ĐỀ TÀI “ Nghiên cứu sự biến đổi văn hóa của cộng đồng dân cư người thái ở xã Tam Thanh, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa” Phần mở đầu khái quát 1 Lý do chọn đề tài Xã Tam Thanh – một xã[.]
Trang 1ĐỀ TÀI : “ Nghiên cứu sự biến đổi văn hóa của cộng đồng dân cư người thái ở xã Tam Thanh, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa”.
Phần mở đầu : khái quát
1 Lý do chọn đề tài
Xã Tam Thanh – một xã vùng biên thuộc huyện Quan Sơn với truyền thống văn hóa được truyền từ đời này qua đời khác đẫ để lại cho xã những giá trị văn hóa như : Lễ hội, phong tục tập quán,tín ngưỡng, kiến trúc …
Hiện nay trong bối cảnh đất nước ta đang trong quá trình CNH – HĐH đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội nước ta đều có những thay đổi theo hướng hiện đại, giao lưu văn hóa các vùng miền ngày càng được mở rộng, đặc biệt xã Tam Thanh còn là một xã vùng biên giới có sự giao lưu văn hóA
– giao thương hàng hóa qua lại gữa hai ( Việt – Lào ) xã Tam Thanh – Huyện Sầm Tớ hai bên láng giềng biên giới với phương châm “ tỉnh kết nghĩa anh em, huyện kết nghĩa với huyện, xã kết nghĩa với các thôn bản bên nước bạn ” làng Na Ấu kết nghĩa an hem với bản Nà Nghịu Sâm Tớ, hàng năm vào các dịp lễ của mỗi nước có những đòng sang chúc mừng, giao lưu tạo mối quan hệ khăng khí với nhau
Trang 2Trong khi đó người kinh di cư lên sinh sống cùng với người dân bản địa mang văn hóa miền xuôi lên miền ngược tạo cho hai nền văn hóa bản địa và văn hóa dân tộc việt có sự hòa quyện lại với nhau
Từ nghững nguyên nhân trên không ít di sản văn hóa phi vật thể của làng như : Thờ cúng tổ tiên, lễ đầy cữ, đám cưới, ma chay, phong tục tập quán… bị mai một hoặc mất đi vĩnh viễn, các mỗi quan hệ khăng khít làng xóm, láng giềng bị phá vỡ
… Trước thực tế đó, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nói chung, phát huy bản sắc văn hóa làng nói riêng đang một thách thức vô cùng to lớn Vì vậy, nếu không có một định hướng đúng đắn và hợp lý về bảo tồn và phát triển văn hóa ở vùng chịu tác động của đô thị hóa trên cơ sở nghiên cứu truyền thống lịch sử, văn hóa của làng xã sẽ dẫn đến sự mất cân đối trong phát triển và mất đi những giá trị văn hóa tốt đẹp Xuất phát từ những lý do trên , tôi đã mạnh dạn nghiên cứu vấn đề “ Nghiên cứu sự biến đổi văn hóa của cộng đồng dân cư người thái ở xã Tam Thanh, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa”
2 Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu đề tài nhằm tìm hiểu một số biến đổi văn hóa trong cộng đồng cư dân tại làng Từ kết quả nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm khuyến khích
Trang 3những yếu tố tích cực và giảm thiểu yếu tố tiêu cực trong đời sống văn hóa ở một số làng xã đang chịu sự tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1: Đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu sự biến đổi văn hóa của cộng đồng dân cư người thái ở xã Tam Thanh, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa
3.2 : Khách thể nghiên cứu.
