1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản Lý Công Tác Bán Đấu Giá Tài Sản Của Trung Tâm Dịch Vụ Đấu Giá Tài Sản Tỉnh Lào Cai_Compressed.pdf

125 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Công Tác Bán Đấu Giá Tài Sản Của Trung Tâm Dịch Vụ Đấu Giá Tài Sản Tỉnh Lào Cai
Tác giả Nguyễn Ngọc Lợi
Người hướng dẫn PGS.TS. Vũ Thị Bạch Tuyết
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Và Quản Trị Kinh Doanh, Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 842,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH NGUYỄN NGỌC LỢI QUẢN LÝ CÔNG TÁC BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN CỦA TRUNG TÂM DỊCH VỤ ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TỈNH LÀO CAI Ngành Quản lý kinh tế Mã số 8[.]

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Thị Bạch Tuyết

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa công bố tại bất kỳ nơi nào, mọi số liệu sử dụng trong luận văn này là những thông tin xác thực

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Thái Nguyên, tháng 01 năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Lợi

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Thị Bạch Tuyết, người

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo khoa Quản lý Luật Kinh tế, phòng Đào tạo - Trường Đại học Kinh tế & Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tới các bạn bè đồng nghiệp, đã tạo điều kiện giúp

đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Do bản thân còn nhiều hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 01 năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Lợi

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 3

5 Kết cấu luận văn 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN 4

1.1 Lý luận chung về bán đấu giá tài sản 4

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và bản chất về bán đấu giá tài sản 4

1.1.2 Pháp luật về bán đấu giá tài sản 9

1.2 Quản lý bán đấu giá tài sản 14

1.2.1 Khái niệm quản lý bán đấu giá tài sản 14

1.2.2 Pháp luật về quản lý bán đấu giá tài sản 15

1.2.3 Nội dung quản lý bán đấu giá tài sản 19

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác bán đấu giá tài sản 25

1.3 Cơ sở thực tiễn về quản lý công tác bán đấu giá tài sản 30

1.3.1 Kinh nghiệm của một số Trung tâm về quản lý công tác bán đấu giá tài sản 30

1.3.2 Bài học kinh nghiệm về quản lý công tác bán đấu giá tài sản đối với Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Lào Cai 33

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 35

Trang 5

2.2 Phương pháp thu thập thông tin 35

2.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp 35

2.2.2 Thu thập thông tin sơ cấp 35

2.3 Phương pháp phân tích 37

2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 37

2.4.1 Chỉ tiêu định lượng phản ánh kết quả hoạt động bán đấu giá 37

2.4.2 Chỉ tiêu định tính phản ánh công tác bán đấu giá 38

Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TẠI TRUNG TÂM DỊCH VỤ ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TỈNH LÀO CAI 39

3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Lào Cai 39

3.1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Lào Cai 39

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Lào Cai 41

3.2 Khái quát về Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Lào Cai 44

3.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 44

3.2.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn 45

3.2.3 Lĩnh vực, công việc phụ trách 47

3.2.4 Cơ cấu tổ chức 47

3.2.5 Kết quả hoạt động bán đấu giá tài sản tại Trung tâm giai đoạn 2015 - 2017 50

3.3 Thực trạng quản lý công tác bán đấu giá tài sản tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Lào Cai 58

3.3.1 Quản lý nghiệp vụ bán đấu giá tài sản 58

3.3.2 Thanh, kiểm tra hoạt động bán đấu giá tài sản tại Trung tâm 80

3.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới bán đấu giá tài sản tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Lào Cai 81

3.4.1 Các yếu tố khách quan 81

3.4.2 Các yếu tố chủ quan 84

3.5 Đánh giá quản lý công tác bán đấu giá tài sản tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Lào Cai 89

3.5.1 Những kết quả đạt được 89

3.5.2 Hạn chế và nguyên nhân 90

Trang 6

Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CÔNG TÁC BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TẠI TRUNG TÂM DỊCH VỤ ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TỈNH

LÀO CAI 93

4.1 Phương hướng, mục tiêu công tác bán đấu giá tài sản tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Lào Cai trong thời gian tới 93

4.1.1 Phương hướng, nhiệm vụ công tác bán đấu giá tài sản tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản 93

4.1.2 Mục tiêu công tác bán đấu giá tài sản tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản 94

4.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý công tác bán đấu giá tài sản tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Lào Cai 95

4.2.1 Hoàn thiện nghiệp vụ BĐGTS 95

4.2.2 Tăng cường than, kiểm tra nhằm ngăn chặn các hành vi tiêu cực trong hoạt động BĐGTS 99

4.2.3 Các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ BĐGTS 100

4.3 Kiến nghị 107

4.3.1 Kiến nghị với Nhà nước 107

4.3.2 Kiến nghị với Sở Tư pháp tỉnh Lào Cai 107

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

PHỤ LỤC 112

Trang 7

18 TTLT-BTNMT-BTP Thông tư liên tịch - Bộ Tài nguyên &

Môi trường - Bộ Tư pháp

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế tỉnh Lào Cai giai

đoạn 2016 - 2017 41

Bảng 3.2: Cơ cấu hoạt động BĐG TS trên địa bàn tỉnh 50

Bảng 3.3: Kết quả hoạt động bán đấu giá tài sản tại Trung tâm giai đoạn 2015 - 2017 52

Bảng 3.4: Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả BĐGTS tại Trung tâm 57

Bảng 3.5: Kết quả khảo sát về công tác tiếp nhận tài sản, hồ sơ BĐG tại Trung tâm dịch vụ ĐGTS tỉnh Lào Cai 60

Bảng 3.6: Kết quả khảo sát về công tác lập kế hoạch BĐGTS tại Trung tâm dịch vụ ĐGTS tỉnh Lào Cai 62

Bảng 3.7: Kết quả khảo sát về công tác niêm yết, thông báo công khai BĐGTS tại Trung tâm 66

Bảng 3.8: Kết quả khảo sát về công tác hướng dẫn khách hàng có nhu cầu xem tài sản tại Trung tâm 68

Bảng 3.9: Quy định của pháp luật về mức thu phí ĐGTS 70

Bảng 3.10: Quy định của pháp luật về mức thu phí tham gia ĐGTS 71

Bảng 3.11: Kết quả khảo sát về công tác hướng dẫn khách hàng đăng kýtham gia đấu giá và nộp tiền đặt trước tại Trung tâm 72

Bảng 3.12: Kết quả BĐG theo từng loại tài sản năm 2015 75

Bảng 3.13: Kết quả BĐG theo từng loại tài sản năm 2016 75

Bảng 3.14: Kết quả BĐG theo từng loại tài sản năm 2017 76

Bảng 3.15: Kết quả khảo sát về công tác BĐGTS và thanh lý hợp đồng BĐGTS tại Trung tâm 77

Bảng 3.16: Kết quả khảo sát về công tác hoàn thiện hồ sơ chuyển lưu trữ 79

Bảng 3.17: Số lần thanh tra tại Trung tâm dịch vụ BĐGTS tỉnh Lào Caigiai đoạn 2015 - 2017 80

Bảng 3.18: Bảng cơ cấu trình độ cán bộ của Trung tâm 84

Bảng 3.19: Số lượng CBCC, VCLĐ có chứng chỉ hành nghề đấu giá và thẻ đấu giá viên của Trung tâm năm 2017 85

Bảng 3.20: Cơ sở vật chất, trang thiết bị đang sử dụng được phục vụ công tác bán đấu giá tài sản của Trung tâm dịch vụ ĐGTS tỉnh Lào Cai đến ngày 31/12/2017 88

Bảng 4.1: Các chỉ tiêu chủ yếu công tác BĐGTS năm 2018 95

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Lào Cai 39

Hình 3.2 Cơ cấu tổ chức của Trung tâm dịch vụ ĐGTS tỉnh Lào Cai 47

Hình 3.3 Quy trình nghiệp vụ BĐGTS tại Trung tâm dịch vụ ĐGTS tỉnh Lào Cai 59

Hình 4.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Trung tâm dịch vụ ĐGTS tỉnh Lào Cai 100

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong tình hình thực tế hiện nay, tài sản vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị kinh tế, trong điều kiện kinh tế thị trường nó trở thành yếu tố quan trọng trong giao lưu dân sự Với vai trò và ý nghĩa to lớn đó và để phát huy quyền chủ động của các cơ quan nhà nước và cá nhân trong quá trình xử lý tài sản, để quản lý tài sản được chặt chẽ, hạn chế những tiêu cực phát sinh trong quá trình quản

lý và sử dụng tài sản đòi hỏi phải có các văn bản quy phạm pháp luật quy định về hoạt động này

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều văn bản quy định chặt chẽ về hoạt động bán đấu giá tài sản tiêu biểu như: năm 1996, trên cơ sở quy định về bán đấu giá tài sản của Bộ luật Dân sự, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 86/CP ngày 19/12/1996 về việc ban hành quy chế bán đấu giá tài sản, từ đó hoạt động đấu giá được hình thành và từng bước phát triển thành dịch vụ bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp Để góp phần thống nhất về trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản, đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân về dịch vụ bán đấu giá tài sản, Quốc hội đã ban hành Luật Thương mại, trong đó quy định việc bán đấu giá tài sản của thương nhân Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành các Nghị định quy định về lĩnh vực này, trong đó có Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 về bán đấu giá tài sản (sau đây gọi tắt là Nghị định số 17/2010/NĐ-CP) và gần đây nhất là sự ra đời của Luật Đấu giá tài sản được Quốc hội thông qua ngày 17/11/2016 Các văn bản này ra đời đã góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ bán đấu giá tài sản, bảo vệ tài sản của nhà nước và của công dân, hạn chế vi phạm pháp luật của các chủ thể, đồng thời, góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Để đáp ứng nhu cầu bán đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh Lào Cai, UBND tỉnh Lào Cai đã ký quyết định thành lập Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Lào Cai theo Quyết định số 293/1998/QĐ-UBND ngày 06 tháng 11 năm 1998 của UBND tỉnh Lào Cai Trung tâm là một đơn vị sự nghiệp công lập có thu, có tư cách pháp nhân, hoạt động theo cơ chế tự trang trải, trực thuộc Sở Tư pháp Kể từ khi

