TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TÊN ĐỀ TÀI TÌM HIỂU VỀ THÀNH LẬP TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG TẠI VIỆT NAM BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN Học phần Công chứng chứng thực Mã phách HÀ NỘI 2021 LỜI CAM ĐOAN.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
TÊN ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU VỀ THÀNH LẬP TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG
CHỨNG TẠI VIỆT NAM
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần : Công chứng chứng thực
Mã phách:………
HÀ NỘI - 2021
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
1 Đây là tiểu luận do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của Giảngviên phụ trách bộ môn Công chứng, chứng thực
2 Tiểu luận này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bốtrước đó tại Việt Nam
3 Các thông tin, dữ liệu, ví dụ và trích dân trong nghiên cứu là hoàn toàn chínhxác, trung thực, khách quan và có nguồn gốc rõ ràng
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc em xin gửi lời cảm ơn đến Khoa Pháp luật hành chínhTrường đại học Nội vụ Hà Nội, giảng viên bộ môn Công chứng, chứng thực đã tạo điềukiện học tập và truyền đạt cho chúng em vốn kiến thức bổ ích trong quá trình học tập.Bài tiểu luận được thực hiện trong thời gian ngắn và là bước đầu tiên đi vào tìm hiểuthực tế vấn đề này, kiến thức của em còn rất hạn chế Do đó em mong có được ý kiếnđóng góp của các thầy cô giúp em tìm ra những điểm còn thiếu xót để bài làm của emđược hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay văn phòng công chứng theo mô hình xã hội hóa, việc phát triểnvăn phòng công chứng trong thời gian qua tại một số địa phương đã góp phầnphục vụ kịp thời, đầy đủ nhu cầu công chứng của nhân dân trong khi không đòihỏi sự đầu tư về nhân lực và tài lực của nhà nước.Việc phát triển các tổ chứchành nghề công chứng rộng khắp gắn với địa bàn dân cư theo chủ trương xã hộihóa đã tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện các yêucầu công chứng Các phòng công chứng cũng nắm bắt nhanh các quy định củaLuật, đổi mới phương thức làm việc phù hợp với xã hội hóa hoạt động côngchứng
Tuy nhiên, thời gian gần đây đã xuất hiện tình trạng, hiện tượng chưa phùhợp với chính sách của Nhà nước về phát triển nghề công chứng Chất lượng độingũ công chứng viên chưa đồng đều; việc ứng dụng công nghệ thông tin chưatương xứng với sự phát triển các nhu cầu giao dịch trong hoạt động công chứng,chưa đáp ứng yêu cầu ngăn ngừa các hành vi lừa đảo, lợi dụng công chứng đểhợp pháp hóa các giao dịch bất hợp pháp, gây mất trật tự an toàn xã hội Vì vậy
em đã chọn đề“ Tìm hiểu về thành lập tổ chức hành nghề công chứng tại Việt Nam” để làm bài tiểu luận kết thúc học phần với hi vọng nghiên cứu của em sẽ
đóng góp một phần nhỏ cho bảo đảm sự ổn định, bền vững của nghề côngchứng Rất mong nhận được những nhận xét và đóng góp bổ sung của quý thầy
cô để bài tiểu luận thêm hoàn thiện hơn nữa
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung tìm hiểu những vấn đề liên quan đến hoạt động thành lập tổchức hành nghề công chứng tại Việt Nam , các quy định liên quan trong các vănbản quy phạm pháp luật về thành lập tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam
và thực trạng áp dụng của các quy định pháp luật đó ở Việt Nam hiện nay
