VŨ THỊ KIM THƯƠNG THAY ĐỔI KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TỈNH LÀO CAI SAU GIÁO DỤC SỨC KHỎE
Trang 1VŨ THỊ KIM THƯƠNG
THAY ĐỔI KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT
TỈNH LÀO CAI SAU GIÁO DỤC SỨC KHỎE
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NAM ĐỊNH - 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
VŨ THỊ KIM THƯƠNG
THAY ĐỔI KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT
TỈNH LÀO CAI SAU GIÁO DỤC SỨC KHỎE
Ngành: Điều dưỡng
Mã số: 8720301
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
Người hướng dẫn khoa học:
TS.BS NGÔ HUY HOÀNG
NAM ĐỊNH - 2022
Trang 3TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Mục tiêu: Mô tả thực trạng và đánh giá những thay đồi sau giáo dục sức
khỏe về kiến thức và thực hành chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Lào Cai năm 2022
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp giáo dục sức
khỏe có so sánh trước và sau can thiệp được thực hiện trên 95 người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú từ tháng 3 năm 2022 đến tháng 5 năm 2022 tại Khoa khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết tỉnh Lào Cai
Kết quả nghiên cứu:
Trước can thiệp kiến thức về chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2 tham gia nghiên cứu còn hạn chế với điểm trung bình kiến thức là là 7,8 ± 2,1 trên tổng 13 điểm của thang đo, sau can thiệp và 1 tháng sau can thiệp điểm trung bình kiến thức đã tăng lên lần lượt là 10,9 ± 1,7 và 10,4 ± 1,9 điểm Trước can thiệp 68,4% người bệnh có kiến thức về chế độ dinh dưỡng ở mức đạt; sau can thiệp và 1 tháng sau can thiệp tỷ lệ người bệnh có kiến thức ở mức đạt tăng lên lần lượt là 92,6% và 87,4% Sự khác biệt về điểm trung bình kiến thức và tỷ lệ
có kiến thức đạt ở các thời điểm sau can thiệp so với trước can thiệp có ý nghĩa thống kê với các giá trị p < 0,05
Trước can thiệp, thực hành về chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo
đường type 2 còn hạn chế với điểm trung bình đạt 14,0 ± 2,9 trên tổng 25 điểm của
thang đo Sau can thiệp 1 tháng điểm trung bình thực hành của người bệnh tăng lên đạt 16,5 ± 3,2 điểm Tỷ lệ người bệnh thực hành đạt về chế độ dinh dưỡng sau can thiệp 1 tháng là 76,8% tăng lên đáng kể so với trước can thiệp là 58,9% Sự khác biệt điểm thực hành và tỷ lệ người bệnh thực hành đạt sau can thiệp 1 tháng so với trước can thiệp có ý nghĩa thấng kê vớicác giá trị p < 0,05
Kết luận: Kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái
tháo đường type 2 còn hạn chế trước can thiệp và đã được cải thiện đáng kể sau can thiệp giáo dục sức khỏe Kết quả nghiên cứu cho thấy sự cần thiết và hiệu quả của giáo dục sức khỏe cho người bệnh đái tháo đường về chế độ dinh dưỡng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định bằng sự biết ơn và kính trọng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu, Phòng quản lý đào tạo sau đại học và quý Thầy, Cô trong Nhà trường đã tận tình giảng dạy, truyền đạt và trang bị những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học tập
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn đã tận tình hỗ trợ, giúp
đỡ và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu, tạo điều kiện thuận lợi nhất để giúp
em hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn Bệnh viện nội tiết tỉnh Lào Cai đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thu thập số liệu, triển khai chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe cho người bệnh, giúp cho em hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn gia đình, các anh chị đồng nghiệp, bạn bè đã cổ
vũ, động viên em trong học tập và trong cuộc sống
Trân trọng cảm ơn!
Học viên
Vũ Thị Kim Thương
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy hướng dẫn theo phân công của Nhà trường Các dữ liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả của nghiên cứu trong luận văn là
từ quá trình triển khai, thu thập và phân tích một cách trung thực, khách quan và chưa từng được công bố ở bất cứ một công trình nào khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này!
Học viên
Vũ Thị Kim Thương
Trang 6MỤC LỤC
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU i
LỜI CẢM ƠN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỀU ĐỒ vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Bệnh đái tháo đường 5
1.2 Tình hình đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam 9
1.3 Tự chăm sóc về ăn uống và chế độ dinh dưỡng ở người bệnh đái tháo đường type 2 12
1.4 Các nghiên cứu liên quan đến kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2 20
1.5 Giáo dục sức khỏe 25
1.6 Mô hình niềm tin sức khỏe 26
1.7 Khung lý thuyết 28
1.8 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 28
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 30
2.3 Thiết kế nghiên cứu 30
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 31
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 31
2.6 Can thiệp giáo dục sức khỏe 34
2.7 Các biến số nghiên cứu 34
2.8 Thang đo và tiêu chuẩn đánh giá 36
Trang 72.9 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 37
2.10 Sai số và biện pháp khắc phục 38
2.11 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 38
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.1 Thông tin nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 39
3.2 Thực trạng kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2 tham gia nghiên cứu trước can thiệp giáo dục 43
3.3 Thay đổi kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu trước và sau can thiệp giáo dục 47
Chương 4 BÀN LUẬN 52
4.1 Thông tin nhân khẩu học của người bệnh tham gia nghiên cứu 52
4.2 Thực trạng kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng của người bệnh tham gia nghiên cứu trước can thiệp giáo dục 56
4.3 Thay đổi kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng của của người bệnh tham gia nghiên cứu sau can thiệp giáo dục 60
4.4 Ưu điểm, hạn chế của nghiên cứu 65
KẾT LUẬN 66
KHUYẾN NGHỊ 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 74
Phụ lục 1 BẢN ĐỒNG THUẬN THAM GIA NGHIÊN CỨU
Phụ lục 2 PHIẾU ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ CHẾ ĐỘ
DINH DƯỠNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 Phụ lục 3 CÁCH ĐÁNH GIÁ VÀ CHO ĐIỂM
Phụ lục 4 NỘI DUNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE VỀ CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG
CHO NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 Phụ lục 5 TÀI LIỆU PHÁT TAY
Phụ lục 6 DANH SÁCH NGƯỜI BỆNH THAM GIA NGHIÊN CỨU
Trang 8BHYT : Bảo hiểm y tế
BMI (Body Mass Index) : Chỉ số khối cơ thể
BV : Bệnh viện
ĐTNC : Đối tượng nghiên cứu
ĐTĐ : Đái tháo đường
IDF (International Diabetes Federation) : Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế
Trang 9Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi, nơi cư trú và trình độ học vấn của ĐTNC 39
Bảng 3.2 Đặc điểm về nghề nghiệp và điều kiện sống của ĐTNC 40
Bảng 3.3 Đặc điểm về bệnh/ biến chứng kèm theo của ĐTNC 41
Bảng 3.4 Đặc điểm về hoàn cảnh phát hiện bệnh, nguồn thông tin về chế độ dinh dưỡng mà đối tượng nghiên cứu nhận được 42
Bảng 3.5 Đặc điểm về hút thuốc của đối tượng nghiên cứu 42
Bảng 3.6 Kiến thức của người bệnh về chế độ dinh dưỡng 43
Bảng 3.7 Thực hành về sử dụng rau xanh, số lượng bữa ăn, thói quen ăn sáng và sử dụng dầu mỡ chế biến thức ăn của ĐTNC trước can thiệp 44
Bảng 3.8 Thực hành về sử dụng các loại trái cây và đồ uống của ĐTNC trước can thiệp 45
Bảng 3.9 Thực hành về sử dụng các loại thực phẩm có nhiều chất đạm, thực phẩm chế biến sẵn của ĐTNC trước can thiệp 46
Bảng 3.10 Kết quả chung dựa trên điểm trung bình kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng của người bệnh trước can thiệp 47
Bảng 3.11 Thay đổi kiến thức của người bệnh về chế độ dinh dưỡng sau can thiệp so với trước can thiệp 47
Bảng 3.12 Thay đổi điểm kiến thức về dinh dưỡng sau can thiệp 48
