TC SO 4 2018 B3 TCNCYH 113 (4) 2018 123 TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC Địa chỉ liên hệ Trần Quỳnh Anh, Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội Email tranquynhanh@hmu edu vn Ng[.]
Trang 1Địa chỉ liên hệ: Trần Quỳnh Anh, Viện Đào tạo Y học Dự
phòng và Y tế Công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội
Email: tranquynhanh@hmu.edu.vn
Ngày nhận: 10/5/2018
Ngày được chấp thuận: 15/8/2018
RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH
XÃ CHIỀNG ĐEN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA NĂM 2017
Trần Quỳnh Anh 1 , Tạ Đình Cao 2 , Cao Văn Tuân 2
1 Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng - Trường Đại học Y Hà Nội
2 Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm ở người trưởng thành ở một
xã của tỉnh Sơn La và một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
Tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm được xác định qua 2 bước Bước 1: sàng lọc những trường hợp nghi ngờ, được thực hiện trên 3675 người trưởng thành trên toàn xã Bước 2: khám và chẩn đoán rối loạn trầm cảm cho các trường hợp nghi ngờ (452 người), đồng thời phỏng vấn bằng bộ câu hỏi Kết quả cho thấy, tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm là 3,6%, nữ cao hơn nam (5,8% và 1,6%) Trong số các bệnh nhân mắc rối loạn trầm cảm, khoảng 3/4 ở thể trầm cảm vừa và không có ca trầm cảm nặng Các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người trưởng thành gồm nhóm yếu tố liên quan đến người thân (vợ/chồng/con đi làm xa nhà; bất hòa với vợ/chồng/con; vợ/chồng/con bệnh nặng); nhóm yếu tố liên quan đến lối sống cá nhân: có uống rượu và hút thuốc lá; và có mâu thuẫn kéo dài tại nơi ở
Từ khóa: rối loạn trầm cảm, người trưởng thành, Sơn La
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo đánh giá mới của Tổ chức Y tế Thế
giới năm 2017, số người mắc bệnh trầm cảm
đã tăng 18% trong khoảng thời gian từ năm
2005 đến năm 2015 Trầm cảm là nguyên
nhân lớn nhất của khuyết tật trên toàn thế
giới Hơn 80% gánh nặng bệnh tật do trầm
cảm rơi vào những người dân sống ở những
nước có thu nhập thấp và trung bình [1] Ước
tính của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2015 thì
trên toàn thế giới có khoảng 322 triệu người
có rối loạn trầm cảm, trong đó khu vực Đông
Nam Á chiếm cao nhất tới 27% trong tổng số
các bệnh nhân trầm cảm [2] Theo La Đức
Cương, Trần Trung Hà (2013) thì tỷ lệ trầm
cảm chung của cả nước Việt Nam là 2,45%
dân số [3]
Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ
10 về các rối loạn tâm thần và hành vi
(ICD-10, 1992), trầm cảm là một hội chứng bệnh lý của rối loạn cảm xúc biểu hiện đặc trưng bởi khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn tới sự tăng mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là mệt mỏi rõ rệt chỉ sau một cố gắng nhỏ, tồn tại trong một khoảng thời gian kéo dài ít nhất là 2 tuần [4] Có tới 75% số trường hợp tự sát liên quan đến trầm cảm, trong đó 2/3 là trầm cảm có loạn thần và
10 - 15% bệnh nhân đã tự sát thành công [5], [6] Người mắc rối loạn trầm cảm thường đến với chuyên khoa tâm thần muộn do phát hiện muộn hoặc chưa được chẩn đoán sớm Phần lớn các rối loạn trầm cảm mức độ nhẹ và vừa nằm ở cộng đồng chưa được phát hiện Đây
là nguy cơ dẫn đến rối loạn trầm cảm nặng, nếu không được phát hiện và điều trị sẽ gây nhiều nguy hiểm cho bản thân người bệnh, gia đình và cộng đồng
Tại Việt Nam, chương trình quốc gia chăm sóc sức khoẻ tâm thần cộng đồng đã được
Trang 2triển khai trên cả nước nhằm phát hiện, điều
trị và quản lý các rối loạn tâm thần tại cộng