Người dân thái ở xã Tam Thanh, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa
4 Phương pháp tiếp cận.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, đề tài sử dụng các phương pháp xã hội học sau:
- Phương pháp phân tích tài liệu
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp liên ngành
- Phương pháp điền dã trong xã hội học
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu
- Phương pháp quan sát thực tế
Trang 45 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, taì liệu tham khảo, phụ lục, đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về đồng dân cư người thái ở xã Tam Thanh, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Chương 2: Sự biến đổi văn hóa của cộng đồng cư dân đồng dân cư người thái ở xã Tam Thanh, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Kết quả và bình luận
Trang 5Phần hai : Nội dung
Chương 1: Tổng quan về xã xã Tam Thanh, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Tam Thanh là một xã nằm ở phía Tây Nam huyện Quan Sơn xã có đường liên thôn bản 20km từ trung tâm xã đến các làng, có 18 km đường biên giới chạy qua, từ trung tâm xã lên đường biên gới 4 km, vào tới làng đầu đầu tiên nước bạn lào 8
km Phía Bắc giáp xã Sơn Điện ( Quan Sơn ), phía Đông giáp xã Tam Lư ( Quan Sơn ), Phía Nam giáp xã Sơn Hà ( Quan Sơn ), phía Tây giáp Huyện Sầm Tớ ( nước bạn Lào ), Khoảng cách từ đường Quốc lộ 217 đến trung tâm xã là 12km ( đi vào chỗ km 42 ), Xã có diện tích 93,68 km², dân số năm 2015 là 3.831 người, mật độ dân số đạt 70 người/km²
Xã Tam Thanh chia thành hai loại địa hình rõ rệt: Địa hình núi và các thung lũng đất ở đây có độ dốc lớn, thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp như cây luồng, cây quế, cây xoan các thung lũng người dân tổ chức và phát triển cây lúa nước, các đồi núi cao chủ yếu là rừng già hàng năm có thể khai thác một lượng lâm sản nhất định Đặc điểm về vị trí địa lý và địa hình không thuận lợi đã tác động không nhỏ đến sự phát triển dân sinh, đời sống sinh hoạt, sản xuất, thâm canh cây trồng
Trang 6và hoạt động quản lý hành chính Nhà Nước về an ninh, trật tự, an toàn xã hội của địa phương
Trong suốt 15 năm thành lập xã nhân dân Các Sơn sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt Ngoài việc trồng lúa nước, ở một số diện tích trên thân đất cao ven sông lò, nhân dân tam thanh đã khai hoang để trồng các loại cây màu như ngô, khoai, và trồng các loại cây lâm nghiệp hoặc trồng một số loại cây ăn quả khác Những sản phẩm thu được từ cây màu tuy không lớn, song cũng góp phần cải thiện cuộc sống của nhân dân nơi đây, nhất là trong những mùa màng thất bát, thiên tai,góp phần ổn định an ninh biên giới hai nước sống ôn hòa trợn giúp tương trợ lân nhau thường xuyên có các chương trình giao lưu về văn hóa thể dục thể thao để gắn kết tình nghĩa anh em hai nước thêm găn bó
Người dân Tam Thanh cũng sớm biết kết hợp trồng trọt và chăn nuôi Con trâu được người dân nơi đây coi là “ đầu cơ nghiệp ’’, phục vụ cho việc làm đất, thu hoạch Gần đây, do đồng đất đã được cải tạo, đổi thay nên phần lớn các gia đình lại chuyển sang nuôi bò, vừa phục vụ nghề nông, vừa để sinh sản – trở thành nguồn hàng hóa bán ra thị trường Ngoài ra, hoạt động chăn nuôi gia cầm như gà, vịt, ngan, ngỗng cũng khá phổ biến Chăn nuôi lợn phát triển mạnh ở địa phương, các gia đình hầu hết đều có từ 2 con lợn trở lên Trong những năm gần đây, do sự phát triển của thị trường, việc nuôi lợn nái hay lợn thịt theo mô hình công nghiệp đang được đẩy mạnh, tạo ra thu nhập đáng kể cho các gia đình
Trang 71.2 Truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng
Xã Tam Thanh là vùng đất có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, biến động của xã hội, các dấu tích văn hóa, lịch sử của cha ông còn được lưu giữ ở Tam Thanh là minh chứng cụ thể, sinh động cho bề dày văn hóa và sức sống bất diệt của con người nơi đây
