Một số kỹ năng tham vấn cơ bản của cán bộ xã hội
Trang 1Viện tâm lý học -
Bùi Thị Xuân Mai
Một số kỹ năng tham vấn cơ bản
của cán bộ x∙ hội
Tóm tắt luận án tiến sỹ tâm lý học
Hμ Nội - 2007
Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
Phản biện 1: GS TS Nguyễn Quang Uẩn
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Phản biện 2: PGS TS Lê Đức Phúc
Viện Chiến lược và chương trình giáo dục
Phản biện 3: TS Ngô Thị Tuấn Dung
Viện Nghiên cứu gia đình và giới
Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án cấp nhà nước
họp tại: Viện Tâm lý học – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Vào hồi … giờ … ngày … tháng … năm 2007
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: Thư viện Quốc gia và Thư viện Viện Tâm lý học
Trang 2các công trình đ∙ công bố của tác giả
1 Bùi Thị Xuân Mai (2003), “Bàn về thuật ngữ: Tư vấn, tham vấn và cố
vấn”, Tạp chí Tâm lý học (số 4 /2003)
2 Bùi Thị Xuân Mai (2005), “Chăm sóc thay thế cho trẻ có hoàn cảnh
khó khăn và vấn đề tham vấn tại cộng đồng ở Việt Nam hiện nay”,
Kỷ yếu hội thảo: Tham vấn về quyền trẻ em và các đối tượng khác
trong giáo dục, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam,
3 Bùi Thị Xuân Mai (2005), “Tham vấn – một dịch vụ xã hội cần được
phát triển ở Việt Nam”, Tạp chí Tâm lý học (số 2 /2005)
4 Bùi Thị Xuân Mai (2005), “Chăm sóc thay thế dựa vào cộng đồng đối
với trẻ có hoàn cảnh khó khăn và đào tạo cán bộ xã hội hiện nay ở
Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo Hữu nghị Việt Nam - Nhật bản: Xã hội
hoá giáo dục cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn, Đại học Sư phạm Hà
Nội, 2005
5 Bùi Thị Xuân Mai (2006), “Thực trạng nhu cầu tham vấn cho học
sinh- sinh viên ở Việt nam hiện nay - những khuyến nghị giải pháp”,
Kỷ yếu hội thảo: Xây dựng và phát triển mạng lưới tham vấn trong
trường học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 10/2006
6 Bùi Thị Xuân Mai (2006), “Sử dụng Tham vấn - một phương pháp
can thiệp tâm lý xã hội trong hoạt động trợ giúp xã hội ở nước ta hiện
7 Bùi Thị Xuân Mai (2006), “Thực hành kỹ năng tham vấn trong đào
tạo công tác xã hội ở Việt Nam - những bất cập và khuyến nghị giải
pháp”, Kỷ yếu hội thảo: Thực hành, thực tập trong đào tạo công tác
xã hội ở Việt Nam, UNICEF - ĐH LĐ - XH - Hiệp hội các trường
ĐH & CĐ Canada, Hà Nội, 10/2006
8 Bùi Thị Xuân Mai (2007), “Có nên đồng nhất tham vấn với tư vấn và
trị liệu tâm lý?”, Tạp chí Tâm lý học (số 4/2007)
9 Bùi Thị Xuân Mai (2007), “Lắng nghe – một kỹ năng tham vấn cơ
bản của cán bộ xã hội”, Tạp chí Tâm lý học (số 5/2007)
Trang 3Mở đầu
1 Lý do chọn đề tμi
Con người luôn phải trải qua những biến cố trong đời sống, do vậy tại
nhiều nước trên thế giới người ta đã sử dụng tham vấn như một công cụ can
thiệp tâm lý đắc lực nhằm giúp đỡ họ nâng cao năng lực giải quyết vấn đề
để duy trì thăng bằng tâm lý và bảo vệ sức khoẻ tâm thần
Là một nước đang phát triển cùng với những ảnh hưởng của quá trình
hội nhập và lối sống công nghiệp Việt Nam đang đối mặt với nhiều vấn đề
xã hội như: tình trạng đói nghèo, thất nghiệp, vấn đề trẻ lang thang, lao
động sớm, khó khăn tâm lý trong quan hệ gia đình, xã hội, trong lao động
và học tập Do vậy, nhu cầu tham vấn ở Việt Nam là khá lớn
Hoạt động tham vấn đang phát triển nhanh ở Việt Nam để góp phần
đáp ứng nhu cầu này Tuy nhiên, do một số hạn chế nhất là về trình độ kỹ
năng của người làm tham vấn, trong đó có cán bộ xã hội (CBXH) nên sự trợ
giúp chưa đạt được mục tiêu tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề cho
đối tượng
Những nghiên cứu về vấn đề này còn rất ít, đặc biệt là về khía cạnh kỹ
năng tham vấn (KNTV) Chính vì vậy, việc triển khai đề tài “Một số kỹ
năng tham vấn cơ bản của cán bộ x∙ hội” nhằm chỉ ra thực trạng và đưa ra
khuyến nghị về nâng cao năng lực tham vấn cho CBXH ở Việt Nam là cần
thiết
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về tham vấn, kỹ năng tham vấn, kỹ năng
tham vấn cơ bản và thực trạng kỹ năng tham vấn cơ bản của CBXH ở Việt
Nam, đề tài đưa ra kiến nghị về giải pháp đào tạo góp phần nâng cao chất
lượng hoạt động tham vấn ở nước ta
3 Đối tượng nghiên cứu
Một số kỹ năng tham vấn cơ bản của CBXH
4 khách thể nghiên cứu
