Đầu tư phát triển: Là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chỉ dùng vốn trong hiện tại để tiếnhành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất nhàxưởng,
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn hai thập kỷ đổi mới và hội nhập, Việt Nam đã có những bước phát triểnvượt bậc cả về kinh tế, văn hoá và xã hội Điều đó thể hiện con đường phát triển đúngđắn mà Đảng và nhà nước ta đã lựa chọn Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hìnhkinh tế tổng quát là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đếnnay, có thể khẳng định rằng Việt Nam đã bước đầu thực hiện thành công quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng vị thế quốc gia lên một tầm cao mới trêntrường khu vực cũng như quốc tế
Từ năm 2001 – 2007, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh
tế tương đối cao, đặc biệt năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao nhất tronglịch sử: 8,5%,vài năm trở lại đây có phần chậm laị nhưng vẫn là khá cao so với thế giớiđiển hình như năm 2010 là 6.78% Một vấn đề cấp thiết được đặt ra là làm thế nào đểduy trì tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế ấy trong một thời gian dài Để tăngtrưởng và phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững thì một trong những điều kiệnquan trọng là phải mở rộng và nâng cao hiệu quả đầu tư Vậy câu hỏi đặt ra là hoạtđộng đầu tư phát triển trong giai đoạn vừa qua đã đạt hiệu quả cao nhất chưa?Nếu chưa thì có thể tăng hiệu quả đầu tư lên nữa được không? Để trả lời câu hỏi
đó, chúng ta cần phải nghiên cứu hoạt động đầu tư phát triển Nếu phân loại đầu
tư phát triển theo tính chất hoạt động đầu tư, thì chia ra thành 2 khía cạnh làhoạt động đầu tư theo chiều rộng và hoạt động đầu tư theo chiều sâu 2 hoạtđộng đầu tư này tuy khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau, luônđan xen và bổ sung lẫn nhau Mối quan hệ đó rất quan trọng và quyết định đếnhiệu quả đầu tư Vì vậy, chúng em – nhóm 14 lớp kinh tế Đầu tư 51D đã chọn
đề tài: “ Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu”
để cùng các bạn tìm hiểu, nghiên cứu và thảo luận về vấn đề này
Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy tối đa mối quan hệ này đểphục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước
Trang 2Trong quá trình thực hiện, bài viết của nhóm chúng em còn nhiều thiếu sót Vìthế, chúng em rất mong nhận được sự nhận xét và đóng góp của thầy cô cùng toàn thểcác bạn để đề tài được hoàn thiện hơn
Tập thể nhóm 14 lớp kinh tế Đầu tư 51D xin chân thành cảm ơn PGS.TS TừQuang Phương đã giúp đỡ tận tình để nhóm hoàn thành đề tài này
Nghĩa hẹp: Đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng những nguồn lực
ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lailớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt đựoc các kết quả đó
Các nguồn lực bao gồm: Tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trítuệ Biểu hiện bằng tiền của tất cả các nguồn lực gọi là vốn đầu tư
Trang 3Các kết quả: Gia tăng tài sản vật chất, tài sản tài chính hoặc tài sản trí tuệ vànguồn nhân lực có điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tếvà toàn bộ xã hội.
1.2 Đầu tư phát triển:
Là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chỉ dùng vốn trong hiện tại để tiếnhành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhàxưởng, thiết bị) tài sản trí tuệ (tri thức, kĩ năng…) gia tăng năng lực sản xuất,tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển
2 Đặc điểm và vai trò của đầu tư phát triển:
2.1 Đặc điểm
- Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư pháttriển thường rất lớn
- Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư
- Lao động cần sử dụng cho dự án rất lớn, đặc biệt đối với các dự án trọngđiểm quốc gia
- Thời kì đầu tư kéo dài: thời kì đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự
án đến khi dự án hoàn thành và đi vào hoạt động
- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài: thời gian vận hành các kếtquả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn sửdụng và đào thải công trình
- Trong suốt quá trình vận hành, các thành quả đầu tư chịu sự tác độngcủa cả 2 mặt, cả tích cực và tiêu cực, các yếu tố tự nhiên, kinh tế, chính trị, xãhội
- Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trình xâydựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng lên, do đó, quá
Trang 4trình thực hiện đầu tư cũng như thời kì vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnhhưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng.
- Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao: do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kì đầu
tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài…nên mức độrủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường cao
2.2 Vai trò:
Trên góc độ vĩ mô
* Đầu tư là nhân tố quan trọng tác động đến tăng trưởng kinh tế:
- Theo mô hình Harrod – Domar, mức tăng trưởng của nền kinh tế phụthuộc trực tiếp vào mức gia tăng vốn đầu tư thuần
g = dY/Y = (dY / dK ) * ( dK / Y )
dY = I / ICOR
Trong đó:
Delta Y là mức gia tăng sản lượng
Delta K là mức gia tăng vốn đầu tư
I là mức đầu tư thuần
K tổng quy mô vốn của nền kinh tế
Y là tổng sản lượng của nền kinh tế
ICOR Hệ số gia tăng vốn – sản lượng
- Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng thể hiện cũng rất rõ nét trong tiếntrình đổi mới mở cửa nền kinh tế nước ta thời gian qua Với chính sách đổi mới,các nguồn vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài ngày càng được đa dạng hóavà gia tăng về quy mô, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế đạt được cũng rấtthỏa đáng
Trang 5* Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
- Đầu tư có tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua nhữngchính sách tác động đến cơ cấu đầu tư
- Trong điều hành chính sách đầu tư, nhà nước có thể can thiệp trực tiếpnhư thực hiện chính sách phân bổ vốn, kế hoạch hóa, xây dựng cơ chế quản lýđầu tư hoặc điều tiết gián tiếp thông qua các công cụ chính sách như thuế, tíndụng, lãi suất để xác lập và định hướng một cơ cấu đầu tư dẫn dắt sự dịchchuyển cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý hơn
- Vốn đầu tư cũng như tỷ trọng vốn đầu tư cho các ngành và các vùng kinh
tế có ảnh hưởng trực tiếp đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh
tế vùng và ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng chung của cả nền kinh tế
* Đầu tư tác động làm tăng năng lực khoa học công nghệ của đất nước:
- Đầu tư phát triển trực tiếp tạo mới và cải tạo chất lượng năng lượng sảnxuất, phục vụ của nền kinh tế và các đơn vị cơ sở
- Đầu tư là điểu kiện tiên quyết cho quá trình đổi mới và nâng cao năng lựccông nghệ của quốc gia
* Đầu tư tác động đến tổng cung, tổng cầu của nền kinh tế:
- Đầu tư (I) là một trong những bộ phận quan trọng của tổng cầu ( AD= C+ I + G + X - M)
- Khi quy mô đầu tư thay đổi cũng có tác động trực tiếp đến quy mô tổngcầu Tuy nhiên tác động của đầu tư lên tổng cầu là ngắn hạn
- Trong dài hạn, khi các thành quả của đầu tư đã được huy động và pháthuy tác dụng, năng lực sản xuất và cung ứng dịch vụ gia tăng thì tổng cungcũng sẽ tăng lên
Trang 6Trên góc độ vi mô
Trên góc độ vi mô thì đầu tư là nhân tố quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của các cơ sở sản xuất, cung ứng dịch vụ và của cả các đơn vị vô vị lợi
3 Phân loại đầu tư phát triển
+ Theo bản chất của đối tượng đầu tư:
Đầu tư cho các đối tượng vật chất (Đầu tư tài sản vật chất hoặc tài sản thựcnhư nhà xưởng ,máy móc thiết bị…)
Đầu tư cho các đối tượng phi vật chất (đầu tư tài sản trí tuệ và nguồn nhânlực như đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế…)
+ Theo phân cấp quản lý: Đầu tư phát triển được chia thành đầu tư theo các
dự án quan trọng quốc gia,dự án nhóm A,B,C
+ Theo lĩnh vực hoạt động của các kết quả đầu tư: Đầu tư phát triển sảnxuất kinh doanh, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, đầu tư phát triển cơ sở hạtầng
+ Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư: đầu tư cơ bản và đầu tưvận hành
+ Theo thời gian hoạt động của các kết quả đầu tư trong quá trình tái sảnxuất xã hội: đầu tư thương mại và đầu tư sản xuất
+ Theo thời gian thực hiện và phat huy tác dụng của các kết quả đầu tư: đầu
tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn
+ Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp
Trang 7+ Theo nguồn vốn trên phạm vi quốc gia: đầu tư bằng nguồn vốn trongnước và đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài
+ Theo vùng lãnh thổ: đầu tư phát triển của các vùng lãnh thổ, các vùngkinh tế trọng điểm, đầu tư phát triển khu vực thành thị và nông thôn…