Bảng 3.13 Thay đổi thực hành của người bệnh về chế độ dinh dưỡng 49
Bảng 3.14 Thay đổi điểm thực hành về dinh dưỡng sau can thiệp 50
Trang 10Hình 1.1 Khung lý thuyết của nghiên cứu 28
Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu 31
Biểu đồ 3.1 Phân bố theo giới của đối tượng nghiên cứu 39
Biểu đồ 3.2 Tiền sử gia đình có người mắc đái tháo đường của ĐTNC 40
Biểu đồ 3.3 Đặc điểm về thời gian mắc bệnh của ĐTNC 41
Biểu đồ 3.4 Phân loại kiến thức về chế độ dinh dưỡng trước can thiệp 44
Biểu đồ 3.5 Phân loại thực hành về chế độ dinh dưỡng của người bệnh 46
Biểu đồ 3.6 Thay đổi phân loại kiến thức của người bệnh sau can thiệp 49
Biểu đồ 3.7 Thay đổi phân loại thực hành của người bệnh sau can thiệp 51
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Thế kỷ 21 là thế kỷ của các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa mà điển hình nhất là bệnh đái tháo đường Đái tháo đường là bệnh không lây nhiễm được Tổ chức Y tế Thế giới quan tâm hàng đầu trong chiến lược chăm sóc sức khỏe cộng đồng, bệnh đang có tốc độ gia tăng một cách chóng mặt đặc biệt ở các nước đang phát triển Theo thống kê của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) năm 2021, trên thế giới có khoảng 537 triệu người trong độ tuổi 20 - 79 mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), trong đó tỷ lệ ĐTĐ type 2 chiếm khoảng 90% Theo ước tính đến năm 2030, trên toàn thế giới có khoảng 643 triệu người sống chung với bệnh này và con số này có thể tăng lên 783 triệu người vào năm 2045 Đái tháo đường còn trở thành lực cản của sự phát triển và gánh nặng cho toàn xã hội khi mà mỗi năm, toàn thế giới phải tiêu tốn hàng ngàn tỷ USD chi phí trực tiếp cho chữa trị, phòng ngừa biến chứng nhưng vẫn không thể lấp đầy những tổn thất và hậu quả khốc liệt do bệnh đái tháo đường gây ra Cụ thể trong năm 2021, thế giới chi khoảng 966 tỷ USD cho chi phí y tế dành cho điều trị bệnh đái tháo đường tăng 361% so với 15 năm qua [48]
Cũng theo IDF, tại Việt Nam năm 2019 có 3,8 triệu người trong độ tuổi 20 -
79, chiếm 6% dân số trưởng thành mắc đái tháo đường, và dự kiến con số này sẽ tăng lên là 6.3 triệu người năm 2045 Đáng chú ý là gần một nửa số người đang sống với bệnh đái tháo đường không được chẩn đoán bệnh; đây là nhóm có nguy cơ cao mắc phải những biến chứng của đái tháo đường [47]
Đái tháo đường có xu hướng ngày càng tăng trên toàn thế giới, đặc biệt là ĐTĐ type 2 Sự gia tăng của ĐTĐ type 2 có liên quan đến một số yếu tố nguy cơ như tỷ lệ béo phì tăng, chế độ dinh dưỡng không lành mạnh, trì trệ vận động… Song song với thuốc điều trị đái tháo đường, tuân thủ chế độ dinh dưỡng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc kiểm soát đường huyết Tuân thủ chế độ dinh dưỡng kém sẽ dẫn đến kiểm soát đường huyết không hiệu quả và gây ra những hậu quả nghiêm trọng như biến chứng hạ đường máu, tăng đường máu sau ăn dẫn đến
Trang 12các biến chứng tổn thương mắt, thận, thần kinh, loét chân dẫn đến cắt cụt chi, nhiễm trùng , đồng thời chi phí dịch vụ y tế cũng tăng lên; điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới người bệnh mà còn trở thành gánh nặng cho gia đình và xã
hội [5], [48]
Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cũng cho thấy những hạn chế trong tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2 Nghiên cứu của Mandewo và cộng sự năm 2014 cho thấy tỷ lệ người bệnh không tuân thủ với chế
độ dinh dưỡng là 43,3% [52] Nghiên cứu của Asnakew Achaw Ayele và cộng sự năm 2017 cho kết quả có một tỷ lệ đáng kể người bệnh tuân thủ kém với các khuyến nghị về chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2 chiếm 74,3% [37] Nghiên cứu của Lưu Thị Hương Giang năm 2013 cho thấy 79% người bệnh có thực hiện chế độ dinh dưỡng cho người đái tháo đường [8]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trọng Nhân năm 2019 cho thấy kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường trước can thiệp giáo dục sức khỏe còn nhiều hạn chế với kiến thức đạt 5,97 ± 1,92 điểm trên tổng số 13 điểm; thực hành đạt 13,08 ± 2,41 điểm trên tổng số 26 điểm Nhưng sau can thiệp giáo dục sức khỏe bằng phương pháp tư vấn trực tiếp cho từng nhóm nhỏ người bệnh kết hợp với tài liệu phát tay cho người bệnh thì điểm trung bình kiến thức tăng lên là 7,86 ± 1,75 điểm và điểm trung bình thực hành đạt là 16,53 ± 2,18 điểm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 [21] Kết quả này cho thấy hiệu quả của việc giáo dục sức khỏe cho người bệnh
Trong năm 2021, Bệnh viện Nội tiết tỉnh Lào Cai đã khám và quản lý điều trị ngoại trú cho khoảng 3.200 người bệnh đái tháo đường, trong đó 3.180 người bệnh đái tháo đường type 2 Đây là bệnh viện có số người bệnh đái tháo đường cao nhất trong tỉnh Ngoài ra, Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới phía Tây Bắc của Việt Nam; nơi đây tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số như H'Mông, Tày, Dao, Giáy,… cho nên những phong tục lạc hậu cũng cản trở việc tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh Tại bệnh viện hiện nay phương pháp giáo dục sức khỏe chủ yếu đang được thực hiện là treo các áp phích tại phòng khám đái tháo đường và
Trang 13phát tờ rơi liên quan đến bệnh đái tháo đường cho người bệnh để người bệnh có thể ghi nhớ lâu hơn Mặt khác do số lượng người bệnh đông nên trong quá trình khám bệnh, thời gian tư vấn về chế độ dinh dưỡng cho người bệnh ít; do đó kiến thức của người bệnh về chế độ dinh dưỡng bị hạn chế Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài:“Thay đổi kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Lào Cai sau giáo dục sức khỏe” được tiến hành với 2 mục tiêu sau đây:
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Lào Cai năm 2022
2 Đánh giá sự thay đổi kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Lào Cai sau giáo dục sức khỏe
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Bệnh đái tháo đường
1.1.1 Định nghĩa bệnh đái tháo đường
Đái tháo đường là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng lượng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin, khiếm khuyết hoạt động insulin, hoặc cả hai Tăng glucose máu mạn tính trong đái tháo đường gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu [4],[5]
1.1.2 Phân loại đái tháo đường
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO):
- Đái tháo đường type 1: Chiếm 5-10% của tất cả các trường hợp được
chẩn đoán mắc bệnh đái tháo đường Nguyên nhân do tế bào bê-ta bị phá hủy, gây nên sự thiếu hụt insulin tuyệt đối cho cơ thể Đái tháo đường type 1 phụ thuộc nhiều vào yếu tố gen và thường được phát hiện trước 40 tuổi Người bệnh đái tháo đường típ 1 sẽ có đời sống phụ thuộc insulin hoàn toàn
- Đái tháo đường type 2: Chiếm khoảng 90% của tất cả các trường hợp chẩn
đoán của bệnh Nó thường gắn liền với tình trạng thừa cân và kháng insulin Đối với người bệnh đái tháo đường type 2, chế độ ăn uống và hoạt động thể chất, là nền tảng của việc điều trị Tuy nhiên, chức năng của tế bào beta tuyến tụy giảm tiến triển trên nền tảng đề kháng insulin, rất nhiều người bệnh cuối cùng phải điều trị bằng thuốc uống hoặc insulin ngoại sinh Đặc điểm lớn nhất trong cơ chế bệnh sinh của đái tháo đường type 2 là có sự tương tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường
- Đái tháo đường thai kỳ: Đái tháo đường được phát hiện khi mang thai và
được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về Đái tháo đường type 1, type 2 trước đó
- ĐTĐ các type đặc biệt: do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Khiếm
khuyết chức năng tế bào beta, giảm hoạt tính của insulin do gen, bệnh lý của tụy
Trang 16ngoại tiết, do thuốc hoặc hóa chất (glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS, sau ghép
tạng) [35]
1.1.3 Yếu tố nguy cơ gây đái tháo đường type 2
Theo Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ năm 2017 [36] các yếu tố nguy cơ gây bệnh đái tháo đường type 2 bao gồm:
Tuổi: Tuổi càng cao, nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ, tim mạch và đột quỵ ngày càng cao ĐTĐ type 2 thường gặp ở người trên 45 tuổi và đang tăng lên đáng kể ở trẻ em và thanh thiếu niên
Chủng tộc: Các nhóm chủng tộc khác nhau có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type
2 khác nhau, trong đó Người Mỹ gốc Phi, người Mỹ gốc Mexico, người Mỹ bản địa, người Thái Bình Dương, người Mỹ gốc Á có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ cao hơn
Yếu tố di truyền: Yếu tố di truyền ảnh hưởng mạnh trong bệnh ĐTĐ type 2,
tỷ lệ cùng bị ĐTĐ của hai người sinh đôi cùng trứng là 90%, hầu hết người ĐTĐ type 2 đều có thân nhân bị ĐTĐ [4]
Tiền sử ĐTĐ thai kỳ: Những phụ nữ có tiền sử ĐTĐ thai kỳ có nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 cao gấp 7 lần những phụ nữ không mắc ĐTĐ thai kỳ [36]
Tăng huyết áp (THA): THA là bệnh lý đi kèm thường gặp nhất và là một trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu gây tử vong và tàn tật, đặc biệt ở những người mắc bệnh tiểu đường 75% người bệnh ĐTĐ có THA và người bệnh THA
có nguy cơ mắc ĐTĐ gấp 2,5 lần sau 5 năm chẩn đoán THA so với người không mắc bệnh [38]
Môi trường và lối sống: ảnh hưởng tới sự gia tăng tỷ lệ ĐTĐ type 2 liên quan đến béo phì, ăn các loại thực phẩm giàu năng lượng, giàu carbohydrat, uống nhiều rượu/bia và ít vận động Tỷ lệ mắc ĐTĐ type 2 ở những người thừa cân và béo phì (BMI ≥ 23) cao gấp 1,52 lần so với những người có chỉ số khối cơ thể (BMI) bình thường ( 18,5 ≤ BMI < 23) [49] Tỷ lệ người sống ở thành thị mắc ĐTĐ cao hơn ở nông thôn Những người hoạt động thể lực nhiều có tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ thấp hơn đáng kể so với người có lối sống tĩnh tại Hút thuốc làm nguy cơ mắc bệnh cao hơn 45% so với người không hút thuốc [45]
Trang 171.1.4 Chẩn đoán xác định đái tháo đường
Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường dựa vào 1 trong 4 tiêu chí sau đây:
a) Glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) hoặc:
b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp với 75g glucose bằng đường uống ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)
c) HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol) Xét nghiệm HbA1c phải được thực hiện bằng phương pháp đã chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế
d) BN có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc của cơn tăng glucose huyết cấp kèm mức glucose huyết tương bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)
Chẩn đoán xác định nếu có 2 kết quả trên ngưỡng chẩn đoán trong cùng 1 mẫu máu xét nghiệm hoặc ở 2 thời điểm khác nhau đối với tiêu chí a, b, hoặc c; riêng tiêu chí d: chỉ cần một lần xét nghiệm duy nhất [4]
1.1.5 Điều trị đái tháo đường
1.1.5.1 Thay đổi lối sống
* Luyện tập thể lực
Tăng hoạt động thể lực giúp làm cải thiện đường huyết, kiểm soát cân nặng
và giảm nguy cơ bệnh tim mạch Kết hợp luyện tập thể lực với can thiệp dinh dưỡng
sẽ có hiệu quả giảm HbA1c nhiều hơn
- Đi bộ là hình thức vận động thuận tiện về thời gian và không tốn chi phí
- Đối với đái tháo đường type 2, chương trình luyện tập thể lực được giám sát có hiệu quả cải thiện kiểm soát đường huyết, giảm nhu cầu thuốc uống đái tháo đường và insulin, giảm và duy trì cân nặng
- Nên tập thể dục 5 ngày mỗi tuần, tốt nhất là thể dục hết các ngày trong tuần
- Loại hình luyện tập thông dụng và dễ áp dụng nhất: đi bộ tổng cộng 150 phút mỗi tuần (hoặc 30 phút mỗi ngày), không nên ngưng luyện tập 2 ngày liên tiếp Mỗi tuần nên tập kháng lực 2-3 lần (kéo dây thun, nâng tạ)
- Có thể thay thế bằng cách chia nhỏ thời gian tập thể dục trong ngày Ví dụ:
Trang 18đi bộ sau 3 bữa ăn, mỗi lần 10-15 phút
- Những hoạt động tăng tiêu thụ năng lượng hàng ngày có lợi cho kiểm soát đái tháo đường: làm vườn, đi bộ lên cầu thang, lau nhà,…
- Tránh ngồi kéo dài và mỗi 20 tới 30 phút nên đứng dậy đi lại
- Một số hình thức thể dục khác có lợi ích như thể dục dưới nước phù hợp với người bị thoái hóa khớp: bơi lội, đi bộ nhanh trong nước [4]
* Chế độ dinh dưỡng
- Dinh dưỡng cần được áp dụng mềm dẻo theo thói quen ăn uống của người bệnh, các thức ăn sẵn có tại từng vùng miền Tốt nhất nên có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng
- Chi tiết về dinh dưỡng sẽ được thiết lập cho từng người bệnh tùy tình trạng bệnh, loại hình hoạt động, các bệnh lý, biến chứng đi kèm
Các nguyên tắc chung về dinh dưỡng nên được khuyến cáo cho mọi người bệnh:
- Người bệnh béo phì, thừa cân cần giảm cân giảm 5-10% trọng lượng
- Nên chú trọng dùng các loại mỡ có chứa acid béo không no một nối đôi hoặc nhiều nối đôi như dầu ô liu, dầu mè, dầu lạc, mỡ cá Cần tránh các loại mỡ trung chuyển (mỡ trans), phát sinh khi ăn thức ăn rán, chiên ngập dầu
- Giảm muối trong bữa ăn < 5g muối/ngày còn khoảng 2000 mg Natri mỗi ngày
- Chất xơ 20 - 30g/ngày; Chất xơ có nhiều trong các phần như vỏ, dây, lá, hạt, … của các loại cây lấy quả, rau xanh và ngũ cốc
- Các yếu tố vi lượng: nên chú ý bổ xung các yếu tố vi lượng nếu thiếu, thí
Trang 19dụ sắt ở bệnh nhân ăn chay trường Dùng Metformin lâu ngày có thể gây thiếu sinh
tố B12, nên chú ý đến tình trạng này nếu bệnh nhân có thiếu máu hoặc triệu chứng bệnh lý thần kinh ngoại vi
- Uống rượu điều độ: có nguy cơ làm hạ đường huyết Người nghiện rượu có nguy cơ xơ gan Người bị bệnh ĐTĐ vẫn được uống rượu nhưng không quá 1-2 đơn
vị rượu Một đơn vị rượu chứa 10g cồn, tương đương 120 mL rượu vang, 300 mL bia, hoặc 30mL rượu mạnh Ngưng hút thuốc
Các chất tạo vị ngọt: như đường bắp, aspartame, saccharin có nhiều bằng chứng trái ngược Do đó nếu sử dụng cũng cần hạn chế đến mức tối thiểu [4]
1.1.5.2 Điều trị đái tháo đường bằng thuốc
- Các nhóm thuốc hạ glucose huyết đường uống và thuốc dạng tiêm không thuộc nhóm insulin
- Insulin: được sử dụng ở bệnh nhân ĐTĐ típ 1 và cả ĐTĐ type 2 khi có triệu chứng thiếu insulin hoặc không kiểm soát được glucose huyết dù đã ăn uống luyện tập và phối hợp nhiều loại thuốc viên theo đúng chỉ dẫn Ngoài ra ĐTĐ type 2 khi mới chẩn đoán nếu glucose huyết tăng rất cao cũng có thể dùng insulin để ổn định glucose huyết, sau đó sẽ dùng các loại thuốc điều trị tăng glucose huyết khác [4]
1.2 Tình hình đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình đái tháo đường trên thế giới
Trong những năm gần đây theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới cho thấy tốc độ phát triển của bệnh ĐTĐ đang tăng rất nhanh và sự đe dọa của nó đến sức khỏe và kinh tế xã hội Theo thống kê của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) năm 2021: trên thế giới hiện nay có khoảng 537 triệu người trong độ tuổi 20 - 79 mắc bệnh ĐTĐ; ước tính đến năm 2030 trên toàn thế giới có khoảng 643 triệu người sống chung với bệnh này và con số này có thể tăng lên 783 triệu người vào năm 2045 Điều đáng chú ý có khoảng 541 triệu người bị suy giảm dung nạp glucose; đây là nhóm đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh ĐTĐ type 2 Cũng trong thống kê này tỷ lệ ĐTĐ gia tăng theo từng khu vực, tổng số người mắc ĐTĐ ở châu
Âu là 61 triệu người; ở Trung Đông và Bắc Phi là 73 triệu người; ở châu Phi là 24
Trang 20triệu người; Bắc Mỹ và Calibe là 51 triệu người; Nam và Trung Mỹ là 32 triệu người; 90 triệu người ở Đông Nam Á; Phía tây Thái Bình Dương là 206 triệu người
Cứ 3 trong 4 người lớn mắc ĐTĐ lại là những người bệnh sống ở những nước có thu nhập thấp và trung bình Có sự gia tăng toàn cầu về số lượng người mắc bệnh ĐTĐ dẫn đến tăng đáng kể tỷ lệ tử vong và chi phí y tế trên toàn thế giới Theo thống kê trong năm 2021 tỷ lệ tử vong do ĐTĐ trên toàn thế giới là 6,7 triệu người; như vậy, cứ 5 giây lại có 1 ca tử vong Liên quan đến chi phí y tế dành cho ĐTĐ cũng trong thống kê này trên toàn thế giới đã tiêu tốn 966 tỷ USD, con số này tăng 316% trong suốt 15 năm qua [48]
