1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Những vấn đề pháp lý về giải thể doanh nghiệp

58 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Pháp Lý Về Giải Thể Doanh Nghiệp
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Luật thương mại
Thể loại Báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 667,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. B ỐI CẢNH NGHIÊN CỨU VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI (6)
  • 2. T ÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU (7)
  • 3. M ỤC TIÊU NGHIÊN CỨU (8)
  • 4. Đ ỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU , PHẠM VI NGHIÊN CỨU (8)
  • 5. P HƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (8)
  • 6. K ẾT CẤU ĐỀ TÀI (8)
    • 1.1. KHÁI QUÁT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP (10)
      • 1.1.1. Khái niệm giải thể doanh nghiệp (10)
      • 1.1.2. Đặc điểm của giải thể doanh nghiệp (12)
      • 1.1.3. Phân biệt giải thể doanh nghiệp với các trường hợp chấm dứt hoạt động khác (13)
        • 1.1.3.1. Phân biệt giải thể doanh nghiệp với trường hợp chấm dứt tồn tại khi tổ chức lại doanh nghiệp (13)
        • 1.1.3.2. Phân biệt giải thể doanh nghiệp với phá sản doanh nghiệp (15)
      • 1.1.4. Vai trò, ý nghĩa của giải thể doanh nghiệp (16)
        • 1.1.4.1. Đối với doanh nghiệp (16)
        • 1.1.4.2. Đối với xã hội (17)
        • 1.1.4.3. Đối với quản lý nhà nước (17)
    • 1.2. KHÁI QUÁT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP (18)
      • 1.2.1. Pháp luật về giải thể doanh nghiệp trước khi ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999 14 1.2.2. Pháp luật về giải thể doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 1999 (18)
      • 1.2.3. Pháp luật về giải thể doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 (21)
      • 1.2.4. Pháp luật về giải thể doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 (23)
      • 1.2.5. Pháp luật về giải thể doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 (24)
    • 2.1. PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP (26)
      • 2.1.1. Các văn bản quy phạm pháp luật quy định về giải thể doanh nghiệp (26)
      • 2.1.2. Các quy định pháp luật về giải thể doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 (26)
        • 2.1.2.1. Các trường hợp giải thể doanh nghiệp (26)
        • 2.1.2.2. Điều kiện giải thể doanh nghiệp (28)
        • 2.1.2.3. Trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp (28)
        • 2.1.2.4. Hồ sơ giải thể (31)
      • 2.2.1. Khái quát về điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay (32)
      • 2.2.2. Thực trạng tình hình giải thể doanh nghiệp nước ta hiện nay (34)
        • 2.2.2.1. Doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể (35)
        • 2.2.2.2. Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể (37)
    • 3.1. MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ RÚT RA TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ (41)
      • 3.1.1. Những thành tựu đạt được (41)
      • 3.1.2. Một số hạn chế (43)
    • 3.2. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP (45)
      • 3.2.1. Quy định về giải thể doanh nghiệp ở một số quốc gia (45)
        • 3.2.1.1. Pháp luật về giải thể doanh nghiệp của Vương quốc Anh (45)
        • 3.2.1.2. Pháp luật về giải thể doanh nghiệp của Singapore (47)
      • 3.2.2. Một số bài học kinh nghiệm có thể áp dụng tại Việt Nam (49)
    • 3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP (50)
    • 3.4. KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP (52)
  • KẾT LUẬN (54)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI THAM GIA GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM 2022 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP Lĩnh vực khoa học và công nghệ Khoa học và xã hộ.

B ỐI CẢNH NGHIÊN CỨU VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hiện nay, Việt Nam đang theo mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự đa dạng về thành phần kinh tế và sức cạnh tranh cao, thúc đẩy sáng tạo và phát triển kinh tế Tuy nhiên, đại dịch Covid-19 bắt đầu từ đầu năm 2020 đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống xã hội và hoạt động của doanh nghiệp, khiến hàng trăm nghìn doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động hoặc rút lui khỏi thị trường Dù đã chuyển sang trạng thái “bình thường mới”, hậu quả của dịch bệnh vẫn còn rõ rệt Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp chịu áp lực cạnh tranh ngày càng lớn, đặc biệt là khi dịch bệnh diễn biến phức tạp, các doanh nghiệp không đáp ứng được nhu cầu phát triển sẽ bị loại khỏi nền kinh tế Để phòng ngừa rủi ro và xử lý các vấn đề về giải thể hoặc vi phạm pháp luật, các quốc gia xây dựng cơ chế giải thể doanh nghiệp hiệu quả dựa trên các quy định pháp luật hiện hành Tại Việt Nam, nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật để giám sát và hỗ trợ quá trình giải thể doanh nghiệp, nhằm đảm bảo giải quyết xung đột lợi ích một cách hiện đại, linh hoạt và năng động Hiểu rõ bản chất pháp lý của giải thể doanh nghiệp là yêu cầu bắt buộc đối với luật sư, cơ quan quản lý nhà nước và các nhà nghiên cứu pháp luật để xây dựng các khía cạnh pháp lý phù hợp với thực tiễn, từ đó giải quyết vấn đề một cách thấu đáo Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, tác động mạnh mẽ đến mục tiêu của nhiều doanh nghiệp, làm gia tăng các thách thức trong hoạt động sản xuất kinh doanh và đòi hỏi các doanh nghiệp phải thích nghi linh hoạt để duy trì hoạt động và phát triển bền vững.

Do DN không còn đủ sức để tiếp tục hoạt động, phải lựa chọn phương pháp phá sản hoặc giải thể, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh Pháp luật về phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn còn nhiều điểm vướng mắc, gây khó khăn trong quá trình xử lý phá sản Các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng thường xuyên có sự chênh lệch, dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết và gây ra các bất cập trong quá trình phá sản doanh nghiệp.

Tác giả chọn đề tài "Những vấn đề pháp lý về giải thể doanh nghiệp" dựa trên thực tiễn hiện nay nhằm phân tích, đối chiếu các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam Mục tiêu của nghiên cứu là đưa ra các kiến nghị hữu ích trong quá trình sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về giải thể doanh nghiệp trong tương lai Qua đó, giúp nâng cao hiệu quả pháp lý và thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Việt Nam.

T ÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Phát triển kinh tế là nền tảng quan trọng để xây dựng một quốc gia phồn thịnh, đặc biệt tập trung vào thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp trong nước Nhận thức rõ điều này, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm tạo dựng môi trường kinh doanh mở và thuận lợi cho doanh nghiệp Vấn đề thủ tục giải thể doanh nghiệp đang được Chính phủ chú trọng cải cách để giảm thiểu thủ tục rườm rà, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nhiều học giả và nhà nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu lĩnh vực này, với các đề tài và luận văn phong phú, phản ánh quá trình phát triển kinh tế của đất nước qua các giai đoạn khác nhau.

Hội thảo khoa học của Viện Khoa học pháp lý do Bộ Tư pháp tổ chức năm 2012 tại Trường đại học Luật Hà Nội tập trung vào những giải pháp pháp lý cần xây dựng và hoàn thiện để đảm bảo doanh nghiệp có thể rút khỏi thị trường một cách hợp pháp và thuận lợi Nội dung chính của tài liệu hướng đến nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành và đề xuất các cải tiến nhằm thúc đẩy quá trình rút lui của doanh nghiệp theo quy định pháp luật Các giải pháp pháp lý này nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp cũng như đảm bảo sự minh bạch trong quá trình rút khỏi thị trường Sự kiện góp phần làm rõ các vấn đề pháp lý liên quan đến việc giải thể, phá sản và thoái vốn của doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.

- Luận văn Thạc sĩ Luật học: “Pháp luật về giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam -

Thực trạng và hướng hoàn thiện” của Lê Ngọc Anh

Luận văn Thạc sĩ Luật học của Hoàng Thị Huế tập trung phân tích quy trình giải thể doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phần JM Bài viết nhấn mạnh các bước pháp lý cần thiết để giải thể doanh nghiệp đúng quy định của pháp luật, đồng thời đánh giá những khó khăn và vướng mắc thường gặp trong quá trình thực thi tại doanh nghiệp Nghiên cứu còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử lý thủ tục giải thể, đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan Nội dung luận văn góp phần nâng cao nhận thức về pháp luật doanh nghiệp và thúc đẩy hoạt động giải thể doanh nghiệp theo hướng minh bạch, phù hợp pháp luật Việt Nam.

- Luận văn Thạc sĩ Luật học: “Pháp luật về giải thể doanh nghiệp theo pháp

Luật Doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Diệu Linh

- Luận văn Thạc sĩ Luật học: “Giải thể doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 từ thực tiễn tại tỉnh Sơn la” của Đặng Văn Hiệp

- Luận văn Thạc sĩ Luật học: “Pháp luật về giải thể doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Lạng Sơn” của Hà Thị Ngọc Mai

Các công trình nghiên cứu khoa học và đề tài, luận văn đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến pháp luật về giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam Tuy nhiên, với việc Luật Doanh nghiệp 2020 được ban hành và có hiệu lực, vẫn còn nhiều công trình nghiên cứu chưa cập nhật đầy đủ các quy định mới, đặc biệt về thủ tục giải thể doanh nghiệp và thực tiễn thi hành pháp luật Do đó, nghiên cứu khoa học cần tập trung bổ sung, cập nhật các mặt tích cực và hạn chế của quy định pháp luật về giải thể doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2020, nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi.

