TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Mục tiêu: Mô tả thực trạng lo âu và nhu cầu hỗ trợ tâm lý ở người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 202
Trang 1PHẠM THỊ THU HƯƠNG
THùC TR¹NG LO ¢U Vµ NHU CÇU Hç TRî T¢M Lý
ë NG¦êI BÖNH TR¦íC PHÉU THUËT TUYÕN GI¸P T¹I BÖNH VIÖN NéI TIÕT TRUNG ¦¥NG N¡M 2022
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
Nam Định - 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
PHẠM THỊ THU HƯƠNG
THỰC TRẠNG LO ÂU VÀ NHU CẦU HỖ TRỢ TÂM LÝ
Ở NGƯỜI BỆNH TRƯỚC PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG NĂM 2022
Trang 3TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Mục tiêu: Mô tả thực trạng lo âu và nhu cầu hỗ trợ tâm lý ở người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2022
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, chọn mẫu thuận tiện 197 người bệnh trên 18 tuổi nhập viện phẫu thuật tuyến giáp có thời gian nằm viện trước phẫu thuật ≥ 1 ngày từ tháng 4/2022 đến tháng 6/2022 tại 3 khoa Khoa Ngoại chung, Khoa Phẫu thuật Tuyến giáp, Khoa Kỹ thuật cao – Bệnh viện Nội tiết Trung ương
Kết quả nghiên cứu: Đa số NB trong nghiên cứu này có mức độ lo âu ở mức nhẹ chiếm 71,6%, một số NB lo âu vừa chiếm 16,2% và chỉ có 0,5% NB lo âu nặng Các vấn đề lo âu hay gặp ở người bệnh phẫu thuật tuyến giáp bao gồm: biến chứng sau phuật (65%), đau sau phẫu thuật (58,4%), không tỉnh sau gây mê, phẫu thuật (46,7%) Điểm trung bình nhu cầu hỗ trợ từ xã hội là 24,02±6,01 trong đó hỗ trợ từ gia đình là 12,88±3,93, từ nhân viên y tế là 11,14±2,73 NB có nhu cầu hỗ trợ ở mức cao chiếm 43,7% Các yếu tố liên quan đến thực trang lo âu của người bệnh bao gồm tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, thời gian chờ phẫu thuật, số người thân chăm sóc lúc nằm viện, bảo hiểm y tế, chẩn đoán ung thư, tiền sử phẫu thuật trước
đó, bệnh mạn tính kèm theo, tiền sử mắc và số mũi tiêm vacxin Covid-19 Người bệnh nhận được nhiều sự hỗ trợ xã hội/gia đình/bạn bè ít lo âu hơn nhóm còn lại Những NB có lo âu vừa và nặng sẽ có nhu cầu hỗ trợ cao hơn so với nhóm NB ít và không lo âu
Kết luận: NB đánh giá hỗ trợ từ phía nhân viên y tế ở mức trung bình, do vậy người điều dưỡng cần chú ý tuân thủ quy trình tư vấn trước mổ cho người bệnh, tìm hiểu động viên, lắng nghe ý kiến của người bệnh và tư vấn, cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến cuộc phẫu thuật người bệnh và nhu cầu hỗ trợ của người bệnh Lãnh đạo Khoa cần thường xuyên cập nhật quy trình giáo dục sức khỏe, tư vấn trước mổ
và có biện pháp giám sát tuần thủ thực hiện quy trình tư vấn trước mổ của điều dưỡng
Từ khóa: lo âu, nhu cầu hỗ trợ tâm lý, phẫu thuật tuyến giáp
Trang 4LỜI CẢM ƠN Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ điều dưỡng này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quí báu từ các Thầy cô, các anh chị em và các bạn đồng nghiệp, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn tới:
PGS.TS BS Trần Ngọc Lương– Nguyên Giám đốc Bệnh viện Nội tiết Trung ương, người đã giúp tôi phát triển ý tưởng, định hướng nghiên cứu ngay từ những ngày đầu làm luận văn và đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này
TS Mai Thi Lan Anh - Giảng viên Trung tâm thực hành Tiền lâm sàng, Phó trưởng phòng Hợp tác quốc tế, trường Đại học Điều dưỡng Nam Định – Người đã tận tình giúp đỡ, định hướng cách tư duy và cách làm việc khoa học trong quá trình thực hiện luận văn này mà còn là hành trang tiếp bước cho em trong quá trình học tập và lập nghiệp sau này
Các Quý Thầy, Cô trong Khoa Điều dưỡng - hộ sinh, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã trực tiếp giảng dạy, truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm cho tôi trong suốt thời gian học tập, rèn luyện tại nhà trường và đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, Đảng ủy-Ban Giám đốc, Phòng Kế hoạch tổng hợp, Khoa Ngoại Chung và toàn thể cán bộ của Bệnh viện Nội tiết Trung ương đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin xin dành trọn tình yêu thương và lòng biết ơn sâu sắc sâu sắc tới cha mẹ, anh chị em và bạn bè đồng nghiệp đã luôn giúp đỡ, động viên, khuyến khích, tạo mọi điều kiện giúp tôi trong suốt thời gian học tập
Tôi xin ghi nhận những tình cảm quý báu và công lao to lớn đó
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Học viên
Phạm Thị Thu Hương
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
- Phòng Sau đại học, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
- Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ điều dưỡng
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết quả nghiên cứu chưa được công bố trong công trình, tài liệu nào
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Học viên
Phạm Thị Thu Hương
Trang 6MỤC LỤC
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU i
LỜI CẢM ƠN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đại cương phẫu thuật các bệnh tuyến giáp 3
1.2 Khái quát rối loạn lo âu 5
1.3 Một số yếu tố liên quan tới tâm lý lo âu trước phẫu thuật 9
1.4 Nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người bệnh trước phẫu thuật 14
1.5 Tình hình nghiên cứu về sự lo âu và nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp 16
1.6 Học thuyết điều dưỡng 19
1.7 Khung lý thuyết 20
1.8 Một số nét cơ bản về cơ sở nghiên cứu 20
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
2.3 Thiết kế nghiên cứu 22
2.4 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng 22
2.5 Phương pháp chọn mẫu 23
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 23
2.7 Các nhóm biến số nghiên cứu 24
2.8 Các khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá 30
Trang 72.9 Xử lý số liệu 31
2.10 Đạo đức nghiên cứu 32
2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 32
2.12 Sơ đồ nghiên cứu 34
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 35
3.2 Thực trạng lo âu và nhu cầu hỗ trợ tâm lý ở người bệnh phẫu thuật tuyến giáp tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2022 42
3.3 Một số yếu tố liên quan đến thực trạng lo âu và nhu cầu hỗ trợ tâm lý ở người bệnh phẫu thuật tuyến giáp tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2022 48
Chương 4: BÀN LUẬN 58
4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 58
4.2 Thực trạng lo âu và nhu cầu hỗ trợ tâm lý ở người bệnh phẫu thuật tuyến giáp tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2022 63
4.3 Một số yếu tố liên quan đến thực trạng lo âu và nhu cầu hỗ trợ tâm lý ở người bệnh phẫu thuật tuyến giáp tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2022 67
4.4 Hạn chế của nghiên cứu 75
4.5 Ứng dụng cho thực hành, nghiên cứu, giáo dục: 75
KẾT LUẬN 77
KHUYẾN NGHỊ 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1: BẢN ĐỒNG THUẬN THAM GIA NGHIÊN CỨU
Phụ lục 2: BỘ CÂU HỎI THỰC TRẠNG LO ÂU VÀ NHU CẦU HỖ TRỢ Ở
NGƯỜI BỆNH TRƯỚC PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP TẠI
BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG NĂM 2022
Phụ lục 3: DANH SÁCH NGƯỜI BỆNH THAM GIA NGHIÊN CỨU
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
(Bệnh do virus Corona 2019)
(Tổ chức y tế thế giới)
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các nhóm biến số chỉ số cho mục tiêu 1 24
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh 35
Bảng 3.2 Khu vực sinh sống 36
Bảng 3.3 Tình trạng hôn nhân 37
Bảng 3.4 Tình trạng kinh tế 37
Bảng 3.5 Người thân chăm sóc lúc nằm viện 38
