1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đường phố trong điều kiện hiện nay

23 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 436,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đường phố trong điều kiện hiện nay

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC

Mã số: 50701 LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS Hà Nhật Thăng PGS TS Lê Sơn

Hà Nội – 2006

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI VIỆN CHIẾN LƯỢCVÀ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC

Cán bộ hướng dẫn khoa học I : PGS TS Hà Nhật Thăng

Cán bộ hướng dẫn khoa học II : PGS TS Lê Sơn

Phản biện 1

Phản biện 2

Phản biện 3

LUẬN ÁN TIẾN SỸ ĐƯỢC BẢO VỆ TẠI

HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN ÁN TIẾN SỸ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC

Hà Nội, ngày tháng năm 2006

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO NGHIÊN CỨU

1.1 Về mặt lý luận

9 Vì ý thức hiện hữu và nhu cầu sống còn, TĐP cần được chăm sóc giáo dục (CSGD)

9 CSGD.TĐP hiệu quả khi CSGD cá biệt qua con đường tư vấn cá nhân

9 CSGD.TĐP hiệu quả sẽ giúp hạn chế mức gia tăng TĐP

1.2 Về mặt thực tiển

9 Ý nghĩa nhân văn, nhân đạo của nghiên cứu nâng cao chất lượng CSGD.TĐP

9 Ý nghĩa an ninh, kinh tế chính trị khi TĐP được CSGD tốt

9 Xuất phát từ cơ sở pháp lý,chủ trương và mong đợi của chính quyền và xã hội

2 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ đường phố trong tình hình hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

2.2.1 Xác định cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu bao gồm:

• Xác định nội hàm một số khái niệm công cụ để nghiên cứu

• Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các biện pháp tổ chức CSGD.TĐP trong điều kiện hiện nay ở đô thị Cụ thể ở TP.HCM 2.2.2 Đánh giá thực trạng việc CSGD.TĐP ở một số địa bàn nghiên cứu

2.2.3 Xây dựng một giải pháp mới gồm một hệ thống biện pháp xác định phương

pháp, quy trình thực hiện một số nội dung đặc thù trong việc CSGD.TĐP 2.2.4 Tiến hành thực nghiệm, trong giới hạn phạm vi soạn thảo chương trình tư

vấn giáo dục, sử dụng phương pháp tư vấn đạt hiệu quả CSGD.TĐP

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình tổ chức hoạt động sư phạm trong các loại hình chăm sóc giáo dục TĐP: dạy văn hóa, dạy nghề, giáo dục nuôi dưỡng ở nhà mở mái ấm, tổ chức sinh

hoạt và tư vấn trẻ trên đường phố Đề tài chủ yếu dựa trên khảo sát ở TP.HCM

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Giải pháp tác động vào các yếu tố nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đường phố phù hợp với tình hình hiện nay

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Chăm sóc, giáo dục TĐP là vấn đề xã hội, được nhiều đoàn thể, cơ quan

thực hiện, nhưng hầu hết còn nặng về mặt chăm sóc hoặc quản lý hành chánh hơn

là nghĩ đến các khía cạnh giáo dục nhân cách và trang bị cho trẻ ứng xử trước

nhiều tình huống có nguy cơ, hạn chế về mặt lý luận và tổ chức sư phạm Nếu hiểu

rõ tâm lý của TĐP, hoàn cảnh và môi trường các em sống, hoạt động, trên cơ sở đó

đề xuất những nội dung chương trình đổi mới, sử dụng phương pháp giáo dục cá

Trang 4

biệt, giáo dục qua con đường tư vấn cá nhân, thì sẽ đạt được hiệu quả cao hơn về

chất lượng CSGD.TĐP

5 CÁC LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN

Quá trình giáo dục TĐP không thể theo một mô hình duy nhất cho mọi đối tượng TĐP mà phải quán triệt các đặc thù sư phạm từ các đối tượng cá biệt

Giáo dục TĐP cần đảm bảo tính chỉnh thể đồng bộ của quá trình tác động của xã hội

Tổ chức giáo dục TĐP chỉ có thể đạt hiệu quả khi phát huy được ý thức tự

giác, tự tổ chức tham gia tích cực của chính bản thân TĐP, và các quyền trẻ em

được tôn trọng ở mức độ cao nhất

6 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Điều tra xã hội học: Điều tra 150 TĐP, với 10 câu hỏi đơn giản