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 5Chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề, lĩnh vực liên quan đến hoạtđộng thành lập tổ chức hành nghề công chứng tại Việt Nam trong những nămqua Ngoài ra đề tài còn nghiên cứu về những thành tựu và hạn chế của hoạtđộng thành lập tổ chức công chứng ở Việt Nam từ đó đưa ra những đánh giá vềnhững mặt tích cực và tiêu cực để đi tìm giải pháp hoàn thiện cho hoạt độngthành lập các tổ chức hành nghề công chứng tại Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp thu thập thông tin
Nhận thức rõ tầm quan trọng của các thông tin phục vụ cho việc viết chuyên
đề, trong suốt quá trình làm tiểu luận em đã xác định rõ định hướng và mục tiêu
cụ thể để có thể có những thông tin có độ chính xác cao nhất.Những tài liệuphục vụ cho việc viết chuyên đề nằm rải rác ở nhiều nguồn khác nhau, đó làtrong các văn bản quy phạm pháp luật, trong các tài liệu giấy tờ cũng như trêncác trang web Mặc dù vậy người thu thập thông tin cần nắm rõ các quy định vềpháp luật và biết chọn lọc thông tin để làm tiểu luận một cách chính xác nhất
3.3 Phương pháp so sánh
Từ số liệu đã được thống kê, tổng hợp đem so sánh qua từng thời kỳ, từng năm
đề thấy được nhu cầu thực tế của việc thành lập tổ chức hành nghề công chứngtại Việt Nam qua từng thời kì Ngoài ra chúng ta còn so sánh quy định các vănbản pháp luật qua các năm để tìm ra điểm mới, điểm tiến bộ của pháp luật đồngthời thấy được những tồn tại chưa thể khắc phục Trên cơ sở đó đưa ra đánh giákhách quan chính xác về thực tiễn cũng như những ý kiến đề xuất hợp lý nhằm
Trang 6khắc phục những hạn chế, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động thành lập tổ chứchành nghề công chứng.
3.4 Phương pháp phân tích
Đi sâu vào phân tích hoạt động thành lập tổ chức hành nghề công chứng để thấynhững tác động tích cực, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống nhân dân, nguyênnhân chủ quan, nguyên nhân khách quan và từ đó tìm ra những giải pháp hợp lýnhất để giải quyết vấn đề trên
4 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý luận về hoạt động thành lập tổ chức công chứng ở ViệtNam Tìm hiểu về những thành tựu trong quá trình thành lập tổ chức công chứng
ở Việt Nam và chỉ ra những điểm hạn chế, bất cập cần giải quyết và qua đó nângcao hiệu quả hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng và hoàn thiện cácquy định về pháp luật đối với tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam trongbối cảnh hội nhập hiện nay
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về hoạt động thành lập tổ chức hành nghề công
chứng ở Việt Nam
- Tìm hiểu các thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của hạn chế về hoạt động
thành lập tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam
- Đưa ra các giải pháp kiến nghị để khắc phục những mặt tồn tại, hạn chế
5 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài nghiên cứu của em có thể được ứng dụng trong công tác quản lýhoạt động thành lập các tổ chức công chứng, là cơ sở cho việc xây dựng các quyđịnh pháp luật về Công chứng, là nguồn tư liệu cho những ai có nhu cầu tìmhiểu các về các quy định liên quan về vấn đề thành lập tổ chức hành nghề côngchứng tại Việt Nam Đề tài còn góp phần là nguồn tham khảo cho một số cơquan nhà nước ứng dụng vào hoạt động Quản lý nhà nước đối với hoạt độngcông chứng
Trang 76 Kết cấu của đề tài
- Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì trong nội dung
bài tiểu luận được chia làm 2 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận chung về thành lập tổ chức hành nghề công chứng tại Việt Nam
- Chương 2: Thực trạng về thành lập các tổ chức hành nghề công chứng và một
số giải pháp nâng cao chất lượng thành lập tổ chức hành nghề công chứng tại Việt Nam