Bảng 3 6 Khoa điều trị 39
Bảng 3.7 Số lần phẫu thuật trước 39
Bảng 3.8 Phương pháp PT 40
Bảng 3 9 Chỉ định phẫu thuật 40
Bảng 3.10 Thời gian chờ PT 41
Bảng 3.11 Tiền sử mắc Covid-19 41
Bảng 3.12 Phân loại lo âu của người bệnh trước phẫu thuật 42
Bảng 3 13 Các vấn đề lo âu của người bệnh trước phẫu thuật 42
Bảng 3 14 Sự hỗ trợ xã hội 43
Bảng 3 15 Sự hỗ trợ từ gia đình bạn bè 44
Bảng 3 16 Sự hỗ trợ từ nhân viên y tế 45
Bảng 3 17 Nhu cầu hỗ trợ cảm xúc/thông tin 46
Bảng 3.18 Nhu cầu hỗ trợ các hoạt động thiết thực 47
Bảng 3 19 Nhu cầu hỗ trợ tình cảm 47
Bảng 3 20 Nhu cầu hỗ tợ tâm lý của người bệnh 48
Bảng 3 21 Mối liên quan giữa lo âu của NB với tuổi 48
Bảng 3 22 Mối liên quan giữa lo âu của NB với giới tính 49
Bảng 3 23 Mối liên quan giữa lo âu của NB với dân tộc 49
Bảng 3 24 Mối liên quan giữa lo âu của NB với khu vực sinh sống 49
Bảng 3 25 Mối liên quan giữa lo âu của NB với trình độ học vấn 50
Bảng 3 26 Mối liên quan giữa lo âu của NB với tình trạng hôn nhân 50
Trang 10Bảng 3.27 Mối liên quan giữa lo âu của NB với nghề nghiệp 51
Bảng 3 28 Mối liên quan giữa lo âu của NB với tình trạng kinh tế 51
Bảng 3 29 Mối liên quan giữa lo âu của NB với sự có mặt của người thân chăm sóc lúc nằm viện 52
Bảng 3 30 Mối liên quan giữa lo âu của NB với tình trạng bảo hiểm 53
Bảng 3 31 Mối liên quan giữa lo âu của NB với khoa điều trị 53
Bảng 3 32 Mối liên quan giữa lo âu của NB với chẩn đoán bệnh ung thư 54
Bảng 3 33 Mối liên quan giữa lo âu của NB với số lần phẫu thuật trước 54
Bảng 3 34 Mối liên quan giữa lo âu của NB với phương pháp PT 55
Bảng 3 35 Mối liên quan giữa lo âu của NB với bệnh mạn tính kèm theo 55
Bảng 3 36 Mối liên quan giữa lo âu của NB với tiền sử mắc Covid-19 56
Bảng 3 37 Mối liên quan giữa lo âu của NB với tiền sử tiêm vacxin 56
Bảng 3 38 Mối liên quan giữa lo âu của NB với nhu cầu hỗ trợ tâm lý 57
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Khung lý thuyết nghiên cứu 20
Sơ đồ 2.1 Quy trình nghiên cứu 34
Biểu đồ 3 1 Trình độ học vấn 36
Biểu đồ 3 2 Nghề nghiệp 37
Biểu đồ 3 3 Tình trạng bảo hiểm 38
Biểu đồ 3 4 Chẩn đoán bệnh ung thư 39
Biểu đồ 3 5 Bệnh mạn tính kèm theo 40
Biểu đồ 3 6 Tiền sử tiêm vacxin Covid-19 41
Biểu đồ 3 7 Mối tương quan giữa lo âu và thời gian chờ phẫu thuật của NB 52
Biểu đồ 3 8 Mối liên quan giữa lo âu của NB với sự hỗ trợ xã hội 57
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe là một trạng thái thoải mái hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội [16, 75] Trong đó thể chất và tinh thần có một mối liên quan chặt chẽ và ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực Điều này càng quan trọng hơn ở các người bệnh, họ không chỉ mang trong mình bệnh tật, đau đớn về cơ thể mà còn căng thẳng lo lắng về tinh thần [34] Chính vì vậy, người bệnh vào bệnh viện ngoài nhu cầu muốn được chữa khỏi bệnh còn mong muốn được quan tâm, chia sẻ, động viên, hỗ trợ tinh thần để giúp họ có thêm niềm tin, nghị lực chiến thắng bệnh tật [44]
Hiện nay, ở các nước trên thế giới, việc hỗ trợ tâm lý cho người bệnh đã được quan tâm và triển khai thực hiện ở nhiều cơ sở y tế [54] Nhất là những người bệnh ung thư đã nhận được sự chăm sóc tâm lý đặc biệt nhằm giúp họ kiểm soát được cảm xúc của bản thân, chủ động đối mặt với bệnh tật, giảm bớt căng thẳng, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng cuộc sống [81] Tuy nhiên ở Việt Nam, vấn đề này chưa được chú ý đúng mức Một thời gian dài, việc chăm sóc tâm lý cũng như các nguồn kinh phí cho hoạt động này chủ yếu tập trung ở các bệnh viện tâm thần Năm 2003 Bộ Y tế Việt Nam đã đề ra chỉ thị về tăng cường chăm sóc toàn diện nhằm nâng cao chất lượng điều trị người bệnh nội trú tại các bệnh viện [8] Từ đó đến nay, mặc dù công tác này đã được triển khai ở nhiều cơ sở y tế nhưng theo báo cáo của Bộ
Y tế, hiện vẫn còn khoảng 50% các bệnh viện chưa thực hiện chăm sóc người bệnh toàn diện hoặc chỉ tập trung ở một số khoa trọng điểm như hồi sức cấp cứu, khoa ngoại [27] Điều đáng quan tâm là trong nội dung chăm sóc toàn diện cho người bệnh cũng chưa chú trọng đến chăm sóc sức khỏe tinh thần, tâm lý hoặc nếu có chỉ dừng lại ở mức độ động viên, giải thích Điều này có thể ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động chăm sóc và điều trị
Trên thế giới hiện nay có khoảng 200 triệu người mắc bệnh tuyến giáp [62] Riêng tại Việt Nam, chỉ tính tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương, những NB mắc bệnh
lý tuyến giáp đến khám và điều trị ngày càng tăng với lượt tăng gấp 4 lần chỉ trong
Trang 13vòng 4 năm (2014-2017) Theo nghiên cứu của Trần Ngọc Lương (2012) cho biết đại
đa số các bệnh về tuyến giáp được điều trị bảo tồn bằng thuốc uống hoặc bằng chất đồng vị phóng xa I131 (khoảng 60%), khoảng 30% tổng số người bệnh cần điều trị bằng phẫu thuật vì điều trị bảo tồn không có kết quả hoặc vì có biến chứng này hay biến chứng khác ví dụ như ung thư tuyến giáp… còn 10% thuộc về các NB được phẫu thuật với mục đích thẩm mỹ [11] Theo Mavridou (2013), 80% NB lo âu trước PT, những vấn đề lo âu chính của NB là đau sau PT (84%), không tỉnh sau PT (64,8%), nôn và buồn nôn (60,2%) [59] Và nghiên cứu của Meryem tại Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy 62% NB lo âu trước PT ở mức độ vừa [82] Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Tấn Việt (2018) tại BV Y dược TP Hồ Chí Minh đã chỉ ra 16,7% NB lo âu trước PT tiết niệu [27] Bên cạnh đó, trong tình hình đại dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp, người bệnh còn lo lắng nguy cơ mắc Covid-19, hạn chế khả năng di chuyển và người chăm sóc trong quá trình điều trị
Vì vậy, việc tìm hiểu nhu cầu được hỗ trợ về tâm lý đối với người bệnh phẫu thuật tuyến giáp là hết sức cần thiết Với mục đích nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc toàn diện, đáp ứng tốt những mong muốn, nhu cầu cần thiết của người bệnh, để đưa ra những biện pháp giúp người bệnh giải tỏa lo âu, căng thẳng, giảm bớt sự sợ hãi, chuẩn bị tâm lý sẵn sàng yên tâm phẫu thuật với sự tin tưởng của bác sỹ điều dưỡng Chúng tôi thực hiện đề tài: “Thực trạng lo âu và nhu cầu hỗ trợ tâm lý ở người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2022”
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng lo âu và nhu cầu hỗ trợ tâm lý ở người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2022
2 Nhận xét một số yếu tố liên quan tới thực trạng lo âu và nhu cầu hỗ trợ tâm lý
ở người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương phẫu thuật các bệnh tuyến giáp
1.1.1 Chỉ định và phương pháp phẫu thuật tuyến giáp
Phẫu thuật cắt bỏ một phần hay toàn bộ tuyến giáp tùy thuộc vào tình trạng cụ thể của người bệnh Cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp là loại bỏ toàn bộ tuyến giáp và các hạch bạch huyết xung quanh nó Cả hai phần (thùy) của tuyến giáp thường được loại bỏ Cắt bỏ gần như toàn bộ tuyến giáp là loại bỏ một thùy hoàn chỉnh, eo tuyến giáp và một phần của thùy còn lại Phương pháp phẫu thuật này thường được sử dụng
để điều trị bệnh cường giáp do bệnh Graves gây ra Cắt 1 thùy tuyến giáp có hoặc không kèm theo cắt bỏ eo tuyến giáp: nếu u tuyến giáp nằm ở thùy, phẫu thuật sẽ chỉ loại bỏ thùy Trong nhiều trường hợp eo tuyến giáp kết nối hai thùy cũng sẽ bị loại
bỏ cùng Sau khi phẫu thuật, khối u sẽ được kiểm tra dưới kính hiển vi để xem có tế bào ung thư hay không Nếu có các tế bào ung thư, bác sĩ phẫu thuật có thể sẽ chỉ định cắt bỏ hoàn toàn tuyến giáp Cắt bán phần hai thùy tuyến giáp: Loại bỏ toàn bộ nhân lành tính ở cả 2 thùy tuyến giáp [85]