Phỏng vấn: Phỏng vấn 20 giáo dục viên,CBQL

Quan sát thực tế hoạt động CSGD.TĐP của các giáo dục viên

Tổng kết kinh nghiệm

6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Nhóm thực nghiệm gồm 63 TĐP sống trong khu nhà trọ hẽm 285CMT8, ăn thông qua khu công viên Kỳ Hòa quận 10,TpHồ Chí Minh Nhóm đối chứng là 54 TĐP sống trong mái ấm Mai Liên quận Bình Thạnh (25 em) và nhà mở Ánh Sáng quận 3 (29 em )

6.4 Phương pháp phân tích thống kê

7 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Về lý luận, luận án làm sáng tỏ thêm các đặc thù về mục đích, nội dung, phương pháp của quá trình giáo dục đối với đối tượng TĐP Xây dựng chương

trình đổi mới, phương pháp giáo dục cá biệt TĐP qua con đường tư vấn tâm lý cá

nhân, được tổ chức liên tục, có thể làm tài liệu tham khảo cho các GDV và các cơ

sở chăm sóc giáo dục TĐP

8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu, bố cục văn bản luận án gồm 3 chương sau:

• Chương I: Cơ sở lý luận của hoạt động chăm sóc giáo dục TĐP

• Chương II: Thực trạng hoạt động chăm sóc giáo dục TĐP

• Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng CSGD.TĐP và kết quả thực nghiệm Kết luận và kiến nghị

Danh mục công trình đã công bố

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 5

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC GIÁO DỤC TRẺ ĐƯỜNG PHỐ

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ thập kỷ 80 trẻ em đường phố đã được thế giới nhắc đến rất nhiều Vì số lượng trẻ em lang thang ngày càng đông và trở thành một vấn đề xã hội

Quỹ Trẻ em Thế giới đã được Liên Hiệp Quốc thành lập ngày 11 tháng 12 năm

1946, bày tỏ mối quan tâm của thế giới đối với trẻ em Ngày 2 tháng 9 năm 1990 Công ước về Quyền trẻ em, chính thức có hiệu lực đối với luật pháp quốc tế

Ở Việt Nam, với truyền thống “kính già yêu trẻ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến trẻ em, hoạt động vì trẻ em là một phần không nhỏ trong toàn bộ sự nghiệp của Người Việt Nam là nước đầu tiên của Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ em của Liên Hiệp Quốc TĐP là đối tượng cần được tạo điều kiện để được hưởng quyền trẻ em như những trẻ bình thường

Hơn một thập niên trước đây trên thế giới có nhiều tác phẩm nghiên cứu viết về trẻ đường phố, có thể đơn cử một số tác phẩm và trang Web chuyên mục trẻ đường phố mới phát hành gần đây:

- Redd Barna, 1990, Summing up of our experiences in work with street children

- World Health Organisation,1993, Chương trình trẻ đường phố và những xâm hại

chủ yếu - Judith Ennew, 1996, Trẻ em đường phố và trẻ em lao động

- ChildhopeAsia Philippines, 1995 Learning from families on the edge, Case

studies on Families of Street Children in Southeast Asia, Manila, Philippines

- Ngô kim Cúc, Mikel Flamm, Children of the dust , 1997,

- Tim Bond, Trẻ đường phố thành phố Hồ Chí Minh, 1994

- Trang Web: http://groups.goole.com.vn/groups hay

http://www.streetfrends.org/CONTENT/background/what_are_sc.html hay

http://vnexpress.net/Vietnam/Xa-hoi/2003

Trong những năm gần đây cũng có nhiều tác phẩm nghiên cứu về TĐP nhưng là

những tác phẩm có cái nhìn nặng về các mặt xã hội học hơn là giáo dục học

TĐP là một nguồn lực tương lai đất nước cần được giáo dục qua con đường tư vấn thân thiện, động viên ý chí phấn đấu, phát huy tính tích cực của những trẻ biết

sống vươn lên một sức sống lành mạnh như hoa nở trong bùn Macarenco cũng đã

sử dụng phương thức động viên TĐP sử dụng mọi nguồn lực, để tự giải quyết

những bài toán khó trong cuộc sống tự lập

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Khái niệm trẻ đường phố

1.2.1.1 Khái niệm trẻ em

Trẻ em là con người được giới hạn bởi tuổi đời, có những đặc điểm chung phân biệt với người lớn về độ chín muồi trưởng thành nhân cách và những đặc điểm riêng về tâm sinh lý đối với từng tuổi trong độ tuổi tự nhiên và pháp định của