Trang 11

thành lập đến nay, Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản Lào Cai đã hoạt động có hiệu quả công tác đấu giá tài sản, đảm bảo quyền và lợi ích cho các bên tham gia, nộp ngân sách nhà nước hàng năm ngày càng tăng Với năng lực, uy tín của Trung tâm đã tạo được trong suốt cả quá trình hoạt động, Trung tâm luôn là địa chỉ được các chủ sở hữu hợp pháp về tài sản, người có thẩm quyền xử lý tài sản lựa chọn khi cần thực hiện bán đấu giá tài sản; thể hiện qua số lượng, giá trị hợp đồng cũng như kết quả đấu giá thành ngày càng tăng cao Nhìn chung, hoạt động bán đấu giá tài sản của Trung tâm trong những năm qua đã đạt được những kết quả tích cực, cơ bản tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, đảm bảo thực hiện tốt công tác xã hội hóa hoạt động đấu giá trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bán đấu giá tài sản tại Trung tâm vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định như: Công tác tuyên truyền về đấu giá thực hiện chưa thường xuyên, dẫn tới việc số người nắm thông tin để tham gia đấu giá ít, chưa có sự phối hợp tốt với chính quyền địa phương trong quá trình thực hiện bán đấu giá tài sản, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng điều hành phiên đấu giá của một số đấu giá viên còn hạn chế, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu, tổ chức đấu giá nộp tiền đặt trước của khách hàng trúng đấu giá vào ngân sách nhà nước chưa đúng thời gian quy định, thời hạn thanh toán tiền mua tài sản trúng đấu giá còn chậm trễ,… Đòi hỏi phải có những giải pháp để hoàn thiện hơn nữa công tác bán đấu giá tài sản tại Trung tâm

Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Quản lý công

tác bán đấu giá tài sản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Lào Cai” làm

đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng quản lý công tác bán đấu giá tài sản tại Trung tâm dịch

vụ đấu giá tài sản tỉnh Lào Cai Qua đó, đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bán đấu giá tài sản tại Trung tâm

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý bán đấu giá tài sản

Trang 12

- Phân tích thực trạng quản lý công tác bán ĐGTS tại Trung tâm dịch vụ ĐGTS tỉnh Lào Cai Xác định nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong quản lý công tác bán ĐGTS tại Trung tâm

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý công tác bán ĐGTS tại Trung tâm dịch vụ ĐGTS tỉnh Lào Cai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý công tác bán ĐGTS tại Trung tâm dịch vụ ĐGTS tỉnh Lào Cai

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: tại Trung tâm dịch vụ ĐGTS tỉnh Lào Cai

- Phạm vi về thời gian: nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2017 và số liệu điều tra năm 2018

4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về lý luận: Đề tài làm phong phú hơn lý luận về quản lý công tác bán ĐGTS

như: vấn đề pháp lý trong BĐGTS, nội dung quản lý hoạt động BĐGTS

- Về thực tiễn: Đề tài góp phần làm sáng tỏ vấn đề thực tiễn quản lý công tác

bán ĐGTS tại Trung tâm dịch vụ ĐGTS tỉnh Lào Cai Đồng thời đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện quản lý công tác bán ĐGTS tại Trung tâm dịch vụ ĐGTS tỉnh Lào Cai Các giải pháp này mang tính chất gợi ý chính sách cho UBND tỉnh Lào Cai và Trung tâm dịch vụ ĐGTS tỉnh Lào Cai Ngoài ra, đây cũng là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học và cho các công trình nghiên cứu liên quan

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý bán ĐGTS Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng quản lý công tác bán ĐGTS tại Trung tâm dịch vụ

ĐGTS tỉnh Lào Cai

Chương 4: Giải pháp tăng cường quản lý công tác bán ĐGTS tại Trung tâm

dịch vụ ĐGTS tỉnh Lào Cai

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN

VỀ QUẢN LÝ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý bán đấu giá tài sản

1.1.1 Những vấn đề cơ bản về bán đấu giá tài sản

1.1.1.1 Khái niệm

Trên thế giới, bán đấu giá không phải là một khái niệm mới, mà đã hình thành

từ các nền văn minh thời cổ đại Những người Babylon đã bán đấu giá những người vợ; những người Hy lạp cổ đại đã bán đấu giá việc nhượng quyền khai thác mỏ; giới quý tộc cổ đại còn có những cuộc bán đấu giá nô lệ; người La Mã thì bán đấu giá tất cả mọi thứ từ các chiến lợi phẩm của các cuộc chiến tranh cho đến tài sản của các con nợ

Trong thế giới hiện đại, các cuộc bán đấu giá thường được tiến hành đối với một số lượng lớn về giao dịch về kinh tế và dân sự Chính phủ các nước sử dụng việc bán đấu giá để bán trái phiếu kho bạc, các quyền khai thác khoáng sản, dầu mỏ, tài nguyên, những công ty được tư nhân hóa và những tài sản khác Nhà cửa, xe cộ, các tác phẩm nghệ thuật, đồ cổ và nhiều loại tài sản khác của tư nhân và của các tổ chức thường được bán giá tăng lên một cách nhanh chóng thông qua hình thức thương mại điện tử

Như vậy, có thể thấy rằng bán ĐGTS đã có từ rất lâu đời và liên tục phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế thế giới Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, bán đấu giá có nhiều thay đổi về hình thức, phương thức tổ chức nhưng về bản chất vẫn không thay đổi Bán đấu giá của bất kỳ thời kỳ nào cũng luôn là một hình thức mua bán, được tổ chức thông qua việc trả giá công khai, cạnh tranh và bình đẳng

Hình thức mua bán thường diễn ra một cách đơn giản, tiến hành trong một phạm vi hẹp giữa hai bên mua bán với nhau, bên bán và bên mua thỏa thuận, thương lượng với nhau về giá cả, chất lượng, giao hàng Đối với bán đấu giá, yêu cầu đầu tiên là tính công khai, tức là việc thỏa thuận, thương lượng được tiến hành công khai, đặc biệt về giá mua bán tài sản thì người muốn mua tài sản phải tham gia trả giá một cách cạnh tranh và theo những thủ tục, trình tự nhất định

Trang 14

Về phương diện kinh tế, bán đấu giá là một trong những cách để xác định giá trị của món hàng chưa biết giá hoặc giá trị thường thay đổi Trong một số trường hợp, có thể tồn tại một mức giá tối thiểu hay còn được gọi là giá sàn; nếu sự ra giá không đạt được giá sàn, món hàng sẽ không được bán (những người đưa tài sản ra đấu giá vẫn phải trả chi phí cho người tổ chức bán đấu giá) Đấu giá có thể áp dụng cho nhiều loại mặt hàng: đồ cổ, bộ sưu tập (tem, tiền cổ, xe cổ, tác phẩm nghệ thuật), bất động sản, các mặt hàng đã qua sử dụng, hàng hóa thương mại và các cuộc bán đấu giá bắt buộc (thanh lý, phát mãi tài sản)

Theo từ điển kinh tế học hiện đại: Đấu giá là một thị trường trong đó người mua tiềm tàng đặt giá cho hàng hóa chứ không phải đơn thuần trả giá theo giá công bố của người bán (Nguyễn Văn Ngọc, 2015)

Theo từ điển luật học: ĐGTS là hình thức bán tài sản thông qua thủ tục trả giá công khai giữa nhiều người muốn mua và người trả giá cao nhất là người được quyền mua tài sản đó Thông thường, để ĐGTS, người bán đấu giá phải đưa ra giá

khởi điểm của tài sản muốn bán và phải trưng bày tài sản đó để những người muốn mua xem trước Những người muốn mua sẽ tham gia trả giá theo một thủ tục nhất định, người trả giá cao nhất sẽ là người được quyền mua tài sản ĐGTS có thể là bắt buộc (theo Quyết định của Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) hoặc tự nguyện (theo yêu cầu của chủ sở hữu) (Vụ Bổ trợ tư pháp - Bộ Tư pháp, 2006)

Theo Luật Đấu giá (2016): “ĐGTS là hình thức bán tài sản có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc, trình tự và thủ tục được quy định tại Luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 49 của Luật này.”

Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm cơ bản về bán

ĐGTS như sau: Bán ĐGTS là một hình thức bán tài sản đặc biệt để người mua tự trả giá, không thấp hơn giá thấp nhất do người bán đưa ra

Người nào trả giá cao nhất sẽ được quyền mua bán tài sản đấu giá Bán đấu giá được tổ chức công khai, theo những nguyên tắc, trình tự và thủ tục nhất định

1.1.1.2 Đặc điểm và bản chất của bán ĐGTS

Hoạt động bán ĐGTS là một hoạt động thương mại dịch vụ trong nền kinh tế thị trường, hoạt động này có những đặc điểm cơ bản sau:

Trang 15

Thứ nhất, tính công khai của việc bán ĐGTS nghĩa là hầu hết các quan hệ mua

bán tài sản, hàng hóa đều diễn ra công khai Trong quan hệ mua bán tài sản, hàng hóa thông thường tính công khai không mang tính bắt buộc và phạm vi công khai tùy thuộc vào ý chí của người bán Đối với bán ĐGTS, tính công khai là một đặc trưng cơ bản đồng thời cũng là một nguyên tắc quan trọng Dù tổ chức đấu giá theo bất kỳ phương thức nào, đối với bất kỳ loại tài sản nào, đấu giá bắt buộc hay đấu giá

tự nguyện đều luôn đòi hỏi tính công khai một cách triệt để Mọi thông tin liên quan đến cuộc bán đấu giá phải được người bán đấu giá thông báo công khai trước và trong phiên đấu giá theo những thủ tục nhất định, nhằm đảm bảo sự khách quan và trung thực trong suốt quá trình tổ chức bán đấu giá, cụ thể:

- Công khai đối với tài sản bán đấu giá: Tài sản bán đấu giá phải được trưng

bày và thông báo niêm yết công khai trước khi đấu giá, người bán đấu giá có trách nhiệm thông báo, mô tả đầy đủ, chính xác về tình trạng, chất lượng, số lượng tài sản Những người tham gia đấu giá đều được tạo mọi điều kiện thuận lợi như nhau

để được xem xét tài sản đấu giá trước khi trả giá

- Công khai đối với phương thức tổ chức, thời gian tổ chức, địa điểm tổ chức

bán đấu giá Phiên đấu giá được tổ chức theo phương thức nào, vào lúc nào và tại đâu là do người bán đấu giá quyết định, nhưng phải được thông báo công khai rộng rãi để mọi người tham gia

- Phiên đấu giá phải được tổ chức công khai Thủ tục và trình tự đấu giá phải

được thực hiện trước sự chứng kiến và giám sát của tất cả mọi người tham gia đấu giá Mọi diễn biến của phiên đấu giá, người trúng đấu giá, giá bán tài sản đều được công khai

Thứ hai, bán ĐGTS là một hoạt động bán hàng thông qua trung gian Trong

quan hệ bán ĐGTS, trừ trường hợp người bán đấu giá (người có tài sản) tự mình tổ chức bán đấu giá, các trường hợp khác, ngoài bên bán, bên mua còn có sự tham gia của bên trung gian là người làm dịch vụ bán đấu giá Bên bán là chủ sở hữu của tài sản hoặc người được chủ sở hữu ủy quyền hoặc là người có trách nhiệm, lợi ích liên quan đến tài sản bán đấu giá Bên mua là những tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua tài sản và đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật để tham gia trả giá Người