Trang 8CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÀNH LẬP TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG
CHỨNG TẠI VIỆT NAM 1.1 Khái quát chung về công chứng và các tổ chức hành nghề công chứng 1.1.1 Lịch sử về thành lập tổ chức chức hành nghề công chứng tại Việt Nam Hoạt động công chứng xuất hiện khá sớm ở Việt Nam, kể từ khi thực
dân
Pháp xâm lược nước ta Hoạt động chủ yếu phục vụ cho chính sách cai trị củaPháp tại Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng Tiêu biểu là sắc lệnhngày 24 tháng 8 năm 1931 của Tổng thống Cộng hòa Pháp về tổ chức côngchứng (được áp dụng ở Đông Dương theo quyết định ngày 7 tháng 10 năm 1931của Toàn quyền Đông Dương P.Pasquies) Theo đó, người thực hiện công chứng
là công chứng viên mang quốc tịch Pháp do Tổng thống Pháp bổ nhiệm và giữchức vụ suốt đời Khi đó Việt Nam chỉ có một văn phòng công chứng ở Hà Nội,
ba văn phòng công chứng ở Sài Gòn, Ngoài ra ở các thành phố Hải Phòng, NamĐịnh, Đà Nẵng thì việc công chứng do Chánh lục sự Tòa án sơ thẩm kiêmnhiệm
Trong thời kỳ đầu đất nước ta bước vào giai đoạn đổi mới, cùng với sự pháttriển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường giai đoạn mới khai sinh, các giao dịchdân sự, kinh tế cũng trở nên phong phú, đa dạng hơn Chính sự gia tăng của cácgiao dịch này đã tất yếu đòi hỏi phải có một cơ quan chuyên môn “gác cổng” đểđảm bảo an toàn cho các giao dịch đó Chính vì vậy, hoạt động công chứng,chứng thực ở nước ta đã được tái lập, kiện toàn và phát triển Giai đoạn nàyđược đánh dấu bằng sự ra đời của hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luậtđiều chỉnh hoạt động công chứng, chứng thực ở cấp độ thông tư, nghị định Thời
Trang 9kỳ này, hai hoạt động công chứng và chứng thực luôn gắn kết chặt chẽ với nhau
và cùng được điều chỉnh chung trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật
Có thể nói, thời kỳ này, hai hoạt động công chứng và chứng thực còn bị lẫnlộn về nhiều mặt: về tên gọi, về chủ thể, về nội dung, về phạm vi thực hiện… vàluôn được điều chỉnh chung trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật CácPhòng công chứng bên cạnh việc công chứng hợp đồng, giao dịch vẫn được giaothực hiện công việc chứng nhận bản sao (có tính chất giản đơn hơn), còn Ủy bannhân dân cấp xã lại không có thẩm quyền chứng thực bản sao Thời kỳ này, kháiniệm chứng thực cũng manh nha hình thành song còn rất mờ nhạt Trên thực tế,các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội chỉ biết đến khái niệm “công chứng”
mà không biết đến khái niệm “chứng thực” Chính điều này đã dẫn đến tìnhtrạng người dân đổ dồn về các Phòng Công chứng để yêu cầu công chứng bảnsao, gây ra tình trạng quá tải, ách tắc tại các Phòng công chứng trong một thờigian dài (giai đoạn này Ủy ban nhân dân cấp huyện cũng có thẩm quyền chứngthực bản sao nhưng rất ít người biết đến, thậm chí có trụ sở UBND cấp huyệnchỉ cách Phòng Công chứng vài trăm mét nhưng rất ít người đến yêu cầu chứngthực bản sao trong khi tại Phòng Công chứng thì quá tải)
Ngày 8/12/2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP vềcông chứng, chứng thực Giai đoạn này sự phát triển của hoạt động côngchứng/chứng thực đã được nâng lên một bước, quy củ và nền nếp hơn, tuy nhiênchưa mang tính đột phá Giai đoạn này, sự phân biệt giữa hoạt động công chứng
và chứng thực chưa có sự thay đổi đáng kể so với trước đây Điểm khác biệt lớnnhất là kể từ khi Nghị định này được ban hành thì khái niệm “chứng thực” mớichính thức được ra đời, tồn tại song song, độc lập bên cạnh khái niệm “côngchứng” Tại khoản 2 Điều 2 của Nghị định này đã chỉ rõ: “Chứng thực là việc
Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch
và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giaodịch của họ theo quy định của Nghị định này” Như vậy, Nghị định75/2000/NĐ-CP đã chính thức khẳng định hoạt động chứng thực là hoạt động
Trang 10của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã Từ đây, những việc tuy có tính chất nhưcông chứng nhưng do Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện thì được gọi
là chứng thực
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đề ra, đặc biệt là Nghị quyết
số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược Xây dựng và hoàn thiện hệ thốngpháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 của
Bộ Chính trị, với mục đích tạo điều kiện cho công tác công chứng, chứng thực ởViệt Nam phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, phục vụ tốt hơn nhu cầu côngchứng, chứng thực của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội, ngày 29/11/2006,Quốc Hội đã thông qua Luật công chứng và ngày 18/5/2007, Chính phủ đã banhành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bảnsao từ bản chính, chứng thực chữ ký Từ đây, hoạt động công chứng và chứngthực đã tách bạch Việc ban hành Luật công chứng và Nghị định số79/2007/NĐ-CP là phù hợp trong giai đoạn này, đặc biệt việc xã hội hóa hoạtđộng công chứng và giao việc chứng thực bản sao cho UBND cấp xã thực hiện
là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về công chứng,chứng thực, đưa hoạt động công chứng phát triển theo hướng chuyên nghiệp,phù hợp với thông lệ quốc tế và gắn hoạt động chứng thực với vai trò của chínhquyền địa phương Từ thời điểm này, hoạt động công chứng và chứng thực đã có
sự tách bạch, nhiệm vụ của hoạt động công chứng và chứng thực đã được phânbiệt tương đối rạch ròi, phù hợp với tình hình thực tế của giai đoạn này Theo
đó, tổ chức hành nghề công chứng được giao nhiệm vụ chính là công chứng hợpđồng, giao dịch, không còn đảm nhận nhiệm vụ mang tính chất chứng thực làchứng thực bản sao, chữ ký Theo quy định của Luật Công chứng thì Phòngcông chứng và Văn phòng công chứng có nhiệm vụ là:“chứng nhận tính xácthực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quyđịnh của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầucông chứng” Còn Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã theo quy định của Nghịđịnh số 79/2007/NĐ-CP được giao nhiệm vụ chứng thực bản sao từ bản chínhgiấy tờ, văn bản và chứng thực chữ ký (giai đoạn này, UBND cấp xã đã được
Trang 11chính thức giao nhiệm vụ chứng thực bản sao từ bản chính) Việc mở rộng phâncấp thẩm quyền chứng thực cho Ủy ban nhân dân cấp xã đã đưa cơ quan chứngthực đến gần dân hơn, tạo thuận lợi cho người dân Đồng thời, việc tổ chức hànhnghề công chứng chấm dứt công chứng bản sao đã “buộc” người dân làm quenvới hoạt động chứng thực bản sao tại UBND cấp xã, cấp huyện, chấm dứt tìnhtrạng ách tắc, quá tải tại các phòng công chứng.Tuy nhiên, dù đã cố gắng phânđịnh như vậy nhưng giai đoạn này nhiệm vụ của hoạt động công chứng và chứngthực vẫn có sự giao thoa, chồng lấn, chưa thể hoàn toàn phân định tách bạch, rõràng cho phù hợp với bản chất của hai loại hoạt động này Nguyên nhân là dohiện nay mạng lưới tổ chức hành nghề công chứng chưa đủ để đáp ứng được nhucầu của nhân dân trên địa bàn toàn quốc nên UBND cấp huyện, cấp xã tại một