1.1.2 Biến chứng sau phẫu thuật tuyến giáp
Cũng như mổ mở, phẫu thuật tuyến giáp nội soi có thể gặp một số tai biến, biến chứng trong và sau khi mổ Vì thế, sau phẫu thuật, người bệnh được thăm khám kỹ càng để tầm soát các tai biến, biến chứng phẫu thuật Các biến chứng được chia làm
2 nhóm: sớm và muộn Các biến chứng sớm thường xảy ra ngay hoặc trong vòng một
và ngày sau mổ trong khi các biến chứng muộn có thể xuất hiện sau vài tháng Chảy máu là biến chứng đầu tiên có thể xảy ra sau mổ tuyến giáp Chảy máu nhiều và đột ngột ở cổ sau phẫu thuật tuyến giáp là một tình trạng bất thường Tuy hiếm xảy ra nhưng lại có thể đe dọa tính mạng Biến chứng thường xảy ra trong 24 giờ đầu tiên sau phẫu thuật Tình trạng chảy máu nhiều có thể gây chèn ép vào khí quản, dẫn đến khó thở Nếu máu chảy chậm vào cổ thì có thể dẫn đến việc hình thành các cục máu đông ở phía dưới vết mổ
Trang 15Khó thở là do có một cục máu đông lớn chặn khí quản, tình trạng này cần phải được can thiệp y khoa ngay Ngoài ra khó thở còn do cả hai dây thần kinh thanh quản quặt ngược đều đã bị tổn thương, trong trường hợp này cần phải thực hiện phẫu thuật
mở khí quản khẩn cấp Khó thở là biến chứng sau mổ tuyến giáp rất hiếm khi xảy ra Cơn bão giáp trạng là biến chứng này rất phổ biến, thường liên quan đến bệnh Basedow Hiện nay, nhờ có thuốc để kiểm soát nhiễm độc giáp nên nguy cơ gặp phải biến chứng này hiếm khi xảy ra Các triệu chứng của người bệnh khi rơi vào tình trạng này là tim đập nhanh, bồn chồn, sốt cao, ra nhiều mồ hôi, tiêu chảy và mê sảng Nhiễm trùng sau mổ: Tỷ lệ mắc phải biến chứng sau mổ tuyến giáp này là khoảng 1/2.000 Do đó, bác sĩ ít khi cho bạn sử dụng kháng sinh để ngăn ngừa tình trạng này Tuy nhiên, nếu bạn rơi vào tình huống này, bác sĩ sẽ cho bạn dùng kháng sinh hoặc sử dụng các biện pháp khác để điều trị
Thay đổi giọng nói Giọng nói thay đổi là một biến chứng sau mổ tuyến giáp hay gặp, xảy ra ở khoảng 5 – 10% số ca phẫu thuật và thường sẽ biến mất sau một khoảng thời gian Nguyên nhân gây ra tình trạng này có thể là do chấn thương các dây thần kinh quặt ngược thanh quản hoặc các dây thần kinh bị viêm nhiễm sau khi phẫu thuật Tỷ lệ người bệnh bị thay đổi giọng nói vĩnh viễn là khoảng 1% Thay đổi giọng nói là một trong những biến chứng đáng sợ nhất của phẫu thuật tuyến giáp
Nhiễm độc giáp: thường xảy ra ở 2 - 4% người bệnh sau khi cắt bỏ tuyến giáp Tình trạng này thường được điều trị bằng iốt phóng xạ và không cần phải phẫu thuật thêm
Hạ canxi máu do tổn thương tuyến cận giáp: bảo vệ tuyến cận giáp là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất trong phẫu thuật tuyến giáp Tuyến cận giáp bị tổn thương dẫn đến tình trạng canxi trong máu thấp, ngoài ra nó còn gây ra các triệu chứng như ngứa ran ở bàn chân, bàn tay và xung quanh miệng, nếu nặng có thể dẫn đến co quắp ngón tay và bàn tay
Trang 16Khó nuốt: Khó nuốt là một triệu chứng phổ biến trong vài ngày đầu sau phẫu thuật Tình trạng này chỉ là tạm thời, tuy nhiên cũng có trường hợp kéo dài dai dẳng nhưng khá hiếm
Suy giáp: Nếu bị cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp thì bạn lúc nào cũng ở trong tình trạng suy giáp và cần được bổ sung hormone tuyến giáp Nếu bạn chỉ cắt bỏ một phần tuyến giáp sẽ rất khó để biết được bạn sẽ phải dùng thuốc điều trị tuyến giáp trong bao lâu Do đó, điều quan trọng là bạn phải đi xét nghiệm suy giáp thường xuyên Suy giáp có thể xuất hiện nhiều năm sau phẫu thuật và cần phải được theo dõi suốt đời [66], [63]
1.2 Khái quát rối loạn lo âu
1.2.1 Các thuật ngữ khái niệm trong rối loạn lo âu:
Lo âu: là trạng thái căng thẳng cảm xúc lan tỏa gây khó chịu và ít nhiều có xung đột nội tâm Lo âu được biểu hiện bằng nhiều rối loạn tâm thần và cơ thể khác nhau
Lo âu cũng có thể là một thành tố của bệnh nào đó, thậm chí có thể do thầy thuốc sinh ra (iatrogène) hoặc xuất phát từ nhận định tiêu cực về tiên lượng bệnh của chính bản thân mình [8] Có hai trạng thái lo âu:
Lo âu bình thường: có chủ đề, nội dung lo âu rõ ràng, ví dụ như ốm đau, mất công ăn việc làm, diễn biến nhất thời khi có các sự kiện trong đời sống tác động đến tâm lý cá nhân, cơ thể có thể tự điều chỉnh, trạng thái căng thẳng cảm xúc có thể qua
đi, hết tác động tâm lý thì lo âu dần mất đi mà không để lại dấu vết bệnh lý nào, thường không có hoặc có rất ít triệu chứng rối loạn thần kinh tự trị [8]
Lo âu bệnh lý (rối loạn lo âu): thường không có chủ đề và nội dung cụ thể, mang tính chất vô lý, mơ hồ, thời gian thường kéo dài, lặp đi lặp lại với nhiều rối loạn thần kinh tự trị Trạng thái này để lại những triệu chứng bệnh lý kéo dài, cần phải được can thiệp điều trị [8]
1.2.2 Phân loại rối loạn lo âu:
Hiện nay trên thế giới có hai hệ thống tiêu chuẩn chẩn đoán phân loại các rối loạn lo âu được sử dụng phổ biến, đó là bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ mời của
Tổ chức Y tế Thế giới (International Classification of Diseases 10th= ICD-10) [4] [42], và hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần lần thứ tư của hội
Trang 17Tâm thần học Mỹ (The American Psychiatric Associations Diagnostic and Statistical Manual of Mental disord`er - IV = DSM - IV) [77]
1.1.2.1 Phân loại theo ICD-10: Ra đời năm 92, ICD-10 có các mã phân loại bệnh rối loạn lo âu gồm như sau:
Các rối loạn lo âu ám ảnh sợ (F40), bao gồm: Lo âu ám ảnh sợ khoảng trống (F40.0), lo âu ám ảnh sợ xã hội (f40.1), lo âu ám ảnh sợ đặc hiệu (f40.2), các rối loạn
lo âu ám ảnh sợ khác (f40.8), rối loạn lo âu ám ảnh sợ không biệt định (f40.9)
Các rối loạn lo âu khác (F41), bao gồm: rối loạn hoảng sợ (f41.0), rối loạn lo
âu lan toả (f41.1), rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm (f41.2), các rối loạn lo âu hỗn hợp khác (f41.3), Các rối loạn lo âu không biệt định khác (F41.8), Rối loạn lo âu không biệt định (F41.9) [4], [42]
Rối loạn lo âu không được định ở chỗ khác (300.00), bao gồm rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm: Rối loạn hoảng sợ không bao gồm ám ảnh sợ đám đông (300.01), rối loạn lo âu lan tỏa (300.02), rối loạn hoảng sợ bao gồm ám ảnh sợ đám đông (300.21), ám ảnh sợ đám đông không có tiền sử rối loạn hoảng sợ (300.22),
ám ảnh sợ xã hội (300.23), ám ảnh sợ đặc hiệu (300.29), rối loạn ám ảnh cưỡng bức (300.3), rối loạn stress cấp (308.3), rối loạn stress sau sang chấn (309.81) [5] [5] [77]
1.2.3 Triệu chứng lâm sàng rối loạn lo âu:
1.2.3.1 Theo ICD-10:
Triệu chứng của rối loạn lo âu bao gồm triệu chứng lo âu và các triệu chứng kích thích thần kinh thực vật Triệu chứng lo âu: Trạng thái lo âu, căng thẳng, cáu kỉnh, không thể thư giãn, có hoặc không liên quan rõ rệt sau một thời gian ngắn sang chấn tâm lý, các rối loạn không mất đi khi sang chấn tâm lý không còn có ý nghĩa thông tin.Các triệu chứng kích thích thần kinh thực vật: Thường biểu hiện các triệu chứng hồi hộp, tim đập mạnh, nhịp tim nhanh, vã mồ hôi, run, khô miệng [5]
1.2.3.2 Theo DSM-IV:
Một giai đoạn sợ hoặc lo lắng kèm theo nổi trội trong 10 phút 4 hoặc nhiều
Trang 18hơn trong các triệu chứng sau đây:Hồi hộp đánh trống ngực, tim đập mạnh hoặc nhịp tim nhanh, ra mồ hôi, run hoặc lắc lư, cảm giác thở nông hoặc bức thở, cảm giác choáng váng, đau hoặc khó chịu vùng ngực, nôn hoặc khó chịu vùng bụng,cảm giác chóng mặt, loạng choạng, đầu trống rỗng hoặc bị ngất, cảm giác không thực hoặc giải thể nhân cách,sợ mất tự chủ hoặc bị điên, sợ bị chết,loạn cảm giác (cảm giác tê cóng hoặc ngứa), ớn lạnh hoặc nóng bừng [5] [42]