Tổng số khách thể là 479 người, bao gồm các CBXH, đối tượng đã được tham
vấn, giảng viên, chuyên gia tham vấn, CTXH ở Việt Nam và nước ngoài Trong đó:
- Thăm dò ý kiến: 16 chuyên gia CTXH và tham vấn nước ngoài, 108
CBXH và 10 giảng viên dạy tham vấn và công tác xã hội của Việt Nam
- Điều tra thử: 70 CBXH
- Điều tra chính thức: Điều tra bảng hỏi: 201 CBXH; Phỏng vấn sâu:
11 CBXH, 6 cán bộ quản lý tại cơ sở xã hội và cán bộ giảng dạy tham vấn, 5
đối tượng đã được tham vấn; Phỏng vấn nhóm: 3 nhóm CBXH (38 người); Thực nghiệm tác động: 14 CBXH
5 Giả thuyết nghiên cứu
(KNTVCB) nên khi tham vấn họ thường có xu hướng khuyên giải
- Nếu áp dụng chương trình đào tạo/tập huấn với phương pháp tích cực dựa trên kinh nghiệm nhằm phát triển kỹ năng thì KNTVCB của CBXH sẽ
được cải thiện
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lý luận: Hệ thống hóa một số lý luận về tham vấn,
KNTV, KNTVCB và những biểu hiện của một số KNTVCB như: kỹ năng lắng nghe, kỹ năng hỏi, kỹ năng phản hồi, kỹ năng thấu hiểu và những yếu
tố tác động tới KNTVCB
6.2 Nghiên cứu thực tiễn: Đánh giá thực trạng các kỹ năng lắng nghe,
kỹ năng hỏi, kỹ năng phản hồi và kỹ năng thấu hiểu và các yếu tố tác động tới kỹ năng tham vấn như đặc điểm tâm lý, kinh nghiệm thực tiễn, nền tảng kiến thức chuyên môn của CBXH cũng như tìm hiểu khái quát hoạt động tập huấn tham vấn trong thời gian qua làm cơ sở cho kiến nghị giải pháp về
đào tạo nâng cao năng lực tham vấn cho CBXH
6.3 Xây dựng và tổ chức thực nghiệm: Tiến hành xây dựng và thử
nghiệm chương trình tập huấn tích cực nhằm nâng cao các kỹ năng trên cho CBXH
7 Phạm vi nghiên cứu
7.1 Giới hạn về nội dung: Một số KNTVCB trong tham vấn cá nhân
bao gồm: kỹ năng lắng nghe, kỹ năng hỏi, kỹ năng phản hồi và kỹ năng thấu hiểu
7.2 Giới hạn về khách thể: CBXH có trợ giúp tâm lý tham vấn cho các
đối tượng tại các trung tâm hay tại cộng đồng trong ngành Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH), Uỷ ban Dân số - Gia đình và Trẻ em (UBDSGĐTE), Hội Phụ nữ (HPN)
7.3 Giới hạn về địa bàn: Nghiên cứu chủ yếu trên các khách thể ở Hà
Nội (một số cơ quan ở Hà Nội nhưng có trung tâm ở Hà Tây)
Trang 48 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nguyên tắc phương pháp luận: Nghiên cứu dựa trên cơ sở phương
pháp luận của tâm lý học như sau:
- Nguyên tắc hoạt động: Hành vi của con người chịu sự chi phối của
suy nghĩ, thái độ, do vậy khi nghiên cứu hành vi kỹ năng cần xem xét suy
nghĩ, quan điểm, thái độ, niềm tin chứa đựng trong kỹ năng đó
- Nguyên tắc hệ thống: Hành vi kỹ năng của con người chịu sự tác động
của các yếu tố chủ quan và khách quan do vậy khi nghiên cứu về kỹ năng
tham vấn cơ bản cần tìm hiểu các yếu tố tác động tới KNTVCB
8.2 Hệ thống các phương pháp: Phương pháp nghiên cứu tài liệu;
Phương pháp chuyên gia; Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi; Phương pháp
trưng cầu ý kiến bằng hoàn thiện câu; Phương pháp phỏng vấn sâu; Phương
pháp quan sát; Phương pháp thảo luận nhóm; Phương pháp phân tích sản
phẩm; Phương pháp thực nghiệm; Phương pháp thống kê toán học
9 Đóng góp mới của luận án
9.1 Về lý luận: Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ về tham vấn,
kỹ năng tham vấn, KNTVCB đặc biệt là các kỹ năng lắng nghe, hỏi, phản
hồi và thấu hiểu Những kết luận của đề tài làm cơ sở khoa học cho việc xây
dựng chương trình và tổ chức đào tạo nâng cao năng lực tham vấn cho
CBXH hiện nay
9.2 Về thực tiễn: Đề tài chỉ ra thực trạng KNTVCB của CBXH ở Việt
Nam và đề xuất một số kiến nghị, đặc biệt là về đào tạo Bên cạnh đó, kết
quả nghiên cứu của đề tài cung cấp nguồn thông tin quan trọng cho hoạt
động giảng dạy và học tập tham vấn trong các trường đại học, cao đẳng, các
cơ quan có tổ chức đào tạo, tập huấn tham vấn ở Việt Nam
10 Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, danh mục
các công trình đã công bố, luận án gồm 3 chương: Cơ sở lý luận; Tổ chức
thực hiện và phương pháp nghiên cứu; Kết quả nghiên cứu và 12 bảng, 13
biểu đồ, 2 sơ đồ, 16 phụ lục
Chương 1 Cơ sở lý luận 1.1 Vμi nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu về kỹ năng tham vấn ở nước ngoài
- Hướng nghiên cứu về trắc nghiệm tâm lý như là khía cạnh kỹ thuật của tham vấn, cung cấp công cụ đánh giá trong tham vấn học đường và định