Trang 6

mình Ở Việt Nam luật Bảo vệ chăm sóc và Giáo dục trẻ em được Quốc hội thông

qua tháng 8.1991 quy định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi

1.2.1.2 Trẻ đường phố (TĐP)

Theo UNICEF, trẻ đường phố là trẻ dưới 18 tuổi kiếm tiền bằng hoạt động thường xuyên trên đường phố; hoặc như các NGO khác, “TĐP là những trẻ nhận đường phố chứ không phải gia đình làm nhà thật sự của các em

TĐP ở Việt Nam, những năm gần đây, trong các văn bản gọi là “trẻ lang thang”

+ Hình ảnh của TĐP, hay trẻ lang thang, gây ấn tượng trong những năm

1995-1997, ở Tp Hồ Chí Minh, là hình ảnh trẻ đi nhặt rác ni lông, thay thế hình ảnh trẻ

đi đánh giày 1992-1993, với cái bao ( túi ) trên vai và cái bù móc trong tay TĐP

thường từ các vùng nông thôn một số tỉnh lân cận đến thành phố theo mùa, chỉ

hoạt động một thời gian, cải thiện kinh tế gia đình, rồi trở về đi học Các em có

nhiều bổn phận mà thiếu quyền lợi, kể cả quyền sống còn

+ Phân loại trẻ đường phố

Theo UNICEF, và các chương trình cứu trợ trẻ em quốc tế thường phân biệt trẻ

em trên đường phố và trẻ em của đường phố Tim Bond hợp tác với Hội Bảo trợ

Trẻ em Thành phố Hồ Chí Minh, TĐP làm 3 loại:

- Loại A: là những trẻ đã bỏ nhà ra đi bị bỏ rơi, đang sống một mình hoặc với

một nhóm nhỏ trên đường phố

+ A1: Chúng thường là những kẻ bới rác, hoặc bán ve chai, giấy vụn, đồ nhựa,

sắt thép vụn, hoặc xin ăn, móc túi

+ A2: Một số ít trong nhóm này có thể là thành viên của băng nhóm trộm cướp

có tổ chức chuyên nghiệp hơn, có thể chúng đã bị bắt cải tạo nhiều lần, hoặc trốn trại trở về

- Loại B: TĐP sống với gia đình nhập cư lang thang trên đường phố

- Loại C: Số trẻ em kiếm sống trên đường phố nhưng tối về nhà ngủ

Tháng 12 năm 1997, Việt Nam tiến hành điều tra TĐP theo cách phân loại riêng chỉ gồm hai loại: TĐP phải tự xoay sở để sống còn.TĐP kiếm sống trên đường phố để giúp đỡ gia đình

Theo cuộc điều tra mới nhất của UBDSGĐTEVN tháng 8.2003 tại Hà Nội

và thành phố Hồ Chí Minh, TĐP được chia làm 3 loại

- Trẻ em lang thang không cùng đi với gia đình

- Trẻ em lang thang cùng đi với gia đình

- Trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa và trẻ em không có mối quan hệ với gia đình

Theo tài liệu điều tra TĐP của Campuchia do tổ chức Mith Samlanh Freinds thực hiện, sử dụng định nghĩa mới nhất của UNICEF về 3 loại TĐP như sau :

- Trẻ sống ở đường phố (street-living children) ,

- Trẻ lao động trên đường phố (street-working children)

- Và trẻ có gia đình sống trên đường phố (street-family children)

Trang 7

Bảng 1.1 Bảng so sánh các cách phân loại TĐP

Chidhope Bond Tim

Institude of sociology CPCC Hanoi (Vieọn XH.UBBVCSTE.HN) Trẻ của đường phố

Earning to improve family income (kiếm tiền để cải thiên thu nhập gia đình) Ghi Chú : Tương đương Gần tương đương

