TỪ ẤY TỪ ẤY I MB Tố Hữu (1920 2002) là nhà thơ lớn, 1 trong những lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng VN Con đường nghệ thuật gắn bó song hành với con đường cách mạng , thơ Tố Hữu là thành tựu tiêu biể[.]
Trang 1TỪ ẤY
I MB:
Tố Hữu (1920-2002) là nhà thơ lớn, 1 trong những lá cờ
đầu của nền thơ ca cách mạng VN Con đường nghệ thuậtgắn bó song hành với con đường cách mạng , thơ Tố Hữu
là thành tựu tiêu biểu của thơ ca trữ tình chính trị Tố Hữu
đã thể hiện niềm vui lớn, lẽ sống lớn, t/cảm lớn của c.ngc/m VN bằng 1 tiếng thơ tha thiết, đằm thắm, chân thành
"Từ ấy" là 1 trong những thi phẩm của phong cách ấy,
được viết nhân 1 sự kiện trọng đại, ghi nhận kỉ niệm sâu
sắc trong cuộc đời CM của nhà thơ: được đứng vào hàngngũ của Đảng Bài thơ có ý nghĩa mở đầu cho con đườngcách mạng, con đường thi ca của Tố Hữu, nó là tuyên ngôn
về lẽ sống của một người chiến sĩ cách mạng, cũng là tuyênngôn nghệ thuật của nhà thơ Mạch cảm xúc của thi phẩm
đi từ t/cảm cá nhân đến t/cảm giai cấp và cuối cùng làt/cảm gđ ruột thịt Đó cũng chính là mạch chảy dạt dào từt.y lớn đến lẽ sống lớn, là hành trình cái tôi cá nhân bước rakhoi giới hạn chật hẹp để hòa mình vào thế giới của cái tachung rộng lớn, là sự chuyển biến trong nhận thức, t/cảmcủa ng thanh niên tí thức tiểu tư sản với sự t/động kì diệucủa lí tưởng cộng sản
II TB:
1 Khổ 1: Bài thơ mở đầu bằng 1 niềm vui lớn, 1 tiếng reo náo nức, say mê khi cái tôi thi nhân – chiến sĩ đc giác ngộ lí tưởng Đảng.
- Bằng giọng hồi tưởng và bút pháp tự sự, nhà thơ đã kể lại
1 kỉ niệm sâu sắc kbh quên:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạMặt trời chân lí chói qua tim
Trang 2+ 2 tiếng "từ ấy" gợi ra 1 thời điểm, 1dấu mốc đặc biệtq.trọng có t/chất bước ngoặt trong cuộc đời con ng Với
Tố Hữu đó chính là thời điểm nhà thơ đc vinh dự đứngtrong hàng ngũ của Đảng – đội tiên phong của giai cấpcông nhân Và từ ấy nhà thơ đã tìm đc đường đi, lẽ sốngđời mình Đó là 1 niềm vui lớn lao đc diễn tả ấn tượngbằng những h.ả ẩn dụ đẹp đẽ
+ Nắng hạ là ánh nắng chói chang, nóng bỏng của 1 ngày
hè, khác hẳn với nắng xuan dịu dàng, nắng thu vàng mậthanh hao Dùng nắng hạ để chỉ ánh sáng của lí tưởng, nhàthơ muốn khẳng định đó là nguồn sáng mạnh có thể lmbừng sáng tâm hồn
+ Sau nắng hạ, mặt trời chân lí x.hiện tự nhiên và giàu cảmxúc Đó cũng là ẩn dụ đầy ý nghĩa Mặt trời chân lí k chỉtỏa ra ánh sáng cho con ng bằng đạo lí tốt đẹp của cuộc đời, thổi bừng lên sức sống Gọi ánh sáng lí tưởng của Đảng làmặt trời chân lí, ng chiến sĩ trẻ muốn ngợi ca nguồn sángthiêng liêng, kì diệu đã tỏa rạng, soi sáng đời mình 1 cách
ân tình và tôn kính
+ Phút giây bắt gặp lí tưởng trở thành thời khắc bừng nắng
hạ chói qua tim Những động từ mạnh "bừng", "chói" đãdiễn tả ảnh hưởng, tác động lớn lao của nguồn ánh sángchân lí đối với nhà thơ Nguồn sáng đột ngột có sức xuyênthấu mạnh mẽ ấy đã bừng chiếu cõi hồn ng trí thức tiểu tưsản, xua tan sương mù, mở ra chân trời mới của nhận thức,t/cảm
- Mặt trời, ánh nắng đã đem lại sự sống Tâm hồn nhà thơhóa thành 1 khu vườn tưng bừng sức sống:
Hồn tôi là một vườn hoa láRất đậm hương và rộn tiếng chim
Trang 3+ Với NT so sánh, nhà thơ đã cụ thể hóa thật sinh độngniềm vui sướng hân hoan của tâm hồn mình khi đc giácngộ lí tưởng c/m.
Niềm vui hóa thành âm thanh rộn ràng như chim hót,thành sắc lá, sắc hoa tươi xanh rực rỡ, thành hương thơmlan tỏa ngọt ngào
+ Lối vắt dòng từ câu thơ thứ 3 tràn xuống câu thứ 4 nhưtái hiện âm thanh của 1 tiếng reo phấn khởi, hân hoan phơiphới Đó là 1 tiếng reo tự sâu thẳm trái tim trước 1 niềmvui lớn lao k kìm nén nổi mà buột thốt thành lời
2 câu đầu sử dụng bút pháp tự sự, 2 câu sau dùng bútpháp trữ tình, sự kết hợp ấy giúp nhà thơ vừa hồi tưởng, kểlại 1 s.kiện trọng đại của đời mình, vừa thể hiện lòng biết
ơn chan chứa đối với Đảng Đảng đã cho ng thanh niênsáng mắt sáng lòng, đã thổi bừng lên niềm vui sống say
mê, đã khai sáng hồn thơ để nó cất lên thành 1 âm điệuchung – âm điệu ngợi ca lí tưởng c/m
2 Khổ 2 : Từ niềm vui lớn, nhà thơ đã nhận thức về 1 lẽ sống lớn và tư nguyện gắn bó chan hòa với quần chúng nhân dân lao khổ.