hướng nghề nghiệp, bao gồm các trắc nghiệm trí tuệ, năng lực, đặc điểm nhân cách, trạng thái tâm lý cá nhân của Alfred Binet, Harry Kitson, Clark
L Hull, E.K Strong H.J Eysenck, V.P Dakharov, Rosenzweig
- Hướng nghiên cứu về qui trình, phương thức tư vấn hướng nghiệp và học đường, tiêu biểu như của B Jesse David về cách thức hướng nghiệp
mang tính giáo dục, hướng dẫn, của F Parsons, G Williamson về quy trình tư vấn hướng nghiệp, của V.X Lukina hay K.K Platonov về hệ thống biện pháp tâm lý – giáo dục trong tư vấn nghề nghiệp
- Hướng nghiên cứu về kỹ thuật trị liệu tâm lý nhằm điều chỉnh những
rối nhiễu tâm lý của con người Tiêu biểu như các kỹ thuật trị liệu phân tâm, hành vi nhận thức, Gestalt, kỹ thuật can thiệp lấy thân chủ làm trung tâm của các tác giả phương Tây, hay trị liệu nhấn mạnh vào giáo dục nhân cách
của các nhà tâm lý học Liên Xô (V.N Mialishev, A.I Zakharov…)
- Hướng nghiên cứu kỹ năng tương tác như là KNTVCB đi sâu vào
nghiên cứu nghệ thuật tương tác mang tính chiều sâu của mối quan hệ
người-người, giữa nhà tham vấn và đối tượng (R Carkhuff, M.Thomas
Skovholt, G.Egan, N.J Richard, E.D Neukrug…) Sau này người ta quan tâm hơn vào nghiên cứu kỹ thuật can thiệp của tham vấn thông qua nhóm xã hội như kỹ năng điều phối, kỹ năng lắng nghe, thấu hiểu đối tượng trong
bối cảnh gia đình và nhóm (C Allie Kilpatrick & P Thomas Holland,
Ackerman và Satir, G Corey & Correy, Eward E & Reley, L Cappuzzi và Gross) Các nghiên cứu về tham vấn đa văn hoá đã lưu ý sự phân biệt chủng
tộc và khác biệt về mong đợi, cách kiểm soát cảm xúc trong tham vấn (S
Palmer và M Laungani và Midgette…)
Công tác xã hội là một trong lĩnh vực của hoạt động trợ giúp do vậy một số tác giả quan tâm tới kỹ năng tham vấn cho các nhóm đối tượng như
trẻ em, người già, gia đình, người nghiện hút…(C Zastrow, D Hepworth,
Karthyn David, John Calson & Judit Lewis, Esther Tan )
Trang 51.1.2 Sự phát triển tham vấn và các nghiên cứu liên quan về kỹ
năng tham vấn ở Việt Nam
1.1.2.1 Sự phát triển tham vấn ở Việt Nam
Tư vấn nghề là một trong những loại hình hoạt động mang tính chuyên
môn rõ nét nhất và thực sự bắt đầu phát triển ở nước ta vào những năm 70 –
80 Tư vấn tâm lý trong bệnh viện, trên đài, qua điện thoại và báo chí ngày
một phát triển Các Trung tâm Tư vấn/Tham vấn được mở ra ngày một nhiều
và tham gia giải quyết vấn đề tâm lý xã hội của cá nhân và gia đình Sự du
nhập của CTXH chuyên nghiệp và những đổi mới về chính sách kinh tế - xã
hội đòi hỏi các cán bộ trong ngành: LĐTBXH, DSGĐTE, HPN sử dụng
tham vấn để giúp đối tượng tự giải quyết vấn đề
1.1.2.2 Các nghiên cứu liên quan về tham vấn và KNTV ở Việt Nam
Một số nghiên cứu về lý luận và ứng dụng thực tiễn về tư vấn nghề của
các tác giả: Phạm Tất Dong, Phạm Huy Thụ, Thế Trường, Lê Đức Phúc…ở
những thập kỷ 70 – 80 Vào thập kỷ 90, xuất hiện nhiều hơn các nghiên cứu
chỉ ra các vấn đề tâm lý như Stress trong cuộc sống và những can thiệp tâm
lý của Đặng Phương Kiệt, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Công Khanh
Những nghiên cứu tiếp theo sau này về lý luận của tham vấn như khái
niệm và bản chất của hoạt động tham vấn của các tác giả Nguyễn Ngọc Phú,
Trần Thị Minh Đức, Phạm Tất Dong, Trần Quốc Thành Các nghiên cứu
chỉ ra nhu cầu và chất lượng trong tham vấn của Trung tâm Nghiên cứu
Công tác xã hội và Phát triển cộng đồng, Đại học Lao động - Xã hội, Đại
học Sư phạm Hà Nội và nhiều tác giả khác
Hoạt động tham vấn ở Việt Nam mới phát triển trong một vài năm gần
đây nên còn có bất cập cả về quy mô lẫn chất lượng Hiện mới có những
nghiên cứu phản ánh thực trạng nhu cầu và chất lượng của tham vấn Những
nghiên cứu về KNTV, KNTVCB hầu như chưa có
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Tham vấn
1.2.1.1 Khái niệm tham vấn
Tham vấn là một quá trình trợ giúp tâm lý, trong đó người thực hiện
tham vấn sử dụng kiến thức, kỹ năng để thiết lập mối quan hệ tương tác tích
cực nhằm giúp đối tượng nhận thức bản thân, vấn đề và nguồn lực, qua đó tự
xác định giải pháp có hiệu quả Người tham vấn (người làm tham vấn) được
xem như người làm tham vấn chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp
Người trợ giúp là CBXH, nhà trị liệu bác sỹ, giáo viên, luật sư có sử dụng
tham vấn trong công việc của họ