đồng nhưng chưa được phủ kín toàn bộ Đã
có những nghiên cứu về rối loạn trầm cảm
nhưng chưa có nghiên cứu thực hiện tại các
địa phương miền núi có nhiều đồng bào dân
tộc Do đó, nghiên cứu này được thực hiện tại
xã Chiềng Đen, thành phố Sơn La với mục
tiêu xác định tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm ở
người trưởng thành trong xã và phân tích một
số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm,
năm 2017
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Đối tượng
Tiêu chuẩn chọn: Người dân từ 18 tuổi
trở lên, có hộ khẩu thường trú tại địa phương
và cư trú tại xã ít nhất 6 tháng
Tiêu chuẩn loại trừ: Người vắng mặt tại
địa phương trên 6 tháng, người tạm trú
Địa điểm nghiên cứu: xã Chiềng Đen,
thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Thời gian nghiên cứu: tháng 3/2017 đến
tháng 12/2017
2 Phương pháp
Thiết kế: mô tả cắt ngang
Mẫu nghiên cứu: toàn bộ người trưởng
thành xã Chiềng Đen thỏa mãn tiêu chuẩn lựa
chọn
Quy trình nghiên cứu: gồm 2 bước:
Bước 1: Sàng lọc các trường hợp nghi ngờ
trầm cảm: tiến hành trên toàn bộ người dân
của xã thỏa mãn tiêu chuẩn chọn Sử dụng
phiếu sàng lọc được thiết kế sẵn Phiếu này
gồm các câu hỏi về thông tin nhân khẩu học
và các câu hỏi về những dấu hiệu, triệu chứng
của rối loạn trầm cảm hay gặp, gồm những dấu hiệu liên quan đến 3 triệu chứng chính và
7 triệu chứng phụ Đối tượng nào có ít nhất 01 triệu chứng chính và 02 triệu chứng phụ thì sẽ được coi là nghi ngờ mắc rối loạn trầm cảm
Bước sàng lọc này do cán bộ y tế xã Chiềng Đen thực hiện Các cán bộ này được tập huấn và hướng dẫn kỹ lưỡng về cách phỏng vấn sàng lọc Đã có 3675 người dân được sàng lọc
Bước 2: Những người được kết luận nghi ngờ mắc trầm cảm được mời đến khám ở trạm y tế xã, do bác sỹ Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 đến khám, tư vấn và điều trị
Thông tin thu được được ghi chép lại vào các bệnh án nghiên cứu Tại đây, những người nghi ngờ mắc trầm cảm cũng được cán bộ y
tế xã phỏng vấn về các yếu tố nguy cơ liên quan đến trầm cảm
Sau bước sàng lọc, đã có 452 người nghi ngờ mắc trầm cảm được khám và phỏng vấn
về các yếu tố nguy cơ liên quan đến trầm cảm
Nội dung nghiên cứu
- Tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm chung ở người trưởng thành xã Chiềng Đen; tỷ lệ rối loạn trầm cảm theo các mức độ nhẹ, vừa, nặng; tỷ lệ rối loạn trầm cảm theo giới và các đặc trưng cá nhân
- Các yếu tố nguy cơ liên quan đến trầm cảm gồm: 1) các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống trong 12 tháng qua (bất hòa với người thân trong gia đình, mâu thuẫn tại nơi
ở, khó khăn về tài chính) và 2) các hành vi nguy cơ sức khỏe như hoạt động thể lực, uống rượu, hút thuốc lá
3 Xử lý và phân tích số liệu: Số liệu
nghiên cứu được làm sạch, nhập và xử lý
Trang 3bằng phần mềm EPI INFO và STATA Kết quả
được trình bày dưới dạng tỷ lệ Phân tích yếu
tố nguy cơ sử dụng test χ2 và hồi quy logistic;
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức < 0,05
4 Đạo đức nghiên cứu
Đây là một nghiên cứu nằm trong chương
trình chăm sóc sức khoẻ tâm thần cộng đồng
quốc gia do Bệnh viện Tâm thần Trung ương
1 thực hiện Mục đích nghiên cứu được thông
báo rõ tới mọi người dân trong xã Đối tượng
tham gia nghiên cứu đồng ý và có quyền rút
khỏi nghiên cứu mà không cần giải thích lý do
Đối tượng được chẩn đoán xác định mắc trầm
cảm được điều trị và cung cấp thuốc miễn phí
theo chương trình
III KẾT QUẢ
Trong số 3675 người được khám sàng lọc,
tỷ lệ nam là 53% và nữ là 47%; 46,7% ở độ tuổi từ 18 - 39 Hầu hết là người dân tộc Thái: 93,7%; 50,6% là nông dân
