lý luận pháp luật chuyên sâu về thực thi phápluật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản ở Việt Nam hiện nay vàthực tiễn việc áp dụng các quy định của pháp luật thực thi pháp luật BVMT trong lĩnhvực nuôi trồng và chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong các văn bản pháp luật về BVMT tronglĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản: Bộ Luật Hình sự, Bộ luật dân sự, Luật bảo vệmôi trường và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thực hiện Nội dung luận văn tácgiả giới hạn trong vấn đề lý luận về thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng

và chế biến thủy sản được ghi nhận tại pháp luật của Việt Nam Phạm vi được giới hạnkhảo sát của đề tài luận văn là thực tiễn áp dụng pháp luật về thực thi pháp luật BVMTtrong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau từ năm 2015cho đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung của khoa học xã hội vàcác phương pháp nghiên cứu đặc thù của luật học để nghiên cứu đề tài Các phươngpháp chủ yếu bao gồm: Phương pháp phân tích quy phạm để đánh giá quy phạm, tínhtích cực, bất cập, hướng sửa đổi hoàn thiện, tìm kiếm ý tưởng của các nhà làm luật vềhoàn thiện pháp luật; phương pháp phân tích vụ việc để đánh giá thực trạng áp dụng

Trang 6

pháp luật về BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản…; phương phápphân loại pháp lý để nhận dạng các loại vi phạm và hình thức xử lý vi phạm; phươngpháp so sánh pháp luật; phương pháp mô tả quy phạm và mô tả vụ việc nhằm so sánhpháp luật Việt Nam với một số nước về pháp luật về bảo vệ môi trường trong nuôitrồng và chế biến thủy sản; phương pháp mô hình hoá và điển hình hoá các quan hệ xãhội nhằm giải quyết những vấn đề về thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôitrồng và chế biến thủy sản xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, xây dựng và hoàn thiện

hệ thống pháp luật

6 Tính mới và những thực tiễn đóng góp của đề tài

Trên cơ sở kế thừa các thành tựu của các công trình nghiên cứu đã công bốtrong nước và quốc tế, luận văn đạt được những kết quả nghiên cứu có tính mới nhưsau:

Phân tích, đưa ra các khái niệm tổng quát về pháp luật bảo vệ môi trường vàthực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản như: Kháiniệm, đặc điểm và sự cần thiết phải ban hành các quy định về thực thi pháp luậtBVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản ở nước ta hiện nay

Phân tích và luận giải một cách khoa học các nguyên tắc, căn cứ của việc ápdụng các quy định của pháp luật về thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng

và chế biến thủy sản; Đánh giá toàn diện tình hình thực thi pháp luật BVMT trong lĩnhvực nuôi trồng và chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau Tìm ra các thiếu sót của

hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường và các nguyên nhân của các thiếu sót đó Đềxuất một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quảthực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản trong thờigian tới

7 Bố cục nội dung của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo thì nộidung luận văn được chia thành ba chương, cụ thể là:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực

nuôi trồng và chế biến thủy sản

Chương 2: Thực trạng thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và

Trang 7

chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh

vực nuôi trồng và chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC NUÔI TRỒNG VÀ CHẾ BIẾN THỦY SẢN

1.1 Khái niệm và đặc điểm của môi trường và pháp luật bảo vệ môi trường 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của môi trường

Hiện nay khái niệm môi trường được nhìn nhận dưới các góc độ khác nhau Phầnlớn các nhà nghiên cứu quan niệm rằng: Môi trường chính là tập hợp các điều kiện và

Trang 8

hiện tượng bên ngoài có ảnh hưởng tới sự sống Tuy nhiên một số nhà nghiên cứu chorằng dùng thuật ngữ môi trường được hiểu theo nghĩa như trên xét dưới góc độ nghiêncứu và pháp lý là không chính xác.

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về môi trường Có thể kể đến một số quan điểmnhư sau: Theo định nghĩa của S.V.Kalesnik (1959, 1970) môi trường (được định nghĩavới môi trường địa lí) “chỉ là một bộ phận của trái đất bao quanh con người, mà ở mộtthời điểm nhất định xã hội loài người có quan hệ tương hỗ trực tiếp với nó, nghĩa làmôi trường có quan hệ một cách gần gũi nhất với đời sống và hoạt động sản xuất củacon người” [70] Trong tài liệu “môi trường và tài nguyên Việt Nam đã đưa ra địnhnghĩa môi trường là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng có thể là một nơi chốnđáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kì hay một xã hội" [50] Như vậy,

có thể nhận thấy khái niệm về môi trường xét theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tựnhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyênthiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội Đối với nghĩahẹp thì môi trường bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chấtlượng cuộc sống con người được nhận và cần được bảo vệ.5

Xét dưới góc độ ngôn ngữ: Theo từ điển Tiếng Việt ghi nhận: Môi trường là một

tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài của một hệ thống nào đó.Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó.Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập hợpcon Môi trường của một hệ thống đang xem xét cần phải có tính tương tác với hệthống đó Hoặc môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanhcon người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con ngườinhư: Không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người… Môi trường là nơi xảy ra6

hiện tượng hoặc diễn ra một quá trình, trong quan hệ với hiện tượng quá trình ấy hoặcmôi trường là toàn bộ những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay mộtsinh vật tồn tại, phát triển, trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy Nói chung,môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đốitượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể này hay các hoạt

5 Lê Kim Nguyệt (2014), “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường do hoạt động của làng nghề gây ra”, Tạp chí dân chủ và pháp luật.

Trung tâm từ điển học (2008), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng

Trang 9

động của khách thể diễn ra trong chúng [29, tr.790] Những cách hiểu về môi trường7

như trên có đặc điểm chung là xem xét môi trường là một hệ thống có sự tác động đếncon người Theo cách hiểu thông thường, khái niệm về môi trường đa phần khôngquan tâm đến tác động của nó là gì? Trên thực tế những tác động đó giữ vai trò như thếnào đối với sự phát triển của xã hội hiện nay? Từ đó đưa ra một định nghĩa mang tínhchất tương đối về môi trường nói chung Tuy nhiên, với định nghĩa của Từ điển TiếngViệt không chỉ quan tâm đến bản chất của môi trường gồm những yếu tố nào mà cònquan tâm đến tác động của nó đến con người và xã hội Như vậy, dưới một góc độ nào

đó, việc định hình một cách cơ bản khái niệm về môi trường là điều hoàn toàn cầnthiết, để từ đó, có thể áp dụng vào các quy định của pháp luật nhằm thực hiện mục tiêu

là quản lý một cách có hiệu quả từ phía các cơ quan có thẩm quyền ở nước ta tronggiai đoạn hiện nay

Dưới góc độ pháp lý, theo định nghĩa của UNESCO (1981) môi trường của conngười bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra (tậpquán, niềm tin) trong đó con người sống và lao động, khai thác các tài nguyên thiênnhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình [22] Như vậy UNESCO đã lầnđầu đưa ra một định nghĩa nhằm tạo nền tảng cho việc hình thành một khái niệm cơbản về môi trường của tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc Từ địnhnghĩa trên việc vận dụng pháp điển hóa thành các quy định của mỗi quốc gia là khácnhau nhằm phù hợp với sự nhìn nhận, văn hóa, sự phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước đó nói chung

Ở nước ta, Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định: Môi trường là hệ thống cácyếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của conngười và sinh vật Từ khái niệm trên, có thể đưa ra những đặc điểm chung, cơ bản của8

khái niệm môi trường như sau:

Thứ nhất, môi trường được xem là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhântạo Đây là một đặc điểm mang tính đặc trưng của môi trường Yếu tố tự nhiên là yếu

tố mang tính chất sẵn có, được hình thành và không chịu sự tác động của con người.Yếu tố nhân tạo là có sự tác động của con người, hiểu một cách cụ thể đó là do con

7 Nhóm Ngân hàng thế giới (2017)“Tổng quan về Ô nhiễm Nông nghiệp ở Việt Nam”, Báo cáo tóm tắt.

8 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật bảo vệ môi trường, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội.