1.2.4 Mức độ lo âu
Theo Halter và Varcarolis [48], lo âu được phân thành 4 mức độ:
Nhẹ: Lo âu ở mức độ nhẹ xảy ra trong trải nghiệm bình thường của cuộc sống hằng ngày và nó tích cực vì nó tác động đến cá nhân giải quyết vấn đề một cách hiệu quả hơn Ở mức độ này, người lo âu có thể thể hiện các triệu chứng như sự khó chịu nhẹ, bồn chồn hay cáu gắt
Trung bình: Lo âu ở mức độ trung bình dẫn đến nhận thức bị thu hẹp, khả năng suy nghĩ rõ ràng bị giới hạn Nhưng việc học hỏi và giải quyết vấn đề vẫn có thể xảy
ra mặc dù nó không ở mức tối ưu Thay đổi cơ thể có thể được nhận thấy như căng thẳng, nhịp tim nhanh, nhức đầu, kích thích dạ dày Lo âu ở mức độ trung bình thì vẫn còn mang tính suy diễn
Nặng: Ở mức độ nặng của sự lo âu, người này chỉ tập trung vào một chi tiết đặc biệt và có thể có khó khăn trong việc nhận thấy những gì đang xảy ra trong môi trường Người chịu đựng sự lo âu này có thể gặp giảm thông khí, choáng váng, bối rối hay không thể giải quyết vấn đề
Lo âu hoảng sợ: là hình thức khắc nghiệt nhất và có thể dẫn đến hành vi quấy rầy Những người đó không thể nhận ra những gì đang xảy ra trong môi trường Họ
có thể biểu hiện rối loạn, la hét hoặc sự co rút lại Hành vi của họ có thể thiếu sự phối hợp và bốc đồng Hành vi cá nhân để giảm lo âu có thể là không hiệu quả và lo âu hoảng sợ cấp tính có thể dẫn đến kiệt sức
1.2.5 Lo âu trước PT và các thang đo về tình trạng lo âu trước phẫu thuật
Có rất nhiều thang đo để đo lường mức độ lo âu của NB, các thang đo thường được sử dụng như:
Trang 19The State-Trait Anxiety Inventory (STAI) - Bảng kiểm đánh giá tình trạng lo âu: Là công cụ tự báo cáo sự lo lắng, được Charles Spielberger và cộng sự xuất bản năm 1983 [69], gồm 2 phần, mỗi phần 20 mục, mỗi mục được đánh giá theo thang điểm Likert từ 1 đến 4 STAI-S dùng để xác định tình trạng lo âu tạm thời trong các tình huống nguy hiểm, và thang điểm Likert theo cường độ xuất hiện (1: không có, 2: có một phần, 3: trung bình, 4: rất nhiều) STAI-T dùng để đánh giá tính ổn định của sự lo âu lâu dài, thang điểm Likert biểu hiện tần số, mức độ thường xuyên của cảm giác (1: hầu như không có, 2: thỉnh thoảng, 3: thường xuyên, 4: luôn luôn) STAI thường được phân loại thành ba mức: từ 20-37 điểm là không lo âu hoặc lo âu nhẹ; từ 38-44 điểm là lo âu trung bình; từ 45-80 điểm là lo âu cao
Visual Analog Scale for Anxiety (VAS-A) - Thang điểm nhìn hình đồng dạng:
Là thang đo tự đánh giá sự lo âu của NB bằng cách chọn các con số thể hiện mức lo
âu của họ trong khoảng từ 0 đến 100 mm, với 0 là không lo âu và 100 là lo âu nghiêm trọng nhất Trong các nghiên cứu đo lường sự lo âu của NB, VAS-A thường được sử dụng phối hợp cùng với một thang đo lo âu khác và đã chứng minh được mối liên quan của 2 thang đo [29],[47]
Thang đo lo âu và trầm cảm Hospital Anxiety and Depression Scale-Anxiety (HADS) - Thang điểm đánh giá lo âu và trầm cảm trong bệnh viện: Được phát triển bởi Zigmond và Snaith (1983) đã được sử dụng để đánh giá mức độ lo âu và trầm cảm của NB trước PT [84] Thang đo HADS bao gồm 14 mục được chia thành hai phần: 7 mục đo lường sự lo âu (HADS-A) và 7 mục đánh giá trầm cảm (HADS-D) Điểm số từ 0 đến 21 cho mỗi phần Trong đó thang đo HADS-A được phát triển như một thước đo ngắn gọn từ các triệu chứng của lo âu tổng quát Mục đích của HADS-
A là sàng lọc những triệu chứng lâm sàng của lo âu trên NB Thang đo HADS- A gồm 7 câu hỏi, mỗi câu được tính theo thang điểm Likert từ 0 đến 3 tương ứng với mức độ xuất hiện tăng dần của các triệu chứng lo lắng Tổng điểm cho bộ câu hỏi từ 0-21 điểm, được chia thành các mức: 0 điểm: không lo lắng, từ 1 đến 7 điểm: lo âu nhẹ, từ 8 – 14 điểm: lo âu vừa, từ trên 15 điểm: mức độ lo âu nặng [35] HADS-A đã được chứng minh được tính giá trị và tính ổn định trong nhiều nghiên cứu [33]
Trang 20Thang đo này được quản lý và phân phối bởi một nhà xuất bản “Quỹ quốc gia
về nghiên cứu giáo dục” tại Anh- cung cấp quy mô, biểu đồ ghi điểm số, hướng dẫn
sử dụng với các bản dịch có sẵn cho những ngôn ngữ Ả rập, Nhật Bản, Trung Quốc…
và tất cả những ngôn ngữ khác nếu liên hệ nhà xuất bản[33] HADS-A cũng đã được dịch sang tiếng Việt và được kiểm tra tính giá trị, tính ổn định phù hợp để đo lường
sự lo âu của NB trước PT và đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu tại Việt Nam [35], [27] Đặc biệt hơn, bộ công cụ này đã được tác giả Nguyễn Hoàng Long sử dụng đánh giá sự lo âu của NB trước PT ổ bụng tại 3 BV lớn ở Hà Nội, trong đó có BV hữu nghị Việt Đức vào năm 2018 [57]
Thang đo này có ưu điểm ngắn gọn dễ hiểu, dễ sử dụng đánh giá đồng thời hai loại rối loạn tâm lý và trầm cảm, người bệnh có thể tự đọc và trả lời các câu hỏi theo hướng dẫn hoặc trả lời gián tiếp qua phỏng vấn của người nghiên cứu trong vài phút
Do vậy, trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu sử dụng HADS-A để xác định sự lo
âu của NB trước PT tuyến giáp
1.3 Một số yếu tố liên quan tới tâm lý lo âu trước phẫu thuật
1.3.1 Yếu tố tuổi
Vấn đề lứa tuổi rất quan trọng với từng lứa tuổi lại có suy nghĩ và cách nhìn nhận vấn đề khác nhau nên có những cung bậc cảm xúc khác nhau, nó ảnh hưởng rất lớn tới nhận thức của người bệnh” Đối với tuổi thanh niên thường đánh giá cao sức khỏe của mình coi thường bệnh, chú ý nhiều đến thẩm mỹ, sợ xấu…Đối với tuổi trung niên thì nét tâm lý chững trạc hơn, ổn định hơn nên phản ứng với bệnh tật và nhận thức của họ đối với bệnh mang dấu vết nhân cách và đã hình thành vững chắc Đối với người lớn tuổi thường bi quan với tác hại của bệnh, đánh giá thấp sức khỏe của mình Người bệnh dễ lo lắng, hoang mang, khó tính, đòi hỏi cao, yêu cầu giải đáp tường tận, khoa học [36] ghiên cứu của David Ryamukuru năm 2019 trên 151 người bệnh chờ phẫu thuật tại bệnh viện trường Đại học Y Kigali ở Rwanda, người bệnh lớn tuổi ít lo âu hơn những người trẻ tuổi [40] Nghiên cứu của Jafar M F tại Pakistan, kết quả cũng chỉ ra rằng tuổi tác tăng lên, mức độ lo âu giảm xuống với p<0,001 [50] Theo một nghiên cứu khác về lo âu trước phẫu thuật của người bệnh phẫu thuật tạo
Trang 21hình khớp của Rasouli MR và cộng sự năm 2016, kết quả chỉ ra rằng những người bệnh trẻ tuổi có mức độ lo âu nhiều hơn những người bệnh lớn tuổi [67]
1.3.2 Giới tính
Theo một vài nghiên cứu, nữ có tâm lý yếu hơn nam giới Họ dễ bị kích động
và bị ảnh hưởng bởi các tác nhân xung quanh, nên trước phẫu thuật họ thường lo âu hơn nam giới [51] Nghiên cứu của Banu Cevik năm 2018 tại Thổ Nhĩ Kỳ cũng không
có mối liên quan giữa giới tính và mức độ lo âu trước phẫu thuật của người bệnh tại khoa Ngoại tổng hợp trường Đại học Y Istanbul Một nghiên cứu khác về lo âu trước phẫu thuật tim ở Tây Ban Nha của tác giả Hernandez và cộng sự năm 2014 cũng chỉ
ra rằng không có sự khác biệt về mức độ lo âu với giới tính [46] Kết quả nghiên cứu của Võ Thị Yến Nhi năm 2017 tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về lo âu trước phẫu thuật của người bệnh và giới tính với p=0,45 [16] nghiên cứu của Henok Mulugeta năm 2018 tại Tây Bắc Ethiopia chỉ ra rằng giới tính cho liên quan đáng kể tới mức độ lo âu trước phẫu thuật của người bệnh [61] Theo kết quả đánh giá lo âu trước phẫu thuật của Fatma Celik tại Thổ Nhĩ Kỳ, điểm lo âu của người bệnh nữ cao hơn nam là đáng kể với p=0,000 [36] Nghiên cứu của Đặng Văn Thạch ở NB phẫu thuật tiêu hóa tại bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang năm 2018 nữ giới lo âu nhiều hơn đáng kể so nam giới với p<0,05 [21]