Tại Đông Nam Á, số người bị ĐTĐ năm 2021 là 90 triệu người dự kiến đến năm 2030 con số này có thể tăng lên là 113 triệu người đến năm 2045 có thể tăng lên là 151 triệu người; trong đó tỷ lệ người bệnh không được chẩn đoán chiếm 51,2% Tổng chi phí y tế cho bệnh ĐTĐ của khu vực này năm 2021 là 10,1 tỷ USD chiếm 1% tổng chi tiêu trên toàn thế giới mặc dù khu vực này là nơi sinh sống của 16,8% người bệnh mắc ĐTĐ trên toàn thế giới [48]
Ngoài các yếu tố khách quan như tăng trưởng và già hóa dân số, di truyền, sắc tộc, môi trường địa lý, thì lối sống ít vận động, ăn uống không điều độ, sử dụng thực phẩm ăn nhanh, áp lực công việc gây tình trạng căng thẳng thần kinh kéo dài đều là những yếu tố nguy cơ mắc bệnh; vì vậy, số người bị ĐTĐ càng gia tăng trong khi tuổi chẩn đoán ĐTĐ ngày càng trẻ hóa [39] Nếu như trước đây bệnh ĐTĐ là bệnh của người giàu, của những nước phát triển thì ngày nay người bệnh ĐTĐ có thể được tìm thấy ở tất cả các nước Nếu không có biện pháp dự phòng hay các chương trình quản lý hiệu quả thì tỷ lệ ĐTĐ sẽ còn tiếp tục tăng lên trên toàn cầu
1.2.2 Tình hình đái tháo đường tại Việt Nam
Việt Nam không được xếp vào 10 nước có tỷ lệ ĐTĐ cao nhưng lại là quốc gia có tốc độ gia tăng nhanh về bệnh lý ĐTĐ Căn bệnh này đã và đang ảnh hưởng tới mọi người và mọi lứa tuổi trong xã hội Trong khi đó Việt Nam nằm trong nhóm những quốc gia thu nhập trung bình và thấp phải chịu nhiều tác động lớn của căn
Trang 21bệnh đái tháo đường, đặc biệt là tại các thành phố lớn và khu công nghiệp Tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường ở Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng nhanh chóng ở khắp mọi miền cả nước và tạo ra gánh nặng kinh tế cho gia đình, xã hội trong quá trình điều trị căn bệnh này Thống kê của IDF năm 2019, số người trong
độ tuổi từ 20-79 tuổi mắc ĐTĐ là khoảng 3,8 triệu người, dự kiến tăng lên 6.3 triệu người năm 2045 Nhưng điều đáng chú ý là gần một nửa số người đang sống với bệnh đái tháo đường không được chẩn đoán bệnh Hầu hết trong số người bệnh này mắc ĐTĐ type 2 Tỷ lệ người mắc đái tháo đường ở Việt Nam đang tăng chóng mặt
và ngày càng có xu hướng trẻ hóa [47]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Lành tại tỉnh Hậu Giang năm 2014 tiến hành trên 1.100 người dân tộc Khmer trên 45 tuổi cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ là 11,91%, trong đó tỷ lệ mới phát hiện là 78,6% [17] Tại Nam Định, theo nghiên cứu của Vũ Thị Thúy Mai dự báo nguy cơ tiến triển bệnh ĐTĐ type 2 trong 10 năm ở cộng đồng người trưởng thành huyện Vụ Bản, đến năm 2024 tỷ lệ lưu hành ĐTĐ type 2 trong quần thể người trưởng thành từ 40-75 tuổi tại Vụ Bản, Nam Định tăng thêm 3,13% so với năm 2014 [18]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Võ Thành Danh tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng năm 2015-2016: tỷ lệ ĐTĐ type 2 là 16,1%; ĐTĐ mới phát hiện là 9,5%;
đã mắc và đang điều trị là 6,6%, tiền sử mắc ĐTĐ là 21,9% [6] Theo nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thanh Tâm đã thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang, can thiệp lâm sàng không đối chứng trên 1511 thai phụ, từ tháng 11/2013 đến tháng 7/2015, tại Vinh - Nghệ An, thấy rằng có 309/1511 thai phụ mắc ĐTĐ tương đương với tỷ
lệ là 20,5% [24] Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Phạm Minh Ngọc và cộng sự năm 2015 các yếu tố đô thị hóa, dân số già, béo phì và hạn chế vận động thể chất có vai trò quan trọng làm tăng tỷ lệ ĐTĐ tại Việt Nam [53]
Đái tháo đường ngoài gây ra những tổn hại về sức khỏe cho người bệnh còn gây ra những tổn thất về kinh tế cho người bệnh và gia đình cũng như xã hội Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Thủy năm 2013 về chi phí điều trị cho người bệnh ĐTĐ đó là trung bình tổng chi phí cho một đợt điều trị nội trú bao gồm
Trang 22chi phí trực tiếp chi cho y tế và chi phí trực tiếp chi ngoài y tế xấp xỉ 4,5 triệu đồng trong đó chi phí thuốc chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các khoản mục cho chi phí trực tiếp chi cho y tế chiếm 56,4%, chi phí ăn uống chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các khoản mục chi phí trực tiếp ngoài y tế chiếm 56,8% Chi phí điều trị tăng theo biến chứng bệnh Chi phí điều trị nội trú cho người bệnh đái tháo dường khá cao so vơi mức sống của người dân Trong chi phí trực tiếp chi cho y tế, thành phần chiếm nhiều nhất là tiền thuốc; đối với chi phí trực tiếp ngoài y tế, thành phần chiếm nhiều nhất là tiền ăn uống Biến chứng mạn tính đóng vai trò quan trọng trong bệnh cảnh lâm sàng và trong giá thành điều trị [29]
Bệnh đái tháo đường không được điều trị hoặc điều trị kém làm tăng nguy cơ gặp các biến chứng nghiêm trọng tại hầu hết các cơ quan như tim, gan, não, mắt, thận các bệnh lý tại vi mạch máu cũng như ở các mạch máu lớn…và có thể dẫn tới
tử vong sớm Người bị bệnh đái tháo đường có nguy cơ tử vong sớm cao hơn gần gấp 2 lần so với những người không bị bệnh đái tháo đường [58]
Theo các chuyên gia y tế, chính thói quen sinh hoạt không khoa học như: Thói quen dùng thức ăn nhanh, thức ăn giàu năng lượng, ăn nhiều chất béo, ăn ít rau, uống nhiều nước ngọt, bia rượu, người sống tĩnh tại, … đã và đang làm tăng số lượng người thừa cân, béo phì, kéo theo gánh nặng bệnh đái tháo đường ở Việt Nam cũng như trên phạm vi toàn cầu Vì vậy vấn đề tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường nhất là tuân thủ về chế độ ăn uống người bệnh đái tháo đường type 2 cần được quan tâm hơn bao giờ hết [37]
1.3 Tự chăm sóc về ăn uống và chế độ dinh dưỡng ở người bệnh đái tháo đường type 2
Tự chăm sóc trong ĐTĐ được định nghĩa là một quá trình phát triển kiến thức hoặc nhận thức bằng việc học cách sống chung với bản chất phức tạp của ĐTĐ trong bối cảnh xã hội [43]
Theo báo cáo của Hiệp hội Đái tháo đường của Mỹ năm 2013 các thay đổi lối sống ở người bệnh đái tháo đường có thể là một cách hiệu quả để đạt được các mục tiêu kiểm soát đường máu và ngăn ngừa biến chứng bệnh đái tháo đường Giáo dục
Trang 23bệnh tiểu đường rất quan trọng nhưng nó phải được chuyển sang các hoạt động hành động hoặc tự chăm sóc để mang lại lợi ích đầy đủ cho bệnh nhân Các hoạt động tự chăm sóc đề cập đến các hành vi như tuân theo kế hoạch ăn kiêng, tránh thực phẩm nhiều chất béo, tăng cường tập thể dục, theo dõi glucose và chăm sóc chân [59]
* Chế độ ăn: Kiểm soát chế độ ăn uống là một phần quan trọng trong việc
chăm sóc bệnh đái tháo đường Đó là điều chỉnh các thành phần dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe: Cải thiện chế độ ăn, kiểm soát glucose huyết, lipid, ổn định huyết áp,
và giảm cân hoặc duy trì cân nặng Khẩu phần ăn của bệnh đái tháo đường nên điều chỉnh carbohydrate, protein và chất béo Chế độ ăn trong bệnh đái tháo đường
là một biện pháp điều trị Khi xây dựng chế độ ăn cho người bệnh ĐTĐ cần đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:
- Đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng cân bằng cả về số lượng và chất lượng
- Không làm tăng đường huyết nhiều sau ăn, không làm hạ đường huyết xa bữa ăn
- Duy trì hoạt động thể lực bình thường
- Duy trì cân nặng hợp lý
- Không làm tăng các yếu tố nguy cơ như: tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa Lipid máu
- Không thay đổi quá nhanh và quá nhiều cơ cấu và khối lượng bữa ăn
- Đơn giản không quá đắt tiền
- Phù hợp với tập quán địa phương dân tộc
Chế độ ăn chung cho người bệnh đái tháo đường đó là:
- Chất bột đường (Glucid): Lượng Glucid ăn vào nên chiếm 50 - 60% tổng số năng lượng; tối thiểu là 130g Glucid/ngày Bữa ăn nên sử dụng các thực phẩm chứa nhiều chất xơ như rau, đậu, các loại ngũ cốc nguyên hạt như gạo lứt/gạo lật, khoai
củ, bánh mỳ đen, hoa quả Nên hạn chế các thức ăn chứa nhiều đường như bánh kẹo, mứt sấy khô, mật ong, hoa quả ngọt như mít, đu đủ, xoài, …
- Chất béo (Lipid): Lượng Lipid chiếm 20 - 25% tổng năng lượng, trong đó
