Tuy nhiên những năm gần đây, nhiều mối lo lắng liên quan đến vấn đề sức khỏe tâm thần của một bộ phận thanh thiếu niên như: stress, lo âu, ám ảnh, trầm cảm,... Song đồng hành với các ngo
Trang 1
Học phần: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Giảng viên hướng dẫn: PGS TS BS Đặng Đức Nhu
Sinh viên thực hiện: Hoàng Nam, Msv: 21100391
Lớp: KTXNYH.QH.2021.Y
Hà Nội, tháng 11 năm 2022
Trang 22
Mục lục
A MỞ ĐẦU 4
I Đặt vấn đề 4
II Mục tiêu 6
B Nội Dung 7
III Chương 1: Tổng quan 7
1 Về thực trạng sức khỏe tâm thần 7
2 Một số khái niệm về các vấn đề sức khỏe tâm thần 9
3 Ảnh hưởng của COVID-19 tại ĐHQGHN nói chung và Đại học Y Dược nói riêng 12
4 Tại Đại Học Y Dược – Đại Học Quốc Gia Hà Nội 17
IV Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 18
1 Đối tượng nghiên cứu 18
2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
3 Cỡ mẫu và chọn mẫu 18
4 Thiết kế nghiên cứu 19
5 Công thức thu thập thông tin 19
6 Nhập và xử lý dữ liệu 19
7 Đạo đức nghiên cứu 19
Trang 33
V Chương 3: Kết quả nghiên cứu 20
1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 20
2 Tình hình sức khỏe tâm thần của sinh viên 21
3 Các yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần của sinh viên 21
VI Chương 4: Dự kiến bàn luận 23
1 Thực trạng của sinh viên năm hai trường Đại học Y Dược 23
2 Thực trạng về mức độ trầm cảm – lo âu – stress 23
3 Khả năng ứng phó của sinh viên với áp lực 23
4 Một số giải pháp 23
C Tại liệu tham khảo 25
Trang 4Chăm sóc sức khỏe tâm thần đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển khả năng trí tuệ, phát triển về mặt xã hội, phát triển tính tự lập, sự tự tin, tạo ra
sự cân bằng về mặt tâm lý, tình cảm và các giá trị đạo đức căn bản nhất của con người, giúp xây dựng và hình thành lên nhân cách lành mạnh, sáng tạo và chủ động Tuy nhiên những năm gần đây, nhiều mối lo lắng liên quan đến vấn đề sức khỏe tâm thần của một bộ phận thanh thiếu niên như: stress, lo âu, ám ảnh, trầm cảm, trở lên phổ biến hơn Song đồng hành với các ngoài các nguyên nhân như mối quan hệ với gia đình, ảnh hưởng của môi trường xã hội, nguyên nhân về nuôi dưỡng, lệ thuộc vào mạng xã hội và còn cả tác động của COVID-19,… thì việc giáo dục nhà trường cũng có thể gây nên những tổn thương về tinh thần cho học sinh, sinh viên đến từ nhiều nguyên do; có thể kể đến như nội dung chương trình quá tải, áp lực thi cử nặng nề khiến học sinh – sinh viên cảm thấy căng thẳng, lo sợ
Trang 55
dẫn đến những rối loạn về tinh thần Hiện nay đã có một số nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của thanh thiếu niên và trẻ em Việt nam nói chung Mặc dù kết quả không nhất quán nhưng đều cho thấy xu hướng tỷ lệ thanh thiếu niên Việt Nam gặp các vấn đề sức khỏe tâm thần tăng lên đáng kể