1.3.3 Trình độ học vấn
Một số kết quả cho thấy rằng các cá nhân có trình độ giáo dục cao có thể ước tính chính xác hơn nguy cơ của phẫu thuật so với những người không có điều kiện được học tập đầy đủ Bên cạnh đó, những người có thói quen đọc sách báo nhiều, ham học hỏi cũng có nhận thức rất khác Họ dễ dàng hiểu được những thông tin NVYT cung cấp cho
họ về bệnh tật và ca phẫu thuật Nhưng không phải vì thế mà họ có tâm lý tích cực Cũng
có khi, cá nhân với mức học vấn thấp có thể sợ không rõ và do đó có mức độ cao của sự
lo lắng [81] Kết quả nghiên cứu của Homzovas P năm 2015 [45] và tác giả Fatma Celik tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 2018 chỉ ra rằng không có mối liên quan giữa trình độ học vấn với mức độ lo âu trước phẫu thuật của người bệnh [36] Một nghiên cứu khác của Banu
Trang 22Cevik năm 2018 về lo âu của người bệnh trước phẫu thuật cho thấy trình độ học vấn không ảnh hưởng đến mức độ lo âu của người bệnh [37] Theo kết quả nghiên cứu của Jafar MF tại Pakitan cũng chỉ ra nghề nghiệp của người bệnh không có liên quan đến sự
lo âu trước phẫu thuật [50]
1.3.4 Nghề nghiệp
Qua nhiều nghiên cứu đã minh chứng những người bệnh có nghề lao động chân tay có tỷ lệ lo câu cao nhất Lao động chân tay thường là công việc nặng nhọc, không ổn định và thu nhập không cao Đây là nhóm đối tượng ít có điều kiện tiếp cận với dịch vụ y tế để chẩn đoán và điều trị sớm Sự nặng nhọc trong công việc, sự bất
ổn về kinh tế là yếu tố gây sang chấn tâm lý cho đối tượng này [57]
1.3.5 Điều kiện kinh tế
Đây luôn là một vấn đề với tuyệt đại đa số người bệnh Việt Nam Đối với nước ngoài, người bệnh có bảo hiểm chi trả toàn bộ nên không thành vấn đề Ở Việt Nam, người bệnh hoặc không có bảo hiểm hoặc bảo hiểm chi trả một phần vì chi phí cho một cuộc phẫu thuật là rất tốn kém ngoài ra còn có các chi phí phát sinh nằm ngoài dự kiến ban đầu Đôi khi vấn đề này lại làm tăng thêm sự lo đâu của người bệnh [81] Nghiên cứu của Phạm Quang Minh năm 2020 tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho thấy mối liên quan giữa điều kiện kinh tế và lo âu của người bệnh với OR=2,2, p<0,05 [14]
1.3.6 Tiền sử bản thân
Tiền sử mắc bệnh của bản thân người bệnh cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tâm
lý Những người bệnh chưa từng phẫu thuật sẽ đòi hỏi rất nhiều thông tin về bệnh của mình, về ca phẫu thuật Họ luôn có xu hướng hướng ngoại, luôn bày tỏ nỗi lo lắng của mình và mong muốn được chia sẻ Còn những người bệnh có bệnh mạn tính hay
đã từng phải phẫu thuật có tâm lý rất phức tạp, có thể theo hướng tích cực và cũng có thể theo hướng tiêu cực Người bệnh đã từng được phẫu thuật sẽ ít lo lắng hơn những người bệnh phẫu thuật lần đầu tiên Vì họ đã từng trải qua, hiểu và có kinh nghiệm
về phẫu thuật trước đó
Mặt khác, một số biểu hiện tâm lý tiêu cực có thể xuất hiện là: Lo lắng thái
Trang 23quá về bệnh tật và cuộc phẫu thuật Bản thân họ đang mang trong người một bệnh lý mạn tính nào đó và việc phải trải qua cuộc phẫu thuật là quá sức đối với họ Họ lo âu
về những rủi ro về ảnh hưởng không tốt của căn bệnh mạn tính đến ca phẫu thuật Hay một người đã trải qua phẫu thuật phải chịu rất nhiều đau đớn và đặc biệt đã có những biến chứng sau phẫu thuật thì việc phải trải qua thêm một cuộc phẫu thuật nữa
là điều kinh khủng đối với họ Thờ ơ, không quan tâm, coi thường sức khỏe Việc đã từng mắc bệnh từng trải qua phẫu thuật khiến người bệnh thấy quen thuộc với bệnh tật Họ không còn cảm giác lo lắng, phó mặc cho số phận [38]
Theo Jafar M F người bệnh có ít nhất một cuộc phẫu thuật trước đó có mức độ
lo âu thấp hơn những người chưa trải qua phẫu thuật lần nào, điểm lo âu của người bệnh có mối tương quan nghịch biến với kinh nghiệm phẫu thuật trước đó [50] Theo kết quả của tác giả Võ Thị Yến Nhi năm 2017 cho thấy có mối tương quan giữa điểm
lo âu trước phẫu thuật với kinh nghiệm phẫu thuật trước đó với p=0,003 [16] Kết quả này cho thấy rằng những người bệnh đã trải qua phẫu thuật khác trước đó họ hiểu biết
về gây mê và phẫu thuật hơn nên bớt lo âu hơn Nghiên cứu của Đặng Văn Thạch ở
NB phẫu thuật tiêu hóa tại bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang năm 2018 NB chưa từng phẫu thuật lo âu nhiều hơn đáng kể so với nhóm NB đã từng phẫu thuật ít nhất 1 lần với OR = 3,72, p<0,05 [21]
1.3.7 Yếu tố bệnh tật
Theo nghiên cứu của Henok Mulugeta đã chỉ ra rằng NB có tiền sử trải nghiệm
PT trước đây ít lo âu hơn so với NB lần đầu tiên PT [61] Theo Hernandez-Palazon J
và cộng sự, thời gian chờ trước PT > 2 ngày là yếu tố nguy cơ đáng kể với chứng lo
âu trước PT [47]
Theo Ay A và cộng sự, phương pháp PT (mổ nội soi hay mổ mở) cũng là một trong những yếu tố tác động đến sự lo âu của NB trước PT [30]
Nghiên cứu về lo âu trước phẫu thuật tại Rwanda năm 2019, Ryamukuru cũng
đã chỉ ra có mối liên quan giữa sự lo âu trước phẫu thuật của người bệnh với mức độ nghiệm trọng của bệnh, người bệnh bị chấn thương trải qua các cuộc phẫu thuật với
Trang 24khả năng bị biến dạng cơ thể và họ tin rằng sẽ không tiếp tục tình trạng sức khỏe trước chấn thương [40] Tác giả Võ Thị Yến Nhi nghiên cứu về sự lo âu trước phẫu thuật của người bệnh phẫu thuật tiêu hóa tại Bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2017, kết quả tìm thấy mối liên quan giữa lo âu trước phẫu thuật với chẩn đoán bệnh, người bệnh ung thư có điểm trung bình lo âu cao hơn những người bệnh khác, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,001 [16]
1.3.8 Yếu tố hiểu biết về bệnh của người bệnh
Theo nghiên cứu của Vandana NB và cộng sự tại Ấn Độ chỉ ra rằng những NB được thông báo rõ về quy trình PT trước đó có sự lo âu trước PT ít hơn đáng kể so với những người không biết [64], điều này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Seifu Nigussie và cộng sự [73]
1.3.9 Hỗ trợ của người thân
Khi nằm viện, NB thường có tâm lý mặc cảm lo âu cho người thân trong gia đình, sợ bệnh tật sẽ làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế gia đình, sợ bản thân sẽ là gánh nặng cho gia đình, sợ không được người thân quan tâm [2]
Theo Seifu Nigussie, đã chỉ ra lý do phổ biến nhất của sự lo âu là nỗi sợ không nhận được đủ sự quan tâm từ những người chăm sóc [73] Theo Nguyễn Tấn Việt, tăng cường sự hỗ trợ từ gia đình sẽ làm giảm đáng kể tình trạng lo âu của NB trước
PT [27] Nghiên cứu của Võ Thị Yến Nhi năm 2017 cũng chỉ ra có mối tương quan nghịch biến giữa sự hỗ trợ từ gia đình với điểm lo âu trước phẫu thuật (r=-0,5), có mối tương quan chặt giữa sự hỗ trợ từ nhân viên y tế với lo âu trước phẫu thuật (r=-0,57) [44]
1.3.10 Hỗ trợ của nhân viên y tế
Giữa NB và NVYT là mối quan hệ giữa con người với con người, giữa nhân cách với nhân cách Điều trị NB một cách toàn diện, nghĩa là người thầy thuốc đồng thời với quá trình tích cực cứu chữa bệnh tật, phải hết lòng chăm lo, nâng đỡ tâm lý, tinh thần cho NB, giúp cho người khắc phục các yếu tố gây stress, tránh những gánh nặng tâm lý trong khám, chữa bệnh cũng như trong quá trình hồi phục sức khỏe [15]
Trang 25Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng NB được NVYT hướng dẫn giáo dục trước PT
đã giúp họ giảm đáng kể lo âu trước PT [65], [34] Nghiên cứu của Đỗ Cao Cường năm 2013 cho thấy có mối liên quan nghịch giữa lo âu trước phẫu thuật với sự hỗ trợ của nhân viên y tế, tức là sự hỗ trợ càng cao lo âu trước phẫu thuật càng giảm [35] 1.3.11 Tình hình đại dịch Covid-19