Trang 10

người hình thành và phát triển Các yếu tố tự nhiên và nhân tạo có sự tác động qua lại,

từ đó hình thành nên một hệ thống có sự tác động vào các đối tượng ở bên trong nó.Thứ hai, quá trình tác động vào sự tồn tại và phát triển của các đối tượng Việccác yếu tố tự nhiên và nhân tạo tác động vào sự tồn tại và phát triển của những đốitượng bên trong nó là điều kiện cần thiết, thể hiện vai trò quan trọng của yếu tố môitrường Đồng thời, khẳng định tính tất yếu rằng tất cả mọi sự vật hiện tượng luôn luônchịu sự tác động của môi trường dù ít hay nhiều hoặc dưới góc độ tự nhiên hoặc nhântạo

Thứ ba, chủ thể bị tác động đó là con người và sinh vật Môi trường tác động đến

sự phát triển và tồn tại của con người và sinh vật Tất cả các sinh vật và con ngườiluôn luôn chịu tác động của yếu tố môi trường và không có trường hợp nào là ngoại lệ.Yếu tố môi trường tác động vào các chủ thể từ khi hình thành và phát triển cũng nhưtồn tại của các chủ thể đó Đây chính là đặc trưng nổi bật của yếu tố môi trường so vớicác yếu tố khác trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của loài người.9

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân mà là của toàn xãhội Hoạt động BVMT muốn đạt hiệu quả cao nhất thiết phải được pháp điển hoáthành các quy phạm, các đạo luật Mặc dù vậy, hiện nay khái niệm pháp luật bảo vệmôi trường vẫn còn những cách hiểu khác nhau

Trong những năm qua, đất nước ta đã và đang tiến hành công cuộc công nghiệphóa, hiện đại hóa, song song với phát triển kinh tế cũng cần ban hành các quy địnhpháp luật trong lĩnh vực BVMT Nhận thức rõ vai trò quan trọng của hoạt động bảo vệmôi trường, các cơ quan NN có thẩm quyền đã hoạch định, xây dựng và ban hành hệthống văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh Có thể nói rằng, phạm vi và đối tượng điềuchỉnh cụ thể trong từng văn bản pháp luật, các quan hệ về bảo vệ môi trường với luậtchuyên ngành đã được xử lý một cách hài hoà và ngày càng mang tính khả thi cao.Thông qua hoạt động ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật chung và văn bảnpháp luật chuyên ngành khác có quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường đã tạo nênnền tảng pháp lý cơ bản trong hoạt động BVMT, xây dựng và phát triển bền vững Dựatrên các phân tích trên tác giả đưa ra khái niệm pháp luật bảo vệ môi trường như sau:

Nguyễn Ngọc Sinh (1984), Môi trường và tài nguyên Việt Nam, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội

Trang 11

Pháp luật bảo vệ môi trường là tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh cácquan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình các chủ thể có hành vi khaithác, sử dụng hoặc tác động đến môi trường Đồng thời quy định quyền và nghĩa vụcủa các tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ môi trường Pháp luật bảo vệ môitrường được cấu thành bởi hệ thống quy phạm pháp luật được quy định tại nhiều vănbản quy phạm pháp luật khác nhau như: Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh cho đến nhữngvăn bản hướng dẫn thi hành do Chính phủ, các Bộ, ban ngành hay chính quyền địaphương ban hành.

1.1.3 Vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta

Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước trong công tác bảo vệmôi trường được thể chế hoá thành pháp luật bảo vệ môi trường – trở thành công cụhữu hiệu để quản lý và bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay Trên phương diện lýluận và thực tiễn, pháp luật bảo vệ môi trường có các vai trò sau:

Một là, thông qua việc hoàn thiện các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường

sẽ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về vấn đề này Những quy định của pháp luậttrong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môitrường chính là cơ sở pháp lý cơ bản quy định về cơ cấu, tổ chức của các cơ quan quản

lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Việc hình thành hệ thống cơ quan quản

lý môi trường nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và được tổ chức thốngnhất từ Trung ương đến địa phương Thông qua việc quy định chức năng của mình, các

cơ quan trên thực hiện hoạt động kiểm tra giám sát thường xuyên các chủ thể tham giavào quan hệ pháp luật bảo vệ môi trường, kịp thời ngăn chặn, phát hiện và xử lý những

vi phạm đối với lĩnh vực mà mình quản lý.10

Hai là, vấn đề bảo vệ môi trường có vai trò to lớn, góp phần quan trọng trongviệc đảm bảo thực hiện các quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia về bảo vệ môi trường và làmột trong những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước nói chung Bằng việc quy định

cụ thể nội dung bảo vệ môi trường tại các văn bản pháp lý hiện hành là tiền đề cho cáchoạt động bảo vệ môi trường Hệ thống văn bản pháp lý có vai trò không thể thay thếđược trong việc đảm bảo thực hiện các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn về bảo vệ

10 Phạm Thị Ngọc Trầm (2006), Quản lý Nhà nước đối với tài nguyên và môi trường vì sự phát triển bền vững dưới góc nhìn xã hội – nhân văn, Nxb Khoc học xã hội, Hà Nội.

Trang 12

môi trường, đồng thời đây cũng là cơ sở quy định chức năng, nhiệm vụ, hoạt động củacác cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực BVMT.

Ba là, đối với xã hội, vấn đề bảo vệ môi trường có vai trò đặc biệt to lớn trongxây dựng chiến lược phát triển bền vững của quốc gia Môi trường được bảo vệ tốt làyếu tố đảm bảo phát triển bền vững và ngược lại Việc ban hành các quy phạm phápluật về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lý cho việc

cơ quan nhà nước thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý các viphạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát được thựchiện thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất dựa vào các văn bản pháp luật do nhà nướcban hành, còn xử lý vi phạm được áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức trong và ngoàinước có những hành vi vô ý hoặc cố ý vi phạm các quy định của pháp luật bảo vệ môitrường

Bốn là, bảo vệ môi trường là lĩnh vực rộng lớn nên hoạt động QLNN về bảo vệmôi trường tác động nhiều đến kinh tế và xã hội Việt Nam hiện nay đang thực hiệncông cuộc xây dựng và phát triển đất nước nên cùng với quá trình xây dựng thì việcbảo vệ môi trường ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa chính trị, xã hội rất quan trọng.Đặt hoạt động QLNN về bảo vệ môi trường trong quá trình xây dựng và phát triển lênhàng đầu và trở thành nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, phù hợp với xu thế chung trênthế giới hiện nay

Năm là, pháp luật bảo vệ môi trường có vai trò quan trọng trong việc nâng caonhận thức của xã hội trong lĩnh vực này Những quy định về bảo vệ môi trường có vaitrò trong việc giáo dục, truyền thông để từ đó góp phần nâng cao nhận thức của xã hội

về vấn đề xây dựng và phát triển trong môi trường lành mạnh, an toàn và trong sạch.Góp phần quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế - xã hội một cách bền vững ởViệt Nam trong giai đoạn hiện nay

Sáu là, pháp luật về BVMT có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho conngười được sống trong môi trường trong lành Để tồn tại và phát triển con người đã tácđộng nhiều vào thiên nhiên để phục vụ cho các nhu cầu của mình Các cuộc cách mạnhKHKT với nhiều thành quả quan trọng đã làm cuộc sống con người có nhiều biến đổi.Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực thì con người cũng đứng trước những

Trang 13

thách thức to lớn như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, núi lửa phun trào, ÔNMT…ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước trên toàn thế giới.