Sau khám sàng lọc, phát hiện 452 người nghi ngờ mắc trầm cảm Trong số này 73% là nữ; 80,3% là nông dân; nhóm tuổi gặp nhiều nhất là 50 - 59 (27,4%), tiếp đến là nhóm tuổi
40 - 49 (20,8%); tất cả là người dân tộc Thái, 53,3% học hết tiểu học; 80,3% là nông dân; 90,2% đã kết hôn; 83,4% thuộc nhóm hộ có thu nhập trung bình trong xã
Bảng 1 Rối loạn trầm cảm ở người trưởng thành xã Chiềng Đen (n = 3675)
Bảng 1 cho thấy tỷ lệ rối loạn trầm cảm chung ở người trưởng thành xã Chiềng Đen là 3,6%; trong đó 2,6% là trầm cảm vừa và không có trường hợp nào rối loạn trầm cảm nặng
Bảng 2 Phân bố rối loạn trầm cảm theo tuổi và giới
Trang 4Bảng 2 cho thấy tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm ở nữ cao hơn nam gần 3 lần Trong các nhóm
tuổi, tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm cao nhất gặp ở nhóm trên 60 tuổi (5,4%), tiếp theo là nhóm
40-49 tuổi; tỷ lệ thấp nhất ở nhóm 18 - 29 tuổi
Bảng 3 Phân bố rối loạn trầm cảm theo nhân cách tiền bệnh lý và bệnh kèm theo (n = 133)
Bảng 3 cho thấy trong số 133 người được chẩn đoán rối loạn trầm cảm, hơn một nửa có nhân
cách trầm, ít quan hệ bên ngoài Cũng trong nhóm này, có nhiều người mắc các bệnh mãn tính
kèm theo, riêng nhóm bệnh dạ dày có số lượng nhiều nhất với 95 người
Bảng 4 Một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm (n = 452)
trầm cảm n (%)
Không loạn trầm cảm n (%) OR (95%CI) Trình độ học vấn
(1,4 – 3,4)
(0,844 - 2,474)
(0,666 – 2,061)
Trang 5Các yếu tố Có RLTC n (%) Không RLTC n (%) OR (95%CI) Con làm ăn, học tập ở xa nhà
(2,81 - 13,338)
Bất hoà với con cái
(1,971 - 20,797)
Con bị bệnh nặng hoặc bệnh mạn tính
(7,611 - 45,608)
Vấn đề công việc, xin việc của con
(1,490 - 22,987)
Vợ/ chồng làm ăn xa nhà
(1,791 - 126,040)
Vợ/ chồng bất hòa
(36,738 - 1975,766)
Vợ/ chồng có bệnh nặng, mạn tính
(15,361 – 839,709)
Mâu thuẫn kéo dài tại nơi ở
(4.1 – 26.1)
Thể dục thể thao
(0,6 – 2,1)
(1,9 – 18,8)
(1,4 – 8,4)
Trang 6* RLTC: rối loạn trầm cảm
Bảng 4 trình bày các yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở nhóm 452 người nghi ngờ có
rối loạn trầm cảm sau khám sàng lọc Kết quả cho thấy, nhóm học vấn thấp có nguy cơ rối loạn
trầm cảm cao hơn nhóm học vấn cao Các yếu tố thuộc về người thân gần gũi nhất (vợ/chồng và
con) đều có mối liên quan có ý nghĩa thống kê, bao gồm đi làm xa nhà, bệnh nặng, bất hòa
Những người có mâu thuẫn kéo dài tại nơi ở có nguy cơ rối loạn trầm cảm hơn những người
không gặp mâu thuẫn này Trong số các hành vi nguy cơ, hút thuốc lá và uống rượu bia là những
yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm
IV BÀN LUẬN
Nghiên cứu của chúng tôi tìm thấy tỷ lệ rối
loạn trầm cảm ở người trưởng thành tại xã
Chiềng Đen - Thành phố Sơn La - Tỉnh Sơn
La là 3,62%, tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở nữ cao
hơn nam Kết quả này tương đương với công
bố mới đây của Tổ chức Y tế Thế giới cho biết
năm 2017 có khoảng 300 triệu người mắc rối
loạn trầm cảm, tương đương với 3,94% Tác
giả như La Đức Cương điều tra dịch tễ các rối
loạn tâm thần thường gặp của 8 vùng kinh tế
xã hội khác nhau trên cả nước, cho biết tỷ lệ
mắc trầm cảm là 2,45% Nguyễn Thanh Cao
(2011) nghiên cứu tại Bắc Cạn cho biết tỷ lệ
này là 4,3% Phạm Tú Dương (2000), điều tra
tại Hải Phòng cho thấy tỷ lệ trầm cảm là 5,8%,
trong đó nữ nhiều hơn nam là 2,1/1 Nghiên
cứu của Trần Văn Cường (2008 - 2009) cho
kết quả mắc trầm cảm chung trong cộng đồng
là 3,2%, trong đó nữ gấp 3 lần nam [3; 7; 8; 9]
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Cao (2011)
cho thấy rối loạn trầm cảm ở nam là 1,6%,
trong khi đó ở nữ cao hơn là 8,3% [8] Như
vậy tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở một cộng đồng