1.2.1.2 Một số khái niệm liên quan: tư vấn, tư vấn tâm lý và trị liệu
tâm lý
1.2.2 Khái niệm kỹ năng, kỹ năng tham vấn, KNTVCB
1.2.2.1 Khái niệm kỹ năng
Kỹ năng là sự vận dụng đúng đắn những tri thức, giá trị, thái độ liên quan vào hoạt động hay hành động thực tiễn trong điều kiện cụ thể để thực hiện hành động hay hoạt động đó có kết quả
1.2.2.2 Khái niệm kỹ năng tham vấn
KNTV là sự vận dụng kinh nghiệm, tri thức hiểu biết chuyên môn và thái độ nghề nghiệp của NTG (người trợ giúp) vào hoàn cảnh tham vấn cụ thể nhằm tạo lập mối quan hệ hợp tác, qua đó giúp đối tượng tự nhận thức
được bản thân và vấn đề đang tồn tại, từ đó tự xác định giải pháp để giải quyết vấn đề một cách có hiệu quả
1.2.2.3 Khái niệm kỹ năng tham vấn cơ bản
KNTVCB là tập hợp những kỹ năng nền tảng và quan trọng nhất được NTG sử dụng chủ yếu trong quá trình tham vấn nhằm tạo lập mối quan hệ hợp tác, giúp đối tượng nhận thức được bản thân và vấn đề đang tồn tại, từ
đó tự xác định giải pháp để giải quyết vấn đề có hiệu quả
1.2.3 Một số kỹ năng tham vấn cơ bản
1.2.3.1 Kỹ năng lắng nghe
Kỹ năng lắng nghe trong tham vấn là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hành vi quan sát, chú ý cao độ và thể hiện thái độ tôn trọng nhằm hiểu biết cảm xúc, suy nghĩ và vấn đề của của đối tượng, đồng thời
giúp họ nhận biết rằng đang được quan tâm và chia sẻ
Kỹ năng lắng nghe của NTG được thể hiện ở hành vi, thái độ cụ thể
như: Quan sát; Tập trung chú ý; Thể hiện sự tôn trọng
1.2.3.2 Kỹ năng hỏi
Kỹ năng hỏi trong tham vấn là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hành vi sử dụng câu hỏi hướng tới cảm xúc, suy nghĩ và hành vi của đối tượng với thái độ khích lệ chia sẻ nhằm khám phá thông tin, đồng thời giúp
họ tự nhận thức về bản thân và hoàn cảnh vấn đề để thay đổi
Kỹ năng hỏi của NTG được thể hiện ở hành vi, thái độ cụ thể như: Sử
dụng loại câu hỏi hợp lý; Định hướng thông tin khi hỏi; Có thái độ, hành vi
Trang 6khích lệ trong khi hỏi
1.2.3.3 Kỹ năng phản hồi
Kỹ năng phản hồi trong tham vấn là sự vận dụng những tri thức, kinh
nghiệm để truyền tải lại những suy nghĩ, hành vi cũng như cảm xúc của đối
tượng nhằm kiểm tra thông điệp và thể hiện thái độ quan tâm, khích lệ đối
tượng nhận thức về cảm xúc, suy nghĩ của họ
Kỹ năng phản hồi của NTG được thể hiện ở hành vi, thái độ cụ thể của
phản hồi nội dung và phản hồi cảm xúc
1.2.3.4 Kỹ năng thấu hiểu
Kỹ năng thấu hiểu trong tham vấn là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm
vào hành vi thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và chấp nhận một cách hoàn toàn
những cảm xúc, suy nghĩ của đối tượng nhằm tạo lập mối quan hệ trợ giúp
có hiệu quả trong tham vấn
Kỹ năng thấu hiểu của NTG được thể hiện ở hành vi, thái độ cụ thể
như: Chấp nhận đối tượng hoàn toàn; Cảm nhận sâu sắc suy nghĩ, cảm xúc
của đối tượng
1.2.3.5 Mối quan hệ giữa các kỹ năng lắng nghe, hỏi, phản hồi và
thấu hiểu
Các kỹ năng lắng nghe, hỏi, phản hồi và thấu hiểu có mối quan hệ chặt
chẽ và tác động qua lại lẫn nhau Sự thiếu chú ý tập trung lắng nghe sẽ làm
cho CBXH không định hướng đúng trong khi hỏi và sự cảm nhận những
cảm xúc, suy nghĩ của đối tượng sẽ không chính xác Điều này sẽ khiến cho
kỹ năng hỏi, phản hồi cũng như thấu hiểu kém hiệu quả Ngược lại khi kỹ
năng phản hồi hay thấu hiểu không tốt sẽ làm cho kỹ năng lắng nghe bị hạn
chế
1.2.4 Khái niệm cán bộ xã hội
CTXH là hoạt động chuyên nghiệp nhằm giúp các cá nhân, gia đình và
cộng đồng đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội CBXH là người
được đào tạo về CTXH và sử dụng các kiến thức kỹ năng CTXH để trợ giúp
cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao khả năng giải quyết vấn đề trong
cuộc sống; tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết;
thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trường; tạo
ảnh hưởng tới chính sách xã hội thông qua hoạt động nghiên cứu và thực
tiễn CBXH sử dụng tham vấn như một công cụ chính để thực hiện nhiệm vụ
trợ giúp
1.3 Các yếu tố tác động đến KNTVCB 1.3.1 Đặc điểm tâm lý cá nhân của NTG
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, một số các đặc điểm cá nhân như sự nhiệt tình, thái độ trung thực, thân thiện, chấp nhận, không giáo điều, tư duy rộng mở, trưởng thành về tâm lý, khỏe mạnh về tinh thần, hiểu biết về chuyên môn… là tiền đề cho việc hình thành và phát triển các KNTV của NTG