4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của đầu tư:
4.1 Hiệu quả đầu tư:
- Là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế - xãhội đã đạt được của hoạt động đầu tư với chi phí bỏ ra để có các kết quả đótrong 1 thời kì nhất định
Thước đo hiệu quả đầu tư cho thấy mô hình tăng trưởng của nền kinh tếtheo chiều rộng hay chiều sâu ICOR là chỉ số phản ánh hiệu quả đầu tư, nghĩalà cho thấy để có thêm một đồng GDP thì cần bỏ ra bao nhiêu đồng vốn Chỉ sốnày của Việt Nam hiện đang cao hơn năm 2008 (trên 8 điểm so với 6,66 điểmnăm 2008), nghĩa là để có mức tăng trưởng như năm 2008, năm nay chúng ta sẽphải bỏ ra nhiều vốn đầu tư hơn Hiệu quả đầu tư của chúng ta đang sụt giảm.Muốn tăng hiệu quả đầu tư thì ngoài những yếu tố khách quan, tăng cường nộilực là đòi hỏi tất yếu Ở tầm vĩ mô, tăng cường nội lực cho nền kinh tế là nângcấp cơ sở hạ tầng (giao thông thuận tiện, điện đầy đủ ), cơ chế chính sách rộng
mở kích thích được các thành phần kinh tế, thủ tục hành chính thuận lợi, đào tạonhân lực hiệu quả Đối với mỗi doanh nghiệp, tăng cường nội lực là tăng đầu
tư trang thiết bị, máy móc, quy trình công nghệ hiện đại hơn, hiệu năng lớn hơn;quản lý, tổ chức sản xuất tốt hơn; công nhân giỏi (tóm lại là nâng được năngsuất và sức cạnh tranh của sản phẩm) Như vậy, để tăng hiệu quả đầu tư, khôngchỉ cần sự vào cuộc mạnh mẽ của cấp trung ương, mà mỗi địa phương, mỗidoanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh trên cả nước đều phải chuyển mình,cùng hành động
Trang 84.2 Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư
Hiệu quả đầu tư phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố tác động qua lại lẫn nhautrong đó có 3 yếu tố cơ bản là thu nhập, chi phí đầu tư sản xuất và môi trườngđầu tư
Thu nhập phản ánh được lượng hàng hoá mà doanh nghiệp đó bán được.Khi thu nhập tăng=> nhu cầu về hàng hoá tiêu dùng của người dân tăng lên, khi
đó hiệu quả của đầu tư tăng lên tương ứng
Chi phí đầu tư sản xuất: là biểu hiện bằng tiền của các chi phí mà doanhnghiệp đã phải bỏ ra để tiến hành sản xuất trong 1 chu kì kinh doanh Chi phíđầu tư sản xuất phụ thuộc vào 2 yếu tố quan trọng là lãi suất và thuế Một dự ánđầu tư muốn đầu tư được thì phải có vốn để đầu tư Vốn đầu tư, trên góc độ toànbộ nền kinh tế vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốnđầu tư nước ngoài Lãi suất chính là cầu nối giữa cung và cầu về vốn đầu tư.Vấn đề quan trọng nhất của 1 dự án đầu tư là khả năng huy động vốn Điềukiện huy động có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư là tạo lập và duy trì năng lựctăng trưởng nhanh và bền vững cho nền kinh tế, đảm bảo ổn định mô trườngkinh tế vĩ mô, xây dựng các chính sách xây dựng các nguồn vốn có hiệu quả.Nếu vốn đầu tư lớn nhưng lãi suất mà quá cao thì việc huy động vốn cũng sẽkhó mà thực hiện được vì thế mà hiệu quả đầu tư sẽ không cao. Ngoài lãi suấtthì thuế cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư Chính sách thuế cókhuyến khích được các nhà đầu tư hay không ,có mang lại được hiệu quả đầu tưhay không là vấn đề mà đang được nhiều nước quan tâm
Môi trường đầu tư cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả đầu tư Mộtquốc gia có nền chính trị ổn định, có những chính sách ưu đãi đối với nhà đầu tư, có những chính sách về công nghệ khoa học, có hệ thống thông tin hiện đại
Trang 9giúp cho việc đầu tư được thuận lợi thì chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả đầu tưcao.
II/ Nội dung đầu tư theo chiều rộng, đầu tư theo chiều sâu và mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
1 Đầu tư theo chiều rộng:
1.1 Khái niệm:
Theo quan điểm tái sản xuất của Mác: đầu tư theo chiều rộng là đầu tưnhằm mở rộng quy mô sản xuất nhưng không làm tăng năng suất lao động Đầu
tư theo chiều rộng cũng chính là đầu tư mới
Theo quan điểm ngày nay thì đầu tư theo chiều rộng là đầu tư trên cơ sở cảitạo và mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, xây dựng mới các cơ sở vật chấtvới những kỹ thuật công nghệ cơ bản như cũ
1.2 Nội dung:
+ Đầu tư theo chiều rộng là mở rộng quy mô sản xuất mà không làm tăngnăng suất lao động Đó là đầu tư cho cả 4 yếu tố của đầu vào là lao động, vốn,công nghệ và tài nguyên một cách tương xứng như nhau, theo 1 tỷ lệ như cũ
+ Đầu tư theo chiều rộng là hoạt động mua sắm máy móc thiết bị để đổi mớithay thế cho những thiết bị cũ theo 1 dây chuyền công nghệ đã có từ trước
+ Đầu tư theo chiều rộng là đầu tư xây dựng mới nhà cửa, cấu trúc hạ tầngtheo thiết kế được phê duyệt lần đầu làm tăng thêm lượng tài sản vật chất thamgia vào quá trình sản xuất kinh doanh Tuy vậy tính kỹ thuật của công trình đóvẫn dựa trên những thiết kế có sẵn chưa được cải tạo và hiên đại hoá
Trang 10Như vậy thực chất của đầu tư theo chiều rộng là để mở rộng quy mô sảnxuất nhằm sản xuất 1 khối lượng sản phẩm lớn hơn trên cơ sở xây dựng mới cáchạng mục công trình như nhà xưởng sản xuất, thuê thêm nhiều nhân công đểđáp ứng khối lượng yêu cầu tăng thêm của sản xuất, đào tạo nguồn nhân lực đápứng đòi hỏi của công việc.
1.3 Ưu điểm và nhược điểm:
xã hội, chính trị , kinh tế
- Đầu tư theo chiều rộng không dẫn đến tiết kiệm nguyên liệu và không làmtăng năng suất lao động Đầu tư theo chiều rộng có hạn chế trong việc đầu tưnâng cao chất lượng nguồn nhân lực áp dụng công nghệ và kỹ thuật
- Đầu tư theo chiều rộng đòi hỏi lượng vốn lớn và vốn này nằm khê đọngtrong suốt quá trình thực hiện đầu tư Do đó đòi hỏi các nhà đầu tư cần có sựlựa chọn kỹ càng để lực chọn được cơ hội đầu tư mang lại hiệu quả cao nhất,tức là phải có 1 quá trình nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố thị trường, các điều
Trang 11kiện tự nhiên và các yếu tố kinh tế xã hội trước khi đưa ra quyết định đầu tưnhằm bảo đảm thu hồi vốn và có lãi Cũng do lượng vốn lớn nên việc huy độngvốn thường gặp khó khăn và tốn nhiều thời gian.
- Đầu tư theo chiều rộng có tính chất phức tạp và độ mạo hiểm cao Tínhchất phức tạp do phải xây dựng và lắp ghép nhiều hạng mục công trình Trongquá trình thực hiện đầu tư cũng do quá trình xây dựng phức tạp cộng với vốnlớn và tác động tiêu cực của các yếu tố khách quan và chủ quan cho nên đầu tưtheo chiều rộng có độ mạo hiểm cao hơn
1.4 Vai trò:
+ Đối với nền kinh tế:
Đầu tư theo chiều rộng là nhân tố làm tăng quy mô cho nền kinh tế Nềnkinh tế tăng trưởng với quy mô lớn hơn trước trên cơ sở xây dựng mới và mởrộng nhiều vùng kinh tế,nhiều khu cụm công nghiệp trên khắp cả nước Do đó
nó còn thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế,thúc đẩy tạo điềukiện và hỗ trợ các vùng kinh tế chậm phát triển,vùng sâu vùng xa được thamgia vào quá trình phát triển kinh tế của đất nước 1 cách tích cực hơn mạnh mẽhơn
+ Đối với doanh nghiệp:
Đầu tư theo chiều rộng đi cùng với việc có thêm nhiều cơ sở sản xuất kinhdoanh khiến cho quy mô sản xuất của các doanh nghiệp được mở rộng, đưanăng suất tăng thêm, cho phép khai thác hiệu quả theo quy mô Nó còn gópphần tạo ra nhiều việc làm mới,giải quyết công ăn việc làm cho người lao động
ở các địa phương, làm tăng doanh thu của các doanh nghiệp, góp phần làm tăngngân sách của nhà nước đóng góp vào đà tăng trưởng chung của nền kinh tế
Trang 12Đầu tư theo chiều rộng có hiệu quả càng nhiều thì doanh nghiệp càng có nhiềuđiều kiện về vốn, lao động tài nguyên để phát triển sản xuất
2 Đầu tư theo chiều sâu:
2.1 Khái niệm:
Là hoạt động đầu tư được thực hiện trên cơ sở cải tạo nâng cao, đồng bộhoá, hiện đại hoá, cơ sở vật chất kĩ thuật hiện có, hoặc xây dựng lại hoặcđầu tư mới một dây chuyền công nghệ, xây dựng một nhà máy mới nhưng
kĩ thuật công nghệ phải hiện đại hơn kĩ thuật công nghệ hiện có hoặc kĩthuật trung bình của ngành, vùng nhằm duy trì năng lực đã có
2.2 Nội dung của đầu tư theo chiều sâu:
- Xây dựng thêm hoặc mua sắm thêm những tài sản mới nằm trong thànhphần tài sản cố định có sẵn nhằm tăng cường khối lượng sản xuất
- Đầu tư bố trí lại toàn bộ hoặc một bộ phận các dây chuyền sản xuất ở cơ
sở cho phù hợp với dây chuyền sản xuất mới
- Duy trì năng lực đã có của các cơ sở đang hoạt động là thực hiện các biệnpháp nhằm bù đắp các tài sản cố định đã bị loại bỏ do hao mòn hoặc lạc hậubằng các thiết bị mới có năng suất hoạt động và hiệu quả cao hơn
- Đầu tư theo chiều sâu là hoạt động phát triển nguồn nhân lực, đầu tư vànâng cấp bộ máy quản lý, phương pháp quản lý của doanh nghiệp Đầu tư theochiều sâu chính là đầu tư về mặt chất cho nên chất lượng nguồn nhân lực vàhiệu quả của bộ máy nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng
2.3 Ưu điểm và nhược điểm:
* Ưu điểm
Trang 13- Đầu tư chiều sâu làm giảm chi phí sản xuất tăng năng suất lao động vànâng cao hiệu quả đầu tư.