Xưa kia, trong tất cả các làng của xã Tam Thanh đều có các phi môt ( bà cúng ) góp phần tạo ra sắc thái tín ngưỡng truyền thống đặc trưng cho vùng quê này Cũng như nhiều nơi khác, ở xã Tam Thanh có nhiều phong tục tập quán gắn với từng giai đoạn trong cuộc đời mỗi con người từ lúc sinh ra, lúc trưởng thành, cho đến khi già và trở về với tổ tiên Đám cưới của người dân Tam Thanh xưa thường được tổ chức sau mùa thu hoạch, gần giáp Tết Nguyên đán Bởi sau khi thu hoạch, thời gian rảnh rỗi có nhiều, lương thực, vật nuôi đều có sẵn giúp cho việc tổ chức đám cưới thêm thuận lợi, đông vui, náo nhiệt Đối với các ngày lễ, tết, cho đến nay, cư dân các làng ở Các Sơn vẫn duy trì các phong tục như: Tết Nguyên đán, Tết Thanh minh, Tết Đoan ngọ, Tết Trung nguyên, Tết Trung thu
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, nhân dân các thôn đều thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà Nước
Trong quá trình hình thành làng xã, quần tụ dân cư và chung tay phát triển kinh tế - xã hội, nhân dân xã Tam Thanh đã hình thành các giá trị truyền thống
Trang 8lịch sử, văn hóa tiêu biểu, vừa có tính đặc thù mang bản sắc quê hương, vừa phản ánh nét văn hóa chung của nông thôn Việt Nam Đó chính là những tinh thần đoàn kết, gắn bó với nhau chặt chẽ, tạo nên một cộng đồng bền vững
Ngay từ rất sớm, những cư dân đầu tiên đến Tam Thanh đã có ý thức cố kết cộng đồng về ý chí và sức lực để khai phá và cải tạo đồng ruộng, lập làng người đứng đầu các làng ngay xưa là các ( Tạo bản, Tạo mường ), Truyền thống đó đã xuyên suốt hàng ngàn năm, góp phần xây dựng khối đoàn kết trong cộng đồng làng xã, tạo dựng cho quê hương trở thành vùng nông nghiệp trồng lúa phát triển Minh chứng là trên vùng đất hoang rậm, nhiều cánh đồng rộng lớn, màu mỡ đã lần lượt được hình thành Nhân dân Tam Thanh không chỉ giàu kinh nghiệm trong việc trồng lúa mà còn trồng các loại cây màu khác,mà còn biết gìn giữ việc khai thác lâm sản gỗ để xây dựng các nhà sàn kiên cố chông các loại thũ dữ như : Hổ, báo, rắn
1.3 Truyền thống hiếu học và khoa cử
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, mặc dù gặp phải hoàn cảnh hết sức khó khăn, song nhiều gia đình trong xã vẫn tạo điều kiện cho con em mình và nạn mù chữ cơ đã xóa xong, chỉ còn độ 2% người dân chưa biết chữ là người già trên 50 tuổi
Phát huy truyền thống của cha ông, ngày nay lớp con cháu xã Tam Thanh có nhiều người thành đạt, hiển danh được xã hội ghi nhận Ngoài việc học tập để nâng
Trang 9cao dân trí, nhân dân còn tích cực học để xóa đói giảm nghèo, làm giàu, vươn lên trong cuộc sống Nhân dân Tam Thanh hôm nay hiểu được giá trị, sự cần thiết của tri thức trong thời đại đất nước đởi mới, hội nhập Thế hệ học sinh của xã đang ra sức thi đua rèn luyện để có sức khỏe tốt, học tập tốt Đã thành nền nếp, trong Nghị quyết của Đảng bộ xã mỗ nhiệm kỳ đều coi trọng việc nâng cao chất lượng giáo dục Cán bộ, đảng viên có trách nhiệm, gương mẫu, đi đầu trong việc chăm lo, tạo điều kiện, môi trường giáo dục trong chính gia điình mình Trước năm 2008 chỉ có
4 em đậu vào trường đại họcNhững năm gần đây, trên địa bàn xã có gần 10 - 12
em thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng mỗi năm Đây chính là nguồn nhân lực chất lượng cao quan trọng để xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh, xứng đáng với sự hy sinh, vun đắp của biết bao thế hệ cha anh đi trước
Chương 2 : Sự biến đổi về văn hóa người thái ở xã Tam Thanh, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
2.1 : Thờ cúng tổ tiên
- Là một hình thức tín ngưỡng cơ bản và phổ biến của người Việt kể cả ở đồng bằng hay miền núi, nông thôn hay thành thị, người thái ở làng Na Ấu, gọi thờ cúng ông bà tổ tiên là thờ ma nhà ( phi hươn ) theo quan niệm ngày xưa người thái cúng tổ tiên ở một góc giữa gian nhà, ở trên nóc tủ có một cái đệm vuông nhỏ