- Nhờ sự soi đường của ánh sáng chân lí, ng thanh niên tríthức tiểu tư sản đã nhận thức thông suốt mqh giữa cái tôiriêng và cái ta chung, giữa cá nhân và tập thể để từ đó x.đcho mình 1 lẽ sống mới
Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời
+ Chữ "buộc" cho thấy ý thức trách nhiệm cao độ của ngthanh niên trí thức khi đã giác ngộ lí tưởng cách mạng
Trang 4Anh buộc lòng mình với cuộc đời bằng cả ý thức, cả tấmlòng, cả tâm hồn Đó cũng là cách nhà thơ đến bên, gắn bóvới cđ.
+ Cách diễn tả "để tình trang trải với trăm nơi – để hồn tôivới bao hồn khổ" khẳng định 1 tâm thế hòa nhập chânthành và hội nhập Cái tôi thi sĩ – chiến sĩ đag chủ động vàkhát khao mở rộng tấm lòng chia sẻ chan hòa, đồng điệu vàgắn bó với cđ Tình chia trăm ngả, hồn đến muôn nơi đểlắng nghe, thấu nhận những vang động của cđ Đó là hànhtrình của lối sống, lẽ sống cao đẹp
+ Khổ thơ kết thúc bằng 1 h.ả đầy ý nghĩa "Khối đời" là 1tập thể ng đông đảo, cùng chung cảnh ngộ, đoàn kết chặtchẽ với nhau, cùng phấn đấu vì 1 mục tiêu chung Đó là 1khối liên kết gắn bó k thể tách rời Vậy là t/cảm giữa con
ng với con ng đã ptr thành tình hữu ái giai cấp Hòa nhịpvào khối đời chung của quần chúng lao động, ng chiến sĩsâu sắc về sức mạnh của đoàn kết Đó cũng sẽ là nguồn sứcmạnh quí giá sẽ cổ vũ, nâng đỡ để ng chiến sĩ thêm vữngvàng trên con đg c/m đầy gian khổ trước mắt
Đến khổ thơ thứ 2, nhà thơ đã bước ra khỏi TG nhỏ hẹpcủa cá nhân, đặt mình giữa dòng đời, giữa trường hoạtđộng rộng lớn, sôi nổi củ quần chúng Người chiến sĩ trẻ đãtìm thấy niềm vui, ý nghĩa sự sống và sức mạnh đấu tranh
k chỉ bằng nhận thức sâu sắc mà bắng cả sự giao cảm củacon tim Vì thế, khổ thơ k chỉ là tuyên ngôn về lẽ sống của
1 c.ng mà còn là tuyên ngôn của 1 nhà thơ c/m
Tố Hữu đã khẳng định mối liên hệ sâu sắc giữa thơ ca vàcsống mà đặc biệt là cs của quần chúng nhân dân
3 Khổ 3: Từ ấy k chỉ là phút giây vỡ òa niềm vui lớn, giác ngộ lẽ sống lớn mà còn là khoảnh khắc chan hòa của t/cảm lớn
Trang 5- Chủ động và khát khao mở rộng tấm lòng mình, cái tôi ngthanh niên trí thức tiểu tư sản đã gần gũi đến mức trở thànhruột thịt của khối đời chung:
Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm, cù bất cù bơ
+ Nếu ở khổ thơ thứ 2, nhà thơ xưng tôi với m.n thì đếnkhổ thơ cuối, cách xưng hô đã hoàn toàn thay đổi Con,
em, anh là những từ chỉ quan hệ ruột thịt, khi lí tưởng cộngsản soi chiếu cũng là lúc ng chiến sĩ trẻ vượt ra khỏi giớihạn chật chội của t/cảm cá nhân ích kỉ, hẹp hòi để đến vớiquần chúng nhân dân lao động bằng tình hữu ái giai cấp
Và hơn thế, bằng tình thân, t/cảm gđ máu thịt
+ Cách diễn đạt: "tôi đã là con là em là anh " khẳngđịnh 1 sự chuyển biến mạnh mẽ, sâu sắc trong nhận thức,đsống t/cảm của ng thanh niên Đứng trong hàng ngũ củaĐảng, trở thành chiến sĩ cộng sản là trở thành 1 thành viêncủa đại gđ quần chúng c/m
+ h.ả vạn nhà, vạn kiếp phôi pha, vạn đầu em nhỏ chỉ đơnthuần chỉ số nhiều, khái quát 1 tập thể đông đảo những con
ng đói cơm rách áo, vất vưởng lầm than mà còn thể hiệnniềm xúc động chân thành của nhà thơ khi nhắc tới nhữngkiếp sống đau khổ của đồng bào mình Đó còn là lòng cămgiận trước những bất công ngang trái trong cđ cũ đối vớinhững đau đớn của giống nòi Sự đồng cảm xót thươngchân thành đi liền với lòng căm giận trở thành động lực để
ng chiến sĩ dấn thân vào con đg c/m đầy chông gai, giankhổ để đấu tranh đòi lại lẽ công bằng vì những kiếp phôipha dầm sương dãi nắng, vì những em nhỏ cù bất cù bơ nơiđầu đường xó chợ, vì thân phận tủi nhục của những ng dân