Trang 24chất béo bão hòa nên dưới 10% tổng năng lượng; Cholesterol nên dưới 300mg/ngày Chọn thực phẩm có ít chất béo bão hòa như: cá, thịt nạc, đậu phụ, lạc, vừng… Tránh ăn các thức ăn: thịt mỡ, nội tạng động vật, dầu cọ, dầu dừa, hoặc các thực ăn chiên rán kỹ Chọn các dầu thực vật thay thế cho m động vật: dầu đậu nành, dầu hướng dương… Không nên sử dụng lại dầu đã sử dụng ở nhiệt độ cao: xào, rán…
- Chất đạm (Protein): Lượng Protein chiếm 15 - 20% tổng năng lượng Khuyến cáo mức cung cấp Protein là 1g-1,2g/kg cân nặng/ ngày đối với người bệnh ĐTĐ không có Proteine niệu, không có suy thận Người bệnh có biến chứng thận, khuyến cáo mức protein là 0,8g/kg cân nặng/ngày Tùy từng giai đoạn suy thận, mức protein sẽ được điều chỉnh phù hợp nhằm đảm bảo cung cấp đủ lượng axít amin cần thiết cho cơ thể nhưng không làm nặng lên tình trạng suy thận Tăng cường sử dụng cá và thủy hải sản Ăn các loại thịt bò, thịt lợn ít mỡ, ăn thịt gia cầm
bỏ da Hạn chế các thực phẩm giàu Cholesterol: phủ tạng động vật, chocolate, …
Có thể sử dụng trứng 2-4 quả/tuần, ăn cả lòng đỏ và lòng trắng Chọn các thực phẩm có nhiều chất béo chưa bão hòa có lợi cho sức khỏe: đậu đỗ, lạc, vừng, dầu oliu, dầu cá, …
- Vi chất dinh dưỡng: Bao gồm: vitamin và muối khoáng
+ Người bệnh đái tháo đường cần được cung cấp các vi chất dinh dưỡng như người bình thường
+ Vi chất dinh dưỡng có nhiều trong rau và trái cây
+ Nên sử dụng vi chất có trong tự nhiên
Trái cây: Là nguồn cung cấp vitamin chính.Ăn trái cây nên ăn nguyên múi, nguyên miếng không nên ăn nước ép trái cây vì quá trình chế biến đã bị mất chất xơ nên đường bị hấp thu nhanh hơn Không nên ăn hoa quả quá 20% mức năng lượng hàng ngày, vì quá mức sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến chuyển hóa chất béo, chất bột đường Chọn những trái cây có chỉ số đường huyết thấp: ổi, lê, táo, cam Ăn vừa phải trái cây có đường huyết trung bình: chuối, đu đủ Hạn chế trái cây có chỉ số tăng đường huyết nhanh: dưa hấu, vải, nhãn, xoài
Trang 25- Muối:
+ Nên ăn nhạt tương đối, < 5g muối/ngày (2,000 mg Na/ngày)
+ Hạn chế các thực phẩm chế biến sẵn chứa nhiều muối: dưa muối, cà muối,
mỳ tôm, xúc xích,
+ Hạn chế cho thêm nước mắm, gia vị khi ăn uống
+ BN có tăng huyết áp và suy thận nên hỏi ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng
- Chất xơ: Chất xơ có tác dụng giúp thức ăn ở dạ dày lâu hơn, ngăn cản men tiêu hóa tác dụng với thức ăn => chậm tốc độ tiêu hóa, giải phóng Glucose vào máu
từ từ Ngoài ra, chất xơ còn có tác dụng giảm hấp thu Cholesterol, chống xơ vữa động mạch, điều hòa nhu động ruột, tác dụng hữu ích trong giảm táo bón và hạn chế các tác nhân ung thư trực tràng và đường ruột, …
+ Chất xơ có nhiều trong các phần như vỏ, dây, lá, hạt, … của các loại cây lấy quả, rau xanh và ngũ cốc
+ Nhu cầu: 20 - 30g/ngày [4]
Chế độ uống: Theo Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ (ADA) năm 2016, sử dụng
thức uống không calo giúp ngăn ngừa tăng mức đường trong máu cho người bệnh đái tháo đường, các thức uống không calo gồm:
Cà phê: Uống một lượng vừa phải có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường type 2 ở phụ nữ trẻ và trung niên Cà phê có chứa một hợp chất gọi là axit chlorogenic, giúp làm chậm sự hấp thụ glucose vào máu Ngoài ra, thức uống này không có carbohydrate và calo, làm cho nó là một trong những thức uống tốt nhất cho bệnh nhân đái tháo đường
Sữa được coi là thức uống lành mạnh và nó cũng tốt cho bệnh đái tháo đường Một nghiên cứu đã phát hiện ra rằng các sản phẩm sữa ít chất béo làm giảm
tỉ lệ tử vong ở người bệnh đái tháo đường và làm giảm huyết áp Ngoài ra, sữa còn thúc đẩy việc giảm cân ở những người bệnh đái tháo đường type 2 và giúp duy trì các chức năng thiết yếu của cơ thể
Trang 26Trà xanh: Một trong những thức uống lành mạnh nhất cho bệnh đái tháo đường là trà xanh, trong lá trà xanh có ít carbohydrate và calo Một nghiên cứu nói rằng trà xanh có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường đường type 2 và hạ huyết áp Loại nước giải khát này chứa nhiều chất chống oxy hóa để giúp trung hòa các phản ứng viêm sẽ bảo vệ bạn khỏi bệnh mạch vành và giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường type 2
Nước ép mướp đắng: Là thức uống lành mạnh cho bệnh đái tháo đường Nó
là thức uống tuyệt vời để điều trị bệnh đái tháo đường type 2 bởi vì nó ảnh hưởng đến các kênh vận chuyển glucose Nước mướp đắng có lợi và có ảnh hưởng đến dung nạp glucose cũng như lipid Ngoài ra, nó làm giảm lượng đường trong nước tiểu và lượng đường trong máu
Nước ép dưa leo: Dưa leo chứa nhiều canxi, phốt pho, sắt, vitamin A, axit amin, vitamin B1, vitamin C và vitamin B2 Uống nước dưa leo có thể giúp giảm lượng đường trong máu
Trà hoa cúc: Trà hoa cúc có hàm lượng chất chống oxy hóa cao và chứa ít calo, nên nó là một trong những thức uống tốt nhất cho bệnh đái tháo đường Trà hoa cúc có tác động có lợi để kiểm soát đường huyết ở người bệnh đái tháo đường type 2
Giấm táo: Giúp cải thiện sự nhạy cảm với insulin và ngăn chặn các hoạt động chuyển hóa đường phức tạp sau bữa ăn Nó cũng giúp giảm cân và tăng cường trao đổi chất Theo một nghiên cứu, giấm táo có thể làm giảm lượng đường trong máu sau bữa ăn
Nước dừa: Nước dừa giàu với nhiều vitamin thiết yếu, khoáng chất, axit amin, Mỗi cốc nước dừa có chứa 0,1 mg riboflavin, 5,8 mg vitamin C, 57,6 mg canxi, magiê 60 mg, 600 mg kali, 252 mg natri, và 0,3 mg mangan Nước dừa có khả năng giữ mức đường huyết ổn định, do đó làm cho nó trở thành một thức uống lành mạnh cho người bệnh đái tháo đường
Nước rau quả và một số loại nước trái cây không chứa đường: Cố gắng thử các loại nước ép rau khác nhau như hỗn hợp các loại rau lá xanh, nước ép cần tây,
Trang 27nước ép cà rốt, nước ép cà chua, nước ép củ cải… Những thức uống này rất tốt cho người bệnh đái tháo đường
Nước: Nước là lựa chọn tốt nhất cho người bệnh đái tháo đường Đó là vì nước sẽ không làm tăng lượng đường trong máu và lượng đường trong máu cao có thể gây mất nước Người bệnh đái tháo đường nên uống nhiều nước, vì nó giúp cơ thể loại bỏ lượng glucose dư thừa qua nước tiểu Phụ nữ nên uống khoảng 8 ly (khoảng 2.5 lít) nước mỗi ngày, trong khi đàn ông nên uống khoảng 10 ly nước Hãy uống những loại đồ uống càng đơn giản càng tốt, tránh các loại nước trái cây
có đường hoặc nước chứa cồn
Uống rượu điều độ: Một lon bia 330 ml/ngày, 120 mL rượu vang hoặc 30mL rượu mạnh [4], [34]
Theo kết quả nghiên cứu của Pietraszek và cộng sự (2010) cho thấy tiêu thụ rượu từ nhẹ đến trung bình dường như làm giảm 30% nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường type 2 trong khi những người nghiện rượu nặng có nguy cơ tương đương hoặc cao hơn so với những người kiêng rượu [56]
Theo Joosten và cộng sự năm 2011 cho thấy uống rượu vừa phải làm giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường type 2 ngay cả ở những đối tượng có lối sống lành mạnh (không béo phì, không hút thuốc, hoạt động thể chất, ăn kiêng lành mạnh) Kết quả nghiên cứu cho thấy uống rượu vừa phải nên được coi là một bổ sung, và không phải là một thay thế, cho các thói quen lối sống lành mạnh khác làm giảm nguy cơ mắc các bệnh mãn tính như bệnh đái tháo đường và bệnh tim mạch vành [50]
Cách phân bố bữa ăn:
- Cơ cấu bữa ăn cần cá nhân hóa
+ Người bệnh cần duy trì 3 bữa ăn chính trong ngày Bữa phụ của BN cần cá nhân hóa
+ Người bệnh kiểm soát tốt đường huyết không khuyến cáo chia nhỏ bữa ăn
Trang 28+ Người bệnh sử dụng thuốc kích thích insulin, tiêm insulin nếu có nguy cơ
bị hạ đường huyết vào thời điểm nào trong ngày thì nên có bữa phụ vào thời điểm
+ Thời điểm bữa phụ: bữa phụ vào cuối buổi chiều hoặc trước khi đi ngủ chỉ được thực hiện nếu có nguy cơ hạ đường huyết cuối buổi chiều hoặc nửa đêm [4]
Chế độ dinh dưỡng cho người bệnh đái tháo đường type 2:
Hoạt động thể lực và chế độ dinh dưỡng của người bệnh ĐTĐ là nền tảng cơ bản trong điều trị ĐTĐ Việc điều trị người bệnh ĐTĐ đặc biệt là ĐTĐ type 2 cần được bắt đầu bằng chỉ định điều chỉnh nguyên tắc dinh dưỡng cho người bệnh ĐTĐ