- Khối lượng vốn đầu tư không lớn và có thể thực hiện dễ dàng nhanh chónghơn so với đầu tư theo chiều rộng
- Thời gian thực hiện đầu tư theo chiều sâu tương đối ngắn hơn so với đầu
tư theo chiều rộng do khối lượng công việc ít đa dạng hơn
- Đầu tư theo chiều sâu ít mạo hiểm hơn và có độ rủi ro thấp hơn so với đầu
tư theo chiều rộng
- Thông thường trong quá trình thực hiện đầu tư việc sản xuất vẫn có thểsong song, thêm vào đó do khối lượng vốn đầu tư tương đối nhỏ khiến cho việcthu hồi vốn diễn ra nhanh chóng
* Nhược điểm
- Với đầu tư chiều sâu thì tốc độ tăng vốn lớn hơn tốc độ tăng lao động Màtrong điều kiện nước ta cũng như các nước phát triển và đang phát triển trên thếgiới thì sức ép về lao động đang là vấn đề cấp bách
- Đầu tư chiều sâu cần phải có đội ngũ tri thức cao nghiên cứu chính xác,học hỏi các kinh nghiệm của các nước trên thế giới những cũng cần phải phùhợp với điều kiện của doanh nghiệp mình
2.4 Vai trò của đầu tư theo chiều sâu:
- Đầu tư theo chiều sâu là điều kiện không thể thiếu trong điều kiện hiệnnay để thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế
- Đối với doanh nghiệp đầu tư theo chiều sâu là chiến lược tồn tại và pháttriển lâu dài của doanh nghiệp Đầu tư theo chiều sâu giúp doanh nghiệp nâng
Trang 14cao năng suất lao động, giảm chi phí, hạ giá thành nhờ đó nâng cao năng lựccạnh tranh của sản phẩm trên thị trường
- Đầu tư theo chiều sâu có ảnh hưởng quan trọng không chỉ đến tốc độ tăngtrưởng kinh tế mà còn ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng kinh tế
III.Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
1 ĐTCR là nền tảng cơ sở, là bước đi đầu tiên để đầu tư chiều sâu.
- Để có thể đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì bất kỳ doanh nghiệp
nào cũng cần có được một nền tảng cơ bản Nền tảng cơ bản đó bao gồm hệthống nhà xưởng, cơ sở hạ tầng, máy móc trang thiết bị, công nhân lao động,đội ngũ cán bộ quản lý điều hành… Những hoạt động này đòi hỏi một lượngvốn đầu tư ban đầu lớn Do đó các doanh nghiệp trong thời gian đâu thànhlập thường có quy mô vừa và nhỏ Trong quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh, doanh nghiệp sẽ tích luỹ để có vốn tiếp tục đầu tư Lúc này, doanhnghiệp cần tiến hành đầu tư chiều rộng để mở rộng hoạt động sản xuất củamình, củng cố vị trí của mình trên thị trường
- Sau khi đã có được một nền tảng vững chắc, một vị thế tốt trên thị trường
thì việc nâng cao hiệu quả sản xuất là rất cần thiết Quá trình hoạt động lâudài sẽ khiến máy móc trang thiết bị của doanh nghiệp bị hao mòn vô hình vàhữu hình Vì vậy, doanh nghiệp cần bỏ vốn đầu tư thay thế máy móc, thiết bị
cũ, tu sửa, cải tạo nhà xưởng Bên cạnh đó, việc duy trì một công nghệ quálâu sẽ khiến sản phẩm của doanh nghiệp không thể đáp ứng được yêu cầungày càng cao của khách hàng, khó cạnh tranh với các sản phẩm cùng loạitrên thị trường của các doanh nghiệp mới có công nghệ tiên tiến
- Trên nền tảng có được thông qua hoạt động đầu tư theo chiều rộng, doanhnghiệp sẽ tiến hành đầu tư theo chiều sâu như hiện đại hoá, đổi mới côngnghệ, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, đào tạo nâng cao trình độ tay
Trang 15nghề cũng như trình độ quản lý điều hành…Những hoạt động này chỉ có thểtiến hành khi đã có được một nền tảng vững chắc.
Vì vậy, đầu tư chiều rộng đóng một vai trò rất lớn đối với hoạt động đầu
tư chiều sâu, nó là nền tảng, là cơ sở để hoạt động đầu tư chiều sâu có hiệuquả
2 Đầu tư chiều sâu tiếp tục tạo tiền đề để đầu tư chiều rộng ở những phương diện mới
2.1.Đầu tư theo chiều rộng dựa trên kết quả của đầu tư theo chiều sâu
- ĐTCR là để mở rộng quy mô sản xuất nhằm sản xuất một khối lượng sảnphẩm lớn hơn nữa trên cơ sở xây dựng mới thêm các hạng mục công trình
- Đầu tư theo chiều sâu có vai trò làm tăng năng suất lao động, tạo ra sảnphẩm có mẫu mã và chất lượng tốt hơn, do đó làm tăng khả năng cạnh tranh củasản phẩm trên thị trường và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Khi doanh nghiệpđầu tư theo chiều sâu thành công, doanh nghiệp sẽ bắt kịp về trình độ khoa họccông nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành cũng như hoànthiện hơn công tác quản lý trong doanh nghiệp góp phần tăng khả năng cạnhtranh trên thị trường
Sau 1 thời gian, khi sản phẩm đã khẳng định được chỗ đứng trên thị trườngvà đựơc khách hàng ưa chuộng thì nhu cầu về sản phẩm sẽ tăng lên Khi đó, đểđáp ứng nhu cầu thị trường và kì vọng tăng doanh thu của doanh nghiệp, doanhnghiệp sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư thêm máy móc nhà xưởng, thuêthêm nhiều lao động, đó chính là lúc doanh nghiệp đầu tư theo chiều rộng dựatrên kết quả có sẵn của đầu tư theo chiều sâu
Trang 16-Với nền tảng mới do đầu tư chiều sâu tạo ra, đầu tư chiều rộng sẽ được tiếnhành trên những phương diện mới, đưa doanh nghiệp lên vị thế mới với trình độcao hơn.
-Đầu tư theo chiều sâu có hiệu quả sẽ tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp
có thể đầu tư nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm mới hoặc các lĩnh vực kinhdoanh có tiềm năng; tạo đà cho doanh nghiệp có thể chuyển từ đơn sản phẩmthành đa sản phẩm hay từ đơn lĩnh vực thành đa lĩnh vực, qua đó doanh nghiệplại tiếp tục đầu tư theo chiều rộng trên những phương diện mới
=> Doanh nghiệp có thể khẳng định được vị thế của mình trên thị trường, duytrì tốc độ tăng trưởng, đồng thời không ngừng phát triển cả về chiều sâu lẫnchiều rộng Nhu cầu của thị trường là rất đa dạng, biến động, yêu cầu ngày càngcao về mọi mặt nên đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn linh hoạt trong vấn đề phốikết hợp đầu tư theo chiều rộng và theo chiều sâu
2.2.Đầu tư theo chiều rộng giúp tăng hiệu quả kinh tế và hiệu quả về mặt thời
gian của đầu tư theo chiều sâu.