Trang 6mất nước Ng chiến sĩ c/m đã và sẽ hăng say hoạt động đểmang lại c.đ mới cho nhân dân Với ng chiến sĩ trẻ, nhữngc.ng mới là đối tượng thôi thúc những hành động đ.tranhc/m, còn đối với nhà thơ Tố Hữu, những thân phận ấy sẽ làđối tượng, là nguồn cảm hứng của thơ ca Và quả thực, TốHữu đã làm vậy trong suốt đời c/m và cả đời thơ Bao kiếpphôi pha đã đi vào thơ ông đầy xót xa, tiếc nuối
Nếu thơ mới là sự bùng nổ cái tôi cá nhân mang đến chov.học 1 cái nhìn mới, quan niệm thẩm mĩ mới thì thế giớithơ Tố Hữu lại tạo đc 1 sức thu hút khác mãnh liệt hơn Đó
là sức hấp dẫn của 1 thế giới quan, 1 nhân sinh quan c/mkhỏe khoắn, tiến bộ Nếu cái tôi lãng mạn trong thơ mới làcái tôi sầu buồn, cô đơn, bế tắc thì trong thơ Tố Hữu, đó làcái tôi chiến sĩ giác ngộ lí tưởng hòa vào cái ta chung của
dt, đất nước để tìm thấy sức mạnh mới, cống hiến cuộc đờimình chiến đấu để giải cứu nhân dân
III KB:
Ra đời giữa lúc thơ mới đạt đến cực thịnh, "từ ấy" chính
là thành tựu mở đầu của dòng thơ ca c/m Bằng giọng điệusay mê, sôi nổi, ngôn ngữ giàu tính nhạc, h.ả tươi sáng vànhững ẩn dụ so sánh ý nghĩa Tố Hữu đã diễn tả thật sinhđộng, thấm thía những cung bậc cảm xúc đang xáo động,ngân rung trong tâm hồn ng chiến sĩ trẻ đc giác ngộ lítưởng Đảng Bài thơ chính là lời tâm nguyện đứng vàohàng ngũ những ng c/m tiên phong để gánh trên vai mìnhtrọng trách chiến đấu vì nhân dân, đất nước
Trang 7
ĐÂY THÔN VĨ DẠ
I MB:
Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) đc xem là htượng thơ kì lạ
và bậc nhất của ptrào thơ mới Sớm duyên nợ với thi ca,tuy cđ có nhiều bi thương nhưng ông là nhà thơ có sứcsáng tạo mạnh mẽ Thơ HMT chia làm 2 mảng khá rõ ràng:những bthơ điên loạn ma quái và những bthơ tươi sángtrong trẻo Tuy nhiên, xuyên qua diện mạo phức tạp ấy ngđọc vẫn thấy 1 t.y đau đớn đến tuyệt vọng hướng về cđ trầnthế "ĐTVD" nằm ở phần đầu tập "Đau thương" (1983)là 1trong những thi phẩm tiêu biểu nhất cho phong cách thơHMT
Bài thơ đc khởi nguồn cảm hứng từ bức bưu ảnh mà Hoàng Cúc – ng thiếu nữ Vĩ Dạ, ng tình trong mộng của
nhà thơ gửi tặng T.y thầm lặng chưa kịp tỏ bày, thi nhân
đã mắc bệnh nan y phải sống cách biệt tại trại phong QuiHòa Bệnh tật quái ác hành hạ thể xác, t.y tuyệt vọng lmđau đớn tâm hồn, 1 c.ng tài hoa, yêu đời, tha thiết sống lại
bị đẩy vào lãnh cung chia lìa Mặc cảm chia lìa thấm đẫmcảm quan HMT Bởi thế, đến với "ĐTVD" ng đọc dễ nhận
ra cả cảnh và ng đều thật đẹp nhưng thật xa vờ, hư ảo.Cảnh Vĩ Dạ, ng Vĩ Dạ vừa như hồi quang lung linh của quákhứ, vừa như niềm khát mơ kbh thành hiện thực của nhàthơ
II TB:
1 Khổ 1:
Bài thơ mở ra bằng cảnh vườn Vĩ Dạ trong buổi mai thanhtân và niềm băn khoăn day dứt, tiếc nuối, khát khao của cáitôi trữ tình HMT
- Vĩ Dạ là 1 miền quê xứ Huế nằm bên bờ sông Hương
hiền hòa, thơ mộng, 1 miền đất với đặc trưng kiến trúc nhà
Trang 8vườn độc đáo, 4 mùa cây trái xinh tươi Với HMT, Vĩ Dạ
là 1 địa chỉ đặc biệt Đó là nơi có ng hằng yêu dấu, nơi thinhân khao khát muốn về mà có lẽ chẳng bao giờ còn cơhội Bởi thế, bài thơ bắt đầu bằng câu hỏi nhiều sắc thái:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
vừa hỏi, vừa nhắc nhở, vừa như trách móc nhẹ nhàng lạivừa như ân cần mời mọc, lời của ai thế? K phải lời của ng
từ Vĩ Dạ Cái tôi trữ tình đang phân vân để tự vấn, tự hỏimình cũng là trách mình, đầy day dứt và tiếc nuối Từ câuhỏi mở đầu có thể thấy Vĩ Dạ thuộc về quá khứ, nơi cần về,
có thể về nhưng đã k về Đó là địa chỉ hoài niệm, khátkhao, ước mơ, vọng tưởng
- Sau câu mở đầu như 1 cửa ngõ về thôn Vĩ, ở 3 câu tiếp