Chương trình giáo dục thuộc khối ngành Y Dược được xem là chương trình khá nặng đối với sinh viên do thời gian học nhiều hơn các trường khác (6 năm đối với hệ bác sỹ) thời gian học trong ngày cũng nhiều hơn kèm theo sinh viên còn phải tham gia trực ở bệnh viện… Môi trường học đường cũng là một trong những yếu tố làm tăng nguy cơ gặp các rối loại về vấn đề sức khỏe tâm thần do áp lực học hành, thi cử Gần đây đã có một số nghiên cứu về sức khỏe tâm thần trên sinh viên các trường Đại học và được sử dụng nhiều loại công cụ đánh giá khác nhau; tuy nhiên, nghiên cứu trên sinh viên các trường Đại học Y chưa được tiến hành nhiều Đây là một số liệu đáng được quan tâm, để mắt tới
Trang 66
II Mục tiêu
Nhằm đánh giá tổng quan về thực trạng sức khỏe tâm thần của sinh viên trường Đại học Y Dược – Đại Học Quốc Gia Hà Nội, sau đây là dàn ý chi tiết cho
nghiên cứu đề tài: “Thực trạng sức khỏe tâm thần và một số yếu tố liên quan của
sinh viên năm hai trường Đại học Y Dược – Đại Học Quốc Gia Hà Nội năm 2022”
với mục tiêu sau:
1 Đánh giá thực trạng sức khỏe tâm thần của toàn thể sinh viên năm thứ hai trường Đại học Y Dược – Đại Học Quốc Gia Hà Nội năm 2022
2 Phân tích mối liên quan giữa một số yếu tố và thực trạng sức khỏe tâm thần của toàn thể sinh viên năm hai
Trang 77
B Nội Dung III Chương 1: Tổng quan
và cần được chú trọng hơn, nhất là trong môi trường học đường, nơi các bạn trẻ dành phần lớn thời gian để học tập, trải nghiệm, sinh hoạt
Theo điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ II (SAVY 2), tỷ lệ thanh thiếu niên nói chung, sinh viên nói riêng sử dụng rượu bia, hút thuốc ngày càng nhiều hơn, có một tỷ lệ không nhỏ trong số họ còn có lúc có cảm giác tự ti (29,9%), có cảm giác thất vọng, chán chường về tương lai (14,3%)
Có tới 63,6% sinh viên bị stress, các yếu tố ảnh hưởng liên quan tới stress như vấn
đề về học tập trên 75%, căng thẳng, lo lắng (81%), mệt mỏi, chán ăn khoảng 50 - 70% Kết quả từ một nghiên cứu tại một trường đại học tại Đức cho thấy có
khoảng 22,1% SV có hút thuốc lá, 32,5% sinh viên uống rượu vài lần một tuần, 10% có sử dụng các thuốc gây nghiện (cần sa, cocain, amphetamines,…) trong 3 tháng gần đây.Theo nghiên cứu của Hiệp hội Y khoa Mỹ, khoảng 18.800.000 người
Mỹ trưởng thành, chiếm khoảng 9,5% độ tuổi dân số Hoa Kỳ từ 18 tuổi trở lên bị
Trang 88
rối loạn trầm cảm trong một năm trong đó tỷ lệ gặp ở phụ nữ cao gấp 2 lần so với nam giới
Những thử thách sinh viên thường phải đối mặt
Môi trường đại học khác nhiều so với các môi trường học đường trước đó Đây là môi trường đề cao sự tự do, chủ động và ý thức cá nhân của mỗi bạn sinh viên Chắc hẳn rằng, rất nhiều sinh viên năm nhất đã từng nuôi trong mình những viễn cảnh rất đẹp rằng sẽ có thêm những người bạn mới ở khắp mọi miền đất nước, nhận được học bổng hằng năm, là một sinh viên tích cực trong các hoạt động, xuất sắc trong học tập, Tuy nhiên, đối mặt với thực tế, nhiều bạn đã thật
sự bị sốc bởi sự đa dạng vùng miền đôi khi lại dẫn đến việc xa cách hơn, việc hòa nhập với mọi người không đơn giản như tưởng tượng,… Theo IPO, Một số khó khăn trong tâm lý có thể xảy ra với sinh viên có thể chia thành 2 vấn đề chính sau đây:
Vấn đề về tập thể, văn hóa và các mối quan hệ