1.3.2 Kinh nghiệm thực tiễn
Kinh nghiệm sống hay kinh nghiệm nghề nghiệp đã tạo nên nền tảng tri thức để NTG vận dụng vào thực hiện kỹ năng trong công việc trợ giúp
1.3.3 Nền tảng kiến thức, kỹ năng chuyên môn
Người thực hiện tham vấn cần được trang bị kiến thức hiểu biết về xã hội, về hành vi con người, ý thức định hướng nghề nghiệp và nền tảng kỹ năng tham vấn
Tiểu kết chương 1
Tham vấn là hình thức trợ giúp tâm lý được hình thành và phát triển theo hướng chuyên nghiệp trên thế giới gần một thế kỷ nay với sự đóng góp của các hướng nghiên cứu về phương pháp, kỹ thuật tư vấn hướng nghiệp, tham vấn học đường, trị liệu tâm lý, sau này là những nghiên cứu về KNTV, KNTVCB ở Việt Nam, những nghiên cứu về KNTV mới chỉ xoay quanh
thực trạng nhu cầu hay hạn chế của dịch vụ này ở tầm khái quát
Tham vấn không phải là hoạt động đưa ra lời khuyên mà là biện pháp trợ giúp tâm lý nhằm tăng cường năng lực tự giải quyết vấn đề Để đạt được mục tiêu này, nhà tham vấn cần có hệ thống các kỹ năng, đặc biệt là các KNTVCB như lắng nghe, hỏi, phản hồi và thấu hiểu
Hiệu quả của sự thực hiện các kỹ năng phụ thuộc vào một số yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó đặc biệt là các yếu tố: đặc điểm tâm lý cá nhân, kinh nghiệm thực tiễn cũng như nền tảng kiến thức, kỹ năng chuyên môn trong tham vấn của NTG
Chương 2
Tổ chức thực hiện vμ phương pháp nghiên cứu 2.1 Nghiên cứu lý luận
Tổng quan lịch sử các nghiên cứu trong và ngoài nước về kỹ năng tham vấn, KNTVCB và hệ thống hoá một số lý luận cơ bản liên quan tới các khái
Trang 7niệm về tham vấn, kỹ năng tham vấn, KNTVCB, trong đó đặc biệt là các kỹ
năng lắng nghe, hỏi, phản hồi và thấu hiểu, các yếu tố tác động tới chúng
nhằm xác lập quan điểm chỉ đạo cho nghiên cứu thực tiễn Phương pháp
nghiên cứu tài liệu và phương pháp chuyên gia được sử dụng
2.2 Nghiên cứu thực tiễn
2.2.1 Giai đoạn thiết kế công cụ điều tra (bảng hỏi, phiếu trưng
cầu ý kiến bằng hoàn thiện câu, thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu, quan
sát)
Giai đoạn 1: Xác định các KNTVCB quan trọng nhất để điều tra
a Mục đích: Xác định các KNTVCB để nghiên cứu và khảo sát
b Nội dung: ý kiến cá nhân về những KNTVCB
c Phương pháp: Nghiên cứu tài liệu và thăm dò ý kiến chuyên gia (6
CBXH, nhà tham vấn nước ngoài, 10 cán bộ giảng dạy CTXH, tham vấn và
70 CBXH Việt Nam)
Giai đoạn 2: Thiết kế phiếu trưng cầu ý kiến bằng hoàn thiện câu
(TCYKHTC), bảng hỏi, đề cương thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu, quan sát
a Mục đích: Hình thành sơ bộ công cụ điều tra
b Nội dung: Thiết kế phiếu hỏi và phiếu trưng cầu ý kiến bằng hoàn
thiện câu, công cụ điều tra khác
c Phương pháp: Thăm dò ý kiến 10 và phỏng vấn sâu 3 chuyên gia
CTXH và tham vấn nước ngoài; 48 CBXH Việt Nam
2.2.2 Giai đoạn: Khảo sát thử
a Mục đích: Xác định độ tin cậy và đo giá trị của các item trong bảng
hỏi và tính bao quát của phiếu trưng cầu ý kiến bằng hoàn thiện câu
b Khách thể nghiên cứu: 70 CBXH trong các ngành LĐTBXH,
UBDSGĐTE, HPN tại Hà Nội
2.2.3 Giai đoạn: Điều tra chính thức
2.2.3.1 Điều tra qua bảng hỏi và phiếu trưng cầu ý kiến bằng hoàn
thiện câu
a Mục đích: Tìm hiểu đánh giá tổng quát về tham vấn, KNTV của
CBXH và đánh giá thực trạng 4 KNTVCB của CBXH: kỹ năng lắng nghe,
hỏi, phản hồi, thấu hiểu và các yếu tố tác động có liên quan nhằm đưa ra kết
luận và kiến nghị giải pháp
b Phương pháp: Điều tra bằng bảng hỏi và trưng cầu ý kiến bằng hoàn
thiện câu trên 230 CBXH làm việc trong các ngành: DSGĐTE, LĐTBXH,
HPN trong các trung tâm, cơ sở xã hội hoặc tại cộng đồng (xã, phường) tại
Hà Nội, Hà Tây (một số cơ quan ở Hà Nội nhưng có trung tâm ở Hà Tây)
2.2.3.2 Phỏng vấn cá nhân
a Mục đích: Thu nhập, bổ sung, kiểm tra và làm rõ hơn những thông
tin đã thu được từ khảo sát thực tiễn trên diện rộng về thực trạng kỹ năng,
đào tạo/tập huấn tham vấn
b Khách thể: 22 người, là CBXH, đối tượng đã được tham vấn, cán bộ
giảng dạy tham vấn và cán bộ quản lý cơ sở xã hội, các trung tâm tư vấn
2.2.3.3 Phương pháp thảo luận nhóm
a Mục đích: Bổ sung thông tin về thực trạng hành vi thể hiện các KNTVCB trong khi tham vấn và những khó khăn khi sử dụng chúng