cảnh vườn tược Vĩ Dạ hiện ra thật tinh khôi, đẹp đẽ đến lạlùng Đó là những khung hình đẹp đc lưu giữ ở bề sâu kí
ức hiện về qua lăng kính của lòng yêu:
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Vườn Vĩ Dạ hiện ra trước hết với sắc nắng Đó là nắnghàng cau, nắng ở trên cao, chưa chạm mặt đất, chưa vướngbụi, vì thế mà thanh sạch, tinh khôi, tinh khiết "Nắng mớilên" những tia nắng đầu tiên của 1 bình minh vừa ló rạng,chạm tới và đọng trên những tán cau còn đẫm sương đêm
2 chữ "nắng" điệp lại và tiếp ứng nhau làm cho câu thơtràn ngập sắc nắng riêng của Vĩ Dạ trong trẻo, dịu dàng,tinh nguyên, ấm áp Câu thơ gieo vào lòng ng đọc 1 ấntượng đặc biệt về ban mai Vĩ Dạ - 1 ban mai thanh tân,thoáng đãng, thanh tú, gợi cảm
+ Câu thơ thứ 3 lại là 1 ấn tượng đậm nét về sắc màu Vĩ
Dạ Hai từ "mướt quá" làm ánh lên vẻ mượt mà, óng ả đầy
Trang 9xuân sắc và ta thấy đc sự thích thú của thi nhân trước vẻngọc ngà, tươi tắn của vườn xưa "Xanh như ngọc" là 1 sosánh lạ, với so sánh ấy vườn Vĩ Dạ k chỉ có màu mà còn cóánh, 1 ánh xanh ngời sáng, long lanh Cả khu vườn đc tắmgội bởi sương đêm đang chìm trong giấc ngủ đc đánh thức
và bừng lên trong nắng mai – 1 vẻ đẹp giản dị mà cao sang,đơn sơ mà lộng lẫy
+ Khổ thơ khép lại bằng 1 h.ả gợi nhiều đoán định: "Lá
trúc che ngang mặt chữ điền" Đó là khuôn mặt của ng thôn
Vĩ hay ng về thôn Vĩ Chỉ biết rằng trong tâm thức ÁĐông, mặt chữ điền bao giờ cx là hiện hữu của vẻ đẹp phúchậu, thuần phác Khuôn mặt chữ điền thấp thoáng saunhững phiến lá mỏng manh của cành trúc theo hướng cáchđiệu hóa, gợi 1 vẻ đẹp riêng vừa hồn hậu, trong lành, vừa e
ấp dịu dàng, kín đáo Đó phải chăng là dáng nét riêng của
Vĩ Dạ, của xứ Huế "dịu dàng pha lẫn trầm tư" mà HMT 1thời say mê đắm đuối?
- Tâm trạng của nhà thơ: Như đã nói Vĩ Dạ là những tia
hồi quang của q.khứ, những hồi quang luôn lung linh trongtiềm thức Đó là 1 vùng đất đã xa, đang xa và sẽ vĩnh viễnlìa xa Thế nên cả cảnh và ng hiện lên đều thật đẹp, càngđẹp càng khát khao Nhưng càng khát khao hoài vọng cangđau đớn, tiếc nuối Trong tâm thức ng thơ, vườn Vĩ Dạchưa phải là "vườn em" mà là "vườn ai" Cách nói phiêmchỉ gợi cảm giác xa vời, diệu vợi, mơ hồ Chốn nước nonthanh tú ấy như đang lùi xa, tước khỏi tầm tay Vì thế 2tiếng "vườn ai" vang lên vừa ngậm ngùi vừa xót xa Tất cảvẫn đẹp đẽ, lộng lấy thế mà đã thuộc về ai đó Thế nên cóthể thấy hình bóng con ng thấp thoáng, ẩn khuất sau cây lákia là sản phẩm của mặc cảm chia lìa, xh mà k lộ diện, khátkhao mà chẳng thể đến gần, chạm tới
Trang 10Như vậy, ở khổ thơ thứ nhất, qua lăng kính của mặc
cảm chia lìa và t.y tuyệt vọng cảnh Vĩ Dạ trong khoảnhkhắc hừng đông hiện ra đơn sơ mà vô cùng lộng lẫy Đó làkhu vườn trần tươi tắn, 1 chốn nước non thanh tú, 1 niềmkhát mơ, day dứt khôn nguôi trong trái tim ng thơ HMT
2 Khổ 2:
Có thể nói bức tranh TN ở khổ 2 vẫn rất đẹp bởi có gió, cómây, có hoa, có sông, có bến, có thuyền Ngay cả cách cảmthụ vẫn rất đẹp: thuyền chở trăng, bến sông trăng Tuynhiên, cảnh tuyệt đẹp mà đầy hư ảo, thơ mộng lung linh màthấm đẫm nỗi buồn:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
- Nếu như khổ 1 là cảnh vườn tược thôn Vĩ xinh xắn, tươi
tắn, tinh khôi thì 2 câu đầu của khổ thơ thứ 2 lại gợi tả cảnhsông nước Vĩ Dạ phai tàn, phiêu tán Mây, gió trong tựnhiên vốn song hành, gắn kết Gió thổi, mây bay đồnghành, đồng hướng Nhưng trong câu thơ, qua cảm quanHMT lại bị chia lìa đổi ngả: gió theo lối gió, mây rẽ đườngmây
Tan tác chia lìa của gió mây hay tang thương, đau đớn củac.ng còn trẻ tuổi, trẻ lòng, khát khao gắn bó, giao hòa mà bịđẩy vào lãnh cung cô đơn, tuyệt vọng?