- Đầu tư theo chiều sâu liên quan đến việc nghiên cứu các máy móc thiết bị mớihiện đại và đào tạo đội ngũ nhân sự có chuyên môn kiến thức Công việc này cóđộ rủi ro cao và đòi hỏi tri thức và tốn kém về mặt thời gian, tiền bạc Đầu tư theo chiều rộng giúp ứng dụng các kết quả của đầu tư theo chiều sâu 1 cách rộng rãi , từ đó nâng cao trình độ kĩ thuật cho toàn bộ nền kinh tế
- Nhờ đầu tư theo chiều rộng mà máy móc thiết bị do kết quả của đầu tư theo chiều sâu được tăng thời gian sử dụng, tiết kiệm chi phí dùng để nghiên cưu cácloại máy móc mới
- Đối với những nước nền kinh tế còn kém phát triển, lượng vốn để huy động được cho đầu tư còn thiếu, phải tìm cách đầu tư cần ít vốn mà đem lại hiêu quả
Trang 17Đầu tư theo chiều sâu để phát triển kinh tế đối với các nước này là vô cùng quantrọng
- Các nước nghèo có nhiều cơ hội để nhập công nghệ từ các nước phát triển đặcbiệt là thông qua con đường đầu tư trực tiếp nước ngoài và tự do hóa thương mại Từ đó làm tăng tuổi thọ của các dây chuyền thiết bị, tức là tăng hiệu quả vềmặt thời gian và kinh tế cho đầu tư theo chiều sâu ở các nước phát triển, đồng thời tạo điều kiện đầu tư theo chiều rộng ở nước đang phát triển
- Quá trình toàn cầu hóa làm cho các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc lẫn nhau hơn, bởi vậy các nước cần học hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước, học hỏi công nghệ tiên tiến phù hợp với nước mình để phát triển
3 Đầu tư chiều sâu và đầu tư chiều rộng không tách rời nhau, đan xen
và bổ sung lẫn nhau trong quá trình thực hiện chiến lược đầu tư phát triển của doanh nghiệp.
- Đầu tư theo chiều rộng sẽ tạo ra cơ sở nền tảng để tiến hành đầu tư chiều sâu.Đến lượt mình thì đầu tư chiều sâu lại thúc đẩy hoạt động đầu tư chiều rộng.Hai hoạt động này không thể tách rời nhau được
+ Nếu không có hoạt động đầu tư chiều rộng tiến hành trước để tạo ra cơ
sở vật chất cũng như nền tảng ban đầu cho doanh nghiệp thì không thể nào cóđược hoạt động đầu tư chiều sâu
+ Nếu chỉ tiến hành hoạt động đầu tư chiều rộng thì lượng sản phẩm sảnxuất ra quá lớn mà không có sự thay đổi để đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu củakhách hàng thì sẽ khó tiêu thụ sản phẩm, gây ứ đọng vốn
- Đầu tư theo chiều rộng giúp doanh nghiệp duy trì năng lực kinh doanh, giữđược uy tín và thị phần của mình: thay thế máy móc, thiết bị đã quá cũ, tu sửa,cải tạo nhà xưởng, mở rộng hoạt động sản xuất để đáp ứng nhu cầu của thị
Trang 18trường như xây dựng thêm nhà máy mới, mua thêm dây chuyền sản xuất vớitrình độ công nghệ như cũ.
- Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng lưu ý đầu tư theo chiều sâu để tăng tínhcạnh tranh cho sản phẩm của mình, như đổi mới công nghệ, đổi mới cơ chếquản lý, hay nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân Để từ đó tăng năngsuất lao động, hạ giá thành sản phẩm
- Không ngừng bổ sung và hoàn thiện cho nhau nhưng hai hoạt động này cũng
có tác động kiềm chế lẫn nhau Không phải lúc nào đầu tư theo chiều rộng cũng
có tác dụng là động lực thúc đẩy đầu tư theo chiều sâu Đầu tư theo chiều rộngkhông hợp lý, tràn lan thì lại hạn chế hiệu quả của hoạt động đầu tư theo chiềusâu của doanh nghiệp
+ Nếu đầu tư theo chiều rộng tạo ra một cơ sở vật chất không phù hợpvà đồng bộ như nhà xưởng không đúng quy cách, hay dây chuyền máy mócnhập lúc đầu quá lạc hậu hoặc quá tiên tiến, sự chênh lệch về trình độ công nghệquá lớn giữa các bộ phận sản xuất… sẽ dẫn đến tình trạng làm đầu tư chiều sâukhông phát huy được hiệu quả, gây lãng phí, thất thoát
+ Ngược lại, đầu tư theo chiều sâu không hiệu quả sẽ làm cho doanhnghiệp không có đủ điều kiện để tiếp tục đầu tư theo chiều rộng mở rộng sảnxuất
Tóm lại, đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu có mối quan hệ
vô cùng mật thiết Hoạt động này góp phần làm tăng hiệu quả của hoạt độngkia và ngược lại Đồng thời, sự kém hiệu quả của hoạt động này cũng gâyảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kia
Do đó, để thực hiện đầu tư có hiệu quả thì doanh nghiệp cần xem xét đầy đủ,nghiên cứu kỹ lưỡng để phối kết hợp một cách hợp lý hai hình thức đầu tưnày, tạo nên sức cạnh tranh và chỗ đứng vững chắc trên thị trường
Trang 194.Đầu tư theo chiều sâu là chiến lược lâu dài của doanh nghiệp, giúp rút ngắn khoảng cách cho 1 số nước tiến tới đầu tư theo chiều rộng.
-Đối với một nền kinh tế, việc đầu tư theo chiều rộng không thể kéo dài quálâu Bất kỳ quốc gia nào cũng không thể tăng trưởng mãi theo chiều rộng bằngcách tăng vô hạn vốn đầu tư, đất đai, lao động, tài nguyên vì các nguồn này đều
có giới hạn
- Do đầu tư theo chiều rộng đòi hỏi vốn lớn và thời gian đầu tư kéo dai, do
đó gây trở ngại cho các nươc thiếu vốn Bên cạnh đó đầu tư theo chiều sâu cókhối lượng vốn đầu tư không lớn và có thể thực hiện dễ dàng nhanh chóng hơn
so với đầu tư theo chiều rộng
-Bên cạnh đó nếu tiếp tục phát triển theo chiều rộng, thiếu chiều sâu thì nềnkinh tế sẽ có nguy cơ phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn vật chất và các yếu tốbên ngoài
-Đối với một doanh nghiệp, việc mở rộng quy mô sản xuất với trình độ côngnghệ như cũ chỉ có thể đến một giới hạn nhất định Doanh nghiệp nếu khôngđầu tư theo chiều sâu để nâng cao năng lực công nghệ cũng như chất lượng sảnphẩm thì sẽ nhanh chóng tụt hậu sản phẩm không thể tiêu thụ được dẫn đếnkhông thể tồn tại được là điều tất nhiên
- Đầu tư theo chiều sâu có thể nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư bỏ ra theohướng gia tăng tỷ trọng đóng góp của yếu tố công nghệ - một yếu tố không cógiới hạn như những yếu tố khác và tạo ra một nền tảng bền vững cho sự pháttriển lâu dài của doanh nghiệp
=>Có thể nói, đầu tư chiều sâu là một chiến lược lâu dài và quan trọng, có ýnghĩa quyết định đến sự phát triển của mỗi quốc gia
Trang 20CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ THEO CHIỀU RỘNG, ĐẦU TƯ THEO CHIỀU SÂU VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG , ĐẦU TƯ CHIỀU SÂU
Trong số 10 mặt hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của ViệtNam, Ngành may mặc là câu chuyện thành công chính của Việt Nam Đây làmặt hàng có nhiều lợi thế so sánh và có khả năng phát triển cao Trong giaiđoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước công nghiệp DệtMay đóng vai trò là ngành tích luỹ tư bản cho quá trình phát triển công nghiệp
về sau Hơn nữa, trong xu thế quốc tế hoá hiện nay, Việt Nam cũng đã trở thànhthành viên ASEAN (5/1995), APEC (11/1998) và gia nhập tổ chức WTO Nhưvậy, các sản phẩm dệt may của Việt Nam vừa có điều kiện để mở rộng, xâmnhập thị trường tiêu thụ, vừa chịu sức ép cạnh tranh lớn hơn trong môi trườngcạnh tranh quốc tế Vì vậy khi nghiên cứu về đề tài “Mối quan hệ giữa đầu tưtheo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu”, trong phần thực trạng đầu tư theochiều rộng nhóm em sẽ trình bày về một ngành cụ thể đó là ngành dệt may
I Đặc điểm đầu tư của ngành dệt may