b Khách thể: 3 nhóm CBXH của UBDSGĐTE, Bộ LĐTBXH, HPN
2.2.3.4 Quan sát
a Mục đích: Quan sát trực tiếp những hành vi, cử chỉ, lời nói, thái độ
khi tham vấn
b Khách thể: 5 CBXH
2.2.4 Phân tích kết quả điều tra
2.2.4.1 Phân tích số liệu điều tra thống kê toán học: Xử lý kết quả
điều tra bảng hỏi bằng chương trình SPSS phiên bản 13.0
ĐTB thang đo được phân theo 4 mức độ: 1/ ĐTB dưới 1,75 là mức độ yếu - tương ứng với chưa có KNTVCB; 2/ ĐTB từ 1,75 đến dưới 2,5 là mức
độ trung bình – mới chỉ ở mức giao tiếp khuyên giải thông thường nhưng còn thiếu KNTVCB; 3/ ĐTB từ 2,5 đến dưới 3,25 là mức độ khá: tương ứng với đã có KNTVCB (ban đầu); 4/ ĐTB trên 3,25 là mức độ tốt: tương ứng với rất có KNTVCB
2.2.4.2 Xử lý số liệu điều tra định tính: Kết quả phiếu trưng cầu ý
kiến bằng hoàn thiện câu, kết quả phỏng vấn sâu, kết quả quan sát
2.2.5 Thực nghiệm tác động
2.2.5.1 Mục đích
Thử nghiệm chương trình tập huấn KNTVCB cho CBXH theo chu trình tác động tâm lý tích cực: tự nhận thức bản thân - phân tích, so sánh và khám phá - khái quát hoá tri thức (nhận thức mới về kỹ năng) - thực hành và ứng dụng
2.2.5.2 Khách thể thực nghiệm: 14 CBXH
2.2.5.3 Địa điểm và thời gian tiến hành:
Trang 8Địa điểm: Tại Trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương
Thời gian: 135 tiết trong tháng 4/2006 và đánh giá sự áp dụng thực tiễn
tại cộng đồng sau 4 và 6 tháng
2.2.5.4 Cơ sở để đề xuất tác động thực nghiệm:
Hạn chế về các kỹ năng tham vấn cơ bản; hạn chế về phương pháp của
phần lớn các khoá đào tạo/tập huấn vừa qua; nhu cầu đào tạo/ tập huấn để
nâng cao KNTVCB của các CBXH ở Việt Nam
2.2.5.5 Tổ chức thực nghiệm tác động và phương pháp đánh giá:
Biện pháp tác động thực nghiệm là khoá tập huấn về KNTVCB với mô
hình học tập tích cực dựa trên kinh nghiệm Bằng những phương pháp giảng
dạy với những bài tập, tình huống phân tích người học đi từ tự nhận thức
đến phân tích, tổng hợp, khái quát kiến thức, kỹ năng mới và ứng dụng, rèn
luyện chúng Đánh giá kết quả thực nghiệm về sự thay đổi và tính ổn định
của các kỹ năng được thực hiện bằng các phương pháp khác nhau, tại thời
điểm khác nhau (trong khi học, khi kết thúc và sau khoá học 4 và 6 tháng)
Tiểu kết chương 2
Nghiên cứu được thực hiện theo chu trình tổ chức chặt chẽ với sự phối
hợp của nhiều phương pháp khác nhau: phân tích tài liệu, điều tra bằng bảng
hỏi, TCYKHTC, quan sát, phỏng vấn, phương pháp chuyên gia, thảo luận
nhóm phân tích sản phẩm hoạt động và thực nghiệm Các phương pháp này
đã bổ sung, hoàn thiện kết quả nghiên cứu cho nhau ở nhiều góc độ: từ suy
nghĩ chủ quan tới hành vi thực tiễn, từ quan niệm cá nhân tới ý kiến thống
nhất trong nhóm, từ khảo sát thực trạng tới kiểm nghiệm thực tiễn Các số
liệu được xử lý theo phương pháp định lượng và định tính nhằm đảm bảo kết
quả nghiên cứu và kết luận đủ tin cậy, có giá trị về mặt khoa học Đây là cơ
sở để có thể thu nhận được kết quả nghiên cứu một cách khách quan và
mang tính khoa học
Chương 3 kết quả nghiên cứu 3.1 Đánh giá khái quát thực trạng tham vấn ở Việt
Nam
Các nghiên cứu của trường Đại Học Sư phạm (2004), Đại học Lao động
- Xã hội (2004), Thành Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục thành phố Hồ Chí
Minh (2002 – 2003) và nhiều tổ chức, cá nhân khác chỉ ra nhu cầu tham vấn
rất lớn của mọi tầng lớp tại công sở hay trường học hay cộng đồng, song
chất lượng đang là một băn khoăn Gần 100% ý kiến khảo sát trong đề tài
này cũng nhận định, tham vấn ở nước ta hiện nay là cần và rất cần thiết
(26% và 73%) Thực trạng tham vấn với xu hướng đưa ra lời khuyên là phần nhiều (70%) Có nhiều yếu tố tác động tới thực trạng này, trong đó sự thiếu hụt về kiến thức nền tảng hành vi con người, văn hoá, xã hội… và kỹ năng cơ bản trong tham vấn (100%), và nguyên nhân cội nguồn là họ chưa được tham gia các khóa đào tạo bài bản về tham vấn (99%) Việc thiếu kinh nghiệm hay ý thức về tính chuyên nghiệp của hoạt động tham vấn cũng
được đề cập tới như một yếu tố tác động (92,0%)
3.2 Thực trạng một số KNTVCB: Lắng nghe, Hỏi, Phản hồi, Thấu hiểu
3.2.1 Kỹ năng lắng nghe
Điểm trung bình (ĐTB) của kỹ năng này là 2,51– cao hơn ĐTB của thang đo (2,50) Tuy nhiên chỉ có 1/2 số họ có ĐTB của kỹ năng lắng nghe