- Tiếp tục cái thế chia lìa, mất mát, dòng nước cũng đang
trôi đi Câu thơ thứ 2 tả sông nhưng k mang đến sự vậnđộng của dòng chảy.Với NT nhân hóa, nhà thơ ghi lại trạngthái tinh thần của con nước như 1 sinh thể có hồn Hai chữ
"buồn thiu" đặt giữa dòng thơ vừa thể hiện đc điệu chảylững lờ, vừa diễn tả nỗi buồn thăm thẳm đến ngẩn ngơ, tê
Trang 11dại của dòng sông Đó là nỗi buồn cố hữu trong lòng tạovật hay dòng tâm tư trĩu nặng miên man dằng dặc từ hồn
ng đang tan chảy, thấm sâu vào cảnh vật Trong bức tranhcủa gió mây chia lìa dòng nước buồn thiu, h.ả hoa bắp lay
là 1 nét buồn phụ họa thêm, lay mà k động, lay lắt vật vờ
vô hồn vô lực, 1 động thái gợi cảm giác hắt hiu, mỏi mòn,thẫn thờ, uể oải Đó phải chăng là điệu hồn thi nhân, 1 linhhồn mang nặng nỗi sầu li tán và mặc cảm chia lìa ẩn dấuđắng sau bức tranh sông nc để rồi cất lên trong câu hỏi đầykhắc khoải:
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Có lẽ trong nỗi hoài niệm, khát mơ của HMT, những đêmtrăng Vĩ Dạ là 1 ấn tượng đặc biệt sâu đậm, thế nên vẻ đẹplung linh diễm ảo ấy đã đc thể hiện bằng 2 câu thơ tài hoabậc nhất của HMT cũng như ph.trào thơ mới
+ Sông trăng là 2 thực thể xh nhiều trong thơ, trc mặt ng
đọc là h.ả thật thi vị - 1 dòng sáng lấp lánh đầy hư ảo đangtuôn chảy khắp không gian
+ Bến sông trăng cx là 1 hình tượng kết hợp với lối nói
phiếm chỉ, "thuyền ai" gợi bao ngỡ ngàng bâng khuâng vừaquen vừa lạ man mác như điệu hò xứ Huế
+ Thuyền, bến, sông, trăng là biểu tượng của ng con trai,
con gái, là hp lứa đôi, trăng là nhân chứng cho đôi lứa hẹn
hò đính ước, thuyền chở trăng là thuyền chở t.y, bến trăng
là bến bờ hp Hơn thế, HMT là nhà thơ suốt đời xoay tìm,ngưỡng vọng cái đẹp, trăng còn là hiện thân của cái đẹpsáng láng trong trẻo vĩnh hằng Trong xu thế, vạn vật đềuchảy trôi mất mát Tử đợi trăng về như là để ngưỡng vọng
sự sống nhưng liệu con thuyền đó có vượt thời gian để kịpbến bờ hay k? Chữ "kịp" cho ta thấy 1 mặc cảm, 1 mặc
Trang 12cảm về h.tại ngắn ngủi, hé mở cho ta thấy 1 cách sống –sống là chạy đua với thời gian Nếu xây dựng vội vàng đểchạy đua với thời gian là để tận hưởng mọi hp nơi thiênđường trần thế thì HMT hối hả, khẩn thiết chỉ là để đc đếnbên c.đ, được sống 1 ước mong thật nhỏ bé đơn sơ sao quáđỗi xa vời Nhận thức giết sống thực tại đau thương ,vớiHMT tối nay sẽ là những khoảnh khắc cuối cùng Giới hạnthời gian thật ngắn ngủi, nếu kịp tâm trạng bi kịch sẽ đchóa giải còn nếu k sẽ hoàn toàn lâm vào tuyệt vọng vĩnhviễn đau thương Câu thơ cuối vì thế mang âm điệu thậtkhắc khoải, xót xa Khắc khoải bởi niềm ngóng trông dadiết đến cháy lòng, xót xa bởi những hoài vọng vừa buônglơi lại chới với, hụng hẫng, hi vọng vừa nhóm lên tuyệtvọng đã bắt đầu.
Ẩn mình hòa điệu vào bức tranh sông nc ở khổ thơ thứ
2 là niềm tâm tư sâu kín của 1 thân phận đau thương, cungtrầm là 1 cung đàn bạc mệnh Đó là 1 nỗi buồn chia lìavĩnh biệt,1 ước mong khẩn thiết vừa dâng lên đã hóa thành
1 hoài vọng chới với nghẹn ngào 1 khát khao cháy bỏngcùng những dự cảm bất an đến lo âu thảng thốt về hp ty sựsống Dưới lăng kính ấy, cảnh vật hiện ra dẫu lung linh thơmộng nhưng đã b.đầu mờ nhạt
3 Khổ 3:
Trong vận động của ngoại cảnh, khổ thơ thứ 3 là 1 cảnhgiới h.toàn khác
Nếu cảnh vật ở khổ 1, khổ 2 còn có liên tưởng tương cận –
Vĩ Dạ hừng đông vào đêm trăng thì đến khổ cuối của thiphẩm tất cả đã h.toàn thuộc về cõi mơ, nhạt nhòa ảo mộng
- Mở đầu khổ thơ là sự x.h của c.ng trong mộng tưởng:
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn k ra.