Trang 16

làm dịch vụ bán đấu giá là những người tổ chức được người có quyền bán tài sản ủy quyền tiến hành bán đấu giá Như vậy, quan hệ bán đấu giá có thể diễn ra giữa các đối tượng sau:

- Người có tài sản với người bán tài sản (người được chủ sở hữu tài sản ủy quyền

bán tài sản hoặc người có quyền bán tài sản theo quy định của pháp luật) và giữa người

có tài sản với người mua tài sản bán đấu giá Đây là quan hệ cơ bản nhất trong mua bán đấu giá Người có tài sản và người mua chính là hai chủ thể trong hợp đồng mua bán đấu giá Hợp đồng đấu giá được giao kết và có hiệu lực sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ này theo nội dung của hợp đồng

- Người có tài sản với người tổ chức bán đấu giá (thương nhân, pháp nhân

kinh doanh dịch vụ bán ĐGTS) Đây là mối quan hệ đại diện được xác lập thông qua hợp đồng ủy quyền Người có tài sản sẽ ủy quyền cho tổ chức bán đấu giá đại diện cho mình trong việc giao kết hợp đồng bán đấu giá với người mua tài sản Theo đó, bên bán đấu giá sẽ nhân danh người bán tài sản trong phạm vi ủy quyền Khi người bán đấu giá giao kết hợp đồng với người mua tài sản trong phạm vi ủy quyền sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người ủy quyền (người có tài sản) với người mua tài sản

- Người bán đấu giá với người mua tài sản bán đấu giá Đây là quan hệ giữa

người được ủy quyền với người thứ ba Người bán đấu giá là người được ủy quyền

và đại diện cho người có tài sản trong việc xác lập giao dịch với người mua tài sản Giao dịch này được xác lập sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người có tài sản

và người mua tài sản

Thứ ba, đối tượng của bán ĐGTS có thể là những tài sản thông thường, tuy

nhiên, do tính chất đặc thù của việc bán ĐGTS thì không phải tài sản nào cũng được các chủ sở hữu quyết định bán bằng phương thức đấu giá Tài sản trong đấu giá rất đa dạng tùy theo nhu cầu của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật Mọi tài sản đều có thể tổ chức bán đấu giá như: đồ cổ, các tác phẩm nghệ thuật, đồ sưu tầm, phương tiện giải trí, tài sản công Các tài sản bán đấu giá bao gồm tài sản để thi hành

án theo quy định về thi hành án; tài sản là tang vật phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung công quỹ Nhà nước; tài sản đảm bảo theo quy định của pháp luật về

Trang 17

giao dịch đảm bảo; tài sản thuộc cá nhân, tổ chức có yêu cầu bán đấu giá; tài sản lưu giữ do người vận chuyển đường biển, đường hàng không, đường bộ lưu giữ tại Việt Nam; tài sản Nhà nước phải tổ chức bán đấu giá theo quy định về xử lý tài sản công Chính vì vậy, hầu hết chỉ những tài sản có đặc thù về giá trị cũng như giá trị sử dụng mới được cân nhắc để lựa chon bán theo phương thức bán đấu giá Những tài sản này rất khó xác định giá trị thực của nó so với loại tài sản thông thường khác Do vậy, những người bán chỉ đưa ra một mức giá làm cơ sở để người mua tham dự cuộc bán đấu giá xác định trên cơ sở có sự cạnh tranh với nhau Giá bán thực tế có thể cao hơn hoặc thấp hơn mức giá mà người bán đưa ra ban đầu

Thứ tư, về hình thức pháp lý của quan hệ bán đấu giá có thể được thiết lập

dưới một dạng đặc biệt đó là hợp đồng ủy quyền bán đấu giá - là văn bản được xác lập giữa người bán hàng và người làm dịch vụ tổ chức bán đấu giá Nó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ ủy quyền bán đấu giá Còn văn bản bán đấu giá thực chất là hợp đồng mua bán tài sản, được xác lập giữa các bên liên quan (người mua tài sản và tổ chức kinh doanh dịch vụ bán đấu giá) Văn bản này là cơ sở pháp lý để xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán tài sản, đồng thời là căn cứ để xác lập quyền sở hữu của người mua tài sản đối với tài sản bán đấu giá

So với các phương thức bán tài sản khác, bán ĐGTS đem lại lợi ích cho cả người bán tài sản và người mua tài sản Nó tạo cơ hội bình đẳng cho những người mua tài sản cùng tham gia trả giá, qua đó xác định được một mức giá cạnh tranh

có lợi nhất cho người bán tài sản Nhờ việc tổ chức bán đấu giá mà hàng hóa đem bán đến tay những người mua có tiềm năng và xác định đúng giá trị thực của chúng Bán đấu giá còn tập trung được cung và cầu về các loại tài sản vào một thời điểm nhất định, giúp cho việc xác lập quan hệ mua bán diễn ra nhanh chóng, thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển Nếu hình thành được những thị trường bán đấu giá chuyên nghiệp thì sẽ là động lực rất tốt để thúc đẩy quan hệ trao đổi thương mại phát triển, nhất là đối với các quốc gia có những mặt hàng thế mạnh của mình (Võ Đình Toàn, 2011; Trần Tiến Hải, 2015)

Trang 18

1.1.1.3 Pháp luật về bán đấu giá tài sản

a Khái niệm

Pháp luật bán ĐGTS là hệ thống những quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bán ĐGTS bao gồm những quy định về nguyên tắc, thủ tục bán ĐGTS, người bán đấu giá và quản lý nhà nước đối với hoạt động bán ĐGTS (Võ Đình Toàn, 2011)

Trong lĩnh vực bán ĐGTS, ở Việt Nam từ thực hiện công cuộc đổi mới các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành một số văn bản liên quan đến bán đấu giá như: Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989, Bộ luật Dân sự năm 1995 Cụ thể hóa Bộ luật Dân sự năm 1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 86/1996/NĐ- CP kèm theo Quy chế bán ĐGTS Đây là văn bản đầu tiên quy định việc thành lập các tổ chức bán ĐGTS ở các tỉnh, thành phố và quy định một số nội dung liên quan đến bán ĐGTS Tiếp theo từ năm 2002 đến 2004, Chính phủ đã ban hành một số Nghị định liên quan đến bán ĐGTS trên từng lĩnh vực cụ thể; bên cạnh đó các Bộ cũng ban hành nhiều Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật, Nghị định có liên quan đến bán đấu giá tài sản

Ngày 18/01/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2005/NĐ-CP về BĐGTS và ngày 04 tháng 5 năm 2005, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03/2005/TT-BTP hướng dẫn một số quy định của Nghị định 05/2005/NĐ-CP Ngày

04 tháng 3 năm 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 17/2010/NĐ-CP về BĐGTS thay thế Nghị định số 05/2005/NĐ-CP; Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư

số 23/2010/TT-BTP ngày 06 tháng 12 năm 2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP Trong những văn bản pháp luật mới ban hành đã quy định khá rõ những nguyên tắc, thủ tục BĐGTS, người BĐGTS, quản lý nhà nước về BĐGTS Ngoài ra, một số quy định về BĐGTS nằm rải rác trong Luật Thương mại; Luật Đăng ký giao dịch đảm bảo; Luật Kinh doanh bất động sản; Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; Luật xử lý vi phạm hành chính; Luật Thi hành án dân sự, Nghị định về kê biên đấu giá quyền sử dụng đất trong thi hành án; Quyết định về việc ban hành Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu

Trang 19

tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất; Nghị định về xử lý hàng hóa do người vận chuyển lưu giữ tại cảng biển Việt Nam, Luật Đấu giá tài sản số 01/2016/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 17/11/2016

b Đặc điểm của pháp luật BĐGTS

- Pháp luật BĐGTS là một bộ phận pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh mang tính chất “tư” do đó các chủ thể tham gia quan hệ bình đẳng về quyền và nghĩa vụ

- Pháp luật BĐGTS là một bộ phận pháp luật liên ngành không thuần túy là một chế định riêng biệt trong một văn bản pháp luật cụ thể nào đó mà nó có ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật Quan hệ BĐGTS có thể mang tính chất của quan hệ dân sự, thương mại thuần túy hoặc mang tính chất của quan hệ hành chính - tư pháp

- Pháp luật bán đấu giá tài sản phản ánh rõ nguyên tắc công khai của quan hệ bán đấu giá tài sản Điều này xuất phát từ nguyên lý chung là nếu không công khai thì sẽ không có nhiều người tham gia quan hệ theo quy định của pháp luật;

- Pháp luật bán đấu giá tài sản mang đặc tính của pháp luật về thủ tục thực hiện quan hệ pháp luật Trong hệ thống pháp luật có thể phân chia thành hai bộ phận cơ bản: các quy định về nội dung quan hệ và các quy định về thủ tục thực hiện quan hệ Pháp luật về bán đấu giá thuộc bộ phận thứ hai

c Các nguyên tắc của pháp luật bán đấu giá tài sản

Pháp luật bán đấu giá tài sản được hợp thành bởi nhiều các quy phạm pháp luật khác nhau, ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Bởi vậy, nói đến nguyên tắc của pháp luật bán đấu giá tài sản thực chất là nói đến các cách thức sắp xếp các quy phạm pháp luật bán đấu giá tài sản theo những trật tự nhất định được xây dựng dựa trên những tiêu chí nhất định

Hiện có nhiều cách thức tiêu chí khác nhau để sắp xếp các quy phạm pháp luật

về bán đấu giá tài sản, cụ thể:

- Căn cứ vào nội dung điều chỉnh của quy phạm pháp luật thì pháp luật bán đấu giá tài sản phân chia thành các bộ phận pháp luật sau đây:

+ Nhóm quy phạm pháp luật quy định về các nguyên tắc trong bán đấu giá tài sản; Thông thường các nguyên tắc bán đấu giá tài sản được pháp luật ghi nhận là: nguyên tắc công khai, liên tục, khách quan, trung thực, bình đẳng, bảo vệ quyền và

Trang 20

lợi ích hợp pháp của các bên tham gia Những nguyên tắc pháp lý cơ bản này được ghi nhận trong pháp luật bán đấu giá ở hầu hết các quốc gia

Tại Việt Nam, nguyên tắc đấu giá tài sản được quy định cụ thể, rõ ràng tại Điều 06 Luật Đấu giá tài sản (2016) như sau:

1) Tuân thủ quy định của pháp luật

2) Bảo đảm tính độc lập, trung thực, công khai, minh bạch, công bằng, khách quan 3) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, người mua được tài sản đấu giá, tổ chức đấu giá tài sản, đấu giá viên

4) Cuộc đấu giá phải do đấu giá viên điều hành, trừ trường hợp cuộc đấu giá

do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện

+ Nhóm quy phạm pháp luật quy định về tài sản bán đấu giá

Về tài sản bán đấu giá quy định tại Điều 1 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày

04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản có quy định các loại tài sản bán đấu giá bao gồm: “tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án; tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; tài sản bảo đảm trong trường hợp pháp luật về giao dịch bảo đảm quy định phải xử lý bằng bán đấu giá; tài sản nhà nước được xử lý bằng bán đấu giá theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; tài sản là quyền sử dụng đất trong trường hợp nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất được bán đấu giá theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các tài sản khác phải bán đấu giá theo quy định của pháp luật”

Tại Điều 04 Luật Đấu giá tài sản (2016) quy định về tài sản đấu giá gồm:

1 Tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá, bao gồm:

a) Tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước;

b) Tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân theo quy định của pháp luật; c) Tài sản là quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;

d) Tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm;

đ) Tài sản thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;

Trang 21

e) Tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước, tài sản kê biên để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

g) Tài sản là hàng dự trữ quốc gia theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia; h) Tài sản cố định của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về quản lý,

sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;

i) Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản;

k) Tài sản hạ tầng đường bộ và quyền thu phí sử dụng tài sản hạ tầng đường

bộ theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng và khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;

l) Tài sản là quyền khai thác khoáng sản theo quy định của pháp luật về khoáng sản;

m) Tài sản là quyền sử dụng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng;

n) Tài sản là quyền sử dụng tần số vô tuyến điện theo quy định của pháp luật

về tần số vô tuyến điện;

o) Tài sản là nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật;

p) Tài sản khác mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá

2 Tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức tự nguyện lựa chọn bán thông qua đấu giá theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật này

+ Nhóm quy phạm pháp luật quy định về thủ tục, trình tự bán đấu giá

Bán đấu giá tài sản là quan hệ bán tài sản, hàng hóa qua trung gian Về thủ tục bán đấu giá tài sản được thực hiện thông qua hình thức pháp lý là ký kết và thực hiện hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản và văn bản đấu giá tài sản

Hiện nay, trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản được quy định cụ thể tại Chương

3 Luật Đấu giá tài sản (2016), quy định rõ ràng, cụ thể về: hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, quy chế cuộc đấu giá, niêm yết việc đấu giá tài sản, xem tài sản đấu giá, địa điểm đấu giá, đăng ký tham gia đấu giá, tiền đặt trước và xử lý tiền đặt trước, hình

Trang 22

thức đấu giá, phương thức đấu giá, biên bản đấu giá, quyền và nghĩa vụ của người

có tài sản đấu giá,

+ Nhóm quy phạm pháp luật quy định về các chủ thể bán đấu giá (người bán đấu giá)

Nhóm quy phạm pháp luật này có nhiệm vụ xác định chủ thể bán đấu giá; các điều kiện đối với chủ thể bán đấu giá tài sản, quyền và nghĩa vụ của chủ thể bán đấu giá tài sản; điều kiện để trở thành đấu giá viên; quyền và nghĩa vụ của đấu giá viên Theo pháp luật Việt Nam hiện hành thì chủ thể bán đấu giá tài sản là các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp bao gồm: Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản; Doanh nghiệp bán đấu giá tài sản và Hội đồng bán đấu giá tài sản trong trường hợp đặc biệt Đấu giá viên là người điều hành cuộc bán đấu giá phải có đủ điều kiện, tiêu chuẩn: là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam có đủ các điều kiện được cấp thẻ đấu giá viên là: có phẩm chất đạo đức tốt; đã tốt nghiệp đại học ngành luật hoặc ngành kinh tế và đã qua khóa đào tạo nghề đấu giá Quyền, nghĩa vụ của đấu giá viên được quy định tại Điều 19 Luật Đấu giá tài sản (2016)

+ Nhóm quy phạm pháp luật quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động bán đấu giá tài sản

Nhóm quy phạm pháp luật này có nhiệm vụ xác định các chủ thể có nhiệm

vụ quản lý nhà nước đối với hoạt động bán đấu giá tài sản; xác định thẩm quyền quản lý nhà nước cho mỗi chủ thể quản lý, nội dung quản lý nhà nước về bán đấu giá tài sản

- Căn cứ vào lĩnh vực, tính chất của quan hệ bán đấu giá, pháp luật bán đấu giá được chia thành:

+ Pháp luật bán đấu giá tài sản trong lĩnh vực Hành chính - Tư pháp; đây là bộ phận pháp luật điều chỉnh quan hệ bán đấu giá tài sản bắt buộc theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền

+ Pháp luật bán đấu giá tài sản trong lĩnh vực dân sự, thương mại; đây là bộ phận pháp luật điều chỉnh quan hệ bán đấu giá tài sản mang tính tự nguyện theo yêu cầu của chủ sở hữu tài sản

Xem xét về cấu trúc nguồn quy phạm pháp luật có thể thấy ở các nước, pháp luật về bán đấu giá có hai dạng chủ yếu:

Trang 23

Thứ nhất, các quy phạm pháp luật được quy định tập trung ở một đạo luật,

thường gọi là Luật bán đấu giá tài sản (như ở Trung Quốc, Nhật Bản ) Ở dạng này, các quy định của Bộ luật Dân sự (có thể cả Luật Thương mại) mang tính nguyên tắc chung áp dụng cho các giao dịch dân sự, thương mại (trong đó có giao dịch bán đấu giá tài sản), còn các vấn đề cụ thể được quy định trong Luật bán đấu giá

Thứ hai, các quy phạm pháp luật về bán đấu giá không quy định tập trung

thành một đạo luật độc lập mà được quy định trong Bộ luật Dân sự hoặc cả Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại Cách làm luật dạng này thể hiện rõ quan điểm xem việc bán đấu giá là quan hệ tự bất luận chủ thể thực hiện là cơ quan nhà nước hay tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp Điển hình áp dụng mô hình này là Pháp (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật Đấu giá tài sản, 2016)

1.1.2 Những vấn đề cơ bản về quản lý bán đấu giá tài sản

1.1.2.1 Khái niệm quản lý bán đấu giá tài sản

Quản lý nói chung được quan niệm như một quy trình công nghệ mà chủ thể quản lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động phát triển phù hợp với quy luật khách quan và đạt tới các mục tiêu đã định Trong hoạt động quản lý, các vấn đề về: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, công cụ và phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý là những yếu tố trung tâm đòi hỏi phải xác định đúng đắn (Tô Thiện Hiền, 2012)

Đấu giá tài sản là một hoạt động dịch vụ trong nền kinh tế thị trường hiện nay Đấu giá tài sản có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển thông qua việc đa dạng hóa các hình thức trao đổi, mua bán lưu thông hàng hóa Mặt khác, thông qua bán đấu giá tái sản, hoạt động mua bán nói chung và ban đấu giá tài sản nói riêng được công khai, minh bạch hơn Chính vì tầm quan trọng như vậy nên quản lý bán đấu giá tài sản là một nội dung quan trọng và cần được nhận thức đầy đủ

Chủ thể quản lý bán đấu giá tài sản là Nhà nước hoặc là các Trung tâm, doanh nghiệp được Nhà nước cho phép thực hiện các hoạt động bán đấu giá tài sản

Đối tượng của quản lý bán đấu giá tài sản là các hoạt động của bán đấu giá tài sản Nói cụ thể hơn đó là các hoạt động như: tiếp cận khách hàng, tiếp nhận hồ sơ,

tổ chức đấu giá, tổ chức bàn giao tài sản,…

Trang 24

Trong quản lý bán đấu giá tài sản, các chủ thể quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp quản lý và nhiều công cụ quản lý khác nhau như:

- Phương pháp tổ chức: được sử dụng để thực hiện ý đồ của chủ thể quản lý trong việc bố trí, sắp xếp các mặt hoạt động của bán đấu giá tài sản theo những khuôn mẫu đã định và thiết lập bộ máy quản lý phù hợp với các mặt hoạt động đó của quản lý bán đấu giá tài sản

- Phương pháp hành chính: được sử dụng khi các chủ thể quản lý bán đấu giá tài sản muốn các đòi hỏi của mình phải được các khách thể quản lý tuân thủ một cách vô điều kiện Đó là khi các chủ thể quản lý ra các mệnh lệnh hành chính

- Phương pháp kinh tế: được sử dụng thông qua việc dùng các đòn bẩy kinh tế

để kích thích tính tích cực của các khách thể quản lý, tức là tác động tới các tổ chức

và cá nhân đang tổ chức các hoạt động quản lý bán đấu giá tài sản

- Hệ thống pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý bán đấu giá tài sản được sử dụng

để quản lý và điều hành các hoạt động quản lý bán đấu giá tài sản được xem như một loại công cụ quản lý có vai trò đặc biệt quan trọng

- Công cụ pháp luật được sử dụng thể hiện dưới các dạng cụ thể là các chính sách, cơ chế quản lý tài chính, các chế độ quản lý tài chính, kế toán, thống kê, các định mức, tiêu chuẩn,

- Cùng với pháp luật, hàng loạt công cụ phổ biến khác được sử dụng trong quản lý bán đấu giá tài sản như: các đòn bẩy kinh tế, tài chính; kiểm tra, thanh tra; các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý bán đấu giá tài sản

Mỗi công cụ kể trên có đặc điểm khác nhau và được sử dụng khác nhau nhưng đều nhằm cùng một hướng là thúc đẩy nâng cao hiệu quả quản lý bán đấu giá tài sản

Từ những phân tích kể trên có thể có khái niệm tổng quát về quản lý bán đấu

giá tài sản như sau: Quản lý bán đấu giá tài sản là hoạt động của các chủ thể quản

lý bán đấu giá tài sản thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý

và các công cụ quản lý để tác động và điều khiển hoạt động của bán đấu giá tài sản nhằm đạt được các mục tiêu đã định

1.1.2.2 Pháp luật về quản lý bán đấu giá tài sản

Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, có nhiệm vụ thống nhất quản lý mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó có quản lý về bán đấu

Trang 25

giá Để quản lý, Chính phủ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Uy ban thương vu Quốc hội

về bán đấu giá Bộ Tư pháp là cơ quan thuộc Chính phủ giúp Chính phủ chỉ đạo, quản lý, kiểm tra các hoạt động bán đấu giá trong phạm vi cả nước