(nguồn: Learning from families on the edge ChildhopeAsia philippines , Manila, Philppines, 12.1995 )

TĐP có thể được phân loại đơn giản thành 2 nhóm: nhóm kiếm sống để sinh

tồn và nhóm kiếm tiền để cải thiện thu nhập gia đình

Tóm lại, trẻ em đường phố dù có đi kèm gia đình hay không, hiểu theo kiểu nào

cũng là những trẻ em cần được bảo vệ Các em đã không được hưởng các quyền cơ bản sống còn, bảo vệ, phát triển và tham gia

1.2.2 Khái niệm về hoạt động chăm sóc giáo dục (CSGD) TĐP

+ Hoạt động chăm sóc TĐP

Là những hoạt động giúp cho trẻ được thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu, chẳng những chỉ quan tâm đến sức khỏe, dinh dưỡng hay học hành mà điều quan trọng hơn là bù đắp phần nào tình cảm, xóa bỏ mặc cảm tự ty, giúp các em tự tin, khơi dậy tiềm năng, dần dần khẳng định phẩm giá của mình

Hoạt động chăm sóc TĐP còn là một quá trình thu hút các lực lượng xã hội các nhà hảo tâm, phát huy vai trò quản lý của các cơ quan chức năng nhằm bảo đảm cho trẻ có chỗ ở, được ăn uống, chăm sóc

Nhưng chủ yếu là tạo điều kiện cho các em được tự chăm sóc, tự phục vụ

những việc các em có thể tự làm được tùy theo lứa tuổi

+ Hoạt động giáo dục TĐP

Là một hoạt động giáo dục đặc biệt vì có đặc điểm như là một quá trình giáo dục cá biệt và giáo dục lại

+ Hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ đường phố

Hoạt động CSGD.TĐP: gồm hoạt động chăm sóc và hoạt động giáo dục, mối quan hệ giữa chăm sóc và giáo dục TĐP là một quá trình phức tạp hơn trẻ em bình thường, vì trẻ sống trong tình trạng thiếu tình thương và sự chăm sóc của người lớn

Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân… “ Trẻ em không nơi nương tựa, được nhà nước và xã hội tổ chức chăm sóc, nuôi dạy”

Trang 8

Hoạt động CSGD.TĐP có những đặc trưng sau đây

1.2.2.2 Đặc trưng quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ đường phố

+ Chăm sóc và giáo dục TĐP có nội dung song hành, không tách rời nhau

+Chăm sóc và giáo dục TĐPcó nội dung và phương pháp riêng cho từng loại

ƒ Cách sử dụng phương pháp, phương tiện giáo dục TĐP:

Không phải chỉ sử dụng chữ viết, lời nói Mà chủ yếu sử dụng hình ảnh, màu sắc Kể cả âm nhạc, những học cụ trợ giúp nghe nhìn Những mẫu vật tháo rời từng bộ phận, từng phần nhỏ chi tiết Khuyến khích phát triển sáng tạo lắp ghép

ƒ Mô hình chọn nội dung bài học và dẫn dắt TĐP học tậpđơn cử như sau:

- “Nếu em là hoa, em sẽ là hoa nào và tại sao vậy? Hoặc “Nếu em là hoa,

em sẽ là thành phần nào của hoa và tại sao vậy?

Mỗi loại TĐP phải có một cách chăm sóc giáo dục khác nhau

-Đối với TĐP không có liên lạc với gia đình

-Đối với trẻ vừa lao động kiếm sống bản thân, vừa giúp gia đình

-Đối với trẻ làm việc thời vụ

-Đối với nhóm TĐP không còn quan hệ gia đình

các phương pháp: Giáo dục trẻ qua trẻ: Trị liệu bằng vui chơi: Dạy kỹ năng sống,

1.3 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC GIÁO

DỤC TRẺ ĐƯỜNG PHỐ

Biểu đồ 1 1 Những yếu tố tác động đến hoạt động chăm sóc giáo dục TĐP

(1) Yếu tố đặc điểm tâm sinh lý

(2) Yếu tố trưởng thành của cá nhân

(3) Yếu tố môi trường và tình huống có nguy cơ

(4) Yếu tố quan điểm chính quyền, lãnh đạo địa phương

(5) Yếu tố chất lượng cán bộ, giáo dục viên đường phố

Trang 9

1.3.1 Yếu tố đặc điểm tâm sinh lý

Đặc điểm tâm sinh lý bao gồm tâm sinh lý chung và những năng lực bẩm sinh của trẻ đường phố