Trong thời đại dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp, đặc biệt nguy cơ lây nhiễm tăng cao trong các môi trường bệnh viện Người bệnh ngoài lo lắng về tình trạng bệnh tật của mình còn lo mắc covid-19 trong quá trình điều trị Việc tuân thủ các biện pháp phòng chống covid-19 cũng khiến quá trình chăm sóc điều trị khó khăn hơn [52]
1.4 Nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người bệnh trước phẫu thuật
1.4.1 Khái niệm nhu cầu hỗ trợ tâm lý
Năm 2003 trong tác phẩm “Psychological care for ill and injured people: A clinicalguide” Nichols đã đưa ra 3 cấp độ chăm sóc tâm lý:
Cấp độ 1: Nhận thức Nhận biết về các vấn đề tâm lý, lắng nghe người bệnh, cung cấp thông tin cho người bệnh, nhận thức về trạng thái tâm lý của người bệnh và
có những hành vi, ứng xử phù hợp
Cấp độ 2: Can thiệp Quan sát và ghi lại các trạng thái tâm lý của người bệnh, cung cấp thông tin và giáo dục, chăm sóc về cảm xúc, tư vấn, hỗ trợ, vận động chính sách hoặc giới thiệu người bệnh đến những trung tâm chăm sóc tâm lý, tổ chức có liên quan…
Cấp độ 3: Trị liệu tâm lý Từ sự phân tích những khái niệm trên đây, có thể hiểu nhu cầu được hỗ trợ tâm lý là mong muốn nhận được sự trợ giúp từ các cá nhân, các nhóm người, tập thể, các tổ chức trong xã hội nhằm giúp bản thân giải tỏa những căng thẳng, thay đổi cảm xúc, thái độ, hành vi theo hướng tích cực, từ đó có thêm niềm tin, huy động tiềm lực của bản thân để ứng phó với những tình huống bất lợi [2,
8, 15, 53]
Trang 261.4.2 Tầm quan trọng của việc hỗ trợ tâm lý
Đối với con người nói chung, nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu quan trọng là vậy, nhưng đối với người bệnh, điều đó lại càng có ý nghĩa lớn lao Người bệnh vào viện mang trong mình nỗi đau không chỉ về thể xác và còn cả những băn khoăn, lo lắng, sợ hãi, khủng hoảng tâm lý mà bệnh tật và tinh thần luôn có mối liên quan rất chặt chẽ Bệnh tật làm thay đổi tâm lý, ngược lại tâm lý cũng có thể phát sinh nhiều bệnh tật hoạc làm cho bệnh diễn biến ngày càng trầm trọng hơn Chính vì vậy, người bệnh có những nhu cầu riêng, họ mong muốn được chăm sóc về vệ sinh, ăn uống được chữa trị khỏi bệnh, nâng đỡ về tinh thần… Như vậy bên cạnh việc điều trị bệnh
cơ thể, nếu người bệnh được quan tâm, động viên, khích lệ tinh thần sẽ giúp người bệnh bớt lo lắng lấy lại bình tĩnh, có thêm nghị lực niềm tin để kiên cường vượt lên hoàn cảnh, chiến thắng bệnh tật
Vì vậy hỗ trợ về tinh thần, tâm lý cho người bệnh được xem như là một phần không thể thiếu trong hoạt động chăm sóc, điều trị của nhân viên y tế, của gia đình người bệnh và các nhóm tổ chức xã hội [2, 8, 15]
1.4.3 Thang đo đánh giá nhu cầu hỗ trợ tâm lý
a Thang đánh giá cấu trúc chức năng của hỗ trợ xã hội SFSS (Structural- Functional Social Support Scale)
SFSS là một thang đo hỗ trợ xã hội đa chiều, đo lường cấu trúc (mạng xã hội)
và chức năng về kinh nghiệm các mối quan hệ xã hội của người bệnh mà bệnh nặng hay các bệnh mạn tính ví dụ như bệnh ung thư Người bệnh được đánh giá sự tồn tại
và số lượng những người hỗ trợ và sự hỗ trợ mà họ cảm thấy đã được nhận Đây là thước đó để so sánh 2 thang đo về giá trị và độ lớn của nhu cầu hỗ trợ xã hội là MOS (Medical outcome study) và WCQ (Ways of Coping Questionaire) SFSS tập trung vào ba khía cạnh của mối quan hệ xã hội đó là: Sự tồn tại và số lượng nguồn hỗ trợ
cụ thể, số tiền nhận được từ các nguồn này, liệu hỗ trợ này có tương ứng với sự mong đợi của người bệnh không
Trong bảng câu hỏi, những người tham gia được hỏi về đánh giá của họ nhận được hay có thảo luận về căn bệnh của mình với những ai và số lượng bác sỹ điều
Trang 27dưỡng đã từng chăm sóc cho người bệnh[55]
b Thang đo mức độ hỗ trợ xã hội MOS (The MOS Social Support Survey)
MOS bao gồm 20 câu hỏi ngắn gọn áp dụng những người bệnh mạn tính là người lớn nhằm đánh giá những suy nghĩ gần đây về khía cạnh khác nhau của hỗ trợ
xã hội hỗ trợ tương ứng với năm mức độ về thời gian mong muốn được hỗ trợ không phân biệt nguyên nhân Thang đo này được Sherbourne và Stewart xây dựng năm
1991 với hy vọng đo lường được bốn khía cạnh của chức năng xã hội đó là: cảm xúc/thông tin, vấn đề hữu hình (thực hành), tình cảm và mối tương tác xã hội Hỗ trợ tình cảm được nhấn mạnh trong các loại hỗ trợ Bộ câu hỏi gồm 20 câu được chia làm ba nhóm nội dung: Nhóm nhu cầu hỗ trợ cảm xúc/thông tin (12 câu hỏi), nhóm nhu cầu hỗ trợ các hoạt động thiết thực (4 câu hỏi) và nhóm nhu cầu hỗ trợ về tình cảm (4 câu hỏi) Với mỗi câu hỏi về nhu cầu đó là không bao giờ, đôi khi, thỉnh thoảng, phần lớn thời gian và tất cả thời gian [56]
Nghiên cứu của Nguyễn Hiển Thanh năm 2016 tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho thấy 38% NB trước phẫu thuật mong muốn và 30,67% NB rất mong muốn được hỗ trợ tâm lý [20] Nghiên cứu của Sollner W trên 100 người bệnh ung thư vú năm 2004 nhu cầu hỗ trợ tâm lý là 42% [71] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Linh năm 2015 về nhu cầu hỗ trợ tâm lý của NB ung thư vú 99,6% NB có nhu cầu hỗ trợ trong đó 45,8% NB có nhu cầu hỗ trợ cao, 31,4% NB có nhu cầu hỗ trợ trung bình, 22,7% NB có nhu cầu hỗ trợ thấp [12] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thương Thương năm 2021 về sự hỗ trợ xã hội trên người bệnh nhiễm HIV đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh 28,1% NB có nhu cầu hỗ trợ cao [24]
1.5 Tình hình nghiên cứu về sự lo âu và nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp
1.5.1 Trên thế giới
Theo một nghiên cứu tại Ethiopia (2014) đã chỉ ra rằng 70,3% NB lo âu đáng
kể trước PT (điểm lo âu >44, theo thang điểm state-trait anxiety inventory (STAI)), các yếu tố liên quan đến sự lo âu là độc thân hoặc li hôn, thời gian PT và thu nhập
Trang 28Yếu tố liên quan đến việc làm giảm lo âu trước PT của NB là sự cung cấp thông tin liên quan đến cuộc PT của nhân viên y tế [73]
Cũng theo thang điểm STAI, tại nghiên cứu của Asiye Gul và cộng sự [43], điểm trung bình tình trạng lo âu trước PT của NB là 44,74±11,91 và có mối liên quan giữa lo âu trước PT với tổng liều gây mê Theo kết quả một nghiên cứu tại Bồ Đào Nha, điểm trung bình tình trạng lo âu trước PT là 3,47±3,71 (theo thang điểm Anxiety, Depression and Stress Scale-21 (DASS-21)) và có sự khác biệt giữa tâm lý trước PT
và chẩn đoán lâm sàng [74] Tại Trung Quốc, 47,4% NB có triệu chứng lo âu vừa hoặc nặng khi đợi PT [83] Theo kết quả nghiên cứu của Sadati và cộng sự [72] cho thấy sự quan tâm của ĐD đối với NB làm giảm sự lo âu trước PT và biến chứng sau
PT của NB Theo kết quả nghiên cứu của Rosiek và cộng sự [32] cho thấy không chỉ các yếu tố bên trong cá nhân (đau, bệnh tật và sự chịu đựng) mà còn những yếu tố bên ngoài (gây mê, PT và biến chứng sau PT) là những nguyên nhân của lo âu trước
PT Phụ nữ thường lo âu nhiều hơn nam giới Một nghiên cứu khác tại Pakistan cho thấy 62% NB có lo âu trước PT và có liên quan với nữ giới, tuổi trẻ, trình độ học vấn
và đã có PT trước đó [50]