Ở Việt Nam trong thời gian gần đây, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của quátrình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, việc tập trung xây dựng và phát triển nền kinh tế

đã để lại những tác nhân ảnh hưởng trực tiếp lên môi trường sống nói chung Do đó,nhận thức được vai trò quan trọng của việc hình thành và phát triển một môi trườngxanh – sạch – đẹp không chỉ riêng ở nước ta mà còn chung của thế giới chính là tiền đềbảo đảm thực hiện những nguyên tắc cơ bản của pháp luật bảo vệ môi trường ViệtNam, trong đó có nguyên tắc “bảo đảm và ghi nhận quyền được sống trong môi trườngtrong lành của con người” Điều này là hoàn toàn phù hợp với Tuyên bố của Hội11

nghị Liên Hợp Quốc về môi trường và con người (Hội nghị Stockhom năm 1972) nêurõ: “Con người có quyền cơ bản được tự do, bình đẳng và được hưởng đầy đủ các điềukiện sống trong một môi trường chất lượng cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúclợi mà con người có trách nhiệm trong bảo vệ và cải thiện cho các thế hệ hôm nay vàmai sau” và trong một số Tuyên bố của các tổ chức thế giới về vấn đề bảo vệ môitrường Như vậy, thông qua việc ban hành và hoàn thiện khung pháp lý cũng như quátrình thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường một cách chặt chẽ và có hiệu quả đã gópphần trong việc bảo đảm quyền được sống trong một môi trường với chất lượng đạttiêu chuẩn cho phép, cuộc sống được bảo đảm lành mạnh, hữu ích và được hài hòa vớimôi trường thiên nhiên của con người ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.12

1.2 Khái niệm, nội dung và vai trò của thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của việc vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường và thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản

1.2.1.1 Khái niệm, đặc điểm của vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân mà của toàn xã hội.BVMT là nội dung quan trọng trong xây dựng và phát triển đất nước Theo từ điểnLuật học: Vi phạm pháp luật được xem xét dưới hai nghĩa:

11 Lê Văn Nãi (1999), Bảovệ môi trường trong xây dựng cơ bản, Nxb khoa học và kỹ thuật, Hà Nội

12 Chính phủ (2004), Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam(Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam), Hà

Nội.

Trang 14

“Nghĩa rộng: Là các việc làm sai trái pháp luật nói chung.

Nghĩa hẹp: Là các việc sai trái chưa cấu thành tội phạm và thường được gọi là viphạm hành chính”

Khái niệm vi phạm pháp luật nói chung được coi là một trong các khái niệm cơbản và quan trọng của pháp luật Việt Nam Hệ thống pháp luật nước ta căn cứ vào mức

độ hành vi vi phạm của từng ngành luật chuyên ngành mà đưa ra những mức xử lý tùyvào mức độ của các hành vi trên Ví dụ: Luật hình sự xác định hành vi nào là hành vinguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới các khách thể được luật hình sự bảo vệ và quyđịnh các hình thức xử lý với tư cách là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất để ápdụng đối với người phạm tội Hoặc đối với Luật xử phạt vi phạm hành chính thì mức

độ vi phạm được đánh giá là nhẹ hơn sẽ được áp dụng các biện pháp xử phạt hànhchính tương thích đối với các hành vi đó Tuy rằng, đây là một khái niệm quan trọngnhưng cho tới nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có quy định cụ thể để xác định kháiniệm về vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường Khái niệm này chỉ được nghiên cứudưới góc độ là một khái niệm khoa học về lý luận pháp lý nói chung của các nhànghiên cứu

Xuất phát từ đặc thù cũng như vai trò và sự cần thiết bảo vệ môi trường, Luậtmôi trường 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan đã quy định về các hành vi viphạm pháp luật bảo vệ môi trường Song do các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môitrường là vô cùng đa dạng, được thể hiện dưới các hình thức khác nhau nên việc đưa ramột khái niệm hoàn chỉnh về vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường là chưa từng được

đề cập Mặc dù vậy, qua phân tích nêu trên có thể đưa ra một khái niệm cơ bản về vấn

đề này như sau: Vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường được hiểu là những hành vi viphạm các quy định của nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường do cá nhân, tổ chứcthực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và được các văn bản pháp luật quy định cụ thể tronglĩnh vực bảo vệ môi trường Theo khái niệm trên, vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường

có những đặc điểm sau:

Một là, vi phạm pháp luật BVMT là các hành vi do tổ chức, cá nhân thực hiện đã

vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường Tức là hành vi của tổ chức, cá nhân đã vi phạmnhững quy định cụ thể của pháp luật bảo vệ môi trường Do vậy các hành vi vi phạmnày cần phải bị xử lý theo quy định nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật

Trang 15

Hai là, hành vi vi phạm pháp luật BVMT là các hành vi vi phạm quy định của

NN trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được quy định trong các văn bản pháp luật cụthể Tức là chỉ những hành vi vi phạm các quy định trong lĩnh vực BVMT thì mới bị

xử lý theo các văn bản pháp luật có liên quan trong lĩnh vực BVMT

Ba là, hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường được thực hiện một cách cố ýhoặc vô ý Tùy vào từng hành vi vi phạm do các tổ chức, cá nhân thực hiện một cách

cố ý hoặc vô ý theo từng quy định pháp luật mà sẽ có hình thức và mức độ xử lý tươngứng đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực pháp luật BVMT

1.2.1.2 Khái niệm, đặc điểm thực thi pháp luật trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản

Có rất nhiều quan điểm khi định nghĩa về khái niệm thực thi pháp luật trong lĩnhvực nuôi trồng và chế biến thủy sản Tuy vậy, các quan điểm đều đồng nhất cho rằng,dưới góc độ pháp lý, xem Luật môi trường là một lĩnh vực pháp luật thì cần có nhữngquy định cụ thể nhằm điều chỉnh và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật để điều chỉnhcác nội dung trong nuôi trồng và chế biến thủy sản nhằm hoàn thiện khung hành langpháp lý về lĩnh vực này Luật môi trường là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnhcác quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình các chủ thể có hành vikhai thác, sử dụng hoặc tác động đến một hoặc nhiều thành phần môi trường Ở nước

ta hiện nay, trong việc hoạch định và tổ chức xây dựng các văn bản pháp luật, các nhàquản lý, nhà làm luật đều rất quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường Trong phạm vi

và đối tượng điều chỉnh cụ thể trong từng văn bản pháp luật, các quan hệ về bảo vệmôi trường với luật chuyên ngành đã được xử lý một cách hài hoà và ngày càng mangtính khả thi cao Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật chung

và văn bản pháp luật chuyên ngành khác có quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường

mà các chủ thể phải thực hiện nhằm góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môitrường trong sạch và phát triển bền vững Đối với các hành vi vi phạm pháp luật vềbảo vệ môi trường thì các chủ thể phải gánh chịu hậu quả pháp lý về hành chính, dân

sự hoặc hình sự tùy từng mức độ do hậu quả của hành vi đó mang lại Tuy nhiên, hiệnnay chưa có một văn bản pháp lý nào định nghĩa về vấn đề thực thi pháp luật tronglĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản mà trên thực tế việc xử lý các hành vi này tùythuộc vào các quy định được pháp luật về bảo vệ môi trường quy định cụ thể và được