Mỗi một ngành công nghiệp độc lập có những đặc điểm nhất định, khácbiệt so với các ngành khác Những đặc điểm đó chi phối đến quá trình tổ chứcsản xuất và trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành.Việc nghiên cứu, làm rõ chúng có vai trò quan trọng trong việc định hướng phát
Trang 21triển ngành dệt may có điểm khác biệt so với các ngành khác, do đó đầu tư củangành dệt may cũng có những điểm khác biệt, đó là:
Thứ nhất, vốn đầu tư vào ngành dệt may không lớn và thời gian thu hồi
vốn nhanh Đây là ngành có suất đầu tư thấp, suất đầu tư ngành dệt may bằng 1/10 so với ngành cơ khí, 1/15 so với ngành điện, 1/20 so với ngành luyện kim
Để tạo ra một việc làm ngành dệt chỉ cần đầu tư 15000$, ngành may
10000$,trong đó ngành giấy cần 30000$ Đồng thời, thời gian thu hồi vốn của ngành dệt may thấp hơn so với nhiều ngành khác, thời gian thi hồi vốn của ngành may là 5-7 năm, dệt là 10-12 năm, công nghiệp nặng là 10-15 năm
Thứ hai, dệt may là ngành không đòi hỏi công nghệ quá phức tạp Khác
với các ngành công nghiệp khác, công nghệ phải phát triển tới một mức độ nào
đó thì sản xuất của ngành mới có thể thuẹc hiện được như việc khai thác, dầukhí, mỏ quặng…Dệt may là ngành sử dụng nhiều lao động giản đơn, do đókhông yêu cầu công nghệ phải hiện đại và vì vậy nó xuất hiện sớm ở nhiều nướcđang phát triển
Thứ ba, trong quá trình phát triển sản xuất, đầu tư nguyên nhiên liệu là quan trọng Cũng như các ngành công nghiệp khác, nguyên vật liệu là cơ sở
chính để sản xuất , đặc biệt trong ngành dệt may nó có những tác động trực tiếpđến quá trình sản xuất Hiện nay, dệt may Việt Nam còn nhập nguyên liệu nhiềuvới giá rất cao, do đó cần đầu tư phát triển vùng nguyên liệu trong nước đáp ứngnhu cầu sản xuất của ngành
Thứ tư, ngành dệt may đòi hỏi đầu tư phát triển nguồn nhân lực Như ta đã
biết, 4 yếu tố tham gia vào sản xuất: vốn, lao động, công nghệ, tài nguyên thiênnhiên Dệt may là ngành có đòi hỏi vốn không nhiều, công nghệ không quáphức tạp, do đó trong sản xuất phải đầu tư phát triển nhiều nguồn lực Do ngànhdệt may là ngành sử dụng nhiều lao động, đặc biệt là lao động giản đơn, do đóchú trọng vào nguồn nhân lực là điều quan trọng
Trang 22II THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ THEO CHIỀU
RỘNG VÀ ĐẦU TƯ THEO CHIỀU SÂU TRONG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
1. Đầu tư theo chiều rộng là nền tảng cơ sở, là bước đi đầu tiên để đầu tư theo chiều sâu
So với nhiều ngành khác, ngành dệt may ở Việt Nam là ngành công nghiệp truyền thống có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển Từ khi đổimới, ngành dệt may không ngừng phát triển cả về qui mô, năng lực sản xuất, sản phẩm dệt may Việt nam đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu trong nước và có khả năng xuất khẩu lớn sang các thị trường khó tính như
EU, Nhật Bản, Bắc Mỹ… Việc xuất khẩu hàng dệt may đã đem lại một khoản ngoại tệ rất đáng kể Chỉ tính riêng trong bốn năm gần đây (1999 –2002), xuất khẩu của ngành dệt may đã mang về cho đất nước trên 8,3 tỉ
USD Nhưng với hệ thống dây chuyền cũ kỹ, lạc hậu đang vận hành thì
sản phẩm làm ra không thể cạnh tranh trên thị trường do thua kém cả về năng suất và chất lượng, Để Dệt May phát triển trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn thì phải cần vốn đầu tư cải tạo, nâng cấp, đổi mới máy
móc thiết bị và công nghệ, nâng cao chất lượng hạ giá thành sản phẩm, cạnh tranh được trên thị trường Đầu tư mở rộng sản xuất không chỉ là
cơ sở để tạo ra vốn sản xuất, tăng năng lực sản xuất của các doanh nghiệpmà còn là điều kiện để nâng cao trình độ khoa học công nghệ, góp phần đáng kể vào đầu tư theo chiều sâu, hiện đại hoá quá trình sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường trong giai đoạn tiếp
2. Đầu tư theo chiều sâu tiếp tục tạo tiền đề để đầu tư chiều rộng
ở những phương diện mới
Trang 232.1 Đầu tư vào máy móc thiết bị và công nghệ
Hoạt động đầu tư vào thiết bị công nghệ có vai trò rất quan trọng trong sản xuấtcủa các ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành dệt may Tuy ngành dệt may đượcphát triển sớm nhưng nếu không có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ thìkhông có khả năng phát triển sản xuất sản phẩm chất lượng cao, tốn kém về chiphí sản xuất, không tạo được sản phẩm đa dạng Công nghệ mới góp phần nângcao năng suất, chất lượng sản phẩm, phục vụ tốt hơn nhu cầu ngày một gia tăngcủa con người Ngược lại, sự tiến bộ khoa học công nghệ tạo sản phẩm mới kíchthích làm phát triển nhu cầu tiêu dùng dẫn đến thúc đẩy trở lại ngành dệt mayphát triển
a Khối lượng vốn đầu tư
Khối lượng vốn đầu tư toàn ngành trong những năm qua có xu hướng tăng vàvốn đầu tư cho đổi mới công nghệ chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu vốn đầu tư,thường là 40-60% Theo kết quả thống kê cho bảng sau:
Bảng 3: Khối lượng vốn đầu tư cho đổi mới công nghệ Tổng công ty Dệtmay Việt Nam giai đoạn 2000-2005
Năm Tổng mức đầu tư
(tỷ đồng)
Vốn đầu tư đổi mới công nghệ
(tỷ đồng)
Tỷ trọng(%)
Trang 24Tổng 11.948,9 6.052,5 TB:50,65
Nguồn: Tổng công ty Dệt may Việt Nam (Vinatex)Tình hình đầu tư ở Tổng công ty Dệt may Việt Nam cũng phản ánh tìnhhình chung toàn ngành Tuy vốn đầu tư giai đoạn 2000-2005 có tăng so với giaiđoạn trước nhưng xét về tỷ trọng vốn đầu tư dành cho đổi mới công nghệ thì cógiảm Tỷ trọng vốn tư cho đổi mới công nghệ 2000-2005 là trên 50% tổng mứcvốn đầu tư trong khi ở giai đoạn 1996-2000 là 81,1% Sở dĩ có sự giảm tỷ trọngnhư trên là do giai đoạn 1996-2000 đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ với mọitiềm lực để đầu tư hiện đại hóa máy móc thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất.Chính vì vậy từ năm 2000 đến nay ngành không phải đầu tư nhiều cho côngnghệ nữa mà chủ yếu tập trung đầu tư theo chiều rộng Trung bình mỗi doanhnghiệp dệt may giành 2,9% doanh thu để đầu tư để cho đổi mới công nghệ Cókhoảng 12 doanh nghiệp điển hình có tỷ lệ vốn đầu tư cho đổi mới công nghệtrên tổng doanh thu lớn hơn 5%: Công ty dệt kim Đông Xuân (25%); Công tyDệt nhuộm vải Phước Thịnh (24,61%); Công ty dệt 8/3 (11,2%); Công ty dệtmay Hà Nội (9%) Có thể thấy quy mô vốn đầu tư toàn ngành cũng như từngdoanh nghiệp đều tăng lên
b.Phương thức đầu tư đổi mới công nghệ
Đa số các doanh nghiệp sử dụng kết hợp nhiều phương thức, rất ít doanhnghiệp chỉ sử dụng một phương thức đổi mới công nghệ Trong đó, tự tổ chứcnghiên cứu được tiến hành song song với việc mua công nghệ mới nhằm mụcđích tăng hiệu quả ứng dụng và vận hành công nghệ
Bảng 5: Phương thức đầu tư đổi mới công nghệ của 64 doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
Trang 25Tự tổ chức nghiên cứu và thiết kế trong nội bộ doanh nghiệp 32Hợp tác với cơ quan khoa học nước ngoài 26Hợp tác với cơ quan khoa học trong nước 5
Liên doanh liên kết với doanh nghiệp trong nước 20Liên doanh liên kết với doanh nghiệp nước ngoài 23