TT đăng ký DN đơn giản gọn nhẹ phù hợp với nỗ lực cải cách TT hành chính của Chính phủ.

M ỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này nhằm làm rõ cơ sở lý luận và nội dung của pháp luật về giao dịch dân sự (GTDN) tại Việt Nam Bên cạnh đó, chúng tôi phân tích và đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về GTDN để xác định những vấn đề còn tồn tại trong hệ thống pháp luật Từ những phát hiện đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về GTDN tại Việt Nam.

Đ ỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU , PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu chính của bài viết là các quy định pháp luật liên quan đến giải thể doanh nghiệp, đặc biệt tập trung vào Luật Doanh nghiệp năm 2020 và những quy định mới về thủ tục giải thể doanh nghiệp Bài viết cũng phân tích thực tiễn hoạt động giải thể doanh nghiệp tại Việt Nam, nhằm làm rõ các vấn đề pháp lý và thực tiễn đang tác động đến quá trình giải thể doanh nghiệp Các quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 nhằm thúc đẩy quá trình giải thể doanh nghiệp minh bạch, hiệu quả hơn, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam Thực tiễn giải thể doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay đối mặt với nhiều thách thức, đòi hỏi cần có các giải pháp hoàn thiện pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình chấm dứt hoạt động.

Nội dung nghiên cứu của đề án tập trung phân tích các quy định pháp luật hiện hành về giải thể doanh nghiệp tại Việt Nam, đặc biệt xem xét thực tiễn áp dụng các quy định này trong giai đoạn từ năm 2020 đến tháng 3/2022 Phạm vi nghiên cứu bao gồm việc đánh giá các quy định pháp luật liên quan và tác động của chúng đến quy trình giải thể doanh nghiệp trong thực tiễn, góp phần làm rõ những điểm phù hợp và hạn chế của quy định pháp luật trong thời gian này.

P HƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu khoa học dựa trên phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin Áp dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật để đánh giá các vấn đề một cách khách quan và toàn diện Phương pháp này giúp nhìn nhận các vấn đề độc lập, chính xác, phù hợp với thực tiễn của đất nước và thời đại mới.

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích và tổng hợp để làm rõ các vấn đề trong phạm vi nghiên cứu, giúp đưa ra những đánh giá chính xác Ngoài ra, phương pháp so sánh, diễn giải, quy nạp và bình luận cũng được áp dụng hoặc kết hợp linh hoạt nhằm hoàn thiện bài nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc.

K ẾT CẤU ĐỀ TÀI

KHÁI QUÁT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP

1.1.1 Khái niệm giải thể doanh nghiệp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử, mở ra thời kỳ mới của sự nghiệp cách mạng nước ta trên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa Nhận thấy những khó khăn, bất cập cơ chế kinh tế tập trung bao cấp mang lại, Đảng ta đã chủ trương quyết tâm đổi mới, chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trải quan gần 36 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu với trình độ phát triển thấp, Việt Nam đã trở thành một quốc gia có mức thu nhập trung bình trên thế giới với mức độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng Góp phần tạo nên dấu ấn kinh tế hết sức quan trọng như vậy không thể không nhắc tới vai trò của các DN Sự xuất hiện của các DN đã giải quyết vấn đề việc làm của bao người dân, đóng góp to lớn cho ngân sách nhà nước cũng như sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, bất kì DN nào cũng sẽ trải qua các chu kỳ trong vòng đời DN: khởi nghiệp, xây dựng, tăng trưởng, trưởng thành và sau trưởng thành có 3 trường hợp có thể xảy ra là làm mới lại; trạng thái ổn định hoặc suy thoái Khi DN không thể tiếp tục hoạt động kinh doanh thì suy thoái là điều không thể tránh khỏi, khi đó DN sẽ phải rút lui khỏi thị trường thông qua hình thức GT hoặc phá sản DN

Hiện nay, khái niệm về Giao dịch dân sự (GTDN) vẫn chưa được quy định rõ ràng trong bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào Tuy nhiên, trong các tài liệu nghiên cứu luật học, nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất các quan điểm khác nhau về định nghĩa của GTDN, góp phần làm rõ hơn về phạm trù này trong lĩnh vực pháp luật dân sự.

Theo từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “giải thể” được định nghĩa là việc một tổ chức không còn tồn tại hoặc mất dần tính hợp pháp, dẫn đến không còn tồn tại nữa Trong khi đó, “doanh nghiệp” được hiểu là một đơn vị kinh doanh như xí nghiệp hoặc công ty Như vậy, “giải thể doanh nghiệp” ám chỉ quá trình chấm dứt sự tồn tại của một đơn vị kinh doanh Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý cũng giải thích về quá trình này dựa trên các quy định pháp luật liên quan.

1 Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê (2003) chủ biên Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng

Giải thể doanh nghiệp là thủ tục chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp dưới hình thức thanh lý tài sản để trả nợ cho các chủ nợ, qua đó doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường và chấm dứt các quyền, nghĩa vụ pháp lý của mình Quá trình giải thể doanh nghiệp bao gồm việc thanh lý tài sản, thanh toán các khoản nợ, và kết thúc các hoạt động pháp lý liên quan đến doanh nghiệp Pháp luật quy định rõ về điều kiện và thủ tục thực hiện giải thể doanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền lợi của các tổ chức, cá nhân liên quan, đảm bảo quá trình diễn ra minh bạch, đúng quy định.

Theo giáo trình Luật Thương mại Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, giải thể doanh nghiệp là quá trình chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp trong điều kiện doanh nghiệp có khả năng thanh toán hoặc đã bảo đảm thanh toán các nghĩa vụ tài chính Giải thể được xem là thủ tục hợp pháp để doanh nghiệp rút khỏi thị trường, đảm bảo các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp đã được giải quyết Trong khi đó, theo giáo trình Pháp luật Kinh tế của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, giải thể doanh nghiệp là quá trình pháp lý chính thức chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Giải thể doanh nghiệp là quá trình doanh nghiệp hoặc hợp tác xã rút khỏi thị trường và chấm dứt hoạt động do đã đạt được mục tiêu đặt ra hoặc theo quy định của pháp luật Theo cuốn sách “Giải thể và phá sản doanh nghiệp những vấn đề cần lưu ý”, giải thể doanh nghiệp là việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp theo ý chí của chính doanh nghiệp hoặc cơ quan có thẩm quyền Đây là quá trình doanh nghiệp thực hiện theo quy định pháp luật để kết thúc hoạt động một cách hợp pháp Các quy định về trình tự giải thể hiện hành được đánh giá là đơn giản, dễ thực hiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số vướng mắc và bất cập trong thủ tục giải thể khi doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dẫn đến giải thể.

Qua các khái niệm mà những nhà nghiên cứu luật đưa ra, có thể định nghĩa về GTDN như sau:

Giải thể doanh nghiệp là quá trình chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp, đảm bảo đã thanh toán đầy đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính Quá trình này diễn ra khi doanh nghiệp không còn trong quá trình giải quyết tranh chấp tại tòa án hoặc cơ quan trọng tài.

2 Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý Từ điển Luật học, NXB Tư pháp phối hợp với NXB Từ điển bách khoa

3 Nguyễn Viết Tý, Nguyễn Thị Dung (2021) đồng chủ biên Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam, tập I, NXB Tư Pháp, Đại học Luật Hà Nội

4 Nguyễn Hợp Toàn (2017) chủ biên Giáo trình Pháp luật kinh tế, NXB ĐHKTQD

Bài viết trình bày về 5 Bộ Tư pháp và Ban quản lý chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2015-2020, nhằm nâng cao hiệu quả pháp lý cho doanh nghiệp Nội dung tập trung vào các vấn đề quan trọng liên quan đến giải thể và phá sản doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp hiểu rõ các quy trình pháp lý và các lưu ý cần thiết để thực hiện đúng theo quy định pháp luật Tài liệu do Nhà xuất bản Công Thương biên soạn, cung cấp kiến thức chuyên sâu nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua các khó khăn pháp lý trong quá trình hoạt động Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cập nhật các quy định mới và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng để đảm bảo quyền lợi của doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển bền vững trong môi trường kinh doanh.

1.1.2 Đặc điểm của giải thể doanh nghiệp

GTDN được khái quát bởi các đặc điểm pháp lý như sau:

Giải thể doanh nghiệp (GTDN) là quá trình công ty phải thực hiện để rút khỏi thị trường theo đúng quy trình và quy định pháp luật Quá trình này bao gồm các hoạt động pháp lý như thủ tục hành chính và các hoạt động kinh tế liên quan, chẳng hạn như thanh toán nợ và nghĩa vụ tài chính cho các bên liên quan, đảm bảo việc giải thể diễn ra đúng pháp luật và đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan.