Trang 16

quy định rõ trong Bộ luật hình sự hiện hành và Luật xử lý vi phạm hành chính Để làmcăn cứ cho việc xử lý vi phạm đối với pháp luật bảo vệ môi trường, tại Luật bảo vệmôi trường quy định như sau:

1 Tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, gây thiệt hại cho tổ chức và cá nhân khác, có trách nhiệm khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường, bồi thường thiệt hại và xử lý theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan; 2 Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, theo quy định của pháp luật.13

1.2.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản

Đối với vấn đề BVMT nói chung và thực thi pháp luật trong lĩnh vực nuôi trồng

và chế biến thủy sản nói riêng ở nước ta hiện nay đã và đang trở thành vấn đề nhậnđược nhiều quan tâm của các cơ quan NN có thẩm quyền và toàn xã hội Nhận thứcđược tầm quan trọng của lĩnh vực này, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước cũngnhư điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội phát sinh thì pháp luật ngày càng được sửađổi, bổ sung một cách hoàn thiện hơn, trong đó có nội dung về thực thi pháp luật tronglĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản Nội dung điều chỉnh của pháp luật trong lĩnhvực nuôi trồng và chế biến thủy sản là những quy định của pháp luật về việc xử lý cáchành vi vi phạm trong lĩnh vực môi trường được ban hành nhằm nâng cao hiệu quảcông tác đấu tranh phòng, chống các vi phạm pháp luật; ngăn chặn và xử lý nghiêmminh mọi hành vi vi phạm trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản; đề cao tráchnhiệm của người có thẩm quyền xử lý cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củamọi tổ chức, cá nhân; tăng cường trật tự kỷ cương trong quản lý nhà nước, quản lý xãhội đối với vấn đề bảo vệ môi trường trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nướctrong giai đoạn hiện nay

Ở nước ta hiện nay, tại Hiến pháp 2013 quy định:

Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên vàsuy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi

13 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật bảo vệ môi trường, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội

Trang 17

thường thiệt hại - là cơ sở pháp lý cơ bản cho văn bản luật và dưới luật triển khai chitiết quy định về vấn đề này 14

Cùng với Hiến pháp, các văn bản luật cũng quy định theo hướng ngày càng hoànthiện và phù hợp hơn về nội dung bảo vệ môi trường và thực thi pháp luật trong lĩnhvực nuôi trồng và chế biến thủy sản ở nước ta, đáp ứng với yêu cầu chính trị, quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong tình hình mới

Luật bảo vệ môi trường 2014 ra đời và có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 Các nộidung về bảo vệ môi trường được quy định làm nền tảng cơ bản tại các Điều 7 và Điều

160 đã tạo ra cơ chế xử lý tương đối hoàn thiện đối với những hành vi vi phạm phápluật về bảo vệ môi trường, thể hiện rõ nét sự tiến bộ của Nhà nước ta trong việc quantâm đến vấn đề BVMT Văn bản pháp lý này đã quy định nhiều nội dung phù hợp tạođiều kiện tối đa để cho việc thực thi pháp luật trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biếnthủy sản ở nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nội dung điều chỉnh của pháp luật trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sảnđược thể hiện dưới các nội dung cơ bản như sau:

1.2.2.1 Xây dựng chiến lược, kế hoạch về thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản

Việc quy hoạch chiến lược, kế hoạch thực thi pháp luật về bảo vệ môi trườngtrong nuôi trồng và chế biến thủy sản là việc các cơ quan chức năng sắp xếp bố trí các

cơ sở tiến hành hoạt động thực hiện trong hoạt động BVMT có mục tiêu, có địnhhướng phải được định sẵn phù hợp với các tiêu chí đề ra Việc quy hoạch và thực hiệnquản lý nhằm đảm bảo quyền lợi các cá nhân, tổ chức trên khắp cả nước nhiệm vụthường xuyên của các cơ quan quản lý và là trách nhiệm và quyền lợi trong hoạt độngBVMT15

Việc xây dựng quy hoạch chiến lược, kế hoạch thực thi pháp luật về bảo vệ môitrường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản ở nước ta được xây dựng với mục tiêu là:Xây dựng và hoàn thiện và thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng vàchế biến thủy sản phù hợp với sự phát triển nền kinh tế cơ sở quản lý nhà nước vềBVMT ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Chiến lược BVMT giữ một vị trí quan

14 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp, Nxb Sự thật, Hà Nội.

15 Phạm Thị Ngọc Trầm (2006), Quản lý Nhà nước đối với tài nguyên và môi trường vì sự phát triển bền vững dưới góc nhìn xã hội – nhân văn, Nxb Khoc học xã hội, Hà Nội.

Trang 18

trọng là khâu đột phá trong quá trình CNH-HĐH đất nước, đồng thời là mục tiêu, độnglực của chiến lược phát triển kinh tế xã hội Chính quyền cấp tỉnh là chủ thể hoạchđịnh chiến lược BVMT, thực hiện quy hoạch, kế hoạch hóa BVMT nói chung và thựcthi pháp luật về BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản trong phạm vicủa từng địa phương Chiến lược BVMT được xây dựng trên cơ sở dự báo nhu cầuBVMT cần phải có để thích ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong mỗi giai đoạn phát triểnkinh tế xã hội nói chung, sự phát triển của các địa phương trong giai đoạn hiện nay.Đây là cơ sở định hướng để UBND tỉnh thực hiện kế hoạch hóa sự phát triển của cácngành: Giáo dục, đào tạo, y tế, dân số … nhằm chuẩn bị BVMT phù hợp với yêu cầutrong từng giai đoạn CNH - HĐH 16

Tính đến năm 2019, Đảng và Nhà nước đã ban hành các chính sách và các thông

tư liên tịch nhằm hỗ trợ BVMT về nuôi trồng và chế biến thủy sản cụ thể như sau:

16 Hồ Viết Tiến – Từ Văn bình – Đặng Thị Mỹ Ngân (2020) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (2020) NXB

Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

Trang 19

quá trình xây dựng và phát triển hiện nay

1.2.2.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo

vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản

Công tác lập kế hoạch quản lý xây dựng và thực hiện các văn bản QPPL về bảo

vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản là hoạt động của cơ quan NN cóthẩm quyền đưa ra các công việc phải làm thông qua bản kế hoạch nhằm cụ thể hóacông tác quy hoạch chiến lược, kế hoạch thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trongnuôi trồng và chế biến thủy sản vào thực tiễn 17