dân cư người dân tộc Thái không khác biệt so
với các cộng đồng khác ở nước ta
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy một tỷ
lệ rối loạn trầm cảm đáng quan tâm ở những
người trên 60 tuổi Nghiên cứu của Li (2017),
chỉ ra tỷ lệ mắc trầm cảm ở người cao tuổi tại
Trung Quốc là 15,9% Tại Thái Lan, có 19,6%
người mắc trầm cảm có độ tuổi trên 60 tuổi, theo Wangtongkum (2008) [10; 11] Nghiên cứu của Sendra-Gutierrez et al (2017) tại Tây Ban Nha cho thấy, rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi là 12,6% và các yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm gồm tình trạng sức khoẻ, các bệnh mãn tính, thiếu sự quan tâm chăm sóc [12] Điều này gợi ý đến các hoạt động chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng nên hướng ưu tiên đến người cao tuổi
Xem xét các yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm, chúng tôi thấy trình độ văn hóa, các yếu tố gia đình và lối sống liên quan có ý nghĩa thống kê với rối loạn trầm cảm Nghiên cứu của Xuezheng Qin (2012), tại Trung Quốc cho biết, tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm chiếm 4,1%, trong đó những người có trình độ văn hóa thấp có nguy cơ mắc rối loạn trầm cảm cao hơn các nhóm khác [11] Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Kỳ (2001), các nhân tố thúc đẩy rối loạn trầm cảm lo âu gồm gia đình đông con, xung đột vợ chồng, xung đột giữa cha mẹ với con cái [13] Trong một nghiên cứu khác, tác giả Trần Quỳnh Anh cũng tìm thấy mối liên quan giữa yếu tố bất đồng với cha mẹ và dấu hiệu trầm cảm ở sinh viên [14]
Các hành vi như sử dụng rượu bia và hút thuốc lá đều liên quan đến rối loạn trầm cảm trong nghiên cứu này Theo nghiên cứu của Awaworyi Churchill và Farrell (2014) thì uống
Trang 7rượu thúc đẩy rối loạn trầm cảm và điều này
phụ thuộc hành vi uống rượu bao gồm số
lượng tiêu thụ, cường độ tiêu thụ, nghiện
rượu và nguy cơ bị phụ thuộc [15] Tuy nhiên,
trong trường hợp bệnh nhân nghiện rượu quá
nặng và sử dụng rượu quá liều sẽ gây ra hiện
tượng ảo giác, hoang tưởng Khi đó rối loạn
trầm cảm là một trong những triệu chứng của
bệnh nhân nghiện rượu Nghiên cứu này đã
góp phần tìm ra tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở cộng
đồng người dân tộc Thái tại một tỉnh Tây Bắc
và một số yếu tố liên quan Các trường hợp
rối loạn trầm cảm được xác định bởi các bác
sỹ chuyên khoa tâm thần cho kết quả có tính
tin cậy cao Những kết quả này đã đóng góp
thông tin quan trọng vào bản đồ dịch tễ học
bệnh trầm cảm của nước ta Tuy nhiên, phần
phân tích yếu tố liên quan chỉ thực hiện được
trên nhóm 452 người nghi ngờ có rối loạn
trầm cảm sau sàng lọc là một hạn chế của
nghiên cứu
V KẾT LUẬN
Rối loạn trầm cảm trên cộng đồng người
dân tộc ở một tỉnh miền núi tương tự như ở
các địa phương khác, trong đó tỷ lệ gặp ở nữ
cao hơn nam và phổ biến hơn ở nhóm người
cao tuổi Không phát hiện trường hợp trầm
cảm nặng Các yếu tố liên quan đến trầm cảm
ở người trưởng thành gồm nhóm yếu tố liên
quan đến người thân (con đi học xa nhà, vợ/
chồng/con đi làm xa nhà; bất hòa với vợ/
chồng/con; vợ/chồng/con bệnh nặng), nhóm
yếu tố liên quan đến lối sống cá nhân: có uống
rượu và hút thuốc lá; và có mâu thuẫn kéo dài
tại nơi ở
Lời cảm ơn
Các tác giả cảm ơn Ủy ban Nhân dân xã
Chiềng Đen, cán bộ y tế xã/ thôn và tất cả
người dân trong xã đã nhiệt tình tham gia vào nghiên cứu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 World Health Day-7 April 2017 World
Health Organization Website http://www.who int/campaigns/world-health-day/2017/en/