Nguồn: Báo cáo kết quả khảo sát về đổi mới công nghệ tại các doanhnghiệp công nghiệp Việt Nam
Từ kết quả nghiên cứu trên thấy rằng đa số các doanh nghiệp lựa chọn hình thức khép kín, ít có sự giao lưu hợp tác với nước ngoài Phương thức được áp dụng nhiều nhất là mua công nghệ từ nước ngoài và bắt chước thiết kế lại theo mẫu đều được 54% doanh nghiệp áp dụng Hai phương thức này có chung một
ưu điểm là đều tiết kiệm được thời gian và chi phí nghiên cứu
c.Nội dung đầu tư đổi mới công nghệ
Trong 5 năm 2000-2005, số lượng máy móc thiết bị của toàn ngành vàVinatex có sự thay đổi đáng kể được trình bày ở bảng sau
Trang 26Bảng 6: Nội dung đầu tư đổi mới công nghệ ngành dệt may và Vinatex
8.00085.00030425.000400
6.40075.0001395.200110
16.750260.00080032.0001.200
16.000118.700205.0008.500360
1.050.0003.52014.0001.110190.000
900.0002.0006.32013028.000
2.487.00017.87017.4374.972245.300
1.274.00011.3005.01572041.460
Nguồn: Tổng công ty dệt may Việt Nam
+ Thiết bị kéo sợi
Trang 27Được đầu tư nâng cấp từng giai đoạn với lượng vốn đầu tư khác
nhau.Giai đoạn 1991-1995, ngành dệt đầu tư 39,96 triệu USD để thay mới, thay
thế đồng bộ và cục bộ các máy cũ của Tây Âu và nâng cấp cải tạo các cọc sợibên cạnh việc mua mới 201.906 cọc sợi Do đó sợi dệt công nghệ mới đạt chất
lượng cao Đến giai đoạn 1996-2004 thiết bị kéo sợi tiếp tục được đầu tư đổi
mới đáp ứng yêu cầu của ngành gồm nhiều chủng loại, xuất xứ từ Tây Âu, NhậtBản…20,2% thiết bị từ Italy; 19,97% từ Thụy Sỹ; 18,25% từ Trung Quốc;
16,65% từ Đức… với tổng vốn đầu tư là 1.976,5 triệu USD Năm 2005, ngành
dệt có 2.487.000 cọc sợi (17.870 rôto) trong đó đầu tư mới 502.000 cọc sợi, sảnxuất 260.000 tấn sợi một năm Tuy nhiên theo đánh giá của các chuyên gia thìtrình độ công nghệ của tiểu ngành vẫn ở mức trung bình và lạc hậu đòi hỏi phảiđầu tư hơn nữa
+ Thiết bị, công nghệ dệt thoi
Giai đoạn 1991-1995 vốn đầu tư cho thiết bị dệt thoi là 14,09 triệu USDchủ yếu thay mới các thiết bị đã quá cũ và lạc hậu so với khu vực và thế giới,đầu tư nâng cấp những thiết bị đã qua sử dụng nhưng năng lực thực tế vẫn chấp
nhận được Thiết bị chủ yếu có xuất xứ từ Hàn Quốc, Nhật Bản…Từ năm 1996
đến nay toàn ngành có 6000 thiết bị mới được đầu tư với lượng vốn đầu tư là78,5 triệu USD Hiện nay có 17.437 máy dệt sản xuất 800 triệu m vải, 32.000tấn khăn bông nhưng chất lượng vải còn hạn chế Vải dệt thoi xuất khẩu vàcung cấp cho may xuất khẩu chỉ khoảng 13-14% Nguyên nhân là do trình độcông nghệ ở mức trung bình không đáp ứng được yêu cầu vải xuất khẩu Vì vậy,tăng đầu tư cho thiết bị dệt thoi sẽ góp phần tăng giá trị xuất khẩu
+ Thiết bị, công nghệ dệt kim
Vào giai đoạn 1996-2000, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã đầu tưdây chuyền công nghệ dệt kim mới của châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc kết hợpvới đầu tư sửa chữa máy móc đã qua sử dụng, phát huy hiệu quả cao và nănglực sản xuất đã tăng lên với 1.110 máy dệt kim, đạt hơn 70.000 tấn sản phẩm
Trang 28mỗi năm Từ năm 2000 , để đáp ứng chất lượng hang hoá xuất khẩu vào các thịtrường khó tính như Mĩ, tiểu ngành dệt kim đã tăng tốc trong việc cải thiện trìnhđộ công nghệ Đến năm 2005, toàn ngành có tới 4.972 máy dệt kim và đượcđánh giá là trình độ công nghệ trung bình khá và đã cải thiện được một số vấn
đề về công nghệ như giảm tỷ lệ tiêu hao nguyên liệu, thay đổi mặt hàng, sảnxuất các loại vải mật độ cao, ổn định kích thước, ít lỗi…
+Thiết bị, công nghệ ở khâu in nhuộm, hoàn tất
Theo thống kê của Vinatex, giai đoạn 2000-2004, các doanh nghiệp thànhviên đã đầu tư khoảng 1.208,67 tỷ đồng cho việc thay mới và bổ sung, nâng cấpthiết bị công nghệ in, nhuộm, hoàn tất Trong đó, đa số thiết bị được nhập từ cácnước Tây Âu với tổng giá trị 321,5 tỷ đồng, chiếm 56% tổng giá trị; tiếp đó làmáy móc Đài Loan với tổng giá trị 102,4 tỷ đồng, chiếm 16% và Nhật Bản vớitổng vốn đầu tư khoảng 68,2 tỷ đồng, chiếm 14% Các thiết bị công nghệ mua
ở thị trường trong nước rất ít, chỉ khoảng 1,984 tỷ đồng chiếm 0,3% tổng vốnđầu tư mới
+ Đầu tư cho thiết bị, công nghệ ngành may
Nếu như ngành dệt chủ yếu sản xuất đầu vào cho ngành may thi ngànhmay lại là ngành trực tiếp tạo ra sản phẩm tiêu dùng và xuất khẩu Vì vậy vấn đềnâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm là hết sức cần thiết Giai đoạn 1991-
1995, ngành may đã đầu tư 267,3 tỷ đồng với 19.527 máy may Các máy maymới đều là những máy khá hiện đại so với thiết bị may thế giới và khu vực, cótốc độ cao, bơm dầu tự động, đảm bảo vệ sinh,… Bước sang giai đoạn 1996-2005,toàn ngành lại tiếp tục đầu tư cho máy móc thiết bị ngành may Trong giaiđoạn này, Vinatex đã đầu tư 356,8 tỷ đồng cho thiết bị công nghệ ngành may,chiếm 28,7% tổng vốn đầu tư của Tổng công ty; trong đó, tổng đầu tư của cácdoanh nghiệp may là 260,2 tỷ đồng, chiếm 87% tổng vốn đầu tư cho thiết bịcông nghệ may mặc và các doanh nghiệp dệt đầu tư cho may là 50,3 tỷ đồng,chiếm 13%
Trang 29Đầu tư máy móc thiết bị ngành may hiện nay dịch chuyển theo hướngtăng cường các sản phẩm cao cấp, hướng vào các thị trường mục tiêu Trongthời gian qua, những doanh nghiệp đi đầu trong việc đầu tư đổi mới công nghệphải kể đến doanh nghiệp may Việt Tiến, May 10, may Nhà Bè …
Nhìn vào các con số thống kê có thể thấy rằng, các doanh nghiệp dệt may
đã tập trung một lượng vốn lớn cho đầu tư hiện đại hoá và đổi mới trang thiết bịcông nghệ của ngành Những nỗ lực đó đã mang lại nhiều kết quả khả quan nhưnăng lực sản xuất tăng lên, công nghệ và thiết bị được hiện đại hóa, cải thiệnkim ngạch xuất khẩu và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm dệt may trên thịtrường quốc tế
Trong năm 2005, toàn ngành đã thực hiện và triển khai được nhiều dự ánđổi mới công nghệ như dự án đầu tư mới và mở rộng của công ty Dệt Đông Á,đầu tư mới tại công ty dệt may Hà Nội tăng năng lực sản xuất thêm 2.494 tấnsợi/năm; công ty May 10 đã đầu tư thêm máy móc thiết bị hiện đại để tăng nănglực thêm 200.000 bộ veston/năm, ngoài ra còn có các dự án bổ sung dây chuyềnkéo sợi của công ty dệt may Hòa Thọ, đầu tư máy móc thiết bị mới tại công tydệt Phong Phú, dệt Thành Công, dệt may Nha Trang…
Năm 2006, tập đoàn dệt may Việt Nam dành 1773 tỷ đồng cho đầu tư đổimới công nghệ dệt may Trong đó, nội dung đầu tư gồm đầu tư nâng cấp và mởrộng khâu hoàn tất vải dệt thoi như nâng cấp và mở rộng các nhà máy nhuộmcủa Dệt Nam Định, Dệt May Thắng Lợi, Dệt Việt Thắng trên cơ sở cổ phần hóahoặc liên doanh với các đối tác nước ngoài Đẩy nhanh tiến độ di dời kết hợphiện đại hóa các công ty dệt 8/3, Dệt Nam Định, Dệt kim Đông Xuân,…Nghiêncứu sản xuất sản phẩm mới và sản phẩm dệt thoi trên cơ sở vải cotton CLC, vảispandex, vải thời trang; các sản phẩm dệt đa chức năng, kỹ thuật và nhóm sảnphẩm nội thất: vải bọc, đồ dùng gia đình, xe hơi, thảm trải sàn,…Tập đoàn dệt
Trang 30may Việt Nam cũng đầu tư nâng cao năng suất lao động trọng tâm vào khâu kéosợi, dệt thoi, may mặc với chỉ tiêu tăng 20-30% so với hiện nay.