Trang 10tượng trưng cho ông bà tổ tiên ngồi trông nhà cửa cho con cháu được mạnh khỏe, bình an Khi vào các dịp lễ tết, ma chay, ốm đau hay cả khi trong nhà có chuyện vui như : Đám cưới, ăn cơm mới, con cháu mu axe, mua trâu mới, về nhà mới cúng vào khấn thông báo với ông bà tổ tiên, xin ông bà tổ tiên chứng giám và phù hộ cho con cháu ăn nên làm ra, khi có việc chủ nhà phải có con gà mân sôi, mời thầy cúng đến khấn khi khấn thầy cúng mời tổ tiên ở trên trời về đầy đủ ngồi ăn mâm cơm gia chủ bầy với thành tâm của gia chủ, sau đó thầy cúng nói phần lí do vi sao lại mời ông xuống đây, xin ông bà tổ tiên chứng dám cho gia chủ, chỉ đường cho gia chủ và các thành viên trong gia đình làm, phù hộ cho mọi thành viên được những điều mà minh mong muốn, sau khi nói li do xong thầy cúng mời tô tiên ăn, xong cuối cùng mời tổ tiên về trời và nhăc lại chứng dám cho gia chủ và con cháu
- Với việc phát triển xã hội iệc thờ cúng ông bà tổ tiên dần bị mai một không giữ được nguyên vẹn như ngày xưa : khi văn hóa mới du nhập việc thơ cúng gần giống với phong tục của người dân tôc kinh như : Đưa ảnh ông bà lên trên bàn thờ, trên bàn thờ có hoa, hàng mã, có bánh, có hoa quả, bát hương, Các việc lớn trong nhà đa số người cúng là bố mệ hoặc ông bà khấn, thắp nhang không còn mời thầy cúng về để báo cáo với ông bà tổ tiên
Trang 112 Tín ngưỡng và nghi lễ cá nhân ( vòng đời người từ khi sinh ra đến khi chết )
2.1 : Lễ đầy cữ
- Người thái quan niêm khi người phụ nữ sinh đẻ xong phải vào bếp gần lưa để khô người, người, người mẹ chồng phải đi lấy các loại lá rừng về hơ lủa cho con dâu ngồi lên, đắp lá thuốc vào những chỗ đau khi đẻ cho đắp và ngồi lá thuốc đên khi người thấy khỏe lại bình thường, thường thi sinh bé trai ngồi 7 ngày, còn bé gái ngồi 9 ngày đứng dậy đi khỏi bếp đi lại sinh hoạt bình thường, sau đó gia đình làm một cái lễ cúng vừa chào đón một thành viên mới trong gia đình, lam một mân cơm to một con gà, một đùi lợn, một mân sôi, báo cáo với gia tiên có thêm thanh viên mới, mời thầy cúng ( thầy mo ) về báo cáo với các thần linh cho hai người mẹ và cháu mới sinh được manh khỏe, binh an các thân sẽ phù hộ : Tổ tiên ( ma nhà ), thần rừng ( phi pu, pa), thần sông ( phi năm), thần đất ( phi đin ), thần mặt trời ( phi phạ ), thần sấm, thần sét… mỗi thần có một bài khấn riêng nhưng lại về ăn chung một mâm cơm do gia chủ mời, đặc biệt không thể thiếu mời gia đình họ hàng nhà cậu ( lung ta) cậu là người đặt tên cho cháu
- Bây giờ lễ đầy cử bị mai một đi không cong giữ được nưa mà thay vào đó là lễ đầy tháng khi sinh đẻ người mẹ được gia đình chăm sóc vấn còn giữ tục mẹ chồng đi lấy lá thuốc trong rừng hơ lủa cho con dâu ngồi lên, đắp lá thuốc vào
Trang 12những chỗ đau khi đẻ cho đắp và ngồi lá thuốc đên khi người thấy khỏe lại bình thường vì những loại lá này được ông cha truyền lại cho con dâu để chạy cho con cháu nhưng loại lá về qua sơ chế người mẹ chồng người đẻ cảm thấy bình phục rất nhanh chóng, lễ đầy tháng gia chủ, làm giấy mời anh em, họ hàng, làng xóm, đến chúc mừng gia đình đón thêm thành viên mới
2.3 : Lễ cưỡi hỏi
- Môn đăng hộ đối ở đây rất quan niệm rất rõ dàng nếu nhà gái không xứng tầm với gia đình nhà trai dù dù người con gái đó có khôn đến đâu, đảm đang đến đâu, cuộc hôn nhân đó không được bền lâu dòng họ nhà chông đó gây ra rất nhiều áp lực cho họ, cưới xin là một mốc rất quan trọng của cuộc sống hôn nhân việc kết duyên nam nữ ảnh hưởng đến cuộc sống sau này nên người thái nới đây rất kiêng khị chuyện chăn gối, hôn nhân không êm ấm, tục kéo vợ phổ biến nhất là đôi trai gái cùng nhau rủ nhau trốn sang mường khác chịu thân phận nô lệ ở chúa mường đó, hoặc cô gái tự theo chàng trai về nhà chàng trai trước khi đi cô gái đặt miếng trầu, đồng tiền, 1it gạo, vào chiếc ninh đồ cơm xôi ngụ ý là xin phép tổ tiên trú ngụ ở bếp, sáng ra bố mẹ nhà gái tổ chức đi tìm kiếm tìm một cách hình thức, sau một vài ngày chàng trai dẫn cô gái về nhà cô gai hỏi xem ngày về ở rể thường là 6 tháng, trước năm đổi mới 1986 ở rể 3- 5 năm mới cưới, bây giờ thi không còn tục ở rể, một lễ cưới họi người thái rất cầu kì và tốn kém trước khi nhà trai đi rước dâu có một đội 10 người 5 nam 5 nữ mang lễ gồm ( trầu, cau, 1 xoong 5 lít, 1 đôi bạc, 5