Khi doanh nghiệp tiến hành giải thể, nghĩa là doanh nghiệp chấm dứt mọi hoạt động và bị xóa khỏi hệ thống đăng ký kinh doanh, không còn tồn tại trên thị trường Tuy nhiên, chủ doanh nghiệp và người quản lý, điều hành doanh nghiệp giải thể không bị hạn chế hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ điều hành doanh nghiệp khác hoặc thực hiện một số hoạt động kinh doanh Ngoài ra, chủ doanh nghiệp đã giải thể vẫn có thể thành lập doanh nghiệp mới sau khi hoàn thành nghĩa vụ về tài sản.

Thứ hai, về nguyên nhân dẫn đến doanh nghiệp giải thể

Hiện nay, có nhiều nguyên nhân dẫn đến giảm tốc doanh nghiệp (GTDN), bao gồm yếu tố khách quan như tác động của nền kinh tế vĩ mô, thiên tai, dịch bệnh và nhu cầu của người tiêu dùng Ngoài ra, nguyên nhân chủ quan từ phía doanh nghiệp như kinh doanh thua lỗ kéo dài, khó khăn trong huy động vốn, chiến lược kinh doanh không còn phù hợp với xu thế mới, cùng với năng lực quản lý, điều hành hạn chế cũng góp phần gây ra tình trạng này.

Theo góc độ pháp luật, việc giải thể doanh nghiệp (GTDN) có thể xuất phát từ hành vi vi phạm của doanh nghiệp hoặc do chủ doanh nghiệp tự nguyện thực hiện Khi chủ đầu tư không còn nhu cầu tiếp tục kinh doanh hoặc doanh nghiệp gặp khó khăn tài chính nhưng vẫn đủ khả năng thanh toán nợ đến hạn, họ thường tự quyết định giải thể Ngược lại, trong trường hợp doanh nghiệp vi phạm pháp luật dẫn đến bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc đình chỉ hoạt động, họ sẽ buộc phải giải thể theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, về điều kiện giải thể

Doanh nghiệp chỉ được phép tiến hành giải thể khi đáp ứng đủ điều kiện, bao gồm trả hết các khoản nợ và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài sản Nếu doanh nghiệp không còn khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, pháp luật phá sản sẽ được áp dụng để giúp doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường Vì vậy, yếu tố quyết định doanh nghiệp có đủ điều kiện giải thể hay không chính là khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

Thứ tư, chủ thể quyết định việc giải thể

Chủ sở hữu doanh nghiệp thường có quyền quyết định việc giải thể doanh nghiệp dựa trên ý chí tự nguyện của mình Cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ xem xét tính hợp lệ của hồ sơ giải thể mà không có quyền chấp thuận hay phản đối việc doanh nghiệp giải thể hoặc chuyển trạng thái sang "đã giải thể" trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp khi không có khiếu nại Trong các trường hợp chủ doanh nghiệp bắt buộc giải thể do quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc tòa án, thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền được xem là chủ thể quyết định giải thể doanh nghiệp, mặc dù không trực tiếp ban hành quyết định giải thể.

1.1.3 Phân biệt giải thể doanh nghiệp với các trường hợp chấm dứt hoạt động khác

1.1.3.1 Phân biệt giải thể doanh nghiệp với trường hợp chấm dứt tồn tại khi tổ chức lại doanh nghiệp

Dưới góc độ pháp luật, tổ chức lại DN được hiểu là “việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập hoặc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp” 6 , tức là việc thay đổi quy mô, loại hình DN Trong 5 trường hợp tổ chức lại DN thì chỉ có trường hợp chia, hợp nhất và sáp nhập DN là dẫn đến chấm dứt sự tồn tại của DN Theo đó, chia DN là việc “chia các tài sản, quyền và nghĩa vụ, thành viên, cổ đông của công ty bị chia để thành lập hai hoặc nhiều công ty mới” 7 , hợp nhất DN là việc “hai hoặc một số doanh nghiệp có thể hợp nhất thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất” 8 , sáp nhập DN là việc “một hoặc một số doanh nghiệp có thể sáp nhập vào một công ty khác bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập” 9 Về bản chất thì sáp nhập DN chỉ chấm dứt sự tồn tại của

KHÁI QUÁT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP

DOANH NGHIỆP QUA TỪNG GIAI ĐOẠN

1.2.1 Pháp luật về giải thể doanh nghiệp trước khi ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999

Ngày 30/4/1975 là mốc son chói lọi của lịch sử Việt Nam, đánh dấu chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và giành lại độc lập, thống nhất đất nước Sau chiến thắng đó, Việt Nam tập trung xây dựng xã hội mới với mục tiêu phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân Tuy nhiên, sau 5 năm thực hiện mô hình kế hoạch hóa tập trung bao cấp, nền kinh tế nước ta rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng, không cải thiện được chất lượng cuộc sống của người dân Thời kỳ đầu những năm 80, nhà nước Việt Nam đã đổi mới tư duy quản lý kinh tế, kết hợp cơ chế kế hoạch hóa tập trung với kinh tế thị trường, đồng thời sử dụng lại kinh tế tư nhân dưới sự quản lý của nhà nước Trong giai đoạn này, các nhà máy, xí nghiệp ra đời dựa trên quyết định và kế hoạch của nhà nước, dẫn đến pháp luật về giao thông vận tải trong thời kỳ này hầu như không tồn tại hoặc chưa rõ ràng.

Đến năm 1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng chuyển đổi nền kinh tế từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nhờ chính sách tự do hóa thương mại, khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ, đặt ra yêu cầu điều chỉnh hoạt động của thành phần này bằng các quy định pháp luật phù hợp Các luật như Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty năm 1990 là những văn bản pháp luật đầu tiên quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh trong khu vực tư nhân Đồng thời, nhiều văn bản pháp luật về hoạt động của doanh nghiệp nhà nước cũng ra đời nhằm khẳng định vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước, tiêu biểu như Nghị định số 388/HĐBT ngày 20/11/1991 về quy chế thành lập và hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước, Thông tư số 81/TC-CN ngày 31/12/1991 hướng dẫn thực hiện Quyết định 330/HĐBT, và Nghị định 156/HĐBT ngày 07/05/1992 về sửa đổi, bổ sung Nghị định 388/HĐBT, cùng các hướng dẫn của Bộ Tài chính để quản lý trình tự hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.

TT, nguyên tắc xử lý tài chính khi GTDN Nhà nước, v.v

Trong thời kỳ này, hoạt động của thành phần kinh tế tư nhân vẫn chịu sự chi phối và quản lý của Nhà nước, ảnh hưởng sâu sắc đến quy trình Giao dịch Doanh nghiệp (GTDN) Thủ tục giải thể doanh nghiệp thể hiện rõ tính chất “xin-cho” khi yêu cầu doanh nghiệp phải nộp đơn xin giải thể tới Ủy ban nhân dân cấp phép, trong đó phải ghi rõ trình tự, thủ tục thanh lý tài sản, thời hạn thanh toán nợ và thanh lý các hợp đồng đã ký kết.

DN chỉ được bắt đầu GT nếu đơn xin GT được chấp thuận mà không có đơn khiếu nại

Giai đoạn những năm thập niên 90 đánh dấu sự ra đời của các chế định đầu tiên về Giao dịch chuyển nhượng doanh nghiệp (GTDN), với những cải thiện về tính công khai trong hồ sơ, trình tự, thủ tục và điều kiện để tiến hành GTDN Các quy định trong giai đoạn này cũng nhằm tăng cường tính minh bạch trong tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, rõ ràng trong sự phân định thẩm quyền của các cơ quan chức năng xem xét hồ sơ GTDN của doanh nghiệp Tuy nhiên, các quy định chủ yếu tập trung vào vai trò quản lý, giám sát của Nhà nước trong quá trình GTDN, trong đó yêu cầu công ty hay doanh nghiệp xin phép và cần sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố Điều này đã tạo ra gánh nặng không cần thiết cho cơ quan có thẩm quyền, gia tăng chi phí xã hội và làm rõ hơn các tiêu chí đánh giá theo cơ chế “xin-cho”, dẫn đến tính mập mờ và thiếu rõ ràng trong quy trình phê duyệt.

1.2.2 Pháp luật về giải thể doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 1999

Sau gần 10 năm áp dụng, Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty năm 1990 đã tạo ra những thành tựu nhất định, trở thành nền tảng mở ra hành lang pháp lý và cơ hội phát triển cho khu vực tư nhân Tuy nhiên, quy định pháp luật về doanh nghiệp trong giai đoạn này còn sơ sài và nhiều bất cập, trong đó cơ chế “xin-cho” gây ra nhiều khó khăn và phiền hà cho doanh nghiệp Vì vậy, cần có những quy định rõ ràng, cụ thể và phù hợp hơn để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của thời kỳ này.