cơ bản Nguyên tắc cơ bản về chế độ dinh dưỡng của người bệnh ĐTĐ là hạn chế gluxit (chất bột đường) để tránh tăng đường huyết sau khi ăn và hạn chế vừa phải chất béo nhất là các axit béo bão hoà để tránh rối loạn chuyển hoá [28] Không có
Trang 29một mô hình ăn uống nào phù hợp với mọi người bệnh ĐTĐ mà cần dựa trên sở thích ăn uống, văn hóa, tôn giáo và mức sống của từng cá nhân [40]
Các khuyến cáo về chế độ ăn cho người bệnh đái tháo đường type 2 [4],[36],[40] bao gồm:
- Đảm bảo đủ tổng năng lượng để giữ cân nặng bình thường Đối với người béo, cần giảm 3-7% so với cân nặng nền giúp cải thiện việc kiểm soát đường máu
- Đảm bảo cung cấp cân đối năng lượng giữa protein, glucid và lipid theo tỷ lệ: protein = 15-20%; glucid = 55-60%; lipid = 20-35%
Trong đó: Glucid không thấp hơn 130g/ngày để cung cấp glucose cho não Nên chọn nguồn glucid từ các loại ngũ cốc nguyên hạt, trái cây ; Lipid nên chọn các acid béo chưa no và Omega 3 (dầu thực vật, mỡ cá ); Protein nên chiếm 1-1,5g/kg trọng lượng cơ thể/ngày đối với người không suy chức năng thận Đối với người bệnh thận ĐTĐ thì khuyến cáo 0,8g/kg trọng lượng cơ thể/ngày Nên ăn cá ít nhất 3 lần/tuần Đối với người ăn chay trường diễn có thể bổ sung nguồn đạm từ các đạm đậu (đậu phụ, đậu đen, đậu đỏ )
- Nên dùng thức ăn giàu chất xơ vì có tác dụng làm giảm glucose, cholesterol, tryglycerid Lượng chất xơ từ 25-50g/ngày hoặc 15-25g/1000 Kcal
- Dùng các thực phẩm có chỉ số đường máu thấp Quốc tế đã phân loại chỉ số đường máu của một số loại thực phẩm như sau: chỉ số đường máu cao trên 70% (gạo trắng, bánh mì trắng, dưa hấu ); trung bình: 56-69% (gạo lứt, cam ); thấp: 40-55% (khoai lang, cà rốt, xoài, chuối, sữa chua ); rất thấp: dưới 40% (lạc, đậu tương) Đảm bảo đủ vitamin, đặc biệt vitamin nhóm B
- Thực phẩm nên chọn: gạo lứt, sữa gầy, các loại thịt nạc, thịt bò, thịt gà bỏ
da, các loại cá sông, cá biển ít béo Nên chế biến thức ăn dưới dạng luộc, nấu
- Thực phẩm nên tránh: các loại thịt nhiều mỡ, xúc xích, thịt hun khói, phủ tạng động vật, thịt ngan ngỗng, vịt; các loại cá béo (cá tra, cá nheo); các món được chế biến dạng chiên, xào
Trang 30- Tránh các loại đồ uống có cồn (không uống quá 01 lon bia (330ml)/ngày, 150-200 ml rượu vang đỏ/ngày); các loại nước ngọt có ga, nước quả nhiều đường; bánh kẹo ngọt
- Hạn chế muối: nên tiêu thụ dưới 2300 mg Na+, tương đương 5000 mg muối ăn/ngày Nếu người bệnh ĐTĐ có kèm theo THA thì nên ăn lượng muối dưới 1500
mg Na+/ngày
- Các yếu tố vi lượng: nên bổ sung các yếu tố vi lượng nếu thiếu, vì dùng Metformin lâu ngày có thể gây thiếu B12, đặc biệt nên chú ý nếu NB có thiếu máu hoặc triệu chứng bệnh lý thần kinh ngoại vi
- Nên duy trì đều đặn thời gian và khoảng cách giữa các bữa ăn, không bỏ bữa
- Phân chia khẩu phần thành nhiều bữa để không gây tăng đường máu quá mức sau ăn Nếu do điều kiện lao động và sinh hoạt chỉ ăn được 3 bữa/ngày thì năng lượng phân phối: 20% vào bữa sáng, 40% vào bữa trưa và 40% vào bữa tối
1.4 Các nghiên cứu liên quan đến kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2
1.4.1 Các nghiên cứu mô tả liên quan đến kiến thức, thực hành về chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường tye 2
* Nghiên cứu trên thế giới:
Nghiên cứu của Adewale và cộng sự năm 2013 trên 105 người bệnh ĐTĐ type 2 tại bệnh viện Extension II, Botswana cho thấy tỷ lệ người bệnh không tuân thủ chế độ dinh dưỡng chiếm 37% Khi tìm hiểu về nguyên nhân thấy những nguyên nhân chính khiến cho người bệnh không tuân thủ chế độ dinh dưỡng như thiếu kỉ luật là 63,4%; thiếu thông tin là 33,3% và xu hướng ăn ngoài là 31,7% Qua kết quả nghiên cứu này có thể thấy tỷ lệ người bệnh không tuân thủ chế độ dinh dưỡng khá cao Để nâng cao tỷ lệ tuân thủ chế độ dinh dưỡng cho người bệnh thì nhà nghiên cứu đưa ra khuyến nghị cần giáo dục sức khỏe để giải quyết tình trạng thiếu thông tin về chế độ ăn uống lành mạnh [32]
Nghiên cứu của Mandewo và cộng sự năm 2014 được tiến hành tại phòng khám đái tháo đường của bệnh viện thuộc tỉnh Mutare, Zimbabwe Kết quả từ
Trang 31nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ người bệnh không tuân thủ với chế độ dinh dưỡng là 43,3% Các yếu tố liên quan đến việc tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh như vấn đề khó khăn về tài chính, thời gian bị bệnh ĐTĐ kéo dài vì đa số người bệnh điều trị trên 10 năm, thiếu thông tin chi tiết về làm thế nào để dinh dưỡng tốt
và hợp lý, đi du lịch xa khi bị bệnh nặng Bên cạnh đó những yếu tố làm tăng sự tuân thủ như nhận được sự hỗ trợ từ gia đình (tài chính, vật chất, tinh thần), là một thành viên của câu lạc bộ đái tháo đường type 2 và đã tham dự nhiều hơn hai buổi giáo dục sức khỏe trong 6 tháng, niềm tin vào bản thân Các chiến lược để cải thiện sự tuân thủ của người bệnh được đưa ra đó là cần tăng cường giáo dục sức khỏe để thay đổi hành vi tuân thủ cho người bệnh đòi hỏi sự hợp tác giữa nhân viên
y tế, người bệnh và gia đình [52]
Nghiên cứu của Sontakke và cộng sự năm 2015 đánh giá tuân thủ điều trị ở những người bệnh đái tháo đường type 2 với mục tiêu để đánh giá sự tuân thủ điều trị và nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng không tuân thủ ở những người bệnh đái tháo đường type 2 tại phòng khám trường Cao đẳng Dược tại Ấn Độ Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang với cỡ mẫu là 150 người bệnh Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ chế độ dinh dưỡng là 68% Những nguyên nhân chính ảnh hưởng tới tuân thủ của người bệnh đó là thiếu kiến thức về bệnh, khả năng chi trả kém và hay quên Việc tuân thủ điều trị trong đái tháo đường cần một cách tiếp cận đa chiều mà ngoài việc dùng thuốc bao gồm tuân thủ các quy định chế độ dinh dưỡng và lịch trình tập thể dục và tự kiểm soát đường huyết cần đặc biệt trú trọng Trong đó nhân viên y tế đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện sự tuân thủ điều trị bằng cách tăng tương tác với người bệnh [57]
* Các nghiên cứu tại Việt Nam
Chế độ ăn trong bệnh ĐTĐ rất quan trọng vì nó là một phần trong quá trình điều trị bệnh ĐTĐ, giúp hỗ trợ kiểm soát đường huyết và ngăn ngừa các biến chứng
như tăng glucose máu, tăng huyết áp và suy thận
Nghiên cứu của Đỗ Quang Tuyển (2012) về kiến thức, thực hành và các yếu
tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại
Trang 32trú tại Phòng khám - Bệnh viện Lão khoa Trung ương Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp cắt ngang mô tả, kết hợp nghiên cứu định tính với nghiên cứu định lượng trên cỡ mẫu 330 người bệnh ngoại trú Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người bệnh tuân thủ chế độ dinh dưỡng là 78,8%, bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ
ra những yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hành tuân thủ dinh dưỡng với tuổi, thời gian mắc bệnh, mức độ thường xuyên nhận thông tin từ nhân viên y tế và nghiên cứu này cũng chỉ ra mối ảnh hưởng giữa kiến thức về tuân thủ điều trị với việc thực hành tuân thủ chế độ dinh dưỡng Nghiên cứu này đưa ra khuyến nghị cần đẩy mạnh hơn nữa việc giáo dục sức khỏe cho người bệnh trong đó nhân viên y tế đóng vai trò nòng cốt [31]
Nghiên cứu của Trần Thị Xuân Hòa và cộng sự năm 2013 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai tiến hành trên 112 người bệnh ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú ở
độ tuổi từ 19 đến 97 tuổi cho thấy tỷ lệ người bệnh thực hiện chế độ ăn kiêng chiếm 83% Như vậy, ở nghiên cứu này tỷ lệ người bệnh tuân thủ chế độ dinh dưỡng khá cao; tuy nhiên đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang chưa phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới việc không tuân thủ về chế độ dinh dưỡng của người bệnh ĐTĐ type 2 [13]