Trang 13+ Câu thơ thứ nhất mở ra 2 cách hiểu Nhà thơ mơ tưởng,
ước ao trở thành khách đường xa trong hành trình về Vĩ Dạhay trong giấc mơ hoa của thi nhân bỗng hiện ra hình bóng
ng xa Chữ "khách" hé lộ 1 tâm thế h.toàn xa cách HMTluôn ý thức khoảng cách vời vợi của mình và Vĩ Dạ nên ngxưa đã thành ng xa, tình xưa vẫn chỉ mãi mãi là tình xa.điệp ngữ "khách đường xa" gợi cảm giác hình bóng c.ngđang lùi dần, xa dần, tan loãng mất hút vào hư vô Cùngvới nhịp điệu ấy là sắc áo trắng đến lóa cả mắt nhìn nhòe
mờ cả nhân diện "Trắng quá” là sắc áo trắng đến tuyệt đối
1 cách tột cùng – hiện thân vẻ đẹp tinh khôi, sáng láng,thơm tho mà thi nhân suốt đời hằng tìm kiếm, tôn thờ,ngưỡng vọng Nhưng đó cx là hiện hữu của cái xa vời hư
ảo ta thấy tất cả đều ánh lên sắc thái lạ lùng, trùng hợp đểtạo thành diện mạo của 1 cõi trần gian tuyệt đẹp mà ng thơcàng dõi theo đuổi bắt càng rời xa, trôi trượt Nếu vườnxưa "mướt gió" đến trầm trồ kinh ngạc, trăng xưa lung linhquá để khát chờ ước vọng thì áo xưa trắng quá lại đầy xót
xa, tiếc nuối
- Câu thơ thứ 3 cx từng gợi nhiều hoài nghi:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh.
Trong lãnh cung của sự chia lìa sầu u lạnh lẽo hay ở xứHuế mộng mơ làm nắng nhiều mưa 4 mùa khói sương bânglâng? vậy phải chăng ở đây là ở Vĩ Dạ, nơi có vườn ai,thuyền ai và bây giờ nhà thơ đang thấp thỏm tình ai? Hiểutheo cách nào thì bao trùm khuất lấp bóng dáng c.ng cx là 1màn khói ảo diệu Sương khói của không gian, thời gian vàcủa hoài niệm: Từ sắc áo trắng quá nhìn k ra đến sươngkhói mờ nhân ảnh thì hình bóng c.ng đã bị dẩy xa thêm 1khoảng cách, hoàn toàn k thể với tới Để rồi tất cả nỗi bănkhoăn dồn lại trong 1 câu hỏi cuối bài thơ:
Trang 14Ai biết tình ai có đậm đà.
- Thi phẩm mở ra bằng 1 câu hỏi và kết thúc cx bằng 1
điệu hỏi, 4 chữ "ai biết tình ai" chất chứa 1 nỗi nghi ngại,băn khoăn trắc ẩn về tình đời, tình ng Ngoài kia xuân vẫntình, thắm sắc và vẫn cách ở đây 1 tầm tuyệt vọng Chỉ có
ty là sợi dây duy nhất níu buộc nhà thơ với c.đ Thế nênphía sau nỗi băn khoăn là mong cầu tha thiết, sau nỗi hoàinghi, e ngại là khát khao gắn bó mãnh liệt của 1 cái tôicháy bỏng ty đối với c.ng và c.đời
III KB:
"ĐTVD" là sự hòa quyện giữa 2 yếu tố thực và ảo, thực lànhững cung bậc cảm xúc, tâm trạng của thi nhân còn ảo lànhững h.ả trong kí ức, trong hoài vọng Tính chất ảo hóakết hợp với bút pháp gợi tả tài hoa, ngôn ngữ tinh tế giàuliên tưởng đã đem đến cho thi phẩm 1 vẻ đẹp riêng đathanh đa điệu, lung linh khó nắm bắt
Trang 15TRÀNG GIANG
I MB:
Huy Cận (1919 – 2005) là 1 trong những gương mặt tiêu
biểu của nền thơ VN hiện đại Nếu sau c/m ông là 1 trong
số các nhà thơ viết thành công về đề tài c.s mới, c.ng mớithì ở chặng đường trc đó cái tên HC lại nổi tiếng trongph.trào thơ mới Thơ HC hàm súc, giàu chất suy tưởng,triết lí "TG" là 1 trong những áng thơ linh hồn thể hiện khá
rõ phong cách ấy Thi phẩm đc viết vào mùa thu 1939trong tập "lửa thiêng" (1940)
Thơ "TG" đã hình thành khi thi nhân đứng trc cảnh sôngHồng mênh mang sóng nước, 4 bề bao la vắng lặng màbuồn thương da diết cho kiếp ng trôi nổi vô định, lạc loài.T/p là sự hòa hợp giao cảm giữa điệu hồn thi nhân và linhhồn tạo vật sông nước hay nói khác đi, nỗi sầu chất chứatrong cõi hồn, ng nghệ sĩ, 1 lữ thứ xa quê, 1 trí thức mấtnước đã gặp cảnh sông nước vắng lặng cô liêu mà cấtthành lời
II TB:
1 Khổ 1:
Có thể nói bước vào thế giới của "TG" là đến với 1 thế giớirộng lớn mênh mông đến vô biên, 1 bức tranh trời nướcbao la mĩ lệ mà vẫn chất chứa nỗi buồn Khổ thơ 1 là 1phần của thế giới thiên nhiên tạo vật, 1 góc của bức tranhtạo vật ấy
- Mở đầu khổ thơ là hình ảnh:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
+ Sóng gợn là sóng nhỏ, những con sóng đang loang ra,
lan tỏa rộng dài H.ả thơ gợi cảm giác về 1 dòng tràng
Trang 16giang với vô hồi vô hạn, những con sóng nối lên nhau, xôđuổi nhau mà tít tắp đến cuối dòng.