ở mức khá và tốt (40,3% và 10%) - mức được xem là có và rất có kỹ năng lắng nghe trong tham vấn Số còn lại chủ yếu có ĐTB ở mức độ trung bình, nghĩa là họ mới chỉ thể hiện sự lắng nghe trong giao tiếp khuyên giải thông thường (45,2%), thậm chí một số ít người còn ở mức yếu (4,5%)
3.2.1.1 Nhận thức về mục đích của lắng nghe trong tham vấn
Nhìn chung, các CBXH đã có nhận thức khá đầy đủ các mục đích của lắng nghe trong tham vấn Tuy nhiên, mục đích hướng tới “lắng nghe” những suy nghĩ, cảm xúc của đối tượng, hoặc giúp họ hiểu là đang được lắng nghe nhằm tạo lập mối quan hệ chưa thực sự được coi trọng
3.2.1.2 Những hành vi khi lắng nghe trong tham vấn
a Quan sát trong tham vấn
ĐTB của toàn yếu tố quan sát là 2,74 và ĐLC: 0,63 - cao hơn ĐTB toàn thang đo (2,50) và như vậy khả năng quan sát của CBXH tỏ ra khá tốt
Một tỷ lệ khá cao số CBXH không tán thành với hành vi vừa làm trong
khi nghe (89,5%) Số liệu thống kê từ TCYKHTC chỉ ra, thái độ, cử chỉ,
hành vi của đối tượng được xem như là tâm điểm của quan sát (86,4%) và diện mạo, giọng nói, âm thanh cũng là mối quan tâm khi quan sát (32,6%) Tuy nhiên, quan sát trực tiếp cho thấy, một số CBXH thường có các hành vi như: nhìn lên trên, xuống đất hoặc sang ngang đặc biệt khi họ tỏ ra bối rối hay suy nghĩ tìm cách giải thích Một hạn chế khác đó là sự quá chú
ý lắng nghe về nguyên nhân của sự việc (ĐTB: 2,25 - ĐLC: 0,86) hơn là chú
Trang 9ý quan sát cảm xúc của đối tượng
b Tập trung chú ý khi lắng nghe trong tham vấn
ĐTB của yếu tố này là 2,25 - ĐLC: 0,61 Hạn chế này có thể thấy từ kết
quả điều tra bằng các phương pháp khác nhau
Trước hết, đó là sự phân tán bởi những suy nghĩ, suy đoán trong khi nghe
(72,1%%; 77,2% và ĐTB: 2,04 và 2,06) Trong TCYKHTC cũng có 38% ý
kiến đề cập tới hành vi này Khi phỏng vấn sâu, các ý kiến cho thấy hiện
tượng bị phân tán trong khi nghe là một phần do họ mong muốn chuẩn bị kỹ
lưỡng các câu hỏi và câu trả lời cho đối tượng Hành vi ghi chép lại trong
khi nghe cũng phổ biến (ĐTB: 2,06 - ĐLC:1,03) và cũng được khẳng định
lại bởi các ý kiến phỏng vấn sâu Im lặng để nghe người kia nói có ĐTB khá
cao (2,94) Tuy nhiên, trong quan sát trực tiếp vẫn có CBXH sử dụng khá
nhiều thời gian cho việc nói và giải thích ý kiến từ phỏng vấn sâu cũng
nhấn mạnh khía cạnh này
c Thể hiện tôn trọng đối tượng khi lắng nghe trong tham vấn
Trong quan sát trực tiếp, chúng tôi nhận thấy những hành vi của CBXH
thể hiện sự lắng nghe với thái độ tôn trọng như: ngồi hướng về phía đối
tượng, mắt chăm chú nhìn và đôi khi có câu khen ngợi hay phản hồi lại
những suy nghĩ của họ Số liệu khảo sát cũng cho thấy, phần đông CBXH
thể hiện thái độ thân thiện khi lắng nghe và không phân biệt đối xử (ĐTB:
2,73 - ĐLC: 1,07 và ĐTB: 2,86 - ĐLC:1,09)
Tuy nhiên, khi đối tượng có quan điểm được xem là chưa phù hợp, thì
có tới trên 1/2 người được hỏi tỏ ra không chấp nhận (ĐTB: 2,43 - ĐLC:
1,03) Trong điều tra bằng TCYKHTC có 31,8% ý kiến cho rằng họ gặp khó
khăn trong lắng nghe khi: “Quan điểm của đối tượng khác với quan điểm
của tôi”, “Đối tượng không nói thật và không hợp tác” hoặc do “Câu chuyện
của họ khó nghe” Thói quen kể về chuyện của bản thân nhằm mục đích thể
hiện lắng nghe và hiểu câu chuyện của đối tượng trong giao tiếp đời thường
đã ảnh hưởng phần nào tới phong cách tham vấn ((ĐTB: 2,08 - ĐLC: 1,01)
ý kiến trong thảo luận nhóm cũng chỉ ra đây là một khiếm khuyết hay mắc
phải
3.2.2 Kỹ năng hỏi
Trong số những CBXH được điều tra có 41,8% đã đạt điểm kỹ năng hỏi
ở mức khá và 5% ở mức tốt Như vậy gần một nửa số họ đã có và rất có kỹ
năng hỏi khi tham vấn Tuy nhiên tỷ lệ số CBXH chưa có hay còn thiếu kỹ
năng hỏi trong tham vấn cũng chiếm một tỷ lệ gần tương đương (53,2%) và
họ chủ yếu hỏi theo cách giao tiếp khuyên giải thông thường
3.2.2.1 Nhận thức về mục đích hỏi trong tham vấn
Mục đích hỏi được đề cập tới nhiều nhất là hướng tới tìm kiếm thông tin để xác định vấn đề Đại đa số ý kiến cho rằng kỹ năng hỏi giúp CBXH khai thác thông tin (78%) để hiểu vấn đề, mối quan hệ xã hội của họ (65,9%) Mục đích hiểu cảm xúc suy nghĩ của đối tượng chỉ có 12,5%
3.2.2.2 Các hành vi biểu hiện cụ thể của kỹ năng hỏi trong tham vấn
CBXH tỏ ra có khả năng khích lệ đối tượng khi hỏi (ĐTB: 2,61; ĐLC: 0,60), song việc sử dụng loại câu hỏi và định hướng thông tin khi hỏi chưa