Ngày 12/6/1999, Quốc hội đã thông qua Luật Doanh nghiệp năm 1999 thay thế Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty năm 1990 Luật Doanh nghiệp năm

Năm 1999 đánh dấu bước đột phá trong tư duy xây dựng pháp luật về doanh nghiệp tại Việt Nam, góp phần thúc đẩy cuộc cách mạng trong cải cách thủ tục hành chính liên quan đến thành lập và giao dịch doanh nghiệp Chính sách này khẳng định chủ trương đẩy mạnh đổi mới kinh tế, đồng thời bảo đảm quyền tự do và bình đẳng của các doanh nghiệp mọi thành phần kinh tế trước pháp luật, tạo môi trường kinh doanh công bằng và thuận lợi hơn.

So với Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp 1999 đã đưa ra các quy định rõ ràng, cụ thể hơn về quy trình thành lập doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc đăng ký và hoạt động kinh doanh một cách minh bạch và hiệu quả.

Quy định về đăng ký kinh doanh (CQĐKKD) do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính đảm nhiệm Cơ quan này có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, thực hiện quyết định Hướng dẫn đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh khi có vi phạm Ngoài ra, các doanh nghiệp còn được yêu cầu thực hiện các thủ tục liên quan đến TTGT theo quy định của pháp luật.

Trao quyền chủ động quyết định cho doanh nghiệp về các trường hợp giải thể, trình tự giải thể và thủ tục thanh lý tài sản công ty thông qua việc quy định rõ trong Điều lệ công ty Việc này giúp doanh nghiệp có khả năng tự chủ trong quá trình xử lý các vấn đề liên quan, đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ pháp luật Đặc biệt, việc quy định rõ ràng trong Điều lệ công ty không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc giải quyết các thủ tục liên quan đến giải thể và thanh lý tài sản một cách linh hoạt và hợp pháp.

- Khẳng định quyền và nghĩa vụ của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn và cổ đông công ty cổ phần trong việc GTDN

Luật Doanh nghiệp năm 1999 quy định rõ các trường hợp bị giải thể doanh nghiệp như kết thúc thời hạn hoạt động không gia hạn, quyết định của chủ doanh nghiệp, hoặc khi công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu trong sáu tháng liên tục Ngoài ra, doanh nghiệp có thể bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định Quy trình và thủ tục giải thể doanh nghiệp được cụ thể hóa thành các bước rõ ràng nhằm đảm bảo quá trình diễn ra thuận lợi và minh bạch.

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 03/2000/NĐ-CP và Nghị định 109/2004/NĐ-CP để hướng dẫn thi hành luật doanh nghiệp, trong đó khẳng định vai trò tự chủ của doanh nghiệp và quy định rõ phương án xử lý khi doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Theo đó, khi doanh nghiệp vi phạm và bị thu hồi giấy phép, Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh sẽ ra thông báo về các hành vi vi phạm và yêu cầu doanh nghiệp thực hiện thủ tục giải thể doanh nghiệp theo quy định Sau sáu tháng kể từ ngày quyết định thu hồi giấy phép mà doanh nghiệp không nộp hồ sơ giải thể, doanh nghiệp sẽ bị coi là đã giải thể và bị xóa tên trong sổ đăng ký kinh doanh, đảm bảo sự minh bạch và tuân thủ quy trình pháp luật.

Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã thay đổi rõ rệt phương pháp giải thể doanh nghiệp, chuyển từ hình thức "xin phép được giải thể doanh nghiệp" sang "thông báo với cơ quan có thẩm quyền về quyết định giải thể doanh nghiệp." Điều này giúp đơn giản hóa quy trình giải thể, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong quá trình chấm dứt hoạt động So với Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp năm 1999 thể hiện sự tiến bộ về mặt pháp lý, phù hợp với xu hướng phát triển của doanh nghiệp hiện đại.

Năm 1999 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cải cách thủ tục hành chính bằng cách trao quyền quyết định cho doanh nghiệp Tuy nhiên, quá trình giao dịch doanh nghiệp (GTDN) vẫn gặp nhiều bất cập do sự không thống nhất trong các quy định pháp luật điều chỉnh các loại hình doanh nghiệp khác nhau, dẫn đến các quy trình, hồ sơ, thủ tục khác nhau cho từng đối tượng; ví dụ như doanh nghiệp nhà nước do Luật Doanh nghiệp nhà nước điều chỉnh và hợp tác xã do Luật Hợp tác xã quy định Đây là điểm hạn chế lớn trong việc áp dụng quy định về GTDN trong giai đoạn này, cho thấy nhu cầu cần hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật liên quan.

1.2.3 Pháp luật về giải thể doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 Đầu những năm 2000 là thời kỳ Việt Nam tích cực hội nhập kinh tế mà đỉnh cao là việc ký Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2000 và gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO năm 2006 Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đó, việc hoàn thiện thể chế pháp luật về GTDN cũng là một trong những yêu cầu,

13 Điều 111 Luật Doanh nghiệp năm 1999

14 Điều 112 Luật Doanh nghiệp năm 1999

15 khoản 6 Điều 23 Nghị định 109/2004/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh nhiệm vụ cấp bách Trên cơ sở sửa đổi, bổ sung các quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 1999 và các văn bản hướng dẫn thi hành để phù hợp với nền kinh tế trong nước thời kỳ hội nhập, ngày 29/11/2005, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/7/2006

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP

2.1.1 Các văn bản quy phạm pháp luật quy định về giải thể doanh nghiệp

5 Nghị định 01/2021/NĐ-CP ban hành ngày 04/04/2021 về đăng ký doanh nghiệp

6 Nghị định 122/2021/NĐ-CP ban hành ngày 28/12/2021 quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kế hoạch và đầu tư

7 Thông tư 01/2021/TT-BKHĐT ban hành ngày 16/03/2021 hướng dẫn đăng ký doanh nghiệp

8 Thông tư 47/2019/TT-BTC ban hành ngày 05/08/2019 mức thu, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký doanh nghiệp

2.1.2 Các quy định pháp luật về giải thể doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2020

2.1.2.1 Các trường hợp giải thể doanh nghiệp

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Luật Doanh nghiệp năm 2020, DN bị GT trong 4 trường hợp sau đây:

Doanh nghiệp sẽ bị giải thể khi kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong điều lệ công ty mà không tiến hành gia hạn Thời hạn hoạt động của doanh nghiệp có thể được xác định dựa trên thỏa thuận của các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép theo quy định của pháp luật.

Vào thứ hai, việc giải thể doanh nghiệp được thực hiện dựa trên nghị quyết hoặc quyết định của chủ doanh nghiệp tư nhân, Hội đồng thành viên đối với công ty hợp danh, Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, và Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần.

Vào thứ ba, doanh nghiệp bị giải thể khi không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật Doanh nghiệp Khi công ty thiếu thành viên tối thiểu, doanh nghiệp cần bổ sung thành viên đủ số lượng theo quy định Nếu trong vòng 6 tháng liên tục doanh nghiệp không bổ sung thành viên hoặc không chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp phù hợp, thì phải tiến hành giải thể doanh nghiệp.

Doanh nghiệp buộc phải giải thể khi bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (GCLĐKDN), đặc biệt trong các trường hợp như kê khai nội dung giả mạo trong hồ sơ đăng ký, hoặc khi bị cấm thành lập doanh nghiệp do cá nhân hoặc tổ chức.

Doanh nghiệp không hoạt động trong vòng 1 năm mà không thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế sẽ bị xử lý vi phạm Ngoài ra, nếu doanh nghiệp không gửi báo cáo cho Cơ quan đăng ký kinh doanh trong vòng 6 tháng kể từ ngày hết hạn báo cáo, sẽ đối mặt với việc bị thu hồi giấy phép kinh doanh Việc này nhằm đảm bảo đúng quy định pháp luật và nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh.

Việc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (GCNĐKDN) đồng nghĩa với việc nhà nước không còn công nhận tư cách pháp lý của doanh nghiệp, gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động hợp pháp của doanh nghiệp trên thị trường Sau khi nhận quyết định thu hồi GCNĐKDN, doanh nghiệp buộc phải tiến hành thủ tục Tạm thời không hoạt động (TTGT) để đảm bảo đúng quy định pháp luật và tránh các rủi ro pháp lý Việc này đánh dấu sự chấm dứt tạm thời các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cho đến khi thực hiện các thủ tục khắc phục hoặc xin cấp lại giấy phép phù hợp.