Môi trường đại học đề cao tinh thần tập thể và khả năng tự thích nghi của mỗi người Tuy nhiên đây không phải là điều dễ dàng với một số bạn sinh viên, họ
có thể gặp các vấn đề như:
● Phân biệt đối xử
● Mặc cảm về hoàn cảnh gia đình, ngoại hình
● Các vấn đề về gia đình hay các mối quan hệ trong tập thể
● Các vấn đề liên quan đến tình dục
● Các quyết định về việc tham gia các tổ chức, tập thể mới
● Các cảm xúc trong quá trình học tập và sinh hoạt tại trường: vui buồn, ghen tị, tự ti,
Trên đây chỉ là một số vấn đề cơ bản trong vô số các chủ đề mà sinh viên có thể gặp phải trong quá trình định hướng và hiểu về chính mình Với một môi trường hoàn
Trang 99
toàn mới, sinh viên rất dễ rơi vào cảm giác mặc cảm trong một môi trường lại có quá nhiều vùng miền khác nhau, hoàn cảnh khác nhau Đôi khi chính những sự khác biệt này dẫn đến tình trạng phân biệt đối xử ở một số cá nhân có lối sống không lành mạnh Từ đó, kéo theo rất nhiều hệ quả ảnh hưởng đến kết quả học tập và sức khỏe tinh thần của các sinh viên
Vấn đề về sức khỏe tâm lý dựa trên DSM-5 và ICD-10
Ngoài các vấn đề thường gặp trên, sinh viên còn có thể gặp phải những rối loạn tâm lý được chẩn đoán dựa trên DSM-5 (Cẩm nang chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần) và ICD-10 (Phân loại bệnh quốc tế, sửa đổi lần thứ 10) sau đây:
● Rối loạn trầm cảm (depressive disorders)
● Rối loạn lo âu (anxiety disorders)
● Rối loạn thích nghi (adjustment disorders)
● Rối loạn ăn uống (feeding and eating disorders)
● Rối loạn liên quan đến chất gây nghiện (substance-related and addictive disorders)
● Tự gây thương tích (nonsuicidal self injury)
● Rối loạn hành vi tự sát (suicidal behavior disorders)
Vấn đề về dịch bệnh
Theo đó một nghiên cứu của trên toàn thể sinh viên Trường Đại Học Quốc
Gia Hà Nội cho thấy 80% học sinh, sinh viên có biểu hiện tổn thương sức khoẻ tinh
thần sau ảnh hưởng của dịch COVID-19
2 Một số khái niệm về các vấn đề sức khỏe tâm thần
Trang 1010
thời gian ngắn Khi ai đó trải qua cảm giác buồn dai dẳng và dữ dội trong thời gian dài thì họ có thể bị rối loạn tâm trạng, chẳng hạn như rối loạn trầm cảm
Rối loạn lo âu là một trong các rối loạn tâm lý có tính phổ biến cao, bệnh thường kết hợp với nhiều rối loạn khác như trầm cảm, rối loạn nhân cách, rối loạn
ăn uống, rối loạn dạng cơ thể
Rối loạn lo âu là sự lo sợ quá mức trước một tình huống xảy ra, có tính chất
vô lý, lặp lại, kéo dài gây ảnh hưởng tới sự thích nghi với cuộc sống Khi lo âu và sợ hãi quá mức ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống, vẫn tiếp tục ngay cả khi mối
lo thực tế đã kết thúc thì đó là bệnh lý Nguyên nhân chính xác của rối loạn bao gồm nhiều yếu tố khác nhau, chủ yếu liên quan tới các sang chấn tâm lý kết hợp với yếu tố nhân cách có xu hướng lo âu
Stress là tình trạng gặp phải ở nhiều người Vậy stress là gì? Thực ra đây là cảm giác của cơ thể khi gặp phải hàng loạt áp lực gây dồn nén, căng thẳng Khi bị stress tức là đang gặp vấn đề về sức khỏe tinh thần Theo các nhà tâm lý học thì stress là phản ứng của cơ thể trước sự tác động của các tác nhân bên ngoài hoặc bên trong đến hệ thần kinh giao cảm và tâm sinh lý của con người