Với vai trò quan trọng của các QĐPL là nền tảng phát huy hơn nữa vai trò củaQPPL về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản ở nước ta hiện nay.Thông qua việc ban hành và tiến hành thực hiện thì BVMT sẽ được quy hoạch và đượcphân bổ một cách hợp lý trong thực tế, phù hợp với sự phát triển của hoạt động nuôitrồng và chế biến thủy sản và đáp ứng với yêu cầu phát triển của các địa phương nóichung Từ đó, có thể xem xét được vai trò quan trọng của các cơ quan NN có thẩmquyền trong hoạt động QLNN về BVMT trong thực tế Cơ quan QLNN với các hìnhthức tuyên truyền, chỉ đạo, thực hiện và tiến hành hoạt động kiểm tra, giám sát, từ đó,chỉ rõ những kết quả đạt được và những hạn chế yếu kém trong quá trình áp dụngtrong thực tiễn Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật đã được Đảng, Nhà nước chỉ đạohoàn thiện Cùng với chính sách chung của Nhà nước, tùy vào điều kiện kinh tế củatừng tỉnh, các địa phương đã tích cực tham mưu với các cấp chính quyền để có nhữngquy định riêng hỗ trợ cho QPPL về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biếnthủy sản.18

Trong thực tiễn đối với chính sách ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, cụ thể:

- Giảm lượng chất thải ra

- Xử lý chất thải trước khi xả ra môi trường

- Thay đổi nguyên lý sản xuất để thải ít chất thải, ít độc hơn

17 Hồ Viết Tiến – Từ Văn bình – Đặng Thị Mỹ Ngân (2020) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (2020) NXB

Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

18 Hồ Viết Tiến – Từ Văn bình – Đặng Thị Mỹ Ngân (2020) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (2020) NXB

Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

Trang 20

Hiện nay, theo quy chuẩn, quy định của pháp luật thì doanh nghiệp phải có hệthống xả thải ra môi trường Doanh nghiệp phải đầu tư hệ thống xả thải, trường hợp,doanh nghiệp

Quá trình ban hành kế hoạch quản lý xây dựng và thực hiện các văn bản QPPL vềbảo vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản tại mỗi địa phương sẽ được

cụ thể hóa thông qua Quy hoạch trên địa bàn các tỉnh, thành phố trong một giai đoạnnào đó cụ thể và mang tính định hướng trong một thời gian dài diễn ra tại các địaphương

1.2.2.3 Ban hành và tổ chức thực thi các chính sách có liên quan đến sử dụng, QPPL về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản

Cùng với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định về nuôi trồng và chếbiến thủy sản nói riêng cơ quan quản lý nhà nước trên cơ sở những định hướng pháttriển KT-XH, sử dụng và BVMT cần cụ thể hóa thành các chính sách để BVMT phục

vụ cho quá trình xây dựng và phát triển tại các địa phương trong giai đoạn hiện nay Việc ban hành và tổ chức thực thi các chính sách có liên quan đến sử dụng,QPPL về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản trên cơ sở chỉ đạo,quán triệt của Trung ương thì các địa phương phải ban hành các chính sách về BVMTtrong nuôi trồng và chế biến thủy sản trong thực tế Các chính sách có liên quan nhưđào tạo, tuyển dụng, chính sách đãi ngộ, quản lý, xử lý vi phạm BVMT trong nuôitrồng và chế biến thủy sản nếu có hành vi vi phạm 19

1.2.2.4 Tổ chức bộ máy BVMT trong nuôi trồng và chế biến thủy sản

Đây là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý nhà nước đốivới BVMT Việc tổ chức thực hiện phụ thuộc rất nhiều vào tổ chức bộ máy, cách thứctiến hành và các nguồn lực để phát triển BVMT Để tăng cường hiệu lực quản lý nhànước đối với BVMT, cần tăng cường bộ máy quản lý nhà nước về công tác này đủmạnh từ Trung ương đến địa phương, bổ sung thêm lực lượng, tăng cường chất lượngcủa đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý Vấn đề quản lý nhà nước đối với nguồn nhânlực được tổ chức thực hiện bằng một bộ máy hợp lý, hiệu quả sẽ là tiền đề quan trọng

để đưa các chính sách, pháp luật về phát triển BVMT đi vào cuộc sống, tạo ra sự thayđổi về diện mạo của BVMT cả về số lượng và chất lượng

19 Nhóm Ngân hàng thế giới (2017)“Tổng quan về Ô nhiễm Nông nghiệp ở Việt Nam”, Báo cáo tóm tắt.

Trang 21

1.2.2.5 Thanh tra và tổ chức xử lý vi phạm trong hoạt động BVMT trong nuôi trồng và chế biến thủy sản

Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, thanh tra quản lý nhà nước về BVMT là hoạtđộng của các ngành chức năng được nhà nước trao quyền nhằm mục đích kiểm tra đốivới đối với các cơ sở quản lý nhà nước về BVMT tập trung và cơ sở quản lý nhà nước

về BVMT Kiểm tra trước và sau khi quản lý nhà nước về BVMT để phát hiện cáchành vi vi phạm và kịp thời xử lý, đảm bảo quyền và lợi ích của các địa phương.Côngtác quản lý nhà nước về BVMT nói riêng luôn được quan tâm một cách đúng mức bởixác định được tính cấp thiết của hoạt động quản lý nhà nước về QPPL về bảo vệ môitrường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản Các cơ quan nhà nước có thẩm quyềnthanh tra, kiểm tra, giám sát việc quản lý nhà nước về BVMT ở nước ta trong giaiđoạn hiện nay

Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã chủ động thành lập các đoàn Thanh tra,

tổ chức các cuộc thanh kiểm tra việc tiến hành quản lý nhà nước về BVMT đạt đượchiệu quả cao hay không? Qua trình áp dụng các quy định về BVMT trên thực tế đượcthực hiện một cách nghiêm túc hay không? Quá trình kiểm tra, thanh tra sau đó sẽ tiếnhành xử phạt các hành vi vi phạm để nộp vào Ngân sách nhà nước và ban hành cáckiến nghị khắc phục vi phạm nhằm làm tốt hơn các quy định về kiểm tra, giám sát vềhoạt động quản lý nhà nước về BVMT này trong thực tế

1.2.2.6 Xử lý vi phạm về các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản

* Quy định về xử lý các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môitrường Bên cạnh Luật Bảo vệ môi trường, trong Luật xử phạt vi phạm hành chính

2012 và Nghị định số 42/2019/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ cũngquy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản thay thế Nghị định số103/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạmhành chính trong hoạt động thủy sản Nghị định gồm 4 chương 58 điều đã đảm bảokhả năng điều chỉnh cũng như quá trình áp dụng pháp luật về vấn đề xử lý vi phạmpháp luật về bảo vệ môi trường, đồng thời tạo cơ chế để các cơ quan NN có thẩmquyền trong việc tiến hành xử lý vi phạm trong lĩnh vực môi trường 20

20 Lê Kim Nguyệt (2016), “Một số vấn đề pháp lý đảm bảo quyền tiếp cận thông tin về môi trường ở Việt Nam”, Tạp chí thanh tra, (01).