Giới thiệu doanh nghiệp (GTDN) được chia thành hai trường hợp chính: GT tự nguyện và GT bắt buộc GT tự nguyện là quyền của chủ sở hữu doanh nghiệp, phụ thuộc vào ý chí của họ trong việc tiếp tục hoạt động hoặc rút lui khỏi thị trường, gồm các trường hợp như khi doanh nghiệp hết thời hạn hoạt động ghi trong điều lệ mà không gia hạn hoặc theo quyết định của chủ sở hữu Ngược lại, GT bắt buộc xảy ra khi doanh nghiệp bị buộc phải chấm dứt hoạt động theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền do vi phạm Luật Doanh nghiệp trong quá trình thành lập và hoạt động Các trường hợp GT bắt buộc gồm doanh nghiệp không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu trong 6 tháng liên tục mà không bổ sung thành viên hoặc không chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, và doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (GCKD).

GTDN là một trung tâm pháp lý cho phép doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường một cách hợp pháp, đảm bảo thanh toán đầy đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính Quá trình này có thể do ý chí tự nguyện của doanh nghiệp hoặc do cơ quan có thẩm quyền thu hồi Giấy đăng ký kinh doanh (GCNĐKDN) vì doanh nghiệp vi phạm pháp luật trong quá trình hoạt động Việc thực hiện GTDN giúp các doanh nghiệp chấm dứt hoạt động một cách hợp pháp và đảm bảo quyền lợi cho các bên liên quan.

16 Khoản 1 Điều 212 Luật Doanh nghiệp năm 2020

2.1.2.2 Điều kiện giải thể doanh nghiệp

Doanh nghiệp chỉ được chấm dứt hoạt động khi đã xử lý ổn thỏa các nghĩa vụ phát sinh trong quá trình thành lập và hoạt động Đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan như người lao động, đối tác kinh doanh và chủ nợ là yếu tố thiết yếu trong quá trình chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp không thể đáp ứng các nghĩa vụ này, thủ tục phá sản có thể được áp dụng để kết thúc hoạt động của doanh nghiệp một cách hợp pháp và hợp lý.

DN có thể GT khi đáp ứng được toàn bộ các điều kiện 17 sau:

Đảm bảo thanh toán đầy đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp, bao gồm lương nhân viên, thuế, bảo hiểm xã hội và các khoản nợ đối với đối tác kinh doanh, góp phần duy trì uy tín và ổn định tài chính của doanh nghiệp.

● DN không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa Án hoặc Trọng tài thương mại

Trường hợp DN không còn khả năng thanh toán (mất khả năng thanh toán) thì

DN phải thực hiện TT phá sản theo quy định của Luật phá sản 2014

2.1.2.3 Trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp

Trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp về cơ bản là giống nhau trong cả hai trường hợp GT tự nguyện và GT bắt buộc

Khi doanh nghiệp tự nguyện giải thể hoặc hết thời hạn hoạt động trong Điều lệ, hoặc không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu 18 người, quy trình giải thể doanh nghiệp sẽ được thực hiện theo các bước cụ thể Các bước này đảm bảo thủ tục pháp lý đúng quy định và giúp doanh nghiệp hoàn tất quá trình giải thể một cách trọn vẹn Việc doanh nghiệp giải thể theo ý chí tự nguyện hoặc khi không đáp ứng đủ điều kiện về thành viên là những trường hợp cần tuân thủ đúng quy trình để đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan.

● Bước 1: Thông qua nghị quyết, quyết định giải thể doanh nghiệp

Khi DN có ý định GT thì phải tổ chức họp để thông qua nghị quyết, QĐGT

Nghị quyết hoặc quyết định giải thể doanh nghiệp phải được thông qua bởi chủ sở hữu phù hợp với loại hình doanh nghiệp, như chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, đại hội đồng cổ đông của công ty cổ phần hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh Ngoài ra, nghị quyết hoặc quyết định này cần bao gồm các nội dung chủ yếu về lý do, phương án và thủ tục giải thể doanh nghiệp.

- Tên, địa chỉ trụ sở chính của DN;

- Thời hạn, TT thanh lý hợp đồng và thanh toán các khoản nợ của DN;

17 Khoản 2 Điều 207 Luật Doanh nghiệp 2020

18 Điều 208 Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Điều 70 Nghị định 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 về đăng ký doanh nghiệp

- Phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động;

- Họ, tên, chữ ký của chủ DN tư nhân, chủ sở hữu công ty, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị;

● Bước 2: Thông báo quyết định giải thể doanh nghiệp

Doanh nghiệp có trách nhiệm gửi thông báo về việc giải thể đến Phòng Đăng ký kinh doanh trong vòng 7 ngày làm việc kể từ ngày nghị quyết hoặc quyết định được thông qua, kèm theo các tài liệu như nghị quyết, quyết định và biên bản họp (ngoại trừ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không cần biên bản họp) Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải gửi nghị quyết, quyết định giải thể cùng biên bản họp tới cơ quan thuế và người lao động, đồng thời đăng tải công khai trên cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và niêm yết tại trụ sở chính, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của doanh nghiệp.

Trong trường hợp doanh nghiệp chưa thanh toán hết nghĩa vụ tài chính, cần gửi nghị quyết, quyết định gia hạn và phương án giải quyết nợ gồm các thông tin quan trọng như tên, địa chỉ của chủ nợ, số nợ, thời hạn, địa điểm và phương thức thanh toán; đồng thời, xác định cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại của chủ nợ cũng như các chủ thể có quyền, nghĩa vụ và lợi ích liên quan.

Dưới đây là đoạn văn đã được tối ưu hóa cho SEO và đảm bảo ý nghĩa rõ ràng của nội dung: "PĐKKD chuyển đổi tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp sang trạng thái 'đang làm TTGT', đồng thời gửi thông tin về việc gia hạn và thực hiện quá trình kiểm tra thuế của doanh nghiệp cho cơ quan thuế trong vòng 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về việc gia hạn đăng ký doanh nghiệp."

● Bước 3: Thực hiện thanh lý tài sản và thanh toán các khoản nợ

MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ RÚT RA TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ

3.1.1 Những thành tựu đạt được

Thứ nhất, quy định về công bố quyết định giải thể doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp

Kế thừa quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm

Trong năm 2020, quy định về việc công bố thông tin đăng ký Gọi doanh nghiệp (GTDN) trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp tiếp tục được thực hiện Doanh nghiệp phải gửi nghị quyết, quyết định giải thể và biên bản họp đến cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế và người lao động trong vòng 7 ngày làm việc kể từ ngày nghị quyết hoặc quyết định giải thể được thông qua Nghị quyết, quyết định giải thể còn phải được đăng tải trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và niêm yết công khai tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp.

Quy định về việc công bố công khai quyết định giải thể doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp là một bước tiến quan trọng trong cải cách thủ tục hành chính về đăng ký doanh nghiệp Điều này giúp giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp trong quá trình công khai thông tin, đồng thời cung cấp thông tin đầy đủ và kịp thời cho các bên liên quan như người lao động, đối tác, cơ quan thuế và cơ quan bảo hiểm Việc công khai quyết định giải thể doanh nghiệp đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan và thúc đẩy sự minh bạch trong hoạt động doanh nghiệp.

Thứ hai, quy định loại trừ trường hợp giải thể do bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, DN bị GT trong trường hợp “Bị thu hồi

Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp năm 2014” 25 Đến Luật Doanh nghiệp năm

Năm 2020, đã bổ sung quy định về doanh nghiệp bị giấy phép đăng ký kinh doanh bị thu hồi trong trường hợp "bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ khi có quy định khác trong Luật Quản lý thuế." Cụ thể, theo Luật Quản lý thuế năm 2019, việc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được xác định là một trong những biện pháp xử lý hành chính nhằm đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật về thuế và hoạt động kinh doanh hợp pháp.

24 khoản 3 Điều 208 Luật Doanh nghiệp năm 2020

25 điểm d khoản 1 Điều 201 Luật Doanh nghiệp 2014

26 điểm d khoản 1 Điều 207 Luật Doanh nghiệp 2020 cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế 27 và kể từ khi tiền thuế nợ được nộp đủ vào ngân sách nhà nước thì biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế này sẽ chấm dứt hiệu lực

Để đảm bảo tính đồng bộ với quy định của Luật Quản lý thuế năm 2019, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã quy định rõ việc loại trừ các trường hợp giấy khai sinh doanh nghiệp bị thu hồi GCNĐKDN khỏi các quy định về thuế.

Thứ ba, bãi bỏ quy định về thời hạn, thủ tục thanh lý hợp đồng và thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp

Theo Luật Doanh nghiệp 2014, thời hạn thanh lý hợp đồng là 06 tháng kể từ ngày quyết định giải thể được thông qua Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2020 đã bỏ quy định này để phản ánh thực tế rằng thời hạn 06 tháng phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ có giao dịch đơn giản và tài sản dễ thanh khoản Đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn, quy định này không phù hợp và khó thực hiện, do đặc thù về quy mô và mối quan hệ giao dịch phức tạp hơn.

Thứ tư, đơn giản hóa thành phần hồ sơ giải thể doanh nghiệp

Sau khi doanh nghiệp thực hiện thủ tục chấm dứt hoạt động của các chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh, doanh nghiệp có trách nhiệm gửi thông báo về việc giải thể đến Phòng đăng ký kinh doanh trong vòng 07 ngày kể từ ngày quyết định giải thể được phê duyệt Thông báo này cần đi kèm với quyết định giải thể và bản sao biên bản họp, phù hợp với loại hình doanh nghiệp.