Khi bị stress cơ thể sẽ có rất nhiều biến đổi như đau dạ dày, tim đập nhanh,
nhu động ruột tăng, tuyến mồ hôi tăng tiết, Nguyên nhân gây ra tình trạng này là
do vùng hạ đồi - nơi chịu trách nhiệm chi phối về tâm trạng của cơ thể nhận được tín hiệu cho biết cơ thể đang bị stress
Lập tức, vùng hạ đồi sẽ tác động đến tuyến yên và tuyến này phát ra tín hiệu
theo đường thần kinh và thể dịch đẻ tác động đến tuyến thượng thận Kết quả là tuyến thượng thận được kích thích tiết norepinephrine và epinephrine để kích hoạt
hệ thống thần kinh phó giao cảm làm cho các cơ quan trong cơ thể bị tác động
Rối loạn thích nghi/rối loạn thích ứng có tên khoa học là Syndrome Général d’adaptation Đây là một dạng bệnh tâm thần được diễn tả bởi hàng loạt các cảm xúc bất thường diễn ra ngay sau khi gặp các sang chấn tâm lý Các triệu chứng này
Trang 11Nữ giới có tỷ lệ RLTN cao gấp 2 lần so với nam với còn với độ tuổi vị thành niên tỷ lệ mắc bệnh là ngang nhau
Rối loạn ăn uống (tiếng Anh: eating disorder) là một bệnh có nguồn gốc tâm lý, biểu hiện bằng việc người bệnh tự ép buộc mình phải ăn hoặc từ chối ăn
mà không căn cứ theo nhu cầu tự nhiên của cơ thể, dẫn đến những tác hại tới sức khỏe thể chất và tinh thần Bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống, theo lời mô tả của tác giả cuốn sách "Sống sót sau khi mắc rối loạn ăn uống" thì các cảm giác về công việc, trường lớp, các mối quan hệ, hoạt động hàng ngày
và cảm xúc bị phụ thuộc vào việc có ăn hay không và cân nặng là bao nhiêu Người bệnh gặp phải những xáo trộn khủng khiếp trong hành vi ăn uống cũng như trong
ý nghĩ và cảm xúc có liên quan tới các hành vi này Chứng chán ăn tâm thần và ăn
ói (bulimia nervosa) là hai rối loạn ăn uống phổ biến nhất được ghi nhận trong bảng phân loại bệnh tật Cả hai đều có một số triệu chứng chung Theo ước tính trong suốt cuộc đời mình một phụ nữ Hoa Kỳ có từ 5% đến 7% khả năng mắc bệnh Dạng rối loạn ăn uống thứ ba đang được nghiên cứu và định nghĩa, nó có tên là ăn vô độ (binge eating disorder, cũng ăn rất nhiều như người mắc bệnh ăn
ói nhưng không có hành vi nôn mửa để làm sạch dạ dày) Ăn vô độ là một tình trạng mãn tính xuất hiện khi cá nhân ăn một lượng khổng lồ thức ăn trong khoảng thời gian ngắn và không có khả năng kiểm soát ngay cả việc ngừng ăn Nó có thể gây ra các ảnh hưởng nghiêm trọng như dẫn tới bệnh béo phì, bệnh đái đường, chứng tăng huyết áp và bệnh tim mạch
Mất ngủ không thực tổn chính là cụm từ được dùng để chỉ tình trạng giấc ngủ
bị rối loạn nhưng không có một nguyên nhân thực thể nào Đây là căn bệnh khá phổ biến ở nhiều người
Trang 1212
Đa phần có các triệu chứng đó là mất ngủ, ngủ quá nhiều, hay mộng du, luôn
cảm thấy bị căng thẳng, trầm cảm, lo lắng Tình trạng rối loạn giấc ngủ này thường gặp ở những người phải làm việc ca đêm
Tự gây thương tích không có ý tự sát, thường được gọi đơn giản là tự gây