Khi đề cập đến chế độ dinh dưỡng ở người bệnh ĐTĐ type 2, ngoài việc phải tuân thủ chế độ ăn kiêng thì cần phải tuân thủ việc hạn chế sử dụng các chất kích thích như rượu, bia và thuốc lá Trong một nghiên cứu của Lưu Thị Hương Giang năm 2013 cho thấy 79% tỷ lệ người bệnh tuân thủ chế độ ăn, 63% người bệnh tuân thủ hạn chế bia/ rượu, không hút thuốc Nghiên cứu cũng cho thấy một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh như giới tính, trình
độ học vấn, hướng dẫn chế độ điều trị và sự hài lòng về thái độ của NVYT [8]
Đại đa số các đề tài nghiên cứu về tuân thủ điều trị tập trung nhiều vào việc khảo sát thực trạng tuân thủ và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ về chế độ dinh dưỡng từ đó đưa ra các khuyến nghị thích hợp Trong khi đó có rất ít những đề tài
về can thiệp như can thiệp giáo dục sức khỏe cho người bệnh ĐTĐ type 2 để góp phần thúc đẩy tỷ lệ tuân thủ điều trị từ đó nâng cao được hiệu quả điều trị
Trang 331.4.2 Các nghiên cứu can thiệp liên quan đến kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2
* Các nghiên cứu trên thế giới:
Nghiên cứu của Junko Sato và cộng sự (2016) trên 66 người bệnh ĐTĐ type
2 ở Nhật Bản có chỉ số HbA1c > 7,5% sau can thiệp giáo dục sức khỏe Người bệnh được phân bổ ngẫu nhiên vào 2 nhóm là nhóm chế độ ăn ít carbohydrate 130g/ngày
và nhóm chế độ ăn kiêng ít calo; đồng thời được theo dõi liên tục trong 6 tháng bởi cùng 1 bác sỹ lâm sàng Tại thời điểm ban đầu BMI và HbA1c lần lượt là 26,5 và 8,3% ở nhóm thực hiện chế độ ăn hạn chế calo; BMI và HbA1c lần lượt là 26,7 và 8,0% ở nhóm chế độ ăn ít carbohydrate Cuối thời điểm nghiên cứu HbA1c giảm 0,65% ở nhóm chế độ ăn ít carbohydrate so với 0,0% ở nhóm chế độ ăn hạn chế calo (p<0,01); BMI ở cả 2 nhóm đều giảm sau can thiệp Nghiên cứu này cho thấy chế độ ăn ít carbohydrate là một liệu pháp dinh dưỡng hữu ích cho những người bệnh ĐTĐ type 2 không thể tuân thủ chế độ ăn kiêng ít calo [49]
Chế độ dinh dưỡng ít chất béo được khuyến nghị có thể giúp việc cải thiện nồng độ glucose trong máu ở người bệnh ĐTĐ type 2 Điều đó cũng được chứng minh trong nghiên cứu của Li-Li Wang và cộng sự (2018) tiến hành trên 56 người bệnh ĐTĐ type 2 tại Trung Quốc phân bổ đồng đều vào 2 nhóm là nhóm chế độ ăn
ít carbohydrat và nhóm chế độ ăn ít chất béo Cả 2 nhóm người bệnh đều được can thiệp giáo dục sức khỏe cụ thể nhóm nghiên cứu đã xây dựng một cuốn sổ cẩm nang về chế độ ăn uống cho người bệnh đái tháo đưỡng type 2 với sự tham gia của 2 bác sỹ nội tiết, 4 điều dưỡng có chuyên ngành về đái tháo đường và 1 bác sỹ dinh dưỡng; nội dung cuốn cẩm nang được nhóm nghiên cứu tư vấn trực tiếp cho người bệnh để người bệnh hiểu và thực hiện Kết quả cho thấy so với nhóm ít chất béo thì nhóm chế độ ăn ít carbohydrat có chỉ số HbA1c giảm nhiều hơn; cả 2 nhóm chỉ số insulin và đường huyết lúc đói ở tháng thứ 3 đều giảm hơn so với ban đầu; chỉ số BMI và Cholestrol ở nhóm chế độ ăn ít carbohydrat đều giảm đáng kể (p <0,05) [51]
* Các nghiên cứu tại Việt Nam:
Nghiên cứu của Hồ Phương Thúy năm 2018 cho thấy trước can thiệp giáo
Trang 34dục sức khỏe có 92% người bệnh hiểu về chế độ ăn, sau can thiệp 1 tháng can thiệp thì tỷ lệ này tăng lên là 97%; trước can thiệp chỉ có 62% người bệnh tập thể dục hàng ngày nhưng sau can thiệp 1 tháng thì tỷ lệ này đã tăng lên đạt 87% Từ đó có thể thấy được hiệu quả của can thiệp giáo dục sức khỏe trực tiếp trên từng nhóm nhỏ người bệnh (5 người bệnh/nhóm/ngày) đến việc tuân thủ chế độ dinh dưỡng và tập luyện của người bệnh Tuy nhiên ở nghiên cứu này tác giả mới chỉ đề cập đến can thiệp giáo dục sức khỏe về kiến thức của người bệnh ĐTĐ type 2 [28]
Theo nghiên cứu của Đoàn Thị Hồng Thúy (2019) tại Bệnh viện nội tiết tỉnh Sơn La về tuân thủ chế độ dinh dưỡng ở người bệnh ĐTĐ type 2 cho thấy trước can thiệp vẫn còn đến 18% NB thường xuyên ăn bánh mì trắng, đặc biệt đồ rán, quay, nướng thì lại có tới 94% NB thường xuyên ăn Nhưng sau can thiệp GDSK thì tỷ lệ trên lần lượt giảm với 6% NB thường xuyên ăn bánh mì trắng và 73% thường xuyên
ăn đồ rán, quay, nướng sau can thiệp 1 tháng Sau can thiệp 3 tháng, tỷ lệ NB thường xuyên sử dụng các thực phẩm này lần lượt là 14% và 76% Với nhóm các thực phẩm người bệnh ĐTĐ không nên ăn thì vẫn còn tới 24% thường xuyên ăn ngô chiên, khoai lang nướng; 39% thường xuyên ăn dưa hấu, dứa, mít Sau can thiệp 1 tháng, tỷ lệ này đã giảm đi đáng kể với 23% thường xuyên ăn các món từ nội tạng, 19% thường xuyên ăn dưa hấu, dứa và 9% thường xuyên ăn ngô chiên, khoai lang nướng Tuy nhiên sau CT 3 tháng, tỷ lệ NB thường xuyên sử dụng các thực phẩm này lại tăng lên lần lượt là: 33%; 28%; 14% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra tỷ lệ thực hành tuân thủ chế độ dinh dưỡng ở giai đoạn trước can thiệp còn khá thấp với 58% Sau can thiệp 1 tháng, con số này đã tăng lên đáng kể đạt 89%; sau can thiệp 3 tháng tỷ lệ giảm xuống còn 75% cao hơn 17% so với trước can thiệp [27] Kết quả này cũng cho thấy hiệu quả của việc tư vấn giáo dục sức khỏe trực tiếp trên từng nhóm nhỏ người bênh (2 - 3 người/nhóm/ngày)
Từ các kết quả nghiên cứu trên đây có thể thấy can thiệp giáo dục sức khỏe
có thể làm tăng tỷ lệ tuân thủ về chế độ dinh dưỡng của người bệnh; đồng thời chế
độ dinh dưỡng đúng và hợp lý góp phần làm giảm chỉ số HbA1c, giảm BMI, giảm đường huyết lúc đói và giảm lượng Cholestrol cho người bệnh ĐTĐ type 2
Trang 351.5 Giáo dục sức khỏe
1.5.1 Khái niệm
Giáo dục sức khỏe (GDSK) là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch vào tình cảm và lý trí của con người nhằm làm thay đổi hành vi sức khỏe cá nhân và tập thể trong cộng đồng [44], [55]
GDSK là quá trình tác động nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành của con người Phát triển những thực hành lành mạnh theo ý muốn, mang lại tình trạng sức khỏe tốt nhất có thể được cho con người GDSK cung cấp các kiến thức mới làm cho đối tượng được giáo dục hiểu biết rõ hơn các vấn đề sức khỏe bệnh tật,
từ đó họ có thể nhận ra các vấn đề sức khỏe bệnh tật liên quan đến bản thân, gia đình, cộng đồng họ đang sinh sống, dẫn đến thay đổi tích cực giải quyết các vấn đề bệnh tật [42] Trong bệnh viện GDSK là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhân viên y tế (NVYT) trong chăm sóc người bệnh Tất cả các NVYT đều liên quan đến việc giúp đỡ mọi người nâng cao kiến thức và kỹ năng bảo vệ sức khỏe, NVYT phải thực hành việc GDSK trong công việc của mình Người điều dưỡng là một mắt xích quan trọng trong thực hành GDSK vì họ là người gần gũi NB nhiều nhất, chăm sóc họ trong suốt quá trình nằm viện đến khi ra viện Bên cạnh đó, các bác sĩ lâm sàng khi thăm khám, theo dõi điều trị cho NB cũng đồng thời tư vấn, hướng dẫn, cung cấp cho họ những kiến thức về bệnh tật mà họ đang mắc cũng như cách phòng chống, điều trị, tập luyện, chế độ ăn uống hợp lý để phòng bệnh, nâng cao sức khỏe GDSK thực sự là nhiệm vụ của bất cứ người nào tham gia vào các hoạt động y tế và phát triển cộng đồng
Để nâng cao hiệu quả điều trị cho người bệnh ĐTĐ type 2 thì ngoài việc tuân thủ sử dụng thuốc thì việc tuân thủ chế độ dinh dưỡng cũng rất quan trọng Thực tế người bệnh gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện chế độ ăn bệnh lý Do đó, việc truyền thông GDSK của cán bộ y tế là rất quan trọng Truyền thông GDSK tốt sẽ tăng sự hài lòng của người bệnh tạo sự tin tưởng từ đó sẽ cải thiện được tỷ lệ tuân thủ điều trị
Trang 361.5.2 Mục tiêu giáo dục sức khỏe
GDSK góp phần thực hiện một trong những quyền con người là quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Mục tiêu cơ bản của GDSK là giúp cho mọi người: Xác định những vấn đề và nhu cầu sức khỏe của họ, bảo vệ và tăng cường sức khỏe bằng khả năng của chính họ cũng như sự giúp đỡ từ bên ngoài; quyết định những hành động thích hợp nhất để tăng cường cuộc sống khỏe mạnh
1.5.3 Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe
Là một bộ phận của công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi thực hành sức khỏe Góp phần tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người Nếu GDSK đạt kết quả tốt nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn phế và tử vong nhất là