1.3.1.1 Tâm sinh lý chung của trẻ đường phố

ƒ Tự cho mình là người lớn

ƒ Có ý chí vươn lên

ƒ Trí khôn phát triển gần hoàn chỉnh

ƒ Lưu ý yếu tố dậy thì

Về mặt tình cảm, nhân cách, có các yếu tố mà GDV cần phải quan tâm, yếu tố dậy thì phát dục, xu hướng thể hiện người lớn, nhu cầu giao tiếp

- Những biểu hiện tích cực

(1) Trẻ biết sống đoàn kết

(2) Trẻ có tính chịu đựng, thích nghi

(3) Có trẻ thể hiện tính nghĩa hiệp, hy sinh cao

(4) Ngoại trừ những trẻ đã bị các tệ nạn xã hội lôi kéo

- Những biểu hiện tiêu cực

(1) Trẻ mất tính hồn nhiên rất nhanh, già trước tuổi

(2) Tình dục phát triển sớm,

(3) Thường có biểu hiện tính thần kinh bất ổn, hoặc lo sợ, mặc cảm,

(4) Trẻ thường rơi vào hai thái cực, hoặc trầm cảm hoặc quá manh động

(5) Thái độ chai lỳ, sống đến đâu hay đến đó, rất khó khắc phục

1.3.1.2 Năng lực bẩm sinh riêng của trẻ đường phố : cũng cần được quan tâm

phát triển như những trẻ bình thường

1.3.2 Yếu tố tự trưởng thành của hoạt động cá nhân

Mỗi trẻ ở một hoàn cảnh phát triển nhưng khâu trung tâm không phải là

môi trường mà là mối quan hệ của trẻ và môi trường với những yếu tố nhất định

động cá nhân, nêu rõ tính mục đích của mỗi hoạt động TĐP có ý chí vươn lên mạnh mẽ khi tìm thấy thích thú qua sự chăm sóc giáo dục của giáo dục viên

Một triết lý khác: Cá nhân luận,( individualism ) Triết lý cá nhân luận cũng xem trọng yếu tố tự trưởng thành của đường phố

1.3.3 Yếu tố môi trường và tình huống có nguy cơ

1.3.3.1 Yếu tố môi trường

Nông thôn, vùng sâu, vùng xa phải chịu nhiều thiệt thòi, người dân, trong

đó có TĐP, ra thành phố kiếm sống Nhưng mỗi vùng có một sắc thái khác nhau

1.3.3.2 Tình huống có nguy cơ cao đối với trẻ đường phố

Nguy cơ bị lạm dụng tình dục; nguy cơ bị lây truyền các bệnh xã hội; nguy

cơ bị lạm dụng sức lao động; nguy cơ trở thành trẻ hư; trẻ làm trái pháp luật

1.3.4 Yếu tố quan điểm chính quyền, lãnh đạo địa phương

Trong vấn đề giáo dục, cụ thể của TĐP, nhà quản lý xã hội là những nhân tố

Trang 10

ràng và mạnh quan điểm phát triển xã hội tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến

bộ và công bằng xã hội ngay từ đầu Nên vấn đề TĐP rất được nhà nước quan tâm

1.3.5 Yếu tố chất lượng giáo dục viên

Đặc biệt trong chăm sóc giáo dục TĐP thường giáo dục chủ yếu qua con

đường tư vấn cá nhân, GDV vừa là tư vấn viên, có trình độ chuyên môn nhất định

về tâm lý học thực hành, có “mối tương giao lành mạnh” với thân chủ

Yếu tố giáo dục viên là yếu tố có tính quyết định trong quá trình chăm sóc giáo dục TĐP vì vừa là người trực tiếp chăm sóc, vừa là nhà tư vấn lắng nghe, vừa

là người thực hiện đặc điểm giáo dục dựa vào hoàn cảnh sống, dựa vào các nhận thức theo trình độ, theo lứa tuổi, và các sáng kiến, các tác phẩm do trẻ tác tạo để qua đó truyền đạt kiến thức và giá trị