số địa bàn nơi chưa có tổ chức hành nghề công chứng hoặc tuy có nhưng chưađáp ứng được nhu cầu của người dân vẫn tạm thời thực hiện nhiệm vụ chứngthực hợp đồng, giao dịch
Khi Luật Công chứng năm 2014 và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP được banhành cho đến nay Do đặc điểm tình hình hình giai đoạn này đã có sự thay đổi,sau nhiều năm thực hiện xã hội hóa hoạt động công chứng, số lượng các tổ chứchành nghề công chứng và công chứng viên trên toàn quốc đã tăng lên đáng kể,không còn tình trạng ách tắc, quá tải tại các tổ chức hành nghề công chứng nữa.Cùng với đó, cơ chế xin – cho trước đây đã được thay thế bằng cơ chế dịch vụ,
mà ở đó khách hàng được coi trọng; những tiêu cực trước đây trong hoạt độngcông chứng cũng không còn Trước tình hình này, ngày 20/6/2014 Quốc hộinước ta đã thông qua Luật Công chứng mới Luật Công chứng năm 2014 đã giaotrở lại cho tổ chức hành nghề công chứng thẩm quyền chứng thực bản sao từ bảnchính, chứng thực chữ ký và thẩm quyền công chứng bản dịch Có thể nói, việcgiao trở lại cho tổ chức hành nghề công chứng các thẩm quyền này là phù hợpvới tình hình hiện nay, một mặt vừa tạo thêm một “kênh” để người dân lựa chọn,một mặt vừa tạo điều kiện cho các tổ chức hành nghề công chứng duy trì vànâng cao chất lượng hoạt động
Còn với sự ra đời của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 củaChính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng
Trang 12thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch, thì về cơ bản hoạt động chứngthực vẫn được duy trì tại UBND cấp huyện, cấp xã, bên cạnh đó là hoạt độngchứng thực bản sao, chữ ký tại tổ chức hành nghề công chứng Tuy nhiên, đểđảm bảo phù hợp với điều kiện, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức làmcông tác chứng thực, việc chứng thực hợp đồng, giao dịch đã được đơn giản hóa,đặc biệt là giá trị pháp lý của hợp đồng, giao dịch được chứng thực Theo đó,hợp đồng, giao dịch được chứng thực chỉ có giá trị “hình thức” tức có giá trịpháp lý thấp hơn so với hợp đồng, giao dịch được công chứng Điều này là phùhợp với thực tế vì hiện nay, tại những tỉnh, thành phố lớn nơi có điều kiện kinh
tế - xã hội phát triển thì việc chứng thực hợp đồng, giao dịch đã được chuyểngiao cho các tổ chức hành nghề công chứng Chỉ tại những địa phương vùng sâu,vùng, xa, vùng kinh tế khó khăn thì UBND cấp huyện, cấp xã vẫn tiếp tục đảmđương nhiệm vụ chứng thực hợp đồng, giao dịch Việc chứng thực hợp đồng,giao dịch theo quy định tại Nghị định 23/2015/NĐ-CP một mặt vừa làm giảmthủ tục cũng như lệ phí cho bà con nơi đây, mặt khác vẫn đảm bảo yêu cầu củapháp luật trong trường hợp giao dịch đó buộc phải có công chứng/chứng thực.Chỉ trong trường hợp phát sinh tranh chấp thì do hợp đồng, giao dịch đượcchứng thực có giá trị pháp lý thấp hơn nên độ an toàn không cao bằng hợp đồng,giao dịch được công chứng Tuy nhiên, thực tế cho thấy giao dịch diễn ra tạinhững địa phương này thường là đơn giản, có giá trị nhỏ vì vậy khả năng phátsinh tranh chấp không cao hoặc nếu có cũng không quá khó để giải quyết
1.1.2 Khái niệm về công chứng và tổ chức hành nghề công chứng tại Việt Nam
1.1.2.1 Khái niệm về công chứng
Khái niệm về công chứng được thể hiện ngay tại khoản 1, điều 2, Luật Công chứng 2014, theo đó công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng
1.1.2.2 Khái niệm về tổ chức hành nghề công chứng tại Việt Nam
Trang 13Khoản 5, điều 2, Luật Công chứng 2015 có đưa ra khái niệm về tổ chức hànhnghề công chứng như sau:
“5. Tổ chức hành nghề công chứng bao gồm Phòng công chứng và Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.”