Có sự khác nhau về các vấn đề lo âu trước PT của NB ở các nghiên cứu Theo Ebirim & Tobin (2010) [41], 90% NB có lo âu trước PT, vấn đề lo âu chiếm đa số là tiến trình PT bị hoãn lại Theo Mitchell (2011)[58], 82,4% NB lo âu trước PT, với sự chờ đợi, gây mê và giảm đau là những lo âu phổ biến, đồng thời sự khác biệt về giới tính cũng liên quan đến sự lo âu trước PT Một nghiên cứu khác tại Malaysia cho thấy 78,8% NB lo âu trước PT vùng bụng, trong đó 47,5% ở mức độ lo âu cao Nghiên cứu cũng đưa ra những thông tin quan trọng mà NB cần có để giảm lo âu là chi tiết cuộc PT, chi tiết về chăm sóc ĐD và thông tin về gây mê[78] Theo Mavridou (2013) [59], 80% NB lo âu trước PT, những vấn đề lo âu chính của NB là đau sau PT (84%), không tỉnh sau PT (64,8%), nôn và buồn nôn (60,2%) Một nghiên cứu với 500 NB trước PT tại Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy 62% NB lo âu trước PT ở mức độ vừa, có liên quan đến các đặc điểm nhân khẩu xã hội học của NB và sự hỗ trợ của xã hội [82]
Trang 291.5.2 Tại Việt nam
Tác giả Nguyễn Hoàng Long [57] đã sử dụng bộ câu hỏi Hospital Anxiety Depression Scale-Anxiety (HADS-A) – (Thang điểm đánh giá lo âu và trầm cảm trong bệnh viện) để đánh giá sự lo âu trước PT ổ bụng và cho thấy điểm trung bình
lo âu trước PT là 6,9±3,4, trong đó có 55,8% NB lo âu ở mức độ nhẹ, 41,5% NB lo
âu ở mức độ trung bình và hơn Nghiên cứu cũng sử dụng bộ công cụ Dimensional Support Scale (MDSS) – (Thang đo hỗ trợ đa chiều) để đánh giá sự hỗ trợ xã hội và cho kết quả giá trị trung bình chung của sự hỗ trợ xã hội là 13,8±3,2, trong đó sự hỗ trợ từ gia đình là 8,39±2,9, từ NVYT là 5,4±2,2 Sử dụng bộ câu hỏi Hospital Anxiety Depression Scale-Anxiety (HADS-A) – (Thang điểm đánh giá lo
Multi-âu và trầm cảm trong bệnh viện) để đánh giá sự lo Multi-âu của NB trước PT vùng bụng tại Phú Thọ cho thấy NB lo âu ở mức độ trung bình (8,22±3,82), có mối liên quan giữa nhận thức về bệnh của NB, sự hỗ trợ của NVYT với sự lo âu trước PT của NB [35]
Nguyễn cứu của Nguyễn Thị Kim Cơ, Đoàn Duy Tân tại bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ trầm cảm và lo âu trước phẫu thuật của người bệnh ung thư dạ dày theo thang điểm HADS năm 2019 là 26,6% [6] Nghiên cứu của Đặng Văn Thạch, Nguyễn Thị Nga năm 2018 tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang cho thấy 34,9% người bệnh lo âu trước phẫu thuật tiêu hóa, 35% người bệnh trước phẫu thuật có nguy cơ lo âu Các yếu tố làm ảnh hưởng đến tình trạng lo âu bao gồm: giới tính, cơ quan phẫu thuật, số lần phẫu thuật, thời gian chờ phẫu thuật, thông tin phẫu thuật [21] Theo tác giả Thái Hoàng Để và cộng sự lo âu trước PT chiếm tỉ lệ 83,43% tại An Giang [7] Một nghiên cứu khác tại Thái Nguyên cho thấy giá trị trung bình lo âu trước PT vùng bụng là 51,65±8,28 và có mối liên quan với thời gian chờ PT [79]
Gần đây nhất Bộ công cụ HADS-A (Thang điểm đánh giá lo âu và trầm cảm trong bệnh viện) và MDSS (Thang đo hỗ trợ đa chiều) cũng được tác giả Nguyễn Tấn Việt (2018) sử dụng nghiên cứu trên 96 NB trước PT tiết niệu tại BV Y dược TP Hồ Chí Minh để xác định mức độ lo âu và các yếu tố liên quan đến lo âu trước PT và các
Trang 30vấn đề hỗ trợ từ xã hội Kết quả đã chỉ ra mức độ lo âu của NB là 16,7% Mối quan tâm từ gia đình trung bình là 13,2 ± 3,2 điểm, điểm hỗ trợ từ NVYT trung bình là 9,4
± 2,7 Các yếu tố cho thấy để giảm tình trạng lo âu là cung cấp đầy đủ thông tin và tăng cường sự hỗ trợ từ gia đình [27]
Như vậy hiện tại đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về sự lo âu trước PT, nhưng nghiên cứu về tình trạng lo âu của NB trước PT tuyến giáp còn hạn chế Các nghiên cứu trên cũng đã chỉ ra các mối liên quan đến tình trạng lo âu như nhận thức về bệnh, sự hỗ trợ của NVYT
1.6 Học thuyết điều dưỡng
Có nhiều học thuyết khác nhau về điều dưỡng, đưa ra cách giải thích khác nhau
về các nguyên lý của điều dưỡng, tuy vậy tất cả các học thuyết đều tập trung vào 4 lĩnh vực: Con người, môi trường, sức khỏe và điều dưỡng Sự phát triển của các học thuyết điều dưỡng trên thế giới đã định hướng cho cấu trúc thực hành nghề nghiệp, giáo dục và nghiên cứu điều dưỡng cả trên thế giới và Việt Nam hiện nay Nghiên cứu này sử dụng mô hình học thuyết điều dưỡng của Neuman con người là một phức hợp chức năng của các thành phần sinh lý học, xã hội học, phát triển thể chất, tâm thần và tâm linh Học thuyết Newman đề cập đến môi trường bên trong là những nhân
tố ảnh hưởng bên trong con người (nhân tố stress, cái phá vỡ hệ thống), được tạo ra nhờ những nỗ lực của người bệnh và nó có thể hình thành theo cơ chế liên tục, không liên tục Mô hình của Newman gồm: những nhân tố stress bên trong và bên ngoài con người Newman cho rằng: Điều dưỡng quan tâm đến toàn bộ cá nhân con người Mục đích của Điều dưỡng: Hỗ trợ cá nhân, gia đình và cộng đồng trong việc đạt và duy trì
ở mức cao nhất về sức khoẻ và sự khoẻ mạnh [3]
Trong nghiên cứu này, người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp có thể trải qua các tác nhân gây lo âu Các yếu tố gây lo âu có thể dẫn đến kết quả tiêu cực hoặc tích cực, điều này phụ thuộc vào nhận thức và khả năng đối phó của người bệnh với các yếu tố gây lo âu Trong khi lo âu, người bệnh phản ứng, sửa đổi và điều chỉnh nhằm
nỗ lực trở lại trạng thái bình thường hoặc khỏe mạnh, nhưng khi người bệnh có những biểu hiện lo âu bệnh lý thì khi đó can thiệp là cần thiết nhằm phòng ngừa bệnh tật,
Trang 31nâng cao sức khỏe Khả năng ứng phó với các tác nhân gây căng thẳng của người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp có thể ảnh hưởng đến nguy cơ căng thẳng tâm lý của họ Trong nghiên cứu hiện tại, căng thẳng tâm lý được xác định là sự lo lắng và khả năng ứng phó là nhu cầu của người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp [3] 1.7 Khung lý thuyết
Khung lý thuyết trong nghiên cứu được trình bày dưới hình
1.8 Một số nét cơ bản về cơ sở nghiên cứu
Bệnh viện Nội tiết TW được thành lập ngày 16/9/1969, trước tình hình bệnh bướu cổ trở nên phổ biến tại các tỉnh miền núi phía Bắc, nhằm thực hiện các hoạt động phòng, chống bệnh bướu cổ, bảo vệ sức khỏe Nhân dân Bệnh viện đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực Bệnh viện đã xây dựng cơ sở vật chất hiện đại với 2 cơ sở khám, tập trung nhiều chuyên gia có trình độ chuyên môn cao, tổng số giường bệnh nội trú là 1079 (theo kế hoạch) với hơn 900 thầy thuốc, nhân viên y tế, người lao động làm việc tại 42 khoa lâm sàng, cận lâm sàng và các phòng chức năng Trang thiết bị hiện đại, ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực và trên
Sơ đồ 1.1 Khung lý thuyết nghiên cứu
Đặc điểm chung của NB
Nhu cầu hỗ trợ
Lo âu và các vấn đề lo âu của
NB trước phẫu thuật
Đặc điểm bệnh của NB
phẫu thuật
Sự hỗ trợ của NVYT và gia
đình/bạn bè
Trang 32thế giới Bệnh viện là cơ sở thực hành cho các sinh viên của các trường y dược, tập huấn, giảng dạy cho hàng trăm bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên đại học, sau đại học
và các đơn vị cơ sở y tế tuyến dưới
Hiện tại, bệnh viện có 3 khoa điều trị PT cho người mắc bệnh lý về tuyến giáp: khoa Ngoại Chung, Khoa Phẫu Thuật Tuyến Giáp, Khoa Kỹ Thuật Cao Cả 3 khoa đều được thành lập từ năm 2013 với tiền thân từ khoa Ngoại cũ được thành lập cách đây hơn 15 năm, theo sự phân công cả 3 khoa đều có nhiệm vụ: lập kế hoạch, tổ chức
và triển khai thực hiện khám và điều trị NB ngoại khoa, chăm sóc hậu phẫu và các chỉ định khác, ngoài ra còn nhận trách nhiệm công tác giảng dạy cho các học viên trong và ngoài nước về kỹ thuật mổ tuyến giáp Với tổng số giường thực kê của cả
3 khoa là 225 giường, tổng số ca mổ của 3 khoa được giao là 54 ca/ngày Trong năm 2021 với sự ảnh hưởng lớn của dịch bệnh Covid-19 theo báo cáo tổng kết năm
2021, tổng số ca mổ đạt 5.475 ca (trung bình một tháng số ca mổ là 456 ca)