Trang 22

* Các quy định về xử lý vi phạm trong dân sự

Có thể nói, vấn đề trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở nước

ta chưa được chú trọng và phát triển Các quy định về trách nhiệm dân sự trong lĩnhvực này mới chỉ dừng lại ở quy định chung mang tính nguyên tắc, chưa có một vănbản nào cụ thể hướng dẫn rõ ràng về vấn đề này Căn cứ pháp lý đối với vấn đề dân sựtrong lĩnh vực BVMT được ghi nhận trong các văn bản như: Bộ luật Dân sự năm 2015(chương XX từ điều 584 đến Điều 608); Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (chươngXIX từ Điều 163 đến Điều 167) và Nghị định 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 củaChính phủ về hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường 2014 và đặc biệt là Nghịđịnh 03/2015/NĐ-CP ngày 06/01/2015 của Chính Phủ về xác định thiệt hại đối vớimôi trường thì trách niệm dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là một dạng tráchnhiệm dân sự ngoài hợp đồng, được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm nghĩa

vụ về bảo vệ môi trường Theo đó các tổ chức, cá nhân có hành vi làm môi trường bị ônhiễm, suy thoái, tổ chức, cá nhân khác có liên quan xâm phạm nghĩa vụ bảo vệ môitrường do pháp luật quy định nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại Các chủthể có hành vi vi phạm phải có trách nhiệm chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật môitrường

Căn cứ quy định tại Điều 602 Bô ‘ luâ ‘t dân sự 2015 thì trách nhiê ‘m bồi thườngthiê ‘t hại do làm ô nhiễm môi trường được xác định như sau: “Chủ thể làm ô nhiễmmôi trường mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cảtrường hợp chủ thể đó không có lỗi” Theo quy định trên, cá nhân, tổ chức có hành vilàm ô nhiễm môi trường mà gây thiê ‘t hại, ngoài viê ‘c phải chịu trách nhiê ‘m theo quyđịnh của luâ ‘t chuyên ngành thì phải bồi thường cho người bị thiê ‘t hại, kể cả chủ thể đókhông có lỗi Đồng thời, có trách nhiệm khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môitrường, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây sự cố môi trường, suy thoáimôi trường, ô nhiễm môi trường gây ra Đối với việc bồi thường thiệt hại về ÔNMTnếu có hành vi vi phạm xảy ra tuân thủ các quy định và căn cứ tại Nghị định03/2015/NĐ-CP ngày 06/01/2015 của Chính Phủ về xác định thiệt hại đối với môitrường Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng đối với các cơ quan nhà nước có thẩmquyền trong việc áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại về ÔNMT ở nước ta giaiđoạn hiện nay.21

Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Bộ luật dân sự Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Trang 23

* Quy định về xử lý hình sự các tội phạm môi trường

Cùng với Luật bảo vệ môi trường thì tại Bộ luật hình sự 2015 chương XIX từđiều 235 đến Điều 246 quy định 12 tội phạm môi trường là căn cứ pháp lý để xử lýnhững hành vi vi phạm đã cấu thành tội phạm tương ứng Đây chính là căn cứ để các

cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự, định khung và định hình tươngứng với ba mức độ hậu quả đã gây ra Chính sách hình sự về BVMT của Việt Nam đãđược cụ thể hóa bằng quy định 12 hành vi phạm tội về môi trường trong đó có cácquy định về xử lý tội phạm về nuôi trồng và chế biến thủy sản

Đặc biệt, ngày 29/11/2006, Bộ công an đã ban hành quyết định số1899/2006/QĐ-BCA về việc thành lập Cục cảnh sát môi trường thuộc Tổng cục Cảnhsát để điều tra hình sự và xử lý các vi phạm quy định về bảo vệ môi trường theo quyđịnh của pháp luật Đây là cơ quan quan trọng có trách nhiệm kiểm tra việc chấp hànhpháp luật về môi trường của các tổ chức, cá nhân trên lãnh thổ Việt Nam; chỉ đạo,hướng dẫn, kiểm tra, trực tiếp tiến hành các mặt công tác điều tra chống tội phạm và viphạm pháp luật về môi trường; tiến hành một số hoạt động điều tra theo Pháp lệnh tổchức điều tra hình sự, xử lý vi phạm hành chính theo luật xử lý VPHC và các quy địnhcủa pháp luật về bảo vệ môi trường; phối hợp thẩm định báo cáo đánh giá tác độngmôi trường đối với các dự án đầu tư, sản xuất, kinh doanh; thực hiện công tác kiểmđịnh tiêu chuẩn môi trường

Như vậy, có thể thấy pháp luật quy định khá thống nhất và xuyên suốt về vấn đềbảo vệ môi trường cũng như thực thi pháp luật trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biếnthủy sản, tạo điều kiện tốt nhất để bảo vệ môi trường hiện nay; khẳng định quan điểmnhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề bảo vệ môi trường Đồng thời, cùngvới hoạt động ban hành các văn bản hướng dẫn nêu trên đã giúp cho quá trình áp dụngnhững quy định của pháp luật về BVMT ở nước ta được thực hiện một cách hoàn thiệnhơn Phù hợp với xu thế phát triển trên thế giới hiện nay là vừa xây dựng và phát triểnkinh tế xã hội nhưng đề cao vấn đề bảo vệ môi trường nhằm phát triển một cách bềnvững Trên cơ sở tuân thủ các quy định của quốc tế trong hoạt động BVMT, nước ta đãxây dựng và ban hành những quy định nhằm điều chỉnh vấn đề về thực thi pháp luậttrong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn ở nước

ta Hình thành nền tảng pháp lý cơ bản trong việc thực thi pháp luật BVMT trong tiến

Trang 24

trình phát triển đất nước, góp phần không nhỏ nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạmpháp luật môi trường xảy ra ở nước ta hiện nay và trong tương lai.

1.2.3 Vai trò của thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản ở Việt Nam

Một là, các quy định về pháp luật trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản

đã tạo hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môitrường từ đó hình thành nên các quy tắc xử sự cho con người khi tác động đến môitrường Những quy định này về cơ bản đã đảm bảo xử lý tương đối tốt các hành vi viphạm pháp luật BVMT, đảm bảo các hành vi của con người không xâm hại tới môitrường, hạn chế những tác hại, ngăn chặn suy thoái và ô nhiễm môi trường Thông quacác quy định về pháp luật trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản hình thànhnên ý thức trong hoạt động bảo vệ môi trường nói chung, tạo tiền đề quan trọng chohoạt động xây dựng, ổn định phát triển kinh tế một cách bền vững, ngăn chặn các hành

vi hủy hoại môi trường

Hai là, thông qua các quy định lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản đã ràngbuộc con người thực hiện những đòi hỏi của pháp luật để bảo vệ môi trường Trên thực

tế, nhiều chủ thể khi tham gia hoạt động kinh tế xã hội thường chỉ chú ý tới lợi ích củamình mà bỏ qua lợi ích chung của cộng đồng trong đó có môi trường Các chủ thể cóthể vì lợi ích kinh tế mà không quan tâm đến môi trường, ví dụ: Tại các khu côngnghiệp một số chủ thể không đầu tư hệ thống xả thải chất thải công nghiệp mà trựctiếp thải ra môi trường, gây ảnh hưởng đến môi trường sống của sinh vật, người dân…

Để có thể điều chỉnh các hành vi trên thì việc ban hành các quy định về pháp luật tronglĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản đồng thời các chế tài pháp lý là điều vô cùngquan trọng trong vấn đề BVMT Đây không chỉ là biện pháp xử lý vi phạm pháp luậtmôi trường, ngăn ngừa, giáo dục cải tạo chủ thể vi phạm mà còn mang tính chất răn đechủ thể khác để họ tự giác tuân theo các quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường,qua đó ngăn ngừa và hạn chế tác động xấu do con người gây ra cho môi trường