1.3.6 Yếu tố khác tác động đến quá trình chăm sóc giáo dục TĐP

Có thể kể đến yếu tố tổ chức, phương tiện, cơ sở vật chất,các sáng kiến của chuyên môn, hoạch định quản lý xã hội, những công trình nghiên cứu về TĐP, mối quan tâm của những nhà tài trợ, các tổ chức nhân đạo …

1.4 Một số tiêu chí chất lượng chăm sóc giáo dục TĐP trong tình hình hiện nay

Chất lượng giáo dục nhân cách có thể đo lường theo các tiêu chí đối với người học như: Đặc điểm trí tuệ; Định hướng giá trị; Khả năng thích ứng; Tình trạng sức khỏe; Trách nhiệm công dân (theo UNESCO, [114,trg3]

Đối với TĐP, trong chương trình chăm sóc giáo dục ngắn hạn (3-6 tháng), 3 trong số 5 tiêu chí trên thường đặt ra làm mục tiêu chương trình: Đặc điểm trí tuệ;

Định hướng giá trị; Khả năng thích ứng

+ Về tiêu chí đặc điểm trí tuệ: bao gồm hiểu biết tối thiểu về :Khoa học thường thức,về cách lý luận và nhận thức

+ Về tiêu chí định hướng giá trị: các em có hưng thú khi mơ ước về nghề nghiệp, con người tương lai của mình ( hình tượng tương lai), và giữ tốt mối quan hệ xã hội, gia đình (quan hệ xã hội)

+ Về tiêu chí khả năng thích ứng: TĐP cần Kỹ năng sinh hoạt tập thể ( sinh hoạt

tập thể), kỹ năng đối phó tình huống có nguy cơ (đối phó tình huống)

Nâng cao chất lượng CSGD.TĐP là kết tập, hệ thống lại chương trình và nội dung với những tiêu chí trên, củng cố và tập huấn GDV một phương pháp giáo dục

phù hợp với lý luận giáo dục cá biệt trong tình hình hiện nay

Nội dung cải tiến và sáng tạo chỉ có thể truyền đạt có hiệu quả và khả thi khi

đội ngũ giáo dục viên đường phố được hình thành, GDV phải được đào tạo và

hoạt động có tổ chức, được lãnh đạo có hệ thống giỏi chuyên môn, nghiệp vụ

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC GIÁO DỤC TĐP

2.1 TÌNH HÌNH CHUNG HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC GIÁO DỤC TĐP 2.1.1 Khái quát tình trạng chung của trẻ đường phố trên thế giới

+ Số lượng trẻ đường phố

Trang 11

Vào giữa thập niên 1980, có khoảng 30 triệu TĐP ở các nước đang phát triển Tuy vậy đây chỉ là con số suy đoán mang tính cách dân số học Cũng vào thời điểm đó UNICEF đưa ra con số 100 triệu TĐP đang có mặt trên thế giới Nhưng cũng là điều đáng bàn cãi vì con số UNICEF chính thức công bố hiện nay vẫn 100 triệu, trong khi con số TĐP luôn gia tăng không có gì ngăn chặn được Trên thế giới, số TĐP nhiều nhất được ghi nhận là Châu Mỹ La tinh 40 - 50 triệu, Brazil gần 30 triệu, Châu Á 20-30 triệu, Châu Phi 10 triệu

Năm 1993 thế giới đã phản ứng một cách mạnh mẽ khi các nhân viên cảnh sát tàn sát 6 TĐP ở Rio De Gianero Trung bình mỗi ngày có 3 trẻ em đường phố

bị giết chết Phần nhiều do các em trộm cắp, bạo hành do ma túy hoặc quá đói kém

xin ăn nơi có kho hàng hóa, hoạt động của thương gia có cảnh sát bảo vệ

+ Trẻ đường phố với chiến tranh , nghèo đói và thất học

Những nơi có chiến tranh,TĐP gia tăng theo tình trạng nghèo đói và thất học như ở các nước thuộc Liên bang Nga cũ, ở Afganistan, ở Trung Đông