+ 3 chữ "buồn điệp điệp" vừa gợi nhịp sóng nước, vừa là
nhịp của sóng lòng Hàng ngàn con sóng nhỏ lăn tăn nốitiếp chạy mãi đến chân trời cũng là hàng ngàn đợt sónglòng đang miên man tan chảy vào cảnh vật Câu thơ gợi 1không gian tràng giang đang k ngừng mở rộng vươn dàicùng nỗi sầu tư dằng dặc k dứt
+ Nếu câu thơ mở đầu gợi tả sóng nước thì câu thơ thứ 2
lại tả dòng trôi và con thuyền 1 con thuyền giữa mênh
mông sóng nước NT tương phản đã nhấn mạnh sự nhỏ bé,
bơ vơ của con thuyền trong không gian sông nước mênhmông Đó là h.ả gợi những suy cảm về sự nhỏ bé mongmanh của kiếp ng trong vũ trụ bao la Con thuyền xuôi máichèo, buông trôi theo dòng nước phải chăng đó chính làbiểu tượng của kiếp ng trôi nổi vô định trong dòng xoáycủa c.đ? Câu thơ vì thế mà thấm đẫm nỗi buồn
- Nỗi buồn k chỉ hiện lên bởi h.ả con thuyền buông trôi
trên dòng nước mà còn bởi thuyền – nước đang làm nên 1cuộc chia lìa:
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả, Củi một cành khô lạc mấy dòng.
+ Vốn dĩ thuyền và nước là hai thứ không thể tách rờinhau nhưng trong câu thơ tác giả viết “thuyền về nước lạisầu trăm ngả”, liệu rằng có uẩn khúc gì chăng, hay là sựchia lìa không báo trước, nghe xót xa và nghe quạnh longhiu hắt quá Một nỗi buồn đến tận cùng, mênh mang cùngsông nước dập dềnh
+ Khung cảnh tràng giang đc gợi tả thêm qua h.ả "củi 1
cành khô đc mấy dòng" 1 cành củi khô, cái vật thể nhỏ
Trang 17nhoi đơn chiếc lọt thỏm giữa cái mênh mông của sóngnước tạo khắc 1 ấn tượng về sự lạc loài thật sâu sắc.
Từ 1 cành tươi nơi đầu nguồn rừng thẳm đến 1 cành khônổi trôi trên sóng nước mênh mang, thân phận cả câydường như đã trải qua nhiều biến cố đau thương như chínhkiếp ng trong cõi nhân sinh nhọc nhằn, đau khổ 1 cành củikhô là hiện thân của những tạo vật bình dị, bình thườngthậm chí tầm thường, vô nghĩa mang màu sắc hiện đại của
1 bài thơ mới
- 1 cành củi lạc mấy dòng, 1 cuộc chia li – sầu trăm ngả.
Sự tương phản về số từ cx tô đậm thêm cảm giác về sự côđộc, đơn chiếc, nhỏ bé của c.ng trc thế giới tràng giang bao
la sóng nước và trong cái chảy trôi vô cùng của cõi nhânthế
=> Khổ thơ 1 mở ra 1 không gian sông nước mênh mông
với 2 nỗi niềm, 2 miền suy tưởng song hành, bổ sung chonhau: cảm thức về sự nhỏ bé của c.ng trc không gian vũ trụ
và cảm thức về sự bơ vơ, nhỏ nhoi, lạc loài của kiếp ngtrong dòng chảy của c.đ
2 Khổ 2:
Đến khổ thơ 2, bức tranh TN tràng giag đc nối thêm nhiềuchiều kích xa hơn, cao hơn, sâu hơn và vì thế cx tĩnh lặnghơn Trong không gian ấy, cái tôi trữ tình rợn ngợp trong 1nỗi niềm trống trải, cô đơn đến tận cùng
- Bức tranh thiên nhiên có thêm tạo vật, động thái và âm
thanh, những cồn đất nhỏ nhoi, thưa thớt, ngọn gió dìu hiuthổi nhẹ và 1 vài âm thanh xao xác củ sự sống:
Lơ thơ cồn cỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
+ Từ láy "lơ thơ" trong biện pháp NT đảo ngữ tạo cảm
giác về sự nhỏ nhoi, đơn độc Những nhoi đất như bị thu
Trang 18lại, bị nhấn chìm trong cái bao la bủa vây của sóng nước.Thêm vào đó là cái trạng thái đìu hiu của gió, có thổi mà klay, k động.