2 Depression and Other Common Men-tal Disorders World Health Organization Website http://www.who.int/mental_health/ management/depression/prevalence_global_ health_estimates/en/
3 La Đức Cương, Trần Trung Hà (2013)
Điều tra dịch tể lâm sàng 10 rối loạn tâm thần thường gặp ở cộng đồng thuộc 8 vùng kinh tế
- xã hội khác nhau trên cả nước Tạp chí Tâm
thần học, 4, 23 - 27
4 Tổ chức Y tế Thế giới (1992) Phân
loại bệnh quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi
5 Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Viết
Thiêm (2000) Rối loạn trầm cảm Nhà xuất
bản Từ điển Bách khoa Hà Nội
6 Nguyễn Văn Ngân (1996) Các rối loạn
khí sắc Nhà xuất bản Quân đội
7 Phạm Tú Dương (2000) Tìm hiểu đặc
điểm dịch tễ và lâm sàng rối loạn trầm cảm tại phường Đông Khê – thành phố Hải Phòng
Tạp chí Tâm thần học, 34, 245 - 246; 64 - 70
8 Nguyễn Thanh Cao (2011) Thực trạng
trầm cảm và một số yếu tố nguy cơ đến trầm cảm ở người trưởng thành tại phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn năm 2011 và đề xuất một
số giải pháp, Luận văn bác sỹ chuyên khoa II, Trường Đại học Y dược Thái Nguyên
9 Trần Văn Cường (2008) Nghiên cứu
dịch tễ lâm sàng 10 rối loạn tâm thần thường gặp ở 8 vùng sinh thái trên cả nước năm
2008 Tạp chí Tâm thần học, 3
10 Wangtongkum S., Sucharitakul P., Wongjaroen S et al (2008) Prevalence of
Trang 8depression among a population aged over 45
years in Chiang Mai, Thailand J Med Assoc
Thail Chotmaihet Thangphaet, 91(12), 1812 –
1816
11 Li N., Chen G., Zeng P et al (2018)
Prevalence and factors associated with mild
cognitive impairment among Chinese older
adults with depression Geriatr Gerontol Int, 18
(2), 263 - 268 doi: 10.1111/ggi.13171
12 Sendra-Gutiérrez J.M.,
Asensio-Moreno I., Vargas - Aragón M.L (2017)
Characteristics and factors associated with
depression in the elderly in Spain from a
gen-der perspective Actas Esp Psiquiatr 2017
Sep; 45(5), 185 – 200 https://www.ncbi.nlm
nih.gov/pubmed/29044444
13 Nguyễn Hữu Kỳ (2001) Nghiên cứu
đặc điểm lâm sàng và một số nhân tố thúc đẩy rối loạn trầm cảm lo âu ở người bệnh nội
khoa Tạp chí Y học Thực hành, 7, 61 - 64
14 Anh Tran Quynh, Micheal P Dunne, Hoat Luu Ngoc (2014) Well-being,
Depres-sion and Suicidal ideation among medical
stu-dents throughout Vietnam Vietnam journal of
Medicine and Pharmacy, 6(3), 23 - 30
15 Awaworyi Churchill S., Farrell L (2017) Alcohol and depression: Evidence
from the 2014 health survey for England Drug
Alcohol Depend, 1; 180: 86 - 92 doi: 10.1016/
j.drugalcdep
Summary DEPRESSIVE DISORDER AMONG ADULTS IN CHIENG DEN
COMMUNE SON LA TOWN, SON LA PROVINCE, 2017
This study was conducted to determine the prevalence of major depressive disorder among
adults in a community of Son La province and some associated factors A cross-sectional study
was conducted to determine the cases of major depressive disorder 3.675 adults in the
commu-nity of Son La were screened 452 suspected cases were examined and diagnosed with major
depressive disorder after screening and interviewing by questionnaires The results show that the
prevalence of major depressive disorder is 3.6% higher among females than males (5.8% and
1.6%) Among major depressive disorder cases, approximately three quarters were at moderate
cases and with no severe cases found Associated factors include stresses in family relationships
(husband/wife/son or daughter live far away from home; disagreement with husband/wife/son or
daughter; husband/wife/son or daughter suffer from severe illness) and personal lifestyle habits:
drinking and smoking and disagreement with neighbours
Key words: depressive disorder, adults, Son La