Ba là, thông qua các quy định trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản mà

NN đã thực hiện chức năng quản lý trong lĩnh vực này Như ta đã biết, tất cả các lĩnhvực đời sống xã hội đều cần phải có sự quản lý của nhà nước và môi trường cũngkhông là ngoại lệ Hơn thế, bảo vệ môi trường còn là một lĩnh vực hoạt động, nhiệm

Trang 25

vụ phức tạp bởi môi trường có phạm vi rộng lớn và kết cấu phức tạp Các quy định vềpháp luật trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản có vai trò to lớn trong việc tạo

ra cơ chế hoạt động cho các tổ chức, cơ quan bảo vệ môi trường Cụ thể là thông quacác quy định pháp luật về BVMT thì NN đã tiến hành các hoạt động: Kiểm soát ônhiễm, suy thoái môi trường; bảo tồn đa dạng sinh học, đánh giá tác động môi trường

và đánh giá môi trường chiến lược; kiểm soát ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, suythoái đất, suy thoái rừng, nguồn thủy sinh, nguồn gen và kiểm soát ô nhiễm đối với cáchoạt động có ảnh hưởng đặc biệt tới môi trường; thanh tra và kiểm tra xử lý và giảiquyết tranh chấp về môi trường; thực thi các Công ước quốc tế về kiểm soát ô nhiễm ởViệt Nam, thực thi các Điều ước quốc tế về đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên ởViệt Nam

Thứ tư, môi trường có tác động, ảnh hưởng đến mọi chủ thể nên cần phải đượcduy trì ổn định để đảm bảo sự phát triển của xã hội Môi trường tác động mạnh mẽ ảnhhưởng đến sự phát triển của mỗi một quốc gia và không thể thay thế được bằng bất kỳhình thức nào Do đó, cùng với quá trình bùng nổ khoa học kỹ thuật như hiện nay, conngười cùng với việc tạo nên những thành tựu nổi bật thông qua những nghiên cứumang tầm vóc quốc tế thì đồng thời với đó đã nhận thức được những tác động tích cựclẫn tiêu cực của môi trường đối với sự phát triển của xã hội loài người Từ đó, việc yêucầu bảo vệ và sử dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật trong hoạt động này là điều vôcùng cần thiết nhằm ngăn chặn những tác động tiêu cực của yếu tố môi trường đến sựphát triển của mỗi một quốc gia Vì vậy, việc ban hành các quy định về vấn đề này làđiều hoàn toàn cần thiết

Thực tế đã chứng minh rằng môi trường có những chức năng quan trọng nhất đốivới sự phát triển của mỗi một quốc gia Môi trường trong sạch chính là tiền đề để conngười có những điều kiện thuận lợi để phát triển nền kinh tế - xã hội của các quốc gia

đó Ngược lại, môi trường ô nhiễm sẽ tác động tiêu cực và có những hệ lụy nghiêmtrọng đến sự phát triển đối với những quốc gia trên thế giới Tại một số quốc gia, vấn

đề xây dựng các quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, xử lý các hành vi vi phạmpháp luật bảo vệ môi trường rất được quan tâm bởi Chính phủ các quốc gia đó đặt vấn

đề bảo vệ môi trường trong việc phát triển quốc gia một cách bền vững Do đó, để chođất nước phát triển một cách bền vững, đòi hỏi phải có những chính sách, quy địnhphù hợp nhằm đảm bảo về vấn đề bảo vệ môi trường; xử lý nghiêm khắc các hành vi

Trang 26

vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường; bảo đảm việc thực hiện pháp luật bảo vệ môitrường một cách nghiêm chỉnh trong suốt quá trình xây dựng và phát triển của mỗiquốc gia trong tình hình hiện nay.

Thứ năm, đảm bảo cân bằng giữa hoạt động xây dựng, phát triển và bảo vệ môitrường trong giai đoạn mới Trong thực tế rất khó để vừa xây dựng và phát triển vừabảo vệ môi trường cũng như để các chủ thể tự giác đề ra và thực hiện Vấn đề bảo vệmôi trường trước các nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường sống của con người là việclàm lâu dài và cần có chiến lược cụ thể Tuy nhiên, trên thực tế, việc một số chủ thểsẵn sàng vì mục đích mang tính chất riêng tư mà từ bỏ đi yêu cầu của việc bảo vệ môitrường là điều dễ hiểu Do đó, có rất nhiều vụ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng khôngchỉ riêng ở Việt Nam mà rất nhiều quốc gia trên thế giới phải gánh chịu những hậu quảnặng nề mà để khắc phục nó phải mất đến hàng trăm năm hoặc thậm chí là không thểkhắc phục được Do đó, để cân bằng lợi ích giữa các bên, đảm bảo sự phát triển bềnvững của đất nước, bảo vệ được môi trường sống, đảm bảo lợi ích của cộng đồng dân

cư cũng như sinh vật trên trái đất thì việc ban hành và hoàn thiện các quy định về bảo

vệ môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững thì cần có những quy định phù hợpnhằm bảo vệ môi trường một cách toàn diện và cụ thể Việc bảo vệ môi trường phảiđặt trong mối quan hệ với lợi ích của các quốc gia, đất nước để vừa thực hiện tốt việcxây dựng và phát triển đất nước vừa đảm bảo lợi ích của môi trường sống của nhữngcộng đồng dân cư, cũng như sự bảo tồn của môi trường xung quanh chúng ta

1.2.4 Các yếu tố đảm bảo cho việc thực thi pháp luật về BVMT trong nuôi trồng và chế biến thủy sản

Có thể nói rằng vấn đề BVMT hiện nay đã, đang và được các quốc gia trên thếgiới hết sức quan tâm và đặt ưu tiên hàng đầu trong hoạch định chính sách phát triểnkinh tế, xã hội của mình Bởi lẽ, xuất phát từ bản chất và tầm quan trọng của môitrường trong là một điều kiện cốt lõi cho bảo đảm cho sự phát triển bền vững của tất cảcác quốc gia Cùng với sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới không phải là khaithác nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra năng suất và sản lượng bằng mọi giá màphải bảo đảm sự cân đối với việc duy trì, bảo vệ và nuôi dưỡng nguồn tài nguyên thiênnhiên cho các thế hệ mai sau Trong xu thế ấy, Việt Nam cũng đang tiến hành hoànthiện hệ thống pháp luật về môi trường, cùng với việc nỗ lực tham gia các công ước

Trang 27

quốc tế, cũng như tích cực nội luật hoá các cam kết quốc tế về BVMT nhằm BVMThiệu quả hơn trước yêu cầu của phát triển bền vững.