- Phòng công chứng
Theo quy định tại Điều 19 Luật Công chứng 2015:
Phòng công chứng là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Tư pháp, có trụ sở, condấu và tài khoản riêng.Người đại diện theo pháp luật của Phòng công chứng làTrưởng phòng Trưởng phòng công chứng phải là công chứng viên, do Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
Phòng công chứng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập
- Văn phòng công chứng
Theo quy định tại Điều 22 của luật công chứng 2014, Văn phòng công chứng là
tổ chức dịch vụ công được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh; phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên, không có thành viên góp vốn
1.1.3 Quy định của pháp luật về thành lập tổ chức hành nghề công chứng 1.1.3.1 Thành lập phòng công chứng
rõ sự cần thiết thành lập Phòng công chứng, dự kiến về tổ chức, tên gọi, nhân sự,địa điểm đặt trụ sở, các điều kiện vật chất và kế hoạch triển khai thực hiện
- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định thành lập Phòng công chứng, Sở Tư pháp phải đăng báo trung ương hoặc báo địa
Trang 14phương nơi có trụ sở của Phòng công chứng trong ba số liên tiếp về các nội dung sau đây:
a) Tên gọi, địa chỉ trụ sở của Phòng công chứng;
b) Số, ngày, tháng, năm ra quyết định thành lập và ngày bắt đầu hoạt động của Phòng công chứng
- Trong trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thay đổi tên gọihoặc địa chỉ trụ sở của Phòng công chứng thì Sở Tư pháp phải đăng báo những nộidung thay đổi đó theo quy định tại khoản 2 Điều này
Nguyên tắc thành lập phòng công chứng:
Từ sau chương trình xã hội hoá hoạt động công chứng năm 2006, số lượngcác Văn phòng công chứng đã tăng lên và cho thấy vai trò của mình trong hoạtđộng công chứng Các tổ chức này đã đáp ứng kịp thời yêu cầu công chứng củangười dân, không còn cảnh xô đẩy, chen chúc, xếp hàng đi công chứng như trướcđây Bên cạnh đó thì các Phòng công chứng do Nhà nước thành lập vẫn phát huytính tích cực trong bối cảnh điều kiện kinh tế hiện nay, nhất là những nơi có điềukiện kinh tế - xã hội khó khăn, khi mà những nơi này kinh tế chưa phát triển thìcác giao dịch dân sự hay các giao dịch thương mại còn rất hạn chế Việc phát triểncác Văn phòng công chứng ở những địa bàn như vậy là rất khó khăn, có nơi không
có Văn phòng công chứng việc xã hội hóa công chứng ở những địa bàn này cònnhiều bất cập Nếu không có giải pháp điều chỉnh phù hợp về tổ chức hành nghềcông chứng thì công chứng hợp đồng, giao dịch dân sự, kinh tế ở những nơi này sẽgặp nhiều khó khăn và việc phòng ngừa rủi ro trong giao dịch dân sự ở nơi đây sẽkhông thực hiện được Bởi vậy, việc thành lập Phòng công chứng ở những địa bànchưa có điều kiện phát triển Văn phòng công chứng là cần thiết
Tuy nhiên, cần giảm bớt gánh nặng cho nhà nước về biên chế, kinh phí trongviệc thành lập Phòng công chứng tràn lan mà hoạt động công chứng vẫn đáp ứngđược yêu cầu của người dân ở vùng kinh tế khó khăn Cho nên, khoản 2 Điều 18
Luật công chứng 2014 đã quy định: “Phòng công chứng chỉ được thành lập mới
Trang 15tại những địa bàn chưa có điều kiện phát triển Văn phòng công chứng.” Quy định
này thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với hoạt động công chứng, quantâm đến vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu côngchứng của người dân và bảo đảm an toàn trong giao dịch cho các bên tham gia ởvùng có điều kiện kinh tế khó khăn
- Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị thành lập Vănphòng công chứng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép thànhlập Văn phòng công chứng; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản vànêu rõ lý do
- Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định cho phép thànhlập, Văn phòng công chứng phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ở địa phươngnơi đã ra quyết định cho phép thành lập
Nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng bao gồm tên gọi củaVăn phòng công chứng, họ tên Trưởng Văn phòng công chứng, địa chỉ trụ sở củaVăn phòng công chứng, danh sách công chứng viên hợp danh của Văn
phòng công chứng và danh sách công chứng viên làm việc theo chế độ hợp đồngcủa Văn phòng công chứng (nếu có)