thương tích, là hành vi cố ý làm tổn hại đến cơ thể như cắt hoặc gây Bỏng cho bản thân Tự gây thương tích được hiểu là cách để đối phó với nỗi đau tinh thần, sự giận dữ và thất vọng
Tự gây thương tích có thể mang lại một cảm giác nhẹ nhõm và giải tỏa căng
thẳng nhất thời, nhưng lại theo sau bởi một cảm giác tội lỗi, xấu hổ và đau đớn Mặc dù bạn không chủ tâm gây ra các Chấn thương đe dọa tính mạng, tự gây thương tích có thể dẫn đến các hành động rất nghiêm trọng gây tử vong
Hành vi tự sát được khái niệm là khi một người vốn có ý định tự tử Sau một
thời gian ngắn hoặc dài, người đó sẽ có những hành động thực tế cho ý định tự sát Mục đích cuối cùng là tìm đến cái chết, tự mình giết chết bản thân mình
Hành vi tự sát không phải là một bệnh tâm thần Mà nó là một hậu quả
nghiêm trọng tiềm ẩn của các rối loạn tâm thần có thể điều trị được
Nghiện là sự lặp lại liên tục của một hành vi bất chấp hậu quả xấu hoặc sự
rối loạn thần kinh để dẫn đến những hành vi như vậy Theo một định nghĩa khác nghiện là một rối loạn não đặc trưng bởi sự tham gia bắt buộc trong các kích thích trong hệ thống thưởng phạt của não mặc dù dẫn đến hậu quả bất lợi Mặc dù có
sự tham gia của một số yếu tố tâm lý xã hội, một quá trình sinh học mà một người gây ra do tiếp xúc nhiều lần với một kích thích gây nghiện là bệnh lý cốt lõi thúc đẩy sự phát triển và duy trì nghiện, theo "mô hình bệnh não" gây nghiện
3 Ảnh hưởng của COVID-19 tại ĐHQGHN nói chung và Đại học Y Dược nói riêng
TS Nghiêm Xuân Huy - Viện trưởng Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục,
ĐHQGHN, đã dẫn ra những con số đáng suy nghĩ về những khó khăn, thách thức cũng như mong muốn của người học Để làm rõ việc này, Trung tâm Hỗ trợ giảng
Trang 1313
dạy thực hiện Khảo sát sự sẵn sàng của người học khi quay trở lại học trực tiếp từ giữa tháng 2.2022
Dữ liệu khảo sát thu được từ 1.567 sinh viên đến từ 13 đơn vị khác nhau
trong ĐHQGHN cho thấy có 2 luồng đánh giá khác biệt giữa việc muốn được tiếp tục học trực tuyến và quay trở lại học trực tiếp
Cụ thể, đánh giá mức độ cảm xúc khi quay trở lại học trực tiếp từ hoàn toàn
không muốn đi học lại đến hoàn toàn sẵn sàng thì kết quả cuối cùng thu được giá trị trung bình là 5,26/10
Số lượng sinh viên chọn thang điểm 1 chiếm tới 22,7% Mức độ điểm từ 1-3
điểm thể hiện sự không sẵn sàng trong quay trở lại học trực tuyến khoảng 35%
Tuy nhiên, mức điểm từ 6 đến 10 cũng chiếm hơn 1 nửa trọng số Qua đây
có thể thấy rằng sinh viên không hẳn không muốn đến trường nhưng tâm lý và sự
e ngại, lo lắng còn lớn
Trang 1414
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy 56,7% sinh viên cảm thấy bản thân sẽ gặp
phải khó khăn khi quay trở lại học trực tiếp với nhiều lý do khác nhau Trong đó, khó khăn được nhắc đến nhiều nhất là việc lo lắng khả năng có thể bị lây nhiễm COVID-19, di chứng hậu COVID-19
Xếp sau đó là khó khăn tài chính, thay đổi thói quen học tập Sinh viên đặt
ra rủi ro như thuê nhà ngắn ngày hay thuê theo trạng thái có thể về quê bất kỳ lúc nào, nếu nhiễm COVID-19 thì không có người chăm sóc…