Trước đây, sản phẩm sợi được sản xuất trên dây chuyền công nghệ củaCHDC Đức, công suất 5200 tấn/năm Các máy móc, thiết bị trong dây chuyềnchủ yếu được sản xuất từ những năm 1978, 1990 và 2000 của CHDC Đức, Italiavà Trung Quốc Sợi là sản phẩm truyền thống, là thế mạnh chiếm trên 2/3 tổng
số doanh thu hàng năm của Công ty Nhưng với hệ thống dây chuyền cũ kỹ, lạchậu đang vận hành thì sản phẩm làm ra không thể cạnh tranh trên thị trường dothua kém cả về năng suất và chất lượng Trong khí đó, thị trường sợi nội địa vànước ngoài đã có nhiều sản phẩm chất lượng tốt, có thương hiệu nổi tiếng, đượckhách hàng ưa chuộng Điều này tạo ra một áp lực cạnh tranh lớn đối với cácsản phẩm sợi của Công ty CP Dệt May Hoàng Thị Loan Trước thực trạng đó,năm 2009, sau thời gian nghiên cứu, tìm tòi các công nghệ mới đang được ápdụng tại các nhà máy trong nước và châu Á, Công ty đã lựa chọn công nghệ sảnxuất sợi thế hệ mới của Trung Quốc, công suất 6500 tấn/ năm, chất lượng sảnphẩm đáp ứng tiêu chí xuất khẩu ngành, các chỉ tiêu về môi trường đạt tiêuchuẩn cho phép, với tổng giá trị đầu tư là 29 tỷ đồng
Quá trình đổi mới công nghệ sản xuất được thực hiện trên nguyên tắc hiệuquả và tiết kiệm chi phí Đối với các chủng loại thiết bị quá lạc hậu, công ty đầu
tư mua thiết bị mới thay thế; còn đối với các chủng loại thiết bị vẫn đáp ứng yêu
Trang 31cầu sản xuất thì được nâng cấp, bảo dưỡng để tiếp tục sử dụng Đồng thời vớiviệc nghiên cứu, lắp đặt hệ thống thiết bị mới, công ty cũng tiến hành cải tạo lại
cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật để phù hợp với điều kiện sản xuất mới, phát huyhết công suất của thiết bị Cụ thể như thiết kế và làm mới hệ thống phân phốiđiện cho các thiết bị mới, cải tạo các miệng hút gió của hệ thống điều hòa khôngkhí, v.v…
Qua quá trình đầu tư đổi mới, nâng cấp công nghệ- thiết bị, công ty đã hoànchỉnh dây chuyền công nghệ sản xuất sợi mới với 7 công đoạn, gồm: công đoạnmáy bông, máy chải, máy ghép, máy thô, máy sợi con, máy ống, và quả sợithành phẩm Với dây chuyền thiết bị mới, tất cả các công đoạn đều cho năngsuất cao hơn, chất lượng sợi tốt, giảm nhân công và giảm thiểu mức độ bụi bônggây ô nhiễm môi trường
Cụ thể, ở công đoạn chải bông sản lượng tăng 2500kg/ca, giảm 3 công nhânđứng máy/ca; công đoạn ghép sợi giảm 1 công nhân/ca, tăng sản lượng cúi ghép2000kg/ca Ở các công đoạn máy sợi thô, sợi con, công đoạn đánh ống, sảnlượng tăng 1500 kg/ca Tính tổng thể, sản lượng toàn nhà máy tăng thêm 1300tấn/năm Đồng thời, sau đổi mới dây chuyền thiết bị, chất lượng sợi nâng lên rõrệt, đạt các tiêu chuẩn xuất khẩu của Tổng Công ty và của ngành sản xuất sợitrong nước, giúp công ty có thêm nhiều bạn hàng nước ngoài, tăng tỷ lệ sợi xuấtkhẩu từ 20% lên tới 40%/năm Đưa tổng doanh thu của Công ty năm 2010 xấp
xỉ 500 tỷ đồng, gần gấp 2 lần doanh thu các năm 2008 và 2009 Như vậy, từhướng đầu tư theo chiều sâu đã tạo bước tiến cho doanh nghiệp không ngừng
mở rộng quy mô sản xuát.(đầu tư theo chiều rộng)
2.2 Đầu tư vào thương hiệu
Theo đánh giá của chuyên gia quốc tế Việt Nam thành lập khá ổn định sự
có mặt của mình trong thị trường hàng dệt may toàn cầu, ngành công nghiệp dệtmay của Việt Nam đã có sức cạnh tranh Sản phẩm dệt may Việt Nam đã tạođược sự tin cậy của các nhà bán lẻ quốc tế được biết đến khá nhiều trên thị
Trang 32trường quốc tế Một số thương hiệu quen thuộc đã gây được uy tín như: may 10,may Việt Tiến, gấm Thái Tuấn, dệt kim Đông Xuân, sơ mi An Phước.
Vài năm trở lại đây, một số doanh nghiệp dệt may đầu tư vào công tác tiếpthị, quảng bá sản phẩm hiệu quả đã sản xuất được nhiều sản phẩm mang thươnghiệu của chính mình và từng bước đẩy lùi hàng ngoại như: công ty thời trangViệt với nhãn hiệu NinoMaxx, đưa ra sản phầm trên vải jeans, kaki, lylen…thích hợp cho giới trẻ năng động ; gấm Thái Tuấn với vải lụa mềm, hoạ tiết độcđáo hợp cho trang phục mang đậm nét văn hoá; may Việt Tiến với sản phẩm sơ
mi, quần âu… đa dạng mẫu mã chiếm lĩnh thị trường khá đông đảo
Gần đây các doanh nghiệp đã quan tâm đến nghiên cứu, thu thập và phântích thông tin thị trường như: tổ chức xây dựng các bộ phận nghiên cứu pháttriển của phòng Marketing, xây dựng chương trình quảng cáo khuyến mãi, mởrộng hội nghị khách hàng, tham dự hội trợ trong nước, quốc tế
3.3 Đầu tư vào nguồn nhân lực
Yếu tố nguồn nhân lực: đây là một trong những yếu tố chính của hoạt
động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong ngành Dệt May Nó được biểu
hiện trên hai mặt là số lượng và chất lượng Về số lượng là những người trongđộ tuổi lao động và thời gian của họ có thể huy động vào làm việc Về mặtchất được thể hiện ở trình độ khéo léo của công nhân, trình độ quản
lý Ngành Dệt May có đặc trưng là sử dụng nhiều lao động, quy trình nhiềucông đoạn thủ công Vì thế lao động là yếu tố quan trọng trong ngành
Nguồn nhân lực dồi dào với giá rẻ là một lợi thế so sánh của ngành Dệt
May Việt Nam Nhưng lao động cũng phải đạt đến một trình độ nhất định, cótrình độ chuyên môn cao, sáng tạo, nhanh nhạy với cái mới thì mới thực sựtrở thành lợi thế của ngành, ngược lại người lao động kém năng động, kémkhéo léo thì kìm hãm sự phát triển của ngành
Trang 33Lao động trong ngành Dệt May hiện nay tăng nhanh và tập trung chủ yếu trongcác doanh nghiệp ngoài quốc doanh, sau đó là doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài Hai loại hình doanh nghiệp này hiện nay đang thu hút 2/3 lao động củatoàn ngành Dệt May Thường đa số các doanh nghiệp này hiện nay lại cókhuynh hướng đầu tư cho việc thu hút lao động, chứ không có khuynh hướngđầu tư mạnh cho hoạt động đào tạo.
Do yêu cầu về lao động của ngành Dệt May tăng rất nhanh nên khả năngđáp ứng của cơ sở đào tạo không theo kịp Dẫn đến tính trạng tranh giành laođộng giữa các doanh nghiệp trong ngành tăng lên đã đến mức báo động Khitình trạng đó xảy ra, các doanh nghiệp ngại đào tạo người lao động vì khả năng
họ rời bỏ công ty sau khi được đào tạo là quá lớn Doanh nghiệp không đào tạo,nhân viên cảm thấy không thỏa mãn nhu cầu được học tập của mình lại muốn ra
đi tìm nơi khác nhiều hơn
Bảng 3 Tỷ lệ biến động lao động trong ngành Dệt May
Tuyển mới trong
Giảm trong năm 88828 18% 107858 18% 175851 27%
(Tổng hợp từ nguồn số liệu của Tổng cục Thống kê)
Tỷ lệ biến động lao động cao nhất thuộc các doanh nghiệp liên doanh, sau
đó đến doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Bảng 4 Tăng giảm lao động theo loại hình doanh nghiệp 2004
Trang 34Loại hình
doanh
nghiệp
Lao động đầu năm
Lao động cuối năm (LĐC N)
Tuyển mới (TM) Lao động giảm
Tổng số
TM/
LĐCN
Tổng số
giảm/ LĐCN
Trang 35liệu năm 2004, tổng công ty dệt may Việt Nam đã triển khai được 24 lớp đàotạo, 699 học viên, 126 cán bộ được tập huấn quản trị chiến lược.
Tuy nhiên ,Theo đánh giá chung, cán bộ thiết kế mẫu mốt, cán bộ marketingtrong các doanh nghiệp dệt may đang rất thiếu và yếu, đặc biệt trong lĩnh vực sửdụng internet để tạo lợi thế trong tiếp cận khách hàng ở các nước và marketingcho công ty và sản phẩm Công nhân trong ngành dệt may không có tay nghềcòn cao (20,4%) nên năng suất lao động thấp, chẳng hạn cùng một ca làm việc -năng suất lao động bình quân của một lao động ngành may Việt Nam chỉ đạt 12
áo sơ mi ngắn tay hoặc 10 quần thì một lao động Hồng Kông năng suất lao độnglà 30 áo hoặc 15 - 20 quần.[5]
Bên cạnh đó ngành đang có tình trạng thiếu nguồn lao động quản lý và kĩ thuật,nghiệp vụ Hầu hết, các cán bộ quản lý chủ chốt trong các doanh nghiệp Dệtmay đều có trinh đọ đại học hoặc cao đẳng, chuyên môn khá nhưng trình độquản lý theo phong cách công nghiệp còn yếu, tiếp cận với phương thức quản lýhiện đại còn ít Cán bộ kĩ thuật chủ yếu trưởng thành từ công nhân bậc cao nênchỉ giỏi về chuyên môn của nhưng sản phẩm cụ thể con như việc sáng tác mẫu,tạo dang sản phảm còn rất kém Các doanh nghiệp rất cần những kỹ sư có bằngcấp, công nhân kĩ thuật và các nhà quản lý- những người có khả năng nắm bắtcông nghệ hiện đại Có một thực tế là nhiều doanh nghiệp bỏ ra một số tiền lớn
để mua thiết bị và công nghệ hiện đại, giá cao để chuẩn bị cho việc sản xuất cácmặt hàng cao cấp, song người vận hành các thiết bị này lại có trình độ chuyênmôn thấp
Trong ngành dệt, lượng lao động qua đào tạo chỉ chiếm 35,1%; trình độ caođẳng, đại học và trên đại học chỉ chiếm 7% Trong ngành may, tỷ lệ lao độngqua đào tạo còn thấp hơn, chiếm 18,24% tổng số lao động; trình độ cao đẳng,đại học và sau đại học chỉ dừng lại ở mức 4,16%
Bảng 7: Trình độ lao động trong các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam
Trang 36Trình độ lao động Tỷ lệ trong các
doanh nghiệp dệt (%)
Tỷ lệ trong cácdoanh nghiệp may (%)
3. Đầu tư chiều sâu và đầu tư chiều rộng không tách rời nhau, đan xen và bổ sung lẫn nhau trong quá trình thực hiện chiến lược đầu tư phát triển của doanh nghiệp và đầu tư chiều sâu là chiến lược lâu dài của doanh nghiệp.