DN) Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định hồ sơ giải thể doanh nghiệp gửi đến PĐKKD 28 gồm:

- Báo cáo tình hình thanh lý tài sản DN;

Danh sách chủ nợ và số nợ đã thanh toán bao gồm các khoản nợ về thuế, nợ tiền đóng bảo hiểm xã hội và nợ lương người lao động sau quyết định giải thể doanh nghiệp Việc xác định rõ các khoản nợ này là bước quan trọng để đảm bảo quyền lợi của các chủ nợ và thực hiện đúng quy trình giải thể doanh nghiệp Các khoản nợ đã được thanh toán phù hợp với quy định pháp luật, góp phần ổn định quá trình giải thể và hoàn tất thủ tục phá sản doanh nghiệp.

- Con dấu và giấy chứng nhận mẫu dấu (nếu có);

Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, việc bỏ thành phần GCNĐKDN, con dấu và giấy chứng nhận mẫu dấu giúp đơn giản hóa hồ sơ giải thể doanh nghiệp Do luật không quy định bắt buộc doanh nghiệp phải có con dấu, nên trong thủ tục giải thể doanh nghiệp, không cần thiết phải nộp con dấu và giấy chứng nhận mẫu dấu Điều này tạo điều kiện thuận lợi và giảm bớt thủ tục hành chính cho doanh nghiệp khi thực hiện quá trình giải thể.

27 điểm g khoản 1 và khoản 2 Điều 125 Luật Quản lý thuế 2019

Điều 204 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định doanh nghiệp nhận mẫu dấu, trừ trường hợp sử dụng con dấu do cơ quan công an cấp, thì doanh nghiệp có trách nhiệm trả lại con dấu và giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu cho cơ quan công an Luật Doanh nghiệp 2020 đã cơ bản giải quyết một phần những vướng mắc, khó khăn trong thủ tục giải thể doanh nghiệp.

Thứ năm, quy định trách nhiệm và chế tài xử lý đối với người quản lý doanh nghiệp giải thể về tính trung thực, chính xác của HSGT

Trong quá trình làm hồ sơ giải thể, chủ doanh nghiệp hoặc người quản lý doanh nghiệp thường không trung thực hoặc không chính xác trong việc kê khai các khoản nợ, thậm chí che giấu các khoản nợ đối với chủ nợ, nợ lương của người lao động để đủ điều kiện giải thể Luật Doanh nghiệp năm 2020 kế thừa quy định từ Luật năm 2014, nhấn mạnh trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin chính xác liên quan đến hồ sơ giải thể Cụ thể, nếu hồ sơ giả mạo hoặc không chính xác, các thành viên hội đồng quản trị, chủ doanh nghiệp, giám đốc hoặc người đại diện theo pháp luật phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, nợ lương, thuế chưa nộp và cá nhân phải chịu trách nhiệm pháp lý trong vòng 5 năm kể từ ngày nộp hồ sơ giải thể.

Trong quá trình doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, nhiều quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 về Giao dịch trên doanh nghiệp vẫn gây khó khăn và phiền hà cho cả doanh nghiệp lẫn cơ quan nhà nước có thẩm quyền Các quy định này còn bị đánh giá là chưa rõ ràng, thiếu hợp lý và gây cản trở trong quá trình thực thi pháp luật Mặc dù đã đạt được một số thành tựu, nhưng những tồn tại này cần được xem xét để hoàn thiện hơn về mặt pháp lý, đảm bảo tính rõ ràng và công bằng cho doanh nghiệp khi rút khỏi thị trường.

Thứ nhất, quy định về điều kiện giải thể còn khó triển khai trên thực tế

Về điều kiện giải thể doanh nghiệp (GTDN), nếu doanh nghiệp không thanh toán hết các khoản nợ trong vòng 180 ngày kể từ ngày thông báo quyết định giải thể, và cơ quan quản lý nhà nước không có biện pháp xử lý phù hợp.

29 Khoản 8 Điều 70 Nghị định 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 về đăng ký doanh nghiệp

30 khoản 2, khoản 3 Điều 210 Luật Doanh nghiệp năm 2020 lý DN nhận được ý kiến về việc GT của DN hoặc phản đối của bên có liên quan thì

DN vẫn không GT được

Việc yêu cầu doanh nghiệp thanh toán hết tất cả các khoản nợ trước khi nộp hồ sơ yêu cầu giải thể (HSGT) không phải là bắt buộc theo quy định Điều kiện đăng ký giải thể là doanh nghiệp đảm bảo thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác, có thể thông qua thỏa thuận chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho chủ sở hữu doanh nghiệp Trong trường hợp doanh nghiệp chưa lâm vào tình trạng phá sản và cả chủ nợ lẫn doanh nghiệp đều không có ý định yêu cầu mở thủ tục phá sản, việc đòi hỏi doanh nghiệp thanh toán toàn bộ nợ khi giải thể là không phù hợp, vì các biện pháp đảm bảo thanh toán khác có thể phù hợp hơn để bảo vệ lợi ích của tất cả các bên.

Thứ hai, vướng mắc trong thủ tục đăng ký giải thể doanh nghiệp trong trường hợp bị thu hồi GCNĐKDN hoặc theo quyết định của Tòa án

Các doanh nghiệp không thể rời khỏi thị trường cho đến khi tất cả các khoản nợ được trả hết, vì nếu không hoàn thành nghĩa vụ tài chính trong vòng 180 ngày, doanh nghiệp sẽ bị thay đổi tình trạng pháp lý Theo quy định, một doanh nghiệp chỉ có thể giải thể khi đảm bảo thanh toán đầy đủ tất cả các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của mình Trong trường hợp không thanh toán xong các khoản nợ trong thời hạn quy định, Cục Đăng ký kinh doanh sẽ tự động chuyển đổi trạng thái pháp lý của doanh nghiệp nếu không nhận được phản hồi từ các bên liên quan.

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP

3.2.1 Quy định về giải thể doanh nghiệp ở một số quốc gia

3.2.1.1 Pháp luật về giải thể doanh nghiệp của Vương quốc Anh

Tại Vương quốc Anh (UK), doanh nghiệp thực hiện giải thể khi không còn nhu cầu kinh doanh hoặc muốn chấm dứt hoạt động của mình Doanh nghiệp có thể bị giải thể nếu cơ quan quản lý tin rằng DN đã ngừng hoạt động trong vòng 3 tháng liên tiếp Quá trình giải thể giúp doanh nghiệp kết thúc các hoạt động kinh doanh một cách hợp pháp và đúng quy định của pháp luật Anh.

Một là, trường hợp doanh nghiệp thực hiện đăng ký giải thể

Trong trường hợp DN có nhu cầu thực hiện GT, DN có trách nhiệm thông báo cho các cá nhân, tổ chức có liên quan quyền lợi trực tiếp tới việc GT của DN như chủ nợ, thành viên DN, Cơ quan thuế và hải quan Vương quốc Anh (HMRC), các cơ quan quản lý tại địa phương, các hội đồng về đào tạo, hỗ trợ DN và các cơ quan chính phủ

DN có trách nhiệm hoàn thành đầy đủ các nghĩa vụ đối với các cá nhân, tổ chức liên quan trước khi thực hiện đăng ký giao dịch Sau ngày chính thức đăng ký giao dịch, tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp sẽ bị phong tỏa, và các khoản tín dụng tài sản của doanh nghiệp giải thể sẽ thuộc về nhà nước.

DN đăng ký giao thông phải điền HSGT và hồ sơ cần có chữ ký của một hoặc nhiều giám đốc, tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp Chi phí thực hiện thủ tục GT là 10 Bảng Anh (gần 300.000 VND), và khoản phí này không được thanh toán từ tài khoản công ty.

31 Khoản 2 Điều 209 Luật Doanh nghiệp năm 2020

32 Khoản 1 Điều 211 Luật Doanh nghiệp năm 2020

Trường hợp DN rút HSGT sau khi đã nộp cho Cơ quan quản lý DN thì cũng không được hoàn trả khoản phí GT đã đóng

Trong vòng 7 ngày kể từ ngày nộp HSGT, giám đốc doanh nghiệp có trách nhiệm gửi bản sao cho các cá nhân, tổ chức liên quan như thành viên Hội đồng thành viên, cổ đông, chủ nợ (bao gồm ngân hàng đối tác và nhân viên nếu còn nợ tiền lương), người cho thuê nhà đất, các bên bảo lãnh HMRC, Cục Quản lý lao động và Quỹ Phúc lợi, cùng nhân viên doanh nghiệp Đối với các giám đốc không ký tên vào Hệ thống Hồ sơ Thuế (HSGT), cũng cần thực hiện việc gửi bản sao theo quy định này để đảm bảo quyền lợi và thông tin minh bạch.