Tại Trung Quốc, chính phủ cho biết có 200 ngàn trẻ sống trên đường phố Ở Thượng Hải 70% TĐP bỏ học nửa chừng là hầu hết xuất thân từ các gia đình đổ vỡ

và nghèo đói.Ở Bangladesh, 50% dân số, sống dưới mức nghèo khổ Số TĐP và lao động sớm chiếm 12% số lao động cả nước.Ở Châu Phi, chủ yếu ở Maritania,

Senegal có tục lệ gởi con cái cho Marabout (lãnh đạo tôn giáo), học kinh Coran và

đi xin ăn, phục vụ nuôi dưỡng Marabout

+ Trẻ đường phố với ma túy tội phạm

Ở Mỹ, TĐP thường kết thành băng nhóm Năm 1980 là năm bùng nổ băng nhóm Ở California có đến 600 băng nhóm, Los Angeles có đến 50.000 thiếu nhi tham gia băng nhóm Băng nhóm thường gắn liền với bạo lực, ma túy Cảnh sát New York cho biết thu nhập hàng tháng trung bình của TĐP bán ma tuý “rock” và cocain từ 4.000 - 7.000 đôla

+ Các giải pháp chăm sóc giáo dục trẻ đường phố trên thế giới

Tại Brazil năm 1985, một phong trào quốc gia vì trẻ em được dấy lên, nối

kết giữa trẻ em và những giáo viên tình nguyện Tại Pagsanjan - Philippin năm

1985 tổ chức nông thôn và hỗ trợ phát triển ROAD đã phát động một chiến dịch truyền thông đại chúng chống tệ nạn mại dâm trẻ em

2.1.2 Thực trạng và xu thế tình hình trẻ đường phố ở Việt Nam

+ Các cuộc điều tra trẻ em lang thang Việt Nam

Ở Việt Nam, TĐP được hiểu là trẻ em lang thang, một số ít TĐP sống “bụi đời” thật sự “bất cần đời” không liên hệ gia đình, gần với tội phạm có giảm nhanh, Tháng 12-1995 Bộ LĐTB&XH tổ chức hội nghị về trẻ lang thang, tổng kết các kết quả điều tra chọn mẫu về trẻ lang thang ở 17 tỉnh thành trong nước

Tháng 12-1997 theo báo cáo điều tra cả nước của Bộ LĐTBXH, có 15.951 trẻ em đường phố,Hà Nội có 1.015 em trong đó có 116 em xin ăn bụi đời, Tp.HCM 6.158 em trong đó có 2.561 em ăn ngủ tự do trên đường phố Riêng các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long có 3.352 em Trong thời kỳ bao cấp, số trẻ em lang thang vì

lý do xã hội (63,3%) nhưng hiện nay trẻ lang thang vì lý do kinh tế (66,5%).Số lượng TĐP trên cả nước tăng cao năm 1999 (23.000 em) và có hướng giảm nhưng rất chậm vào những năm 2000.Từ năm 2000 trở đi tổng số lượng TĐP giảm không

Ngày đăng: 06/04/2014, 00:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Bảng so sánh các cách phân loại TĐP - Giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đường phố trong điều kiện hiện nay
Bảng 1.1 Bảng so sánh các cách phân loại TĐP (Trang 7)
Bảng 3.3d: Chi tiết hiệu quả chăm sóc giáo dục TĐP ở mẩu TN&ĐC - Giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đường phố trong điều kiện hiện nay
Bảng 3.3d Chi tiết hiệu quả chăm sóc giáo dục TĐP ở mẩu TN&ĐC (Trang 20)
Bảng 3.3c: So sánh hiệu quả CSGD.TĐP giữa 02 nhóm TN& ĐC - Giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đường phố trong điều kiện hiện nay
Bảng 3.3c So sánh hiệu quả CSGD.TĐP giữa 02 nhóm TN& ĐC (Trang 20)
Bảng câu hỏi gồm 12 câu, mỗi câu có từ 04 đến 07 đáp án kể cả đáp án mở - Giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đường phố trong điều kiện hiện nay
Bảng c âu hỏi gồm 12 câu, mỗi câu có từ 04 đến 07 đáp án kể cả đáp án mở (Trang 21)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w