Như vậy, trong giai đoạn 2000-2005 ngành dệt may dã có sự đầu tư mởrộng quy mô sản xuất đi kèm với đầu tư chiều sâu, mặc dù chủ yếu là đổi mớimáy móc trang thiêt bị hơn , vẫn chưa chú trọng đầu tư đào tạo lao động Đầu
tư chiều rộng và đầu tư chiều sâu đã bổ sung lẫn nhau trong quá trình hoạt độngcủa doanh nghiệp Không chỉ dừng lại ở cấp độ doanh nghiệp, qua sự kết hợp
Trang 37giữa 2 hình thức này đã góp phần vào tăng sản phẩm cho xã hôị, từng bướcnâng cao vị thế của ngành dệt may trên trường quốc tế.
Theo số liệu của Trung tâm thương mại thế giới, Việt Nam đứng trong danh sách TOP 10 các nước có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất thế giới về hàng Dệt may trong giai đoạn 2007-2009 và đứng ở vị trí thứ 7 trong năm 2010 với thị phần xuất khẩu gần 3%, sau Trung Quốc (thị phần 36.6%), Bangladesh
(4,32%), Đức (5,03%), Italy (5%), Ấn Độ (3,9%) và Thổ Nhĩ Kỳ (3,7%) Bình quân giai đoạn 2006-10/2011, ngành Dệt may đóng góp trên 15% vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Trong những năm 2006-2008, Dệt may là ngành hàng có giá trị xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam, chỉ đứng sau dầu thô Tuy nhiên, từ năm 2009 tính đến hết 10 tháng đầu năm 2011, Dệt may đã vươn lên
vị trí hàng đầu mặc dù tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu có giảm nhẹ Ngành hiện sử dụng trên 3 triệu lao động – trong đó hơn 1,3 triệu lao động côngnghiệp, chiếm tỉ trọng trên 10% so với lao động công nghiệp cả nước và đạt kimngạch xuất khẩu 11,2 tỉ USD/năm 2010, là ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất với mức đóng góp trên 16% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Trên bản đồ xuất khẩu dệt may thế giới, dệt may Việt Nam cũng đã vươn lên rất nhanh: Năm 1995 Dệt may Việt Nam chỉ xuất khẩu được 850 triệu USD và chưa có tên trong bản đồ xuất khẩu dệt may thế giới, thì đến năm 2010 đã xuất khẩu trên 11 tỷ USD Hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu dệt may lớn thứ 2 vào thị trường Hoa Kỳ, thứ 3 tại thị trường Nhật Bản, thứ 9 tại thị trường EU
Bảng 1 - Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may (2007- 2011)
Trang 38Năm 2010, ngành dệt may Việt Nam đã có bước tăng trưởng khả quan vớinhững chỉ tiêu đầy kinh tế thuyết phục Ngành dệt may đạt kim ngạch XK đạtgần 11,2 tỷ USD, về trước kế hoạch đặt ra 4 năm, đưa ngành dệt may Việt Namlên Top 5 thế giới về kim ngạch xuất khẩu, tăng 23,2% so với năm 2009 trong
Trang 39đó, xuất khẩu sang thị trường Mỹ đạt hơn 6 tỷ USD, tăng 22%, EU đạt hơn 1,8tỷ USD, tăng 14%, Nhật Bản đạt 1,2 tỷ USD, tăng 20% Tiêu thụ tại thị trườngnội địa có mức tăng trưởng cao Tỷ lệ nội địa hóa đạt 46% Với những kết quảtrên, hiện, ngành dệt may đang là điểm sáng của sản xuất công nghiệp năm2010.
Riêng Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) trong năm 2010 đã đạt sự tăngtrưởng vượt bậc: doanh thu toàn Tập đoàn tăng 26%, kim ngạch xuất khẩu tăng23%, lợi nhuận tăng 23%, tỷ lệ nội địa hóa đạt 49%
Các thành viên trong Tập đoàn đã chủ động phát triển thị trường nội địa Doanhthu từ thị trường nội địa năm 2010 toàn Tập đoàn đã đạt trên 15,3 ngàn tỷ đồng,tăng 20% so với năm 2009 Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm, siêu thị thờitrang của tập đoàn và các đơn vị thành viên được mở rộng về hầu khắp các tỉnh,thành phố trong cả nước với hơn 3.100 đại lý, 56 siêu thị thời trang và hàngtrăm cửa hàng giới thiệu sản phẩm Năm 2010 cũng đánh dấu thành công củachiến lược phát triển thương hiệu Một số thương hiệu như Manhattan, SanSciaro (Việt Tiến), Mattana, Novelty (May Nhà Bè), Pharaon, Cleopatre (May10), Molis (Phong Phú)… đã khẳng định được vị thế, khả năng cạnh tranh vớicác nhãn hiệu hàng hóa nước ngoài.
Trong năm 2010, giá trị xuất khẩu Dệt may của Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ trở lại với tốc độ tăng trên 20% (năm 2010) do các đơn hàng gia công được chuyển dần từ Trung Quốc sang Việt Nam, đồng thời, Việt Nam đã mở rộng thị trường xuất khẩu sang các thị trường mới như Đài Loan, Hàn Quốc, các nước ASEAN và gần 30% (10 tháng năm 2011) so với cùng kỳ năm trước
Năm 2011- Vinatex tập trung vào chiến lược đầu tư chiều sâu
Tập đoàn sẽ tập trung mạnh vào chiến lược đầu tư: xây dựng những nhà máytrọng yếu của tập đoàn nhất là trong lĩnh vực sản xuất vải và dệt nhuộm; đầu tư
Trang 40máy móc, công nghệ và chuyển dịch các nhà máy về vùng sâu, xa để ổn địnhlao động cũng như tạo việc làm cho lao động địa phương; đầu tư phòng kiểmnghiệm sinh thái để kiểm tra đầu vào cũng như đầu ra của sản phẩm dệt may;triển khai những nhà máy có sự đầu tư cốt lõi vào sản phẩm có giá trị thặng dưcao Đặc biệt năm 2011, Tập đoàn Dệt may Việt Nam định hướng phát triển sảnxuất các sản phẩm veston cao cấp bằng việc cho ra đời 4 nhà máy sản xuất mới.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã biểu dươngnhững nỗ lực của Tập đoàn Dệt may Việt Nam với những nỗ lực của mình, đãđóng vai trò hết sức quan trọng, là trụ cột để đưa toàn ngành dệt may Việt Namphát triển
Để thích ứng với giai đoạn phát triển mới, Phó Thủ tướng yêu cầu, Tập đoànphải chuyển dịch cơ cấu và mô hình tăng trưởng, từ đầu tư chiều rộng sang đầu
tư chiều sâu, đầu tư theo hướng nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, côngnghệ hiện đại, để tăng năng suất lao động, thực hiện tốt công tác quy hoạch, ràsoát quy hoạch, có cơ chế phù hợp để di dời các nhà máy trong nội đô, đây cũnglà cơ hội để đầu tư chiều sâu Phó Thủ tướng yêu cầu, Tập đoàn phải triển khaitốt các chiến lược phát triển đã được Chính phủ phê duyệt, đặc biệt là chiếnlược về nguồn nhân lực, phát triển vùng cây nguyên liệu; đồng thời mạnh dạn
đề xuất các cơ chế quản lý phù hợp với Chính phủ để cho ngành dệt may pháttriển
Thay mặt lãnh đạo Tập đoàn, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn Dệt mayViệt Nam Vũ Đức Giang đã khẳng định quyết tâm đưa Tập đoàn Dệt may ViệtNam nói riêng và toàn ngành dệt may Việt Nam nói chung phát triển nhanh vàbền vững theo hướng chuyển dịch từ gia công sang xuất khẩu FOB, đặc biệt chútrọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và vùng nguyên liệu trồng bông,nâng cao hơn nữa tỷ lệ nội địa hóa.