đạt được sự tinh tế trong tham vấn ĐTB của các yếu tố này là: 2,45 và 2,27- thấp hơn ĐTB thang đo (2,50)
a Sử dụng loại câu hỏi trong tham vấn
ĐTB của sử dụng loại câu hỏi là 2,45 với ĐLC là 0,68
Trong quan sát trực tiếp, chúng tôi nhận thấy câu hỏi đóng được sử dụng khá nhiều ở 4/5 ca Trong điều tra bảng hỏi, có gần 50% số người có
xu hướng sử dụng loại câu hỏi này (ĐTB: 2,46 - ĐLC: 1,06) Trong phần bài tập tình huống, cũng có gần 1/3 số người được hỏi đã lựa chọn câu hỏi đóng
để tìm hiểu sự bỏ nhà ra đi của trẻ
Việc sử dụng câu hỏi có nhiều từ hỏi khá thường xuyên (ĐTB: 2,49;
ĐLC: 1,00)
Câu hỏi tại sao/vì sao cũng được sử dụng nhiều trong quan sát trực tiếp, trong điều tra bảng hỏi (60%) Trong thảo luận nhóm, CBXH lý giải việc sử dụng câu hỏi vì sao thường xuyên là do muốn biết về nguyên nhân vấn đề 53,2% số người tỏ ý không muốn hỏi trực tiếp vì e ngại động chạm nỗi đau của họ
b Định hướng thông tin để hỏi trong tham vấn
Khả năng định hướng thông tin để hỏi của CBXH là điểm khá hạn chế của kỹ năng hỏi (ĐTB: 2,27 - ĐLC: 0,59)
Phần lớn những người được hỏi tỏ ra quan tâm tới khía cạnh thông tin hơn là để đối tượng đối mặt với bản thân (ĐTB: 2,36 - ĐLC: 1,02) Họ thường hỏi về những người liên quan nhiều hơn là hỏi về đối tượng (ĐTB: 1,98 - ĐLC: 0,88) Điều này lý giải tại sao CBXH thường sử dụng câu hỏi gián tiếp Kết quả trong TCYKHTC khẳng định thêm cho xu hướng này khi
có tới 83,% ý kiến đề cập tới hỏi về mối quan hệ và vấn đề liên quan
Trang 10Đại đa số CBXH thường có xu hướng ít hỏi về cảm xúc của đối tượng
(62,2%) Những quan sát thấy được trong các ca tham vấn cũng trùng khớp
với kết quả ở trên, khi những câu hỏi được đặt ra thường xoay quanh hoàn
cảnh, diễn biến vấn đề hơn là về cảm xúc, suy nghĩ của đối tượng
c Khích lệ đối tượng trả lời khi hỏi trong tham vấn
Đại đa số CBXH có khả năng khích lệ đối tượng trong khi hỏi (ĐTB:
2,61 - ĐLC: 0,60) Trong đó, đặc biệt là sự thể hiện thái độ không phân biệt
đối xử (ĐTB: 3,11- ĐLC: 1,06) và không phán xét khi hỏi (ĐTB: 2,95 -
ĐLC: 1,08) Đây là những hành vi rất tích cực có tác dụng khích lệ đối
tượng trả lời và hợp tác trong tham vấn
Tuy nhiên còn một số hạn chế như ghi chép trong khi hỏi, cách thức
gợi mở theo kiểu dẫn dắt (được nhận thấy trong quan sát trực tiếp), hay sự
nóng vội khi đối tượng im lặng khi được hỏi (46,3%) Có thể do thói quen,
nên không ít người cảm thấy bối rối và hỏi là cách để lấp đi khoảng trống
3.2.3 Kỹ năng phản hồi
Đại đa số CBXH có ĐTB của kỹ năng phản hồi ở mức trung bình
(50,2%) và mức yếu (22,4%), có nghĩa là họ mới chỉ phản hồi theo cách
giao tiếp khuyên giải thông thường Chỉ có gần 1/3 số người được xem là có
và rất có kỹ năng phản hồi trong tham vấn với ĐTB ở mức khá và tốt
(27,4%)
3.2.3.1 Mục đích của phản hồi trong tham vấn
Mục đích kiểm tra thông tin và hiểu vấn đề của đối tượng được quan
tâm nhiều nhất (53%) Một số ít ý kiến cho rằng, họ kiểm tra thông tin về
giải pháp (18,9%) Tạo lập mối quan hệ tin tưởng qua phản hồi với 28% ý
kiến ghi nhận Các ý kiến trong thảo luận nhóm cũng thống nhất với phần
lớn kết quả từ bảng hỏi
3.2.3.2 Hành vi phản hồi trong tham vấn
ĐTB của toàn bộ kỹ năng phản hồi đạt 2,13 và của các yếu tố của kỹ
năng phản hồi (2,11; 2,15) đều thấp hơn ĐTB của thang đo (2,50) Khi quan
sát trực tiếp cũng thấy có một số hạn chế của CBXH trong phản hồi
a Phản hồi cảm xúc trong tham vấn
ĐTB của phản hồi cảm xúc là 2,11 (thấp hơn ĐTB thang đo - 2,50)
Khi trợ giúp, CBXH có xu hướng chưa thực sự quan tâm để phản hồi
cảm xúc của đối tượng Việc lấy lời khuyên (ĐTB: 1,82 - ĐLC: 0,86), hay
giảng giải về lý trí (ĐTB: 1,76 - ĐLC: 0,84) để trấn an tỏ ra phổ biến
(80,1%; 83,6%) Trong quan sát các ca tham vấn trực tiếp, một số CBXH chưa đề cập tới tâm trạng của đối tượng hay trong bài tập tình huống có gần 1/2 số người lựa chọn phương án mô tả sự vui mừng của cá nhân CBXH hơn
là của đối tượng
Xu hướng không phản hồi lại những hành vi mâu thuẫn (76,6%) và chú
ý nhiều hơn tới thông tin có lời khi phản hồi đã làm hạn chế việc thu nhận thông tin phi ngôn ngữ của đối tượng Kết quả này được khẳng định lại bởi
ý kiến trả lời trong TCYKHTC khi có 22,7% ý kiến đề cập tới việc im lặng,
cho qua như