+ Âm thanh của sự sống đc nhắc đến nhưng mơ hồ, k xác
định Đâu đây có âm thanh của 1 buổi chợ chiều từ làng xavọng lại Có lẽ vui nhất là lúc chợ đông, mà buồn nhất, xaoxác nhất là lúc chợ vãn, chợ tàn âm thanh kia thật yếu ớt,mỏng manh, mơ hồ, thoáng qua và dễ tan trong gió Ta bắtgặp 1 thủ pháp NT cổ điển trong 1 bài thơ mới: lấy động tảtĩnh Cả k gian tràng giang chìm sâu vào tĩnh lặng tuyệtđối trở thành 1 miền hoang sơ, thanh vắng Trước miền kgian ấy, c.ng mong mỏi tìm kiếm 1 thanh âm của sự sống
để biết rằng đâu đó quanh mình c.s vẫn diễn ra Nhưnglằng mà k nghe, tìm mà k thấy, cái tôi cô đơn càng nỗ lựctrốn chạy, vượt thoát càng chím sâu vào nỗi buồn
- K thể chạy trốn, vượt thoát cuối cùng cái tôi ấy vẫn
quay về đối diện vơi cô liêu:
Nắng xuống, trời lên cao chót vót,
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
+Nhà thơ liên tiếp sử dụng các cặp từ có ý nghĩa đối lập
để diễn tả 1 không gian đang k ngừng vận động, dãn nở,
mở ra với nhiều chiều kích Nắng xuống đến đâu, trời lênđến đó, sông như đang vươn dài ra, trời như đang mở rộngthêm Vũ trụ đang vươn mình xuống tận đáy, cao tận đỉnh
+ 3 chữ "sâu chót vót" là 1 sự lạ hóa ngôn từ mang đậm
bản sắc của hồn thơ HC – 1 hồn thơ "khắc khoải k gian".Chót vót ở đây lại đc dùng để diễn tả chiều sâu 2 chiềucao, sâu đồng nhất và chuyển hóa, càng cao lại càng sâu,
vũ trụ k chỉ chót vót mà còn hun hút, thăm thẳm Điểmnhìn của cái tôi trữ tình k còn là mặt đất bình yên mà là ởgiữa khoảng k gian bao la, chao đảo, đổi hướng, đổi chiều
Trang 19Vũ trụ chợt lớn lên cao chót vót, sâu thăm thẳm, rộng vôcùng, dài vô tận Đó cx là chiều kích của nỗi buồn – 1 nôibuồn chiết tự lòng ng k chỉ lan tỏa mà còn bao trùm, thấmsâu vào cảnh vật.
- Khổ thơ kết thúc bằng h.ả "sông dài trời rộng bến cô
liêu", làm cho cảnh vật dường như cứ nhích dần theo 2phía, k gian mở rộng theo 2 chiều: càng dài lại càng rộng.Giữa cảnh trời rộng sông dài chơ vơ 1 c.ng giữa bến côliêu Ta bắt gặp 1 bến sông trăng thực hư diễm ảo trong thơHMT, 1 bến sông trăng đẹp đến nao lòng gợi bao tiếc nuối,
âu lo Ta lại gặp 1 bến sông cô liêu hoang vắng đến rợn ngtrong thế giới tràng giang của HC Cái bến sông đẩy c.ngvào tận cùng của sự trống trải, cô đơn
=> Bút pháp "vẽ mây nẩy trăng" đã đc phát huy triệt để
t/dụng trong việc truyền tải dụng ý NT của nhà thơ Vũ trụcàng rộng lớn, càng hoang vắng cô liêu tĩnh lặng, con ngcàng khắc khoải 1 nỗi niềm cô đơn lẻ loi
3 Khổ 3:
Đến khổ thứ 3, cảnh tràng giang có thêm sự vật, thêm sắcmàu những vẫn h.toàn thiếu vắng c.ng và hơi ấm của sựsống Càng chứng kiên ự thống trị tuyệt đối của tạo vật,nhà thơ càng khao khát kiếm tìm sự kết nối, giao hòa vớicđ
- Nếu cảnh vật ở khổ 2 đc gợi mở trong cái nhìn bao quát
ở cái nhìn tầm cao xa vời vợi thì đến khổ 3, bức tranh thiênnhiên đc gợi tả ở tầm thấp và miêu tả cận cảnh:
Bèo dạt mây trôi hàng mấy hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Trang 20- H.ả cánh bèo giữa tràng giang tự thân nó đã gợi ra sự
tương phản: những tọ vật nhỏ bé, yếu ớt bị ném vào, bị xôđẩy, dập vùi giữa điệp trùng sóng nước Nếu chữ "dạt"nhấn mạnh cái cảm giác nổi trôi, phiêu tán lênh đênh thìcâu hỏi "về đâu" lại hàm chứa sự phấp phỏng lo âu về bến
đỗ của c.đ Câu thơ gợi ấn tượng về sự bơ vơ lạc hướng,lạc loài Đó chính là nỗi niềm của cái tôi lãng mạn vô định
và mất phương hướng là h.ả của những số kiếp c.ng chìmnổi giữa dòng đời trong đục
- Ngoại cảnh đã rấy lên trong hồn ng nững ưu tư về nhân
thế, thế nên c.ng luôn nỗ lực tìm kiếm những dấu hiệu của
sự sống, những bám víu để vượt thoát nỗi niềm Rồi càng
nỗ lực tìm kiếm rồi lại càng rơi vào vô vọng:
Menh mông không một chuyến đò ngang
Không càu gợi chút niềm thân mật
+ 1 chuyến đò ngang, 1 nhịp cầu nối kết đôi bờ là tín hiệu
của giao hòa, ấm cúng, của sum vầy thân mật 2 câu thơtrầm hẳn xuống như 1 tiếng thở dài ngậm ngùi hẫng hụt
+ Ta lại bắt gặp 1 thủ pháp NT quen thuộc của thơ cổ
điển: "nói không nói có" K đò, k cầu, k có sự sống thânmật, ấm cúng Tất cả chỉ là cách ngăn chia lìa, li tán Phủđịnh dồn dập những tín hiệu của sự sống c.ng cũng là kngừng khẳng định sự lạnh lẽo, hoang vu của vũ trụ, khẳngđịnh cái thế thống trị tuyệt đối của thiên nhiên
- Khép lại mảng vẽ thứ 3 của thiên nhiên tràng giang là
h.ả lặng lẽ bờ sông tiếp bãi vàng Bờ xanh bị chia cắt bởibãi vàng, sự sống đang bên bờ úa tàn phai nhạt 3 câu thơtạo nên cái thế đối lập đối chọi gay gắt của 2 TG thiênnhiên tạo vật và sự sống của c.ng NT đảo ngữ với tính từ
"lặng lẽ" đặt ở đầu câu đã nhấn mạnh trạng thái h.toàn bấtđộng của tạo vật