HSGT sẽ được Cơ quan quản lý DN xem xét, trường hợp hồ sơ được chấp thuận, Cơ quan này sẽ thực hiện các nhiệm vụ như sau:

● Ghi nhận thông tin tại hồ sơ và đưa vào dữ liệu công khai của DN

● Gửi thông báo ghi nhận việc GT tới địa chỉ ghi trên hồ sơ

● Gửi thông báo tới địa chỉ DN, cho phép DN phản hồi trong trường hợp HSGT là giả mạo

● Đăng công bố trên Cổng thông tin về DN 33 để các cá nhân, tổ chức liên quan có cơ hội phản đối quyết định giải thể doanh nghiệp

● Công bố thông tin trên Cổng vào dữ liệu công khai của DN

Nếu doanh nghiệp không nhận được phản đối về quyền truy cập dữ liệu (GTDN), cơ quan quản lý doanh nghiệp sẽ xóa tên doanh nghiệp khỏi cơ sở dữ liệu đăng ký không sớm hơn 2 tháng kể từ ngày thông báo Đây là quy trình đảm bảo quyền của doanh nghiệp trong việc kiểm soát thông tin cá nhân và tuân thủ quy định pháp luật Quá trình này giúp doanh nghiệp yên tâm về tính bảo mật và quyền riêng tư của dữ liệu đăng ký của mình.

DN sẽ chính thức GT trong thông báo khác trên Cổng thông tin DN

Trong trường hợp giám đốc doanh nghiệp vi phạm các quy định về giao kết thương mại, đặc biệt là việc không thông báo cho các cá nhân, tổ chức liên quan trong vòng 07 ngày, điều này có thể dẫn đến hậu quả pháp lý nghiêm trọng và ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp Việc tuân thủ các quy định về thông báo là yếu tố quan trọng để đảm bảo hoạt động kinh doanh diễn ra minh bạch, đúng pháp luật và giảm thiểu rủi ro phát sinh tranh chấp Do đó, giám đốc cần nắm rõ các quy định liên quan để tránh vi phạm và đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan.

DN có thể bị phạt tù lên tới 07 năm Trường hợp giám đốc vi phạm các quy định khác liên quan đến GTDN sẽ bị phạt tước điều kiện làm giám đốc DN trong 15 năm tiếp theo

Tuy nhiên, DN không đủ điều kiện để yêu cầu GT nếu trong thời gian 03 tháng gần nhất, DN có những hoạt động 34 sau:

- Thực hiện các hoạt động kinh doanh

Các hoạt động không liên quan trực tiếp đến mục đích giao dịch (GT) như đăng ký GT, thuê chuyên gia pháp lý tư vấn về GT, và thực hiện các thủ tục liên quan cần được thực hiện phù hợp quy định và đảm bảo tuân thủ pháp luật.

33 The Gazette: https://www.thegazette.co.uk/

Theo quy định tại các điều khoản 1004 và 1005 của Luật Công ty 2006 của Vương quốc Anh, việc nộp HSGT liên quan đến việc quản lý tài chính doanh nghiệp, bao gồm toán chi phí hợp lệ, giải quyết các khoản nợ trong kinh doanh, và đáp ứng các yêu cầu pháp lý bắt buộc Các quy định này đảm bảo hoạt động doanh nghiệp tuân thủ pháp luật, minh bạch tài chính và duy trì uy tín trên thị trường.

Thanh lý các tài sản có giá trị hoặc quyền lợi trước khi dừng hoạt động kinh doanh là một hoạt động quan trọng để tối ưu hóa giá trị doanh nghiệp Quá trình này giúp hạn chế thiệt hại và thu hồi vốn từ các tài sản đã sử dụng để tạo ra lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh thông thường Việc thực hiện thanh lý đúng quy trình không những giúp doanh nghiệp giảm bớt các khoản nợ tồn đọng mà còn duy trì năng lực tài chính để chuẩn bị cho các chiến lược kinh doanh mới trong tương lai.

Ngoài ra, DN không được thực hiện GT trong trường hợp:

- DN là chủ thể giải quyết các TT phá sản

- DN phải giải quyết các vướng mắc với chủ nợ, thành viên DN

- DN sở hữu cổ phiếu vô danh (những cổ phiếu không có thông tin chủ sở hữu là những cổ đông DN)

Hai là, trường hợp cơ quan quản lý DN yêu cầu GT

DN có thể được đề nghị GT trong trường hợp có đầy đủ lý do để tin rằng DN không còn thực hiện hoạt động kinh doanh như:

- DN không thực hiện nghĩa vụ gửi báo cáo tới CQĐKKD

- Thư gửi của CQĐKKD tới địa chỉ DN bị trả lại

- DN không có giám đốc

Trước khi giải thể doanh nghiệp, Cơ quan đăng ký kinh doanh (CQĐKKD) gửi hai thư thông báo chính thức tới địa chỉ đăng ký của doanh nghiệp để xác nhận hoạt động kinh doanh còn diễn ra Trong trường hợp doanh nghiệp không còn hoạt động, CQĐKKD sẽ công bố trên Cổng thông tin doanh nghiệp về việc xóa tên doanh nghiệp khỏi dữ liệu đăng ký, đồng thời đăng tải bản sao thông báo lên dữ liệu công khai của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp không phản đối việc giải thể trong thời gian hai tháng kể từ ngày gửi thông báo, CQĐKKD sẽ tiến hành xóa tên doanh nghiệp khỏi hệ thống.

3.2.1.2 Pháp luật về giải thể doanh nghiệp của Singapore

Tại Singapore, việc doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường được quy định rõ ràng dựa trên tình trạng kinh doanh và các vấn đề pháp lý liên quan Các lý do chính khiến doanh nghiệp phải thoái lui bao gồm những khó khăn về tài chính, không còn khả năng cạnh tranh và các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh Quy trình rút lui của doanh nghiệp được thực hiện theo các quy định pháp luật chặt chẽ nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan.

- DN đã dừng các hoạt động kinh doanh hoặc không có khả năng lợi nhuận

- DN không có khả năng thanh toán các khoản nợ

- DN có những tranh chấp không thể hòa giải giữa các cổ đông

- Việc tái cơ cấu về tổ chức, tài chính của công ty mẹ mà DN là thành viên

- DN gặp khó khăn trong kinh doanh và chủ DN không muốn tiếp tục chi phí duy trì

- DN vi phạm những quy định pháp luật

Có hai hình thức cho phép DN rút lui khỏi thị trường đó là GT và phá sản Trương tự như ở Việt Nam, GT và phá sản là hai quy trình pháp lý khác nhau để chấm dứt hoạt động DN Nhìn chung, GT là quy trình đơn giản hơn, nhanh chóng và ít tốn kém hơn Tuy nhiên, để thực hiện GT, DN cần phải đảm bảo các điều kiện nhất định theo quy định của Luật Công ty, cụ thể như sau:

- Công ty phải ngừng kinh doanh hoặc không kinh doanh bắt đầu từ ngày thành lập công ty

- Công ty không có tài sản và các khoản nợ phải trả trong hiện tại và tương lai Khi công ty nộp Biên bản kiểm toán cuối cùng thì Biên bản không có các tài sản và nợ phải trả Trường hợp Biên bản kiểm toán vẫn bao gồm tài sản và nợ phải trả, công ty phải nộp giấy tờ chứng minh tài sản đã được bố trí thanh lý và các khoản nợ đã được thanh toán hoặc đã được xóa nợ

- Giám đốc phải có được sự đồng ý bằng văn bản của đa số các cổ đông

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP

Sửa đổi, bổ sung quy định về điều kiện giải thể doanh nghiệp nhằm làm rõ thế nào được xem là “đảm bảo thanh toán” và hướng dẫn chi tiết về việc chuyển giao nghĩa vụ thanh toán giữa doanh nghiệp và chủ nợ Việc này giúp thúc đẩy nhanh thủ tục giải thể doanh nghiệp, đặc biệt trong trường hợp doanh nghiệp và chủ nợ thỏa thuận chuyển giao nghĩa vụ thanh toán, giảm thiểu khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ Đồng thời, quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường một cách nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm chi phí khi không còn phù hợp hoặc cần thiết để duy trì hoạt động.

Vào thứ hai, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cần ban hành các quy định về “thủ tục đặc biệt” để xử lý hiệu quả các vướng mắc liên quan đến quy trình thực hiện giao dịch, đảm bảo tiến trình diễn ra thuận lợi và đúng quy định pháp luật Các quy định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bên liên quan, giảm thiểu thời gian và thủ tục phức tạp trong quá trình tiến hành giao dịch Việc áp dụng các thủ tục đặc biệt sẽ giúp giải quyết nhanh chóng các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và thúc đẩy hoạt động giao dịch diễn ra suôn sẻ, minh bạch.

DN bị thu hồi Giấy đăng ký kinh doanh khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của các bên liên quan, đặc biệt là trong các giao dịch mua bán nợ của các tổ chức tín dụng Việc này đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật và duy trì tính minh bạch trong hoạt động kinh doanh.