Tư khi Nghị định 86/CP ngày 19/12/1996 cua Chính phủ ban hành Quy chế bán đấu giá tài sản chưa quy định cụ thể về cơ quan quản lý bán đấu giá tài sản cũng như nội dung công tác quản lý bán đấu giá tài sản Điêu 4, Nghị định 86/CP xác định Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản được thành lập theo quyết định của Chủ tịch U y ban nhân dân cấp tỉnh và do Sở Tư pháp trực tiếp quản lý, còn đối với các doanh nghiệp bán đấu giá tài sản thì Sở chỉ là cơ quan quản lý về mặt nghiệp

vụ Như vậy, tại Quy chế về bán đấu giá tài sản thì vấn đề quản lý nhà nước về bán đấu giá tài sản được quy định một cách chung chung và chỉ mới đề cập đến vai trò của Sở Tư pháp trong hoạt động này, chưa quy định rõ nội dung quản lý cụ thể Khi Thông tư sô 399/ PLDSKT ngày 07/4/1997 của Bộ Tư pháp được ban hành thì vai trò quản lý nhà nước đôi với hoạt động bán đấu giá tài sản được quy định một cách

cụ thể hơn, theo đó cơ quan quản lý bán đấu giá là Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp Ngày 18/01/2005, Chính phủ ban hanh Nghị định số 05/2005/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản thay thế Nghị định số 86/CP đa quy định vấn đê quan ly nha nươc vê ban đấu gia tai san thanh môt chương riêng (chương V, tư Điêu 44 đên Điêu 46), theo đó nêu rõ nhiêm vu va quyên hạn cua Bô Tư phap, Bô Tai chinh va ÚI y ban nhân dân cấp tinh

Ngay 04/3/2010, Chính phủ ban hanh Nghị định số 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản thay thê Nghị định số 05/2005/NĐ-CP Ở Nghị định này, nội dung quản lý nhà nước về bán đấu giá tài sản được quy đinh tai Chương V (tư Điêu 50 đến Điêu 54), môt sô điêm mơi đươc bô sung về trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ va xử lý vi phạm đối với tổ chức bán đấu giá tài sản, đấu giá viên và người tham gia đấu giá Từ đó, trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác bán đấu giá tài sản đã được tăng cường từ trung ương đến địa phương

Với vai trò quản lý nhà nước ở Trung ương, Bộ Tư pháp thường xuyên đôn đốc, phôi hợp chặt chẽ với địa phương trong việc triển khai thành lập các Trung tâm

Trang 26

dịch vụ bán đấu giá tài sản Đồng thời, Bộ cũng tham gia góp ý kiến để Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuôc Trung ương tham mưu UBND tỉnh cung cấp đẩy mạnh việc xã hội hóa trong hoạt động bán đấu giá tài sản, đến nay đã có hơn 388 tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trong cả nước (bao gồm các Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản cấp tỉnh và các doanh nghiêp bán đấu giá tài sản)

Ngay sau khi Nghị định số 17/2010/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, Bộ Tư pháp

đã ban hành Thông tư số 23/2010/TT-BTP ngày 06/12/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP Đồng thời, Bộ Tư pháp đã chủ động đề xuất, phối hợp với Bộ Tài chính trong quá trình xấy dựng nội dung Thông

tư số 03/2012/TT-BTC ngày 05/01/2012 về hướng dẫn mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí đấu giá, phí tham gia đấu giá và lệ phí cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá tài sản và Thông tư số 48/2012/TT-BTC ngày 16/3/2012 hướng dẫn việc xác định giá khởi điểm và chế độ tài chính trong hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất

Bộ Tư pháp đã phối hợp, góp ý hoàn thiện các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì soạn thảo như: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai va Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng

5 năm 2014 của Chính phủ quy định về giá đất Theo đó, các nội dung đặc thù trong bán đấu giá quyền sử dụng đất sẽ được cân nhắc, quy định tại các Nghị định trên Ngoai ra, ngay 04 tháng 04 năm 2015, Liên bô Bô Tai nguyên va Môi trương - Bô

Tư phap đã ban hành Thông tư liên tịch sô 14/2015/TTLT-BTNMT-BTP quy định

vê việc tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng đối với việc bán đấu giá quyền sử dụng đất

Bộ Tư pháp chủ động hướng dẫn nghiệp vụ cho các địa phương trong quá trình thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP, kịp thời có các công văn nghiệp vụ hướng dẫn, xử lý một số vấn đề, vụ việc cụ thể Đồng thời, Bộ Tư pháp thường xuyên chỉ đạo các Sở Tư pháp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh những sai phạm trong hoạt động bán đấu giá tài

Trang 27

sản, nhất là bán đấu giá quyền sử dụng đất, bán đấu giá tài sản thi hành án, tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu

Nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đấu giá viên, Bộ Tư pháp đã ban hành chương trình đào tạo nghề đấu giá với thời gian đào tạo 03 tháng, chương trình đào tạo tập trung chủ yếu rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho học viên, tăng cường thực tập tại các tổ chức bán đấu giá tài sản và các buổi học tình huống đóng vai thực hành Từ năm 2010 đến nay, Bộ Tư pháp đã tổ chức được hơn 07 khoá đào tạo nghề đấu giá cho hơn 500 học viên

Công tác cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá và quản lý đội ngũ đấu giá viên được Bộ Tư pháp chú trọng Đến nay, Bộ Tư pháp đã cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá cho hơn 865 người

Ngày 10/5/2013, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1076/QĐ- BTP phê duyệt Đề án “Phát triển và tăng cường năng lực đội ngũ đấu giá viên giai đoạn 2013 - 2015, định hướng đến năm 2020” Việc xây dựng, ban hành Đề án là rất cần thiết nhằm củng cố, phát triển về số lượng và chất lượng của đội ngũ đấu giá viên, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu bán đấu giá tài sản, từ đó nâng cao tính chuyên nghiệp của hoạt động bán đấu giá tài sản Theo nhiệm vụ Đề án, năm 2013,

Bộ Tư pháp đã tổ chức 01 lớp tập huấn về kiến thức pháp luật, tài chính cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý tại địa phương; tổ chức 01 đoàn kiểm tra về tổ chức và hoạt động bán đấu giá tài sản tại một số địa phương; thực hiện việc rà soát, đánh giá tổng thể đội ngũ đấu giá viên trong cả nước Hiện nay, nhiều địa phương đã xây dựng Kế hoạch, Chỉ thị để triển khai thực hiện Đề án trên cơ sở thực hiện theo Đề

án tổng thể của Bộ Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức và hoạt động bán đấu giá tài sản cũng được Bộ Tư pháp xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm Nghị định số 54/2014 NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thanh tra ngành Tư pháp, Điều 21 quy định nội dung thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản, theo đó thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật:

Thứ nhất, đăng ký danh sách đấu giá viên, cấp thẻ đấu giá viên của Trung tâm

dịch vụ bán đấu giá tài sản

Trang 28

Thứ hai, hoạt động của đấu giá viên, doanh nghiệp bán đấu giá tài sản; đăng

ký danh sách đấu giá viên, cấp thẻ đấu giá viên của doanh nghiệp bán đấu giá tài sản; tổ chức và hoạt động của hội đồng bán đấu giá tài sản; trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản; việc thực hiện các quy định khác của pháp luật về bán đấu giá tài sản Hàng năm, Bộ Tư pháp xây dựng kế hoạch tổ chức các đợt thanh tra, kiểm tra

về tổ chức và hoạt động đấu giá tài sản ở các tỉnh, thành phố Qua công tác thanh tra, kiểm tra nắm tình hình, Bộ Tư pháp đã phát hiện, chấn chỉnh, xử lý một số sai phạm trong hoạt động bán đấu giá tài sản, phát hiện những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn để có các giải pháp tháo gỡ kịp thời

Bộ Tư pháp đã chủ động phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương thực hiện hiệu quả công tác quản lý nhà nước về bán đấu giá tài sản; đề xuất và chủ động phối hợp với Văn phòng Chính Phủ, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan liên quan tổ chức các đoàn công tác liên ngành nắm tình hình triển khai thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP tại một số địa phương qua đó đã kịp thời nghiên cứu, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn hoạt động bán đấu giá quyền sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động bán đấu giá tài sản

Hoạt động quản lý nhà nước về bán đấu giá thể hiện trong các hoạt động xử lý các vi phạm pháp luật bán đấu giá được qui định trong Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Võ Đình Toàn, 2011)

1.1.3 Nội dung quản lý bán đấu giá tài sản

Quản lý công tác bán đấu giá tài sản hiện nay ở tổ chức bán đấu giá tài sản phải thực hiện bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:

1.1.3.1 Quản lý nghiệp vụ bán đấu giá tài sản

Quản lý hoạt động bán đấu giá tài sản chính là quản lý việc thực hiện pháp luật về nội dung hoạt động bán đấu giá tài sản hay chính là tiến hành quản lý các nội dung của hoạt động bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật

Nội dung hoạt động BĐGTS chính là nội dung của từng bước trong trình tự thủ tục bán đấu giá tài sản được quy định tại chương III Luật Đấu giá tài sản được Quốc hội thông qua ngày 17/11/2016 có những nội dung như sau:

Trang 29

* Ký kết hợp đồng dịch vụ ĐGTS

Điều 33 Luật Đấu giá tài sản (2016) có quy định về hợp đồng dịch vụ ĐGTS như sau:

1 Người có tài sản đấu giá ký kết hợp đồng dịch vụ ĐGTS với tổ chức ĐGTS

để thực hiện việc ĐGTS Hợp đồng dịch vụ ĐGTS phải được lập thành văn bản, được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định của Luật này

2 Khi ký kết hợp đồng dịch vụ ĐGTS, người có tài sản đấu giá có trách nhiệm cung cấp cho tổ chức ĐGTS bằng chứng chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc quyền được bán tài sản theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về bằng chứng đó

3 Tổ chức ĐGTS có trách nhiệm kiểm tra thông tin về quyền được bán tài sản

do người có tài sản đấu giá cung cấp Tổ chức ĐGTS không chịu trách nhiệm về giá trị, chất lượng của tài sản đấu giá, trừ trường hợp tổ chức ĐGTS không thông báo đầy đủ, chính xác cho người tham gia đấu giá những thông tin cần thiết có liên quan đến giá trị, chất lượng của tài sản đấu giá theo hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản

4 Quyền, nghĩa vụ của tổ chức ĐGTS và người có tài sản đấu giá được thực hiện theo hợp đồng dịch vụ ĐGTS, quy định của Luật này, quy định của pháp luật

về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan

5 Người có tài sản đấu giá hoặc tổ chức ĐGTS có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về dân

sự trước khi tổ chức đấu giá tài sản nhận hồ sơ tham gia đấu giá của người tham gia đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác

6 Người có tài sản đấu giá có quyền hủy bỏ hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Tổ chức không có chức năng hoạt động đấu giá tài sản mà tiến hành cuộc đấu giá hoặc cá nhân không phải là đấu giá viên mà điều hành cuộc đấu giá, trừ trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện;

b) Tổ chức đấu giá tài sản cố tình cho phép người không đủ điều kiện tham gia đấu giá theo quy định của pháp luật tham gia đấu giá và trúng đấu giá;

Trang 30

c) Tổ chức đấu giá tài sản có một trong các hành vi: không thực hiện việc niêm yết đấu giá tài sản; không thông báo công khai việc đấu giá tài sản; thực hiện không đúng quy định về bán hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá, tổ chức đăng ký tham gia đấu giá; cản trở, hạn chế người tham gia đấu giá đăng ký tham gia đấu giá; d) Tổ chức đấu giá tài sản thông đồng, móc nối với người tham gia đấu giá trong quá trình tổ chức đấu giá dẫn đến làm sai lệch thông tin tài sản đấu giá hoặc

hồ sơ tham gia đấu giá hoặc kết quả đấu giá tài sản;

đ) Tổ chức đấu giá tài sản tổ chức cuộc đấu giá không đúng quy định về hình thức đấu giá, phương thức đấu giá theo Quy chế cuộc đấu giá dẫn đến làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản

* Xây dựng Quy chế cuộc đấu giá

Điều 34 Luật Đấu giá tài sản quy định về Quy chế cuộc đấu giá cụ thể như sau:

1 Tổ chức đấu giá tài sản ban hành Quy chế cuộc đấu giá áp dụng cho từng cuộc đấu giá trước ngày niêm yết việc đấu giá tài sản

2 Quy chế cuộc đấu giá bao gồm những nội dung chính sau đây:

a) Tên tài sản hoặc danh mục tài sản, số lượng, chất lượng của tài sản đấu giá; nơi

có tài sản đấu giá; giấy tờ về quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản đấu giá;

b) Thời gian, địa điểm xem tài sản đấu giá;

c) Thời gian, địa điểm bán hồ sơ tham gia đấu giá;

d) Giá khởi điểm của tài sản đấu giá trong trường hợp công khai giá khởi điểm; đ) Tiền mua hồ sơ tham gia đấu giá, tiền đặt trước;

e) Thời gian, địa điểm, điều kiện, cách thức đăng ký tham gia đấu giá;

g) Thời gian, địa điểm tổ chức cuộc đấu giá;

h) Hình thức đấu giá, phương thức đấu giá;

i) Các trường hợp bị truất quyền tham gia đấu giá; các trường hợp không được nhận lại tiền đặt trước

3 Tổ chức đấu giá tài sản có trách nhiệm thông báo công khai Quy chế cuộc đấu giá

* Niêm yết việc đấu giá tài sản

Điều 35 Luật Đấu giá tài sản (2016) quy định về việc niêm yết đấu giá tài sản

như sau:

1 Tổ chức đấu giá tài sản niêm yết việc đấu giá tài sản như sau:

Trang 31

a) Đối với tài sản là động sản thì tổ chức đấu giá tài sản phải niêm yết việc đấu giá tài sản tại trụ sở của tổ chức mình, nơi trưng bày tài sản (nếu có) và nơi tổ chức cuộc đấu giá ít nhất là 07 ngày làm việc trước ngày mở cuộc đấu giá;

b) Đối với tài sản là bất động sản thì tổ chức đấu giá tài sản phải niêm yết việc đấu giá tài sản tại trụ sở của tổ chức mình, nơi tổ chức cuộc đấu giá và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có bất động sản đấu giá ít nhất là 15 ngày trước ngày mở cuộc đấu giá

2 Các thông tin chính phải niêm yết bao gồm:

a) Tên, địa chỉ của tổ chức đấu giá tài sản và người có tài sản đấu giá;

b) Các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g và h khoản 2 Điều 34 của Luật này

3 Tổ chức đấu giá tài sản lưu tài liệu, hình ảnh về việc niêm yết đấu giá tài sản quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này trong hồ sơ đấu giá Đối với trường hợp niêm yết tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có bất động sản đấu giá thì tổ chức đấu giá tài sản lưu tài liệu, hình ảnh về việc niêm yết hoặc lập văn bản có xác nhận

về việc niêm yết của Ủy ban nhân dân cấp xã

4 Ngoài việc niêm yết quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, tổ chức đấu giá tài sản thực hiện thông báo công khai việc đấu giá tài sản theo quy định tại Điều

57 của Luật này theo yêu cầu của người có tài sản đấu giá

* Hướng dẫn khách hàng có nhu cầu xem tài sản

Điều 36 Luật Đấu giá tài sản (2016) quy định về xem tài sản đấu giá như sau:

- Kể từ ngày niêm yết việc đấu giá tài sản cho đến ngày mở cuộc đấu giá, tổ

chức đấu giá tài sản tổ chức cho người tham gia đấu giá được trực tiếp xem tài sản hoặc mẫu tài sản trong khoảng thời gian liên tục ít nhất là 02 ngày Trên tài sản hoặc mẫu tài sản phải ghi rõ tên của người có tài sản đấu giá và thông tin về tài sản đó

- Kể từ ngày niêm yết việc đấu giá tài sản cho đến ngày mở cuộc đấu giá, đối với tài sản đấu giá là quyền tài sản hoặc tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền

sử dụng thì tổ chức đấu giá tài sản tổ chức cho người tham gia đấu giá được xem giấy tờ về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản và tài liệu liên quan trong khoảng thời gian liên tục ít nhất là 02 ngày

Trang 32

* Hướng dẫn khách hàng đăng ký tham gia đấu giá và nộp tiền đặt trước

Theo Điều 38 Luật Đấu giá tài sản (2016) quy định:

1 Cá nhân, tổ chức đăng ký tham gia đấu giá thông qua việc nộp hồ sơ tham gia đấu giá hợp lệ và tiền đặt trước cho tổ chức đấu giá tài sản theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan Trong trường hợp pháp luật

có quy định về điều kiện khi tham gia đấu giá thì người tham gia đấu giá phải đáp ứng điều kiện đó Người tham gia đấu giá có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác thay mặt mình tham gia đấu giá

2 Tổ chức đấu giá tài sản bán hồ sơ tham gia đấu giá, tiếp nhận hồ sơ tham gia đấu giá trong giờ hành chính, liên tục kể từ ngày niêm yết việc đấu giá tài sản cho đến trước ngày mở cuộc đấu giá 02 ngày

3 Ngoài các điều kiện đăng ký tham gia đấu giá quy định tại Luật này và pháp luật có liên quan, người có tài sản đấu giá, tổ chức đấu giá tài sản không được đặt thêm yêu cầu, điều kiện đối với người tham gia đấu giá

* Tổ chức phiên đấu giá và lập biên bản cuộc bán đấu giá

Việc tổ chức cuộc bán đấu giá được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục quy định tại Điều 41, Điều 42 và Điều 43 Luật Đấu giá tài sản (2016)

Việc lập biên bản đấu giá được thực hiện theo quy định tại Điều 44 và Luật Đấu giá tài sản (2016)

* Lập hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá, phê duyệt kết quả đấu giá

Điều 46 Luật Đấu giá tài sản (2016) quy định về việc lập hợp đồng mua bán tài sản BĐG, phê duyệt kết quả đấu giá như sau:

1 Kết quả đấu giá tài sản là căn cứ để các bên ký kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc cơ sở để cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

2 Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá được ký kết giữa người có tài sản đấu giá với người trúng đấu giá hoặc giữa người có tài sản đấu giá, người trúng đấu giá và

tổ chức đấu giá tài sản nếu các bên có thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự

Trang 33

3 Người trúng đấu giá được coi như chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá kể từ thời điểm đấu giá viên công bố người trúng đấu giá, trừ trường hợp người trúng đấu giá từ chối ký biên bản đấu giá quy định tại khoản 3 Điều 44 của Luật này hoặc từ chối kết quả trúng đấu giá quy định tại Điều 51 của Luật này

Kể từ thời điểm này, quyền và nghĩa vụ của các bên được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan

4 Trình tự, thủ tục, thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan

* Tổ chức bàn giao tài sản và giấy tờ liên quan cho khách hàng trúng đấu giá hoặc phối hợp giao tài sản bán đấu giá

Việc giao tài sản cho khách hàng trúng đấu giá theo Hợp đồng mua bán tài sản

và Điều 35, 36, 41, 47 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP; Điều 433, 434 Bộ luật

dân sự 2005

* Hoàn thiện hồ sơ chuyển lưu trữ

Điều 54 Luật Đấu giá tài sản (2016) quy định về lưu trữ hồ sơ:

- Người có tài sản đấu giá, tổ chức đấu giá tài sản, người có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện việc lưu trữ hồ sơ đấu giá trong thời hạn 05 năm kể từ ngày kết thúc cuộc đấu giá

- Trình tự, thủ tục lưu trữ thực hiện theo quy định của pháp luật về lưu trữ

1.1.3.2 Thanh tra, kiểm tra hoạt động của các tô chức bán đấu giá chuyên nghiêp

Thực hiện Luật đấu giá tài sản và các văn bản hướng dẫn thi hành, nhằm tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu giá tài sản, đồng thời đánh giá tình hình tổ chức, hoạt động bán đấu giá tài sản của tổ chức bán đấu giá theo quy định của pháp luật; qua đó kịp thời hướng dẫn chuyên môn, nghiệp

vụ bán đấu giá tài sản; chấn chỉnh những sai sót, tồn tại và xử lý đối với vi phạm của các cá nhân, đơn vị trong hoạt động bán đấu giá tài sản (nếu có)

Hoạt động kiểm tra tập trung vào các nội dung sau: Hoạt động đấu giá tài sản đối với tài sản thanh lý của nhà nước, tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; hoạt động đấu giá tài sản đối với quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng

Trang 34

đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn theo quy định của pháp luật đất đai, Luật đấu giá tài sản, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản và các văn bản pháp luật có liên quan; việc lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật đấu giá tài sản; trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản, hồ

sơ bán đấu giá, các mẫu sổ sách và lưu trữ các giấy tờ tài liệu theo quy định; việc thu, nộp, quản lý và sử dụng thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản, chi phí dịch vụ và các khoản thu khác

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác bán đấu giá tài sản

1.1.4.1 Yếu tố khách quan

* Pháp luật về bán đấu giá tài sản và quản lý bán đấu giá tài sản

Hoàn thiện pháp luật về bán đấu giá tài sản và quản lý bán đấu giá tài sản tạo

cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động này

Như chúng ta đã biết Nhà nước là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật Thực hiện mục tiêu này, pháp luật phải trở thành một công cụ không thể thiếu của Nhà nước