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh được chỉ định phẫu thuật tuyến giáp có kế hoạch tại bệnh viện nội tiết Trung ương giai đoạn 4/2022 đến tháng 6/2022
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Người bệnh trên 18 tuổi nhập viện Nội Tiết Trung Ương
- Người bệnh được chỉ định phẫu thuật tuyến giáp có kế hoạch
- Thời gian nằm viện trước phẫu thuật ≥ 1 ngày
- Người bệnh và gia đình đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Người bệnh đang mắc các bệnh cấp tính nặng (hôn mê, phẫu thuật cấp cứu, thủ thuật cấp cứu)
- Người bệnh không khai thác được thông tin do bệnh nặng hoặc các rối loạn tâm thần (rối loạn trầm cảm, rối loạn ám sợ, rối loạn nhân cách, tâm thần phân liệt )
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian lấy mẫu nghiên cứu: từ tháng 4/2022 đến tháng 6/2022
Địa điểm nghiên cứu được thực hiện tại 03 khoa có NB phẫu thuật tuyến giáp: Khoa Ngoại chung, Khoa Phẫu thuật Tuyến giáp, Khoa Kỹ thuật cao – Bệnh viện Nội tiết Trung ương
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang tiến cứu
2.4 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng
Cỡ mẫu được xác định dựa trên công thức tính cỡ mẫu cho việc ước lượng một
tỷ lệ trong quần thể:
d
Trang 34Trong đó:
- n: cỡ mẫu tối thiểu cần thiết;
- α: mức ý nghĩa thống kê
- p: tỷ lệ lo âu trước phẫu thuật của một nghiên cứu tương tự
- d: Khoảng sai lệch mong muốn giữa tham số mẫu và tham số quần thể (d=0,07 với mong muốn độ chính xác là 93%)
Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Văn Thạch, Nguyễn Thị Nga năm 2018 tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang, tỷ lệ người bệnh lo âu trước phẫu thuật tiêu hóa là 34,9% (p=0,349) [21] Thay vào công thức trên, N= 178
Để dự phòng có NB không tham gia, có phiếu không sử dụng được nghiên cứu lấy tăng thêm 10% cỡ mẫu, tổng số cỡ mẫu là 197 NB có chỉ định phẫu thuật tuyến giáp
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Thời điểm thu thập số liệu
Ngày trước PT, sau khi NB được bác sỹ và điều dưỡng tiếp đón hoàn thiện xong hồ sơ bệnh án vào khoa, trong khoảng thời gian đảm bảo thuận lợi cho đối tượng nghiên cứu
2.6.2 Cách thức thu thập dữ liệu
Tại bệnh viện Nội tiết trung ương, nhóm nghiên cứu đã tiếp cận đối tượng đích
là 197 người bệnh trước PT đang sử dụng dịch vụ tại khoa dựa trên các tiêu chí lựa chọn và loại trừ
NCV, ĐTV đối chiếu với tiêu chuẩn lựa chọn, tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu, lập danh sách người bệnh và chọn thời gian thuận lợi, phù hợp với người bệnh (Ngày trước PT, sau khi NB được bác sỹ và điều dưỡng tiếp đón hoàn thiện
Trang 35xong hồ sơ bệnh án vào khoa, trong khoảng thời gian đảm bảo thuận lợi cho đối tượng nghiên cứu)
Đào tạo điều tra viên: Để đảm bảo công tác phòng dịch bệnh Covid-19, NCV lựa chọn hai điều dưỡng có nhiệm vụ tiếp đón NB, hoàn thiện hồ sơ bệnh án của khoa Phẫu thuật tuyến giáp và khoa Kỹ thuật cao là ĐTV: trước khi phối hợp tiến hành lấy mẫu, 2 ĐTV được phổ biến về nội dung nghiên cứu, tiêu chuẩn lựa chọn, tiêu chuẩn loại trừ, được tập huấn về thực hành lấy mẫu, cách thức thu thập số liệu từ hồ sơ bệnh án và phương pháp phát vấn
Người bệnh ký vào bản thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên
2.7 Các nhóm biến số nghiên cứu
Bảng 2.1 Các nhóm biến số chỉ số cho mục tiêu 1
loại biến số
Phương pháp thu thập
trị
Là khoa mà NB nằm điều trị cho lần phẫu thuật này bao gồm: Ngoại Chung, Khoa Phẫu Thuật Tuyến Giáp, Khoa Kỹ Thuật Cao
Biến danh mục
Thu thập số liệu từ hồ sơ bệnh án
- ngày có chỉ định phẫu thuật
Biến liên tục
Thu thập số liệu từ hồ sơ bệnh án
Thu thập số liệu từ hồ sơ bệnh án
4
Có chẩn
đoán bệnh
ung thư
đã có kết quả giải phẫu bệnh xác định
là ung thư trước phẫu thuật, được phân thành 2 nhóm có và không có ung thư
Biến nhị phân
Thu thập số liệu từ hồ sơ bệnh án
Trang 36TT Tên biến Định nghĩa biến số Phân
loại biến số
Phương pháp thu thập
bộ tuyến giáp, cắt bỏ gần như toàn bộ tuyến giáp, cắt 1 thùy tuyến giáp, cắt bán phần hai thùy tuyến giáp Phương pháp mổ dự kiến áp dụng cho NB được ghi trong biên bản thông qua mổ, gồm phẫu thuật mở và phẫu thuật nội soi
Biến danh mục
Thu thập số liệu từ hồ sơ bệnh án
Thu thập số liệu từ hồ sơ bệnh án
7 Tuổi
Là số tuổi hiện có của người bệnh khi trả lời bộ câu hỏi được tính bằng cách lấy năm hiện tại trừ năm sinh
Biến liên tục
Thu thập số liệu từ hồ sơ bệnh án
nam và nữ ghi trong thẻ bảo hiểm y tế
Biến nhị phân
Thu thập số liệu từ hồ sơ bệnh án
sinh sống
Là nơi cư trú thường xuyên của đối tượng nghiên cứu, gồm 3 giá trị: thành thị (sống ở thành phố hoặc thị xã), nông thôn (sống ở các tỉnh, huyện), miền núi (vùng dân tộc và miền núi)
Biến danh mục
Thu thập số liệu từ hồ sơ bệnh án
Thu thập số liệu từ hồ sơ bệnh án
Thu thập số liệu từ hồ sơ
Trang 37TT Tên biến Định nghĩa biến số Phân
loại biến số
Phương pháp thu thập khi nhập viện, với các giá trị: Nội
trợ/ở nhà, Nghỉ hưu/mất sức, Lao động tự do, Công nhân, Cán bộ/viên chức nhà nước, khác
Biến danh mục
Thu thập số liệu từ hồ sơ bệnh án
13 Học vấn
Là mức độ bằng cấp cao nhất mà người bệnh hiện có được, với các giá trị: mù chữ; giáo dục phổ thông (cấp
I, cấp II, cấp III); trung cấp/cao đẳng;
đại học/sau đại học
y tế), phụ thuộc 1 phần (có thu nhập nhưng không đủ chi trả), không phụ thuộc (có thể tự chi trả cho các chi tiêu hàng ngày, kể cả chi phí y tế)
Biến
Trang 38TT Tên biến Định nghĩa biến số Phân
loại biến số
Phương pháp thu thập
Số lần mắc bệnh Covid-19 trước khi
Số lần tiêm phòng vacxin Covid-19
âu
Là điểm số về mức độ lo âu của đối tượng nghiên cứu được đo lường bằng thang HADS-A
+ Không tỉnh sau gây mê/PT + Tử vong do gây mê, + Gây mê, gây tế trong PT không hiệu quả
+ Đau sau PT, + Phẫu thuật không thành công, + Biến chứng sau phuật có thể gặp như nói khàn, mất tiếng, hạ canxi, dò dưỡng chấp, chảy máu…
+ Sau phẫu thuật còn sót nhân giáp
và nhân giáp mọc lại + PT ảnh hưởng đến khả năng sinh sản + Phẫu thuật có khả năng bị hoãn lại
Biến
Trang 39TT Tên biến Định nghĩa biến số Phân
loại biến số
Phương pháp thu thập + Môi trường BV không thoải mái,
+ Thời gian chờ PT lâu, + Không có khả năng trả viện phí, + Không có thu nhập khi nằm viện + Không có người thân chăm sóc + Không có NVYT quan tâm + Nguy cơ mắc Covid-19 trong quá trình điều trị
Các nhóm biến số cho mục tiêu 2 Một số yếu tố liên quan tới thực trạng lo âu
và nhu cầu hỗ trợ tâm lý ở người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2022
- Mối liên quan thực trạng lo âu ở người bệnh phẫu thuật tuyến giáp với các đặc điểm của người bệnh:
Trang 40+ Tình trạng hôn nhân
+ Nghề nghiệp
+ Tình trạng kinh tế
+ Tình trạng bảo hiểm y tế
+ Người chăm sóc khi nằm viện
+ Thời gian chờ phẫu thuật
+ Phương pháp phẫu thuật
+ Không tỉnh sau gây mê/phẫu thuật
+ Tử vong do gây mê
+ Gây mê, gây tế trong PT không hiệu quả
+ Đau sau PT
+ Phẫu thuật không thành công
+ Biến chứng sau phuật có thể gặp như nói khàn, mất tiếng, hạ canxi, dò dưỡng chấp, chảy máu
+ Sau phẫu thuật còn sót nhân giáp và nhân giáp mọc lại
+ Phẫu thuật ảnh hưởng đến khả năng sinh sản
+ Phẫu thuật có khả năng bị hoãn lại
+ Môi trường BV không thoải mái
+ Thời gian chờ PT lâu
+ Không có khả năng trả viện phí,
+ Không có thu nhập khi nằm viện
+ Không có người thân chăm sóc
+ Không có NVYT quan tâm
+ Nguy cơ mắc Covid-19 trong quá trình điều trị
- Mối liên quan thực trạng lo âu ở người bệnh phẫu thuật tuyến giáp với với sự