Việc áp dụng các quy định này vào thực tiễn giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro khi rút lui khỏi thị trường, từ đó tăng cường khả năng bảo vệ lợi ích và duy trì hoạt động ổn định Áp dụng đúng quy định còn hỗ trợ doanh nghiệp hạn chế thiệt hại tài chính và pháp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tái cơ cấu hoặc chuyển đổi doanh nghiệp một cách an toàn Việc này không những giúp doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn các rủi ro tiềm ẩn mà còn thúc đẩy sự minh bạch, cạnh tranh lành mạnh trên thị trường.

Thời gian gia hạn GT không chỉ giúp doanh nghiệp có thêm thời gian để thích nghi mà còn góp phần tạo môi trường kinh doanh thương mại ổn định Điều này hỗ trợ các chủ doanh nghiệp sớm quay trở lại thị trường, duy trì hoạt động kinh doanh hiệu quả và thúc đẩy sự phát triển bền vững.

Thứ ba, cần có thêm quy định về xác định thời gian cụ thể mà DN ra QĐGT

Thời điểm doanh nghiệp QĐGT được xác định khi Cơ quan đăng ký kinh doanh (CQĐKKD) nhận được quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (GCNĐKDN) của doanh nghiệp hoặc khi hết thời hạn 10 ngày kể từ ngày doanh nghiệp nhận quyết định Đồng thời, CQĐKKD cần cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trong vòng 01 ngày kể từ thời điểm trên để đảm bảo thông tin pháp lý luôn chính xác và kịp thời.

Ngoài ra, cũng cần hoàn thiện hơn quy định về trình tự, thủ tục GTDN để rút ngắn thời gian rút lui khỏi thị trường, giúp chủ DN sớm quay lại hoạt động Cụ thể, nên thực hiện đồng thời thủ tục tiến hành GT chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của DN và thủ tục GTDN trong trường hợp DN quyết định GT dẫn đến việc chấm dứt hoạt động của các đơn vị phụ thuộc Tức là, khi GTDN, DN chỉ cần thực hiện thủ tục GTDN thì đồng thời các đơn vị phụ thuộc cũng GT theo Nếu GTDN dẫn tới GT đơn vị phụ thuộc thì quyết định GTDN sẽ bao gồm cả nội dung về GT các đơn vị phụ thuộc Khi đó, CQĐKKD phải gửi QĐGT của DN tới Sở kế hoạch và đầu tư nơi DN đặt đơn vị phụ thuộc để phối hợp thực hiện GT đồng thời cả DN và các đơn vị phụ thuộc Còn trong trường hợp chỉ có các đơn vị phụ thuộc GT thì chỉ thực hiện duy nhất TT chấm dứt hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của DN.

KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP

Thứ nhất, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về GTDN

Hiểu biết của doanh nghiệp về luật doanh nghiệp và pháp luật liên quan hiện còn nhiều thiếu sót, dẫn đến nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng vi phạm pháp luật Chính vì vậy, từng doanh nghiệp nên có bộ phận pháp chế riêng để đảm bảo tuân thủ pháp luật trong hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, do đa số doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam chưa có bộ phận pháp lý độc lập, hiệu quả thi hành pháp luật còn hạn chế Cần nâng cao kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp thông qua các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật, hội thảo, diễn đàn để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp chủ động tiếp cận và hiểu rõ quy định pháp luật, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý và tuân thủ pháp luật trong hoạt động kinh doanh.

Thứ hai, nâng cao ý thức, trách nhiệm của DN trong việc chấp hành pháp luật nói chung và quy định về GTDN nói riêng

Các doanh nghiệp cần thay đổi tư duy và phong cách làm việc với cơ quan nhà nước để thúc đẩy sự hợp tác hiệu quả dựa trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi Doanh nghiệp không nên giữ tâm lý phòng thủ hay ngại va chạm mà hãy chủ động chia sẻ, yêu cầu hướng dẫn khi cần thiết, đồng thời nâng cao hiệu quả tổ chức, quản lý kinh doanh và không ngừng đổi mới, cải tổ bộ máy nhân sự cũng như chiến lược phù hợp với tình hình kinh tế Việc tuân thủ đúng các quy định pháp luật là yếu tố then chốt để tránh rơi vào các tình huống bị cưỡng chế thi hành Trong trường hợp doanh nghiệp quyết định chấm dứt hoạt động, cần chủ động tìm hiểu và nhờ tư vấn từ cơ quan nhà nước hoặc các đơn vị tư vấn để quá trình giải thể diễn ra nhanh chóng, kinh tế và không gây ảnh hưởng tiêu cực đến các bên liên quan.

Các cơ quan nhà nước cần hợp tác và hướng dẫn doanh nghiệp để nâng cao nhận thức về thực thi pháp luật thông qua các hoạt động như tổ chức gặp mặt, hội thảo và tọa đàm Những hoạt động này tạo ra môi trường tương tác, giúp phổ biến các điểm mới, sửa đổi về các quy định pháp luật và văn bản hướng dẫn thi hành, đồng thời trao đổi khó khăn, vướng mắc cũng như đề xuất các giải pháp khắc phục hiệu quả.

Thứ ba, cần đề xuất các phương hướng giải quyết cụ thể và phù hợp nhằm thúc đẩy công tác giải quyết các vụ việc GTDN Việc rà soát và xử lý triệt để những vụ việc còn kéo dài, chưa có hướng xử lý rõ ràng sẽ giúp các nhà quản lý nhận diện các khó khăn, vướng mắc trong quá trình kiểm tra và xem xét các vụ việc mới tiếp nhận Đồng thời, những biện pháp này góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, thúc đẩy hiệu quả công tác giải quyết vụ việc GTDN.

Thứ tư, tập trung vào việc tích hợp nghiên cứu và xây dựng quy trình nội bộ nhằm cải thiện giải quyết thủ tục hành chính, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước Quá trình này giúp nâng cao hiệu quả công tác, đảm bảo sự thống nhất và minh bạch trong hoạt động hành chính, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.

Trong bất kỳ lĩnh vực nào của nền kinh tế, xử lý các tình huống liên quan đều cần quy trình phù hợp và tối ưu hóa thời gian thực hiện Ở Việt Nam, thủ tục giải thể doanh nghiệp (GTDN) đã được triển khai theo cơ chế một cửa và một cửa liên thông, mang lại nhiều thành tựu đáng kể Tuy nhiên, với xu hướng phát triển không ngừng, nhà quản lý cần nghiên cứu và đưa ra các phương án đơn giản hóa quy trình kê khai và quyết toán thuế sau khi doanh nghiệp quyết định giải thể Đồng thời, các cán bộ, công chức tham gia giải quyết thủ tục GTDN cần đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn, năng lực xử lý tình huống và khả năng sáng tạo để nâng cao hiệu quả công tác giải thể doanh nghiệp.

Ngày đăng: 16/03/2023, 12:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tư pháp, Ban quản lý chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho DN giai đoạn 2015-2020, GT và phá sản DN những vấn đề cần lưu ý, NXB Công Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: GT và phá sản DN những vấn đề cần lưu ý
Tác giả: Bộ Tư pháp, Ban quản lý chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho DN giai đoạn 2015-2020
Nhà XB: NXB Công Thương
2. Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý. Từ điển Luật học, NXB Tư pháp phối hợp với NXB Từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý
Nhà XB: NXB Tư pháp
3. Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Tình hình đăng ký doanh nghiệp năm 2019, 30/12/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình đăng ký doanh nghiệp năm 2019
Tác giả: Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Năm: 2019
4. Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Tình hình đăng ký doah nghiệp tháng 12 và năm 2020, 28/12/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình đăng ký doah nghiệp tháng 12 và năm 2020
Tác giả: Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Năm: 2020
5. Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Tình hình đăng ký doanh nghiệp tháng 12 và năm 2021, 31/12/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình đăng ký doanh nghiệp tháng 12 và năm 2021
Tác giả: Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Năm: 2021
6. Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Tình hình đăng ký doanh nghiệp tháng 3 và quý I/2022,30/03/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình đăng ký doanh nghiệp tháng 3 và quý I/2022
Tác giả: Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Năm: 2022
7. Đặng Văn Hiệp (2020). Giải thể doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 từ thực tiễn tại tỉnh Sơn La, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải thể doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 từ thực tiễn tại tỉnh Sơn La
Tác giả: Đặng Văn Hiệp
Nhà XB: Trường đại học Luật Hà Nội
Năm: 2020
8. Hà Thị Ngọc Mai (2020). Pháp luật về giải thể doanh nghiệp và thực tiễn tại tỉnh Lạng Sơn, Luật văn thạc sĩ Luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật văn thạc sĩ Luật học
Tác giả: Hà Thị Ngọc Mai
Nhà XB: Trường đại học Luật Hà Nội
Năm: 2020
9. Hoàng Phê (2003) chủ biên, Viện Ngôn ngữ học. Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w