Những quy định của pháp luật có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực, hiệu quả của công tác bán đấu giá tài sản và đối với mọi mặt của đời sống xã hội Điều này có nghĩa là các quy định của pháp luật càng đầy đủ, càng rõ ràng thì hiệu lực, hiệu quả của hoạt động hoạt động bán đấu giá càng cao và ngày càng chặt chẽ Vì vậy muốn nâng cao hiệu quả của hoạt động bán đấu giá càng không thể không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, trong đó có pháp luật về bán đấu giá tài sản

Trong những năm qua, nhất là sau đổi mới công tác quản lý nhà nước đối với công tác bán đấu giá tài sản có những tiến bộ đáng kể, đặc biệt là đã có nhiều văn bản luật, văn bản dưới luật của Chính phủ và các Bộ, ngành có liên quan hướng dẫn thực hiện công tác này Song mặt khác cũng cần thấy rằng quản lý nhà nước về công tác bán đấu giá còn có nhiều bất cập thậm chí mâu thuẫn, chồng chéo hoặc còn có những quy định chung chung, thiếu cụ thể Các ngành, các cấp chưa thật sự quan tâm đến cơ

Trang 35

sở vật chất, trang thiết bị hoạt động, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ đấu giá viên Có thể nói một trong những nguyên nhân dẫn đến tình hình trên, chính là các văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực bán đấu giá tài sản còn chưa đầy đủ và chưa được rà soát, bổ sung, sửa chữa kịp thời Do đó hoàn thiện pháp luật về bán đấu giá để khắc phục những bất cập trên, nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động bán đấu giá

* Những hành vi tiêu cực trong bán đấu giá tài sản

Dù Luật Đấu giá tài sản đã có hiệu lực hơn 1 năm nay nhưng những hành vi, biểu hiện tiêu cực, gây lũng đoạn hoạt động bán đấu giá tài sản trong thời gian dài trước đây vẫn chưa thể bị đẩy lùi và điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động bán đấu giá tài sản

Với thủ đoạn hết sức tinh vi, có sự tham gia của người bán đấu giá tài sản (BĐGTS) trong việc đặt ra các quy định, nội quy BĐGTS nên hầu hết người tham gia ĐGTS bị lừa và không mua được tài sản, thiệt hại của người có tài sản BĐG là rất lớn Đây cũng là mặt trái của việc xã hội hóa BĐGTS

Trong nhiều phiên BĐGTS đối với loại tài sản tịch thu để xử lý vi phạm hành chính, tài sản thi hành án, người BĐGTS cũng có thể sẽ chủ động bàn bạc với một số người thông đồng, dìm giá để “khoanh vùng”, “hạn chế”, “chọn lọc” đối tượng là “quân xanh, quân đỏ” tham gia đấu giá Do đó, khi vào phiên đấu giá thì chỉ là sự “diễn kịch” của các “diễn viên quân xanh, quân đỏ” Giá bán và người trúng đấu giá hoàn toàn theo kịch bản có sẵn được thống nhất giữa người BĐG và người tham gia đấu giá

Ngoài ra, còn có hiện tượng băng nhóm, “đầu gấu”, xã hội “đen” khống chế,

đe dọa người tham gia ĐGTS hay có nhiều vụ việc người trúng đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản, hoàn thành mọi nghĩa vụ trong hợp đồng BĐGTS nhưng lại không được nhận tài sản,dẫn đến tình trạng người mua được tài sản đấu giá chịu nhiều rủi

ro, quyền lợi hợp pháp bị ảnh hưởng do không nhận được tài sản trúng đấu giá.…

Tất cả những hành vi tiêu cực này đều gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động BĐGTS

* Sự phối hợp giữa các ngành chức năng trong hoạt động bán đấu giá tài sản

Để hoạt động BĐGTS thật sự hiệu quả thì cần thiết phải có sự phối hợp chặt chẽ giưa các ban ngành chức năng như:

Trang 36

- Cơ quan Tư pháp: chỉ đạo các tổ chức cung cấp dịch vụ bán đấu giá tài sản thực hiện bán đấu giá các loại tài sản đảm bảo nguyên tắc, trình tự, thủ tục theo đúng các quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản; Trình UBND tỉnh hoặc đề nghị UBND tỉnh trình HĐND tỉnh ban hành, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, bãi bỏ hoặc thay thế văn bản quy phạm pháp luật về bán đấu giá tài sản theo thẩm quyền.; định

kỳ phối hợp với cơ quan Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan liên quan để thanh, kiểm tra tổ chức và hoạt động bán đấu giá tài sản trong phạm vi địa phương

theo thẩm quyền, chỉ đạo cơ quan thi hành án phối hợp bàn giao tài sản của người trúng đấu giá đối với tài sản THADS,…

- Cơ quan Tài chính: Quản lý nhà nước đối với việc bán đấu gíá tài sản là tang vật, phương tiện bị tịch thu do vi phạm hành chính; Tham mưu cho UBND tỉnh trình HĐND tỉnh ban hành mức thu phí đấu giá trên địa bàn để các Tổ chức bán đấu giá thực hiện thống nhất,

- Cơ quan Tài nguyên và môi trường: Phối hợp với Sở Tư pháp, Sở Tài chính quản lý nhà nước đối với việc bán đấu giá tài sản là Quyền sử dụng đất trong trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất được bán đấu giá theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

- UBND cấp huyện, tỉnh: Chỉ đạo Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất kịp thời tham mưu cho UBND cấp huyện cùng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người mua tài sản bán đấu giá là cá nhân khi đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính theo quy định

- Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm ký hợp đồng bán đấu giá với Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản để thực hiện việc đấu giá quyền sử dụng đất khi nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất sau khi được

cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, phê duyệt giá khởi điểm,…

- Cơ quan Thuế: Khi nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan thuế có trách nhiệm hoàn tất các thủ tục về nghĩa vụ tài chính của người có tài sản bán đấu giá, người mua tài sản bán bán đấu giá theo yêu cầu của cơ quan đăng ký quyền sở hữu,

sử dụng tài sản hoặc đề nghị của người mua tài sản bán đấu giá Người có tài sản bán đấu giá, người mua tài sản bán đấu giá có trách nhiệm nộp tiền vào ngân sách nhà nước đúng thời gian quy định của cơ quan thuế,…

Trang 37

1.1.4.2 Yếu tố chủ quan

* Đội ngũ đấu giá viên

Hiện nay, hoạt động bán đấu giá chủ yếu do đội ngũ đấu giá viên chuyên nghiệp thực hiện Đấu giá viên là một chức danh bổ trợ tư pháp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá, đáp ứng các tiêu chuẩn và điều kiện được quy định tại Luật Đấu giá tài sản (2016)

Trong quá trình hành nghề đấu giá, có những hoạt động chỉ mình đấu giá viên trực tiếp thực hiện, có hoạt động đấu giá viên giữ vai trò chính, hướng dẫn và phối hợp với chuyên viên khác cùng thực hiện Có thể nói đấu giá viên giữ vai trò vị trí trung tâm, vai trò nòng cốt trong hoạt động bán đấu giá Mọi cuộc bán đấu giá đều phải do đấu giá viên điều hành và đấu giá viên là người chịu trách nhiệm hoàn toàn

về cuộc bán đấu giá Vì vậy, để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, đấu giá viên cần

có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và những kỹ năng nghề nghiệp

Trước hết, để điều hành tốt cuộc bán đấu giá thì đấu giá viên ngoài trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật, phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp nào đó Đây là những kiến thức bắt buộc phải có đối với bất kỳ ai hoạt động nghề nghiệp trong xã hội nói chung và hoạt động trong nghề đấu giá nói riêng khi thực hiện công việc Kiến thức về kỹ năng nghiệp vụ trong một lĩnh vực công tác cụ thể là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng để đánh giá kỹ năng nghề nghiệp của mỗi người Bán đấu giá tài sản là một dịch vụ trong nền kinh tế thị trường, có liên quan tới rất nhiều lĩnh vực pháp luật, có tính chất nghề nghiệp chuyên biệt nên đòi hỏi đội ngũ đấu giá viên phải có kiến thức nghiệp vụ vững vàng Vì vậy, để góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp và chất lượng của đội ngũ đấu giá viên, Luật Đấu giá tài sản (2016) đã quy định rõ tiêu chuẩn đối với đấu giá viên tại Điều 10 của luật này

Bên cạnh đó, để tiến hành hoạt động nghề nghiệp của mình, đấu giá viên cần được trang bị và rèn luyện những kỹ năng cơ bản Kỹ năng nghề nghiệp của đấu giá viên là khả năng vận dụng thành thạo và khéo léo tất cả những kiến thức và kinh nghiệm mà mình có được vào việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ nhằm đạt được hiệu quả cao nhất với mức chi phí thấp nhất cả về thời gian, công sức và kinh tế

Trang 38

* Cơ cấu tổ chức của các tổ chức thực hiện đấu giá tài sản

Từ thực tế, có thể dễ dàng thấy sự khác biệt rất rõ trong tổ chức của các trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản (là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) so với các doanh nghiệp hoạt động đa ngành nghề có kinh doanh dịch vụ bán đấu giá tài sản Hiện nay, trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản có lãnh đạo trung tâm, các phòng nghiệp vụ và một đội ngũ viên chức, người lao động giúp việc cho đấu giá viên triển khai thực hiện các yêu cầu của công dân, tổ chức một cách bài bản và có sự phân công rõ ràng, rành mạch theo từng lĩnh vực Đây là yếu tố thuận lợi và cần thiết để phục vụ tốt nhất, bảo đảm đúng quy định của các công việc, nhiệm vụ liên quan đến hoạt động bán đấu giá tài sản Trong khi đó, xét về cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp hoạt động đa ngành nghề, có kinh doanh dịch vụ bán đấu giá tài sản, thì sẽ hoàn toàn khác biệt và có phần “đơn giản” hơn Sẽ xuất hiện nhiều doanh nghiệp chỉ có một đấu giá viên triển khai thực hiện tất cả các hoạt động có liên quan đến bán đấu giá tài sản của tổ chức

đó (thực hiện nhiệm vụ từ khâu tiếp nhận hồ sơ cho đến khâu tổ chức bán đấu giá tài sản), đồng thời phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác được doanh nghiệp giao cho, nên tính chuyên nghiệp và hiệu quả của hoạt động bán đấu giá tài sản chắc chắn sẽ không được như mong muốn