Để vấn đề BVMT trong nuôi trồng và chế biến thủy sản thì cần có các yếu tốđảm bảo làm nền tảng cơ bản cho quá trình thực hiện đạt hiệu quả cao Cụ thể là:

* Yếu tố về hệ thống văn bản pháp luật: hành vi vi phạm BVMT trong nuôi trồng

và chế biến thủy sảncần được quy định rõ trong các văn bản pháp luật Hệ thống phápluật về BVMT trong nuôi trồng và chế biến thủy sản cần đảm bảo quy định rõ ràng, chitiết và có hướng dẫn cụ thể về phương thức, trình tự, thủ tục, chế tài, đảm bảo thựchiện bằng các công cụ như thế nào…Ngoài ra, hệ thống văn bản cần mang tính chất dựbáo, các quy định mang tính chất điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh rộng Đối với vấn đềBVMT nói chung và vấn đề BVMT trong nuôi trồng và chế biến thủy sản nói riêng ởnước ta hiện nay đã và đang trở thành vấn đề nhận được nhiều quan tâm của các cơquan NN có thẩm quyền và toàn xã hội Nhận thức được tầm quan trọng của lĩnh vựcnày, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước cũng như điều chỉnh hiệu quả các quan

hệ xã hội phát sinh thì pháp luật ngày càng được sửa đổi, bổ sung một cách hoàn thiệnhơn, trong đó có nội dung về thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng

và chế biến thủy sản

* Yếu tố về cơ cấu tổ chức các cơ quan có thẩm quyền trong việc kiểm tra, giámsát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường Việc kiện toàn bộ máy tổ chức từTrung ương xuống địa phương, tổ chức mang tính chất hệ thống chính là điều kiện tiênquyết trong việc bắt buộc các chủ thể có hành vi vi phạm phải thực hiện các chế tàitheo quy định của pháp luật quy định

* Yếu tố về con người trong quá trình xử lý vi phạm pháp luật về môi trườngcũng góp phần quan trọng không thể tách rời trong hoạt động nói trên Năng lực, trình

độ của đội ngũ cán bộ trong công tác quản lý nhà nước về pháp luật bảo vệ môi trườnghiện nay ở nước ta luôn được quan tâm và trở thành một trong những điều kiện thenchốt của hoạt động thi hành BVMT trong nuôi trồng và chế biến thủy sảnở nước tatrong giai đoạn mới

* Yếu tố về kinh tế, vật chất đảm bảo cho hoạt động thi hành của các cơ quan nhànước có thẩm quyền là điều kiện không thể thiếu ở nước ta trong sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ đất nước cũng như thực thi pháp luật

Trang 28

* yếu tố về ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể trong quan hệ BVMTtrong nuôi trồng và chế biến thủy sảnlà điều kiện nền tảng cho hoạt động chấp hànhpháp luật trong thực tiễn Chấp hành pháp luật tốt hay không đều xuất phát từ mỗi ýthức của cá nhân, tổ chức nói chung Tuy nhiên, để hình thành ý thức của mỗi conngười thì cần có một thời gian dài cũng như phương pháp cụ thể thông qua những hoạtđộng hướng đến việc xây dựng ý thức của các chủ thể về vấn đề bảo vệ môi trườngtrong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ củatình hình mới Ý thức pháp luật của các chủ thể thi hành pháp luật là một trong nhữngyếu tố đảm bảo cho việc thi hành pháp luật về xử lý các hành vi vi phạm BVMT trongnuôi trồng và chế biến thủy sản trong thực tế Ý thức pháp luật đầu tiên là ý thức trongviệc tuân thủ pháp luật của chính các chủ thể thực thi pháp luật về môi trường Đócũng là sự hiểu biết và tôn trọng pháp luật là cơ sở để mỗi cá nhân hình thành ý thứctuân theo pháp luật Do đó, các cơ quan nhà nước cần thực hiện tốt các biện pháptuyên truyền, giáo dục ý thức tôn trọng các quy định về BVMT cho các cán bộ làmcông tác về thi hành pháp luật về môi trường Qua đó, thông qua việc áp dụng, xử lýcác hành vi vi phạm trong thực tiễn một cách nghiêm minh, kịp thời và đúng đắn từ đógiữ vững niềm tin của nhân dân trước pháp luật Mỗi chủ thể trong quá trình thực thipháp luật nói chung thì việc làm đầu tiên không phải là xử lý các hành vi vi phạm màchính bản thân chủ thể thi hành pháp luật phải tuân thủ các quy định về pháp luật nóichung Trong thực tế, đối với vấn đề này thì việc hình thành ý thức pháp luật của cácchủ thể thi hành pháp luật về thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng

và chế biến thủy sản nói chung về cơ bản thì các cơ quan quản lý nhà nước có thẩmquyền ở địa phương đã thực thi pháp luật một cách thường xuyên, liên tục và cươngquyết

* Trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức và cơ sở vật chất, kỷ thuậtcho việc thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản.Môi trường làm việc, trình độ năng lực của các cán bộ, công chức, cơ sở vật chất lànhững yếu tố căn bản cho việc BVMT trong nuôi trồng và chế biến thủy sản Môitrường làm việc tốt là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triểncủa cán bộ, công chức cũng như quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơquan, tổ chức, đơn vị trong lĩnh vực này nói riêng và thi hành pháp luật nói chung.Thực tế cho thấy không ít cơ quan, tổ chức, đơn vị có môi trường làm việc, năng lực

Ngày đăng: 16/03/2023, 20:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Bộ Chính trị (2004), Nghị quyết số 41/NQ-TW về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 41/NQ-TW về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2004
6. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
7. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Bộ Chính trị
Năm: 2005
8. Bộ tài nguyên và môi trường (2009), Thông tư số 08/2009 ngày 15/7/2009 quy định quản lý và bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và cụm công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 08/2009 ngày 15/7/2009 quy định quản lý và bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và cụm công nghiệp, Hà Nội
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
9. Lê Văn Cảm (2012), Một số vấn đề cấp bách của khoa học pháp lý Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cấp bách của khoa học pháp lý Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
10. Chính phủ (2003), Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
11. Chính phủ (2004), Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam(Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam(Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
12. Chính phủ (2013), Nghị định số 179/2013/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 179/2013/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
13. Chính phủ (2015), Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 V/v quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 V/v quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2015
14. Chính phủ (2016), Nghị định số 155/2016/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 155/2016/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
15. Trần Văn Chử (2006), Tài nguyên và môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên và môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Chử
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
16. Đảng bộ tỉnh Cà Mau (2011), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XV, Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XV
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Cà Mau
Năm: 2011
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
20. Trần Ngọc Đường (2004), “Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật – nhiệm vụ trung tâm xây dựng nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật – nhiệm vụ trung tâm xây dựng nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Năm: 2004
21. Lê Văn Hải (2005), “Về việc thực hiện pháp luật đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật , (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc thực hiện pháp luật đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Hải
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Năm: 2005
22. Trương Quang Học (2012), Việt Nam thiên nhiên môi trường và phát triển bền vững, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thiên nhiên môi trường và phát triển bền vững
Tác giả: Trương Quang Học
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2012
23. Nguyễn Thị Thu Hường (2008), Thực hiện pháp luật môi trường ở tỉnh Nam Định, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện pháp luật môi trường ở tỉnh Nam Định
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hường
Nhà XB: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2008
24. Nguyễn Đức Khiển (2002), Môi trường và sức khoẻ , Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và sức khoẻ
Tác giả: Nguyễn Đức Khiển
Nhà XB: Nxb Lao động – xã hội
Năm: 2002
25. Lê Văn Nãi (1999), Bảovệ môi trường trong xây dựng cơ bản, Nxb khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảovệ môi trường trong xây dựng cơ bản
Tác giả: Lê Văn Nãi
Nhà XB: Nxb khoa học và kỹ thuật, Hà Nội
Năm: 1999

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w