ở các nước đang phát triển, tăng cường hiệu quả các dịch vụ y tế
1.5.4 Lợi ích của công tác giáo dục sức khỏe
GDSK dễ dàng lôi cuốn sự lưu ý của quần chúng đối với các vấn đề sức khỏe một cách mau chóng
GDSK có thể đưa ra các ý kiến về sức khỏe hết sức hữu hiệu
GDSK có thể kích thích quần chúng, tạo ra những đáp ứng tình cảm để người nghe thay đổi nếp sống để có một sức khỏe tốt
GDSK có thể tác động lên dư luận, tạo ra các cơ hội để tranh luận cách thức duy trì sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật qua phương tiện liên lạc
GDSK có thể hợp tác với các nhà chuyên môn để tổ chức các buổi gặp gỡ giữa quần chúng với nhau hoặc giữa các nhà chuyên môn với quần chúng để trao đổi kiến thức bảo vệ sức khỏe
Giúp cải thiện sự gắn bó các quan hệ cộng đồng, giúp các tổ chức liên quan tới bảo vệ sức khỏe cùng sát cánh làm việc [12]
1.6 Mô hình niềm tin sức khỏe
Mô hình niềm tin sức khỏe (HBM) là một mô hình tâm lý dùng để giải thích
và dự đoán hành vi sức khỏe bằng cách tập trung vào thái độ và niềm tin của các cá nhân Theo mô hình này các cá nhân có thể thay đổi hành vi có hại để thực hiện những hành vi có lợi cho sức khỏe khi họ nhận thức được HBM được phát triển
Trang 37vào năm 1950 bởi các nhà tâm lý xã hội học ở Mỹ Gần đây, HBM đã được áp dụng
để điều chỉnh một loạt các hành vi sức khỏe bao gồm việc tuân thủ điều trị, các hành vi tình dục có liên quan, các hành vi liên quan đến bệnh mãn tính [41] Trong nghiên cứu này chúng tôi ứng dụng HBM để thay đổi hành vi của người bệnh đái tháo đường về chế độ dinh dưỡng bao gồm:
- Nhận thức về tính nhạy cảm đối với vấn đề: Là quá trình người bệnh tự cảm nhận mức độ nguy cơ của vấn đề sức khỏe Trước can thiệp giáo dục sức khỏe, chúng tôi đã phỏng vấn người bệnh kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng để
từ đó người bệnh tự cảm nhận được mức độ cần phải tuân thủ
- Nhận thức tính trầm trọng về hậu quả của vấn đề: Khi tiến hành giáo dục sức khỏe chúng tôi cung cấp đầy đủ thông tin về chế độ dinh dưỡng, đồng thời cũng đưa ra hậu quả của việc không tuân thủ chế độ dinh dưỡng Từ đó, người bệnh sẽ nhận thức được mức độ nghiêm trọng nếu không tuân thủ và mong muốn thay đổi kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng
- Nhận thức về lợi ích của hành động cụ thể: Trong quá trình can thiệp giáo dục sức khỏe, chúng tôi đã đưa ra các thông tin về lợi ích khi tuân thủ chế độ dinh dưỡng như nâng cao hiệu quả điều trị, từ đó tiết kiệm được chi phí điều trị
- Nhận thức về cản trở khi thực hiện hành động: Khi thực hiện nghiên cứu chúng tôi thấy những rào cản mà người bệnh gặp phải khi thực hiện chế độ dinh dưỡng như đại đa số người bệnh sống cùng gia đình nên khó thực hiện một chế độ
ăn riêng cho người bệnh, chủ yếu người bệnh ăn 3 bữa/ngày mà không chia nhỏ thành nhiều bữa ăn trong ngày Từ những rào cản này của người bệnh chúng tôi
đã tiến hành tư vấn trực tiếp và đưa ra những biện pháp khắc phục những khó khăn trên Tuy nhiên trong quá trình đánh giá lại vẫn có một số người bệnh vẫn không thay đổi được thói quen như người bệnh không duy trì đều đặn việc ăn sáng thường xuyên; sử dụng các loại hoa quả ngọt,… do vậy, cần tăng cường công tác giáo dục sức khỏe đặc biệt là trên nhóm người bệnh này
Trang 381.7 Khung lý thuyết
Hình 1.1 Khung lý thuyết của nghiên cứu
1.8 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới thuộc vùng Tây Bắc Bộ gồm có thành phố Lào Cai, thị xã Sa Pa và 7 huyện Với đặc trưng là một tỉnh biên giới do vậy dân cư chủ yếu là người dân tộc thiểu số như dân tộc Giáy, Dao, H'Mông, Tày, Nùng, Hà Nhì, Phù Lá,… Bệnh viện nội tiết tỉnh Lào Cai tọa lạc tại vị trí trung tâm của thành phố Lào Cai với quy mô 110 giường bệnh, điều kiện cơ sở vật chất ngày càng khang trang và hiện đại
Bệnh viện đã và đang triển khai thực hiện dự án phòng và chống bệnh ĐTĐ như các xã, phường đều được tập huấn về sàng lọc ĐTĐ, biện pháp dự phòng ĐTĐ Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh được sự quan tâm đặc biệt, Bệnh viện nội tiết tỉnh Lào Cai đã áp dụng cả 2 phương pháp giáo dục sức khỏe đó là: phương pháp giáo dục sức khỏe trực tiếp và phương pháp giáo dục sức khỏe gián tiếp Phương pháp giáo dục sức khỏe trực tiếp được sử dụng như những buổi nói chuyện sức khỏe về bệnh ĐTĐ, tư vấn giáo dục sức khỏe; tuy nhiên việc thực hiện các chương trình này được tiến hành vẫn còn ít Ưu điểm của phương pháp là thông tin đến nhiều người trong thời gian ngắn, đối tượng tham gia chủ động nhưng nhược điểm là tốn thời gian, hạn chế số người được giáo dục Phương pháp giáo dục sức khỏe gián tiếp đó là sử dụng panô, áp phích hoặc tờ rơi để tuyên
Đặc điểm nhân khẩu học
Kiến thức về chế độ
dinh dưỡng của người
bệnh
Kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng của người bệnh
Thực hành chế độ dinh
dưỡng của người bệnh
Thay đổi kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng của người bệnh
Giáo dục sức khỏe
Trang 39truyền về bệnh ĐTĐ đặc biệt nhấn mạnh về chế độ dinh dưỡng của người bệnh ĐTĐ Ưu điểm của phương pháp này sử dụng rộng rãi cho nhiều người, đối tượng
tự đọc và ghi nhận thông tin và lưu truyền từ người này sang người khác nhưng nhược điểm là khả năng tiếp thu của đối tượng phụ thuộc vào trình độ văn hóa Do vậy, chúng tôi lựa chọn hình thức tư vấn giáo dục sức khỏe cho nhóm nhỏ 2 – 3 người, có hình ảnh minh họa và tài liệu phát tay cho người bệnh mang về để người bệnh ghi nhớ lâu hơn
Phòng khám ngoại trú thuộc Khoa khám bệnh của bệnh viện, nơi đây là nơi khám và quản lý điều trị ngoại trú cho người bệnh ĐTĐ Trong năm 2021, bệnh viện đã khám và quản lý điều trị cho 3200 người bệnh ĐTĐ, trong đó chủ yếu là người bệnh đái tháo đường type 2 Đây là bệnh viện có số lượng người bệnh ĐTĐ cao nhất trong tỉnh Hiện nay, tại bệnh viện phương pháp giáo dục sức khỏe chủ yếu cho người bệnh đang được thực hiện là treo các áp phích tại phòng khám đái tháo đường và phát tờ rơi liên quan đến bệnh đái tháo đường Mặt khác do số lượng người bệnh đông nên trong quá trình khám bệnh, bác sĩ chủ yếu tư vấn về các biện pháp tuân thủ điều trị nói chung đồng thời giải đáp thắc mắc cho người bệnh trong thời gian ngắn; do đó, giáo dục sức khỏe cho người bệnh chưa đạt hiệu quả cao Ngoài việc tuân thủ việc dùng thuốc theo y lệnh thì tuân thủ chế độ dinh dưỡng cũng rất quan trọng; do vậy, cần tăng cường hoạt động giáo dục sức khỏe trực tiếp trên từng nhóm nhỏ người bệnh để nâng cao kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng của người bệnh ĐTĐ type 2
Trang 40ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh đang được điều trị ngoại trú đái tháo đường type 2 tại Khoa khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết tỉnh Lào Cai
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Người bệnh có tuổi từ đủ 18 trở lên
+ Người bệnh được điều trị ngoại trú tại Khoa khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết tỉnh Lào Cai từ 1 tháng trở lên
+ Người bệnh có khả năng trả lời phỏng vấn bằng tiếng Việt
+ Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Người bệnh có diễn biến bệnh nặng lên phải vào điều trị nội trú hoặc có thêm bệnh lý mạn tính phải thực hiện chế độ ăn bệnh lý khác
- Người bệnh đã tham gia một chương trình giáo dục sức khỏe có nội dung về chế độ dinh dưỡng của bệnh đái tháo đường được triển khai tại bệnh viện
- Người bệnh không tham gia đầy đủ các hoạt động của nghiên cứu (không đưa vào phân tích kết quả)
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12 năm 2021 đến tháng 9 năm 2022
- Thời gian thu thập số liệu: từ tháng 3/2022 đến tháng 5/2022
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết tỉnh Lào Cai
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Can thiệp giáo dục sức khỏe có so sánh trước và sau trên cùng nhóm đối tượng nghiên cứu (Hình 2.1)