* Cơ sở vật chất làm việc của tổ chức thực hiện bán đấu giá

Để đảm bảo cho việc thực hiện bán đấu giá, không thể không quan tâm đến cơ

sở vật chất làm việc của tổ chức thực hiện bán đấu giá tài sản Tại Điều 23 Luật Đấu giá tài sản (2016) quy định đối với doanh nghiệp đấu giá tài sản phải có trụ sở, cơ

sở vật chất, các trang thiết bị cần thiết đảm bảo cho hoạt động đấu giá tài sản Mặc

dù, Luật này và các văn bản pháp luật khác có liên quan không quy định rõ trụ sở,

cơ sở vật chất và các trang thiết bị như thế nào là cần thiết đối với hoạt động bán đấu giá tài sản nhưng có thể hiểu cơ sở vật chất cần thiết ở đây đó là: máy tính, máy

in, máy photocopy, mạng internet, trụ sở, phòng làm việc,…

Hệ thống mạng nội bộ, mạng internet được kết nối ở tất cả các máy vi tính tại các tổ chức thực hiện bán đấu giá tài sản là hết sức cần thiết Nó giúp cho việc trao đổi, chia sẻ công việc, thu thập và đưa thông tin bán đấu giá tài sản lên mạng

Trang 39

internet, lưu trữ hồ sơ bán đấu giá phát huy được hiệu quả Từ đó, góp phần tích cực cho quá trình bán đấu giá tài sản

Bên cạnh đó, một tổ chức bán đấu giá có diện tích hợp lý, đủ lớn để có thể bố trí riêng các phòng làm việc và Hội trường bán đấu giá cũng ảnh hưởng tới chất lượng công việc của cán bộ nhân viên Thêm vào đó, tổ chức bán đấu giá có trụ sở khang trang hiện đại cũng góp phần tạo dựng hình ảnh, thu hút khách hàng đến tham gia đấu giá,…

Như vậy, có thể thấy cơ sở vật chất làm việc cũng là một yếu tố có vai trò quan trọng trong công tác bán đấu giá tài sản của các tổ chức thực hiện bán đấu giá tài sản Do đó, các tổ chức cần chú trọng, quan tâm đúng mức đến yếu tố này

1.2 Kinh nghiệm thực tiễn về quản lý công tác bán đấu giá tài sản

1.2.1 Kinh nghiệm của một số Trung tâm về quản lý công tác bán đấu giá tài sản

1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Phú Thọ

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Phú Thọ trực thuộc Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ được thành lập theo Quyết định số 1843/QĐ-UB ngày 20/11/1997 của UBND tỉnh Phú Thọ, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản theo quy định của pháp luật Trung tâm là đơn vị sự nghiệp có thu duy nhất của Nhà nước trên địa bàn tỉnh, chịu sự chỉ đạo, quản lý của Sở Tư pháp; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan có liên quan thuộc Bộ Tư pháp, chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, Sở Tư pháp và pháp luật về hoạt động đấu giá tài sản

Hiện nay Trung tâm gồm có 06 cán bộ, viên chức đều có trình độ chuyên môn

cử nhân Luật, Tài chính, Kinh tế trong đó có 04 Đấu giá viên Trụ sở làm việc của Trung tâm tại Sở Tư pháp, đường Nguyễn Tất Thành, phường Tân Dân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ với hội trường lớn đảm bảo an ninh trật tự, cơ sở vật chất thuận lợi để tổ chức thành công các cuộc đấu giá trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Phú Thọ đã đạt được những kết quả tích cực Đến nay, Trung tâm là đơn vị dẫn đầu so với các doanh nghiệp đấu giá trên địa bàn tỉnh Phú Thọ về hoạt động đấu giá tài sản Trong 3 năm 2015, 2016, 2017 Trung tâm đã ký kết và đấu giá thành công

90 hợp đồng dịch vụ, tổng giá bán đấu giá 706 tỷ đồng, chênh lệch so với giá khởi

Trang 40

điểm 17 tỷ đồng, phí đấu giá thu được 1,4 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước theo quy định 96 triệu đồng

Với thành tích trong hoạt động, nhiều năm Trung tâm vinh dự được Bộ Tư pháp, UBND tỉnh Phú Thọ, Giám đốc Sở Tư pháp tặng danh hiệu tập thể lao động tiên tiến, Bằng khen, Giấy khen cho tập thể và các cá nhân Năm 2017 tập thể Trung tâm là tập thể lao động tiên tiến, cán bộ viên chức đều có thành tích hoàn thành tốt nhiệm vụ trong hoạt động đấu giá tài sản Để đạt được những kết quả đó, Trung tâm

đã triển khai những giải pháp sau:

Một là, tập trung xây dựng và triển khai các mô hình hoạt động liên quan đến

công tác đấu giá tài sản Trong nỗ lực thu hút khách hàng của mình, Trung tâm không ngừng hoàn thiện cơ sở vật chất, xây dựng đội ngũ cán bộ năng động, chuyên nghiệp và tận tâm, luôn chú trọng đảm bảo tốt việc phục vụ khách hàng, tránh lãng phí thời gian và gây phiền hà cho công dân; công khai minh bạch thủ tục hồ sơ đấu giá của đơn vị; xây dựng nếp sống văn minh công sở

Hai là, nhằm cải cách thủ tục hành chính, đổi mới công tác chuyên môn và

nâng cao hiệu quả công việc, Ban Lãnh đạo Trung tâm còn quy định các Đấu giá viên được chủ động đến nhận hồ sơ trực tiếp từ các tổ chức, cá nhân có nhu cầu đấu giá tài sản, do đó đã thực hiện thành công nhiều hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân với tổng giá trị tài sản bán được trị giá hàng nghìn tỷ đồng, chiếm trọn lòng tin của khách hàng

Ba là, để tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ, xây dựng chuyên nghiệp hóa

hoạt động đấu giá tài sản, Trung tâm không ngừng vận dụng sáng tạo trong phương pháp đấu giá như tổ chức đấu giá theo mô hình liên kết; tin học hóa công tác đấu giá tài sản; ký kết hợp đồng dịch vụ với nhiều ưu đãi cho khách hàng (người có tài sản đấu giá), tư vấn, soạn thảo và xây dựng hợp đồng, mẫu biểu miễn phí cho người có tài sản đấu giá trên nguyên tắc bình đẳng, đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia

Có thể nói trong những năm qua, hoạt động của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Phú Thọ có những chuyển biến tích cực, hiệu quả công tác đấu giá được chú trọng; quan hệ, tác phong làm việc, sự phối hợp trong công tác giữa Trung tâm và các cơ quan liên quan ngày càng tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi giải quyết cho hầu hết các hợp đồng dịch vụ đấu giá (Cổng thông tin điện tử Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ)

Ngày đăng: 16/03/2023, 15:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2010), Thông tư Quy định việc xác định giá khởi điểm của tài sản nhà nước bán đấu giá và chế độ tài chính của Hội đồng bán đấu giá tài sản, số 137/2010/TT-BTC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư Quy định việc xác định giá khởi điểm của tài sản nhà nước bán đấu giá và chế độ tài chính của Hội đồng bán đấu giá tài sản
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2010
2. Bộ Tài chính (2012), Thông tư hướng dẫn việc xác định giá khởi điểm và chế độ tài chính trong hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất, số 48/2012/TT-BTC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư hướng dẫn việc xác định giá khởi điểm và chế độ tài chính trong hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
3. Bộ Tài chính (2016), Thông tư ban hành ngày 27/12/2016 quy định Về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí đấu giá tài sản, phí tham gia đấu giá tài sản, số 335/2016/TT-BTC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư ban hành ngày 27/12/2016 quy định Về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí đấu giá tài sản, phí tham gia đấu giá tài sản
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2016
4. Bộ Tư pháp (2010), Thông tư Quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản, số 23/2010/TT-BTP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư Quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2010
5. Bộ Tư pháp (2012), Quyết định số 1076/QĐ- BTP phê duyệt Đề án “Phát triển và tăng cường năng lực đội ngũ đấu giá viên giai đoạn 2013 - 2015, định hướng đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1076/QĐ- BTP phê duyệt Đề án “Phát triển và tăng cường năng lực đội ngũ đấu giá viên giai đoạn 2013 - 2015, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2012
6. Bộ Tư pháp (2013), Đề án tăng cường năng lực đội ngũ đấu giá viên giai đoạn 2013-2015, định hướng năm 2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số 1076/QĐ- BTP ngày 10/5/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án tăng cường năng lực đội ngũ đấu giá viên giai đoạn 2013-2015, định hướng năm 2020
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2013
9. Chính phủ (1996), Nghị định về việc ban hành quy chế bán đấu giá tài sản, số 86/NĐ-CP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định về việc ban hành quy chế bán đấu giá tài sản
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1996
10. Chính phủ (18/01/2005), Nghị định của Chính phủ về bán đấu giá tài sản, số 05/2005/NĐ-CP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định của Chính phủ về bán đấu giá tài sản
11. Chính phủ (2010), Nghị định của Chính phủ về bán đấu giá tài sản, số 17/2010/NĐ-CP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định của Chính phủ về bán đấu giá tài sản
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
13. Trần Tiến Hải (2015), Thực hiện pháp luật về đấu giá quyền sử dụng đất ở các tỉnh Bắc Trung bộ Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện pháp luật về đấu giá quyền sử dụng đất ở các tỉnh Bắc Trung bộ Việt Nam hiện nay
Tác giả: Trần Tiến Hải
Năm: 2015
14. Tô Thiện Hiền (2012), Nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước tỉnh An Giang giai đoạn 2011 - 2015 và tầm nhìn đến 2020, Luận án tiến sỹ Kinh tế Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước tỉnh An Giang giai đoạn 2011 - 2015 và tầm nhìn đến 2020
Tác giả: Tô Thiện Hiền
Năm: 2012
15. Nguyễn Văn Ngọc (2015), Từ điển kinh tế học, Nxb Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển kinh tế học
Tác giả: Nguyễn Văn Ngọc
Nhà XB: Nxb Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2015
17. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Thương mại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thương mại
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
18. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Bộ luật dân sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
19. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
20. Lê Minh Thông (2001), “Một số vấn đề lý luận về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Nxb khoa học xã hội, Hà Nội (tr228) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề lý luận về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Tác giả: Lê Minh Thông
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 2001
37. Cổng thông tin điện tử tỉnh Lào Cai: http://www.laocai.gov.vn/ Link
38. Cổng thông tin điện tử Sở Tư pháp, tỉnh Lào Cai: http://stp.laocai.gov.vn 39. Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp: http://www.moj.gov.vn/ Link
40. Cổng thông tin điện tử tỉnh Phú Thọ: http://sotuphap.phutho.gov.vn/ Link
41. Cổng thông tin điện tử Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An: http://www.nghean.vn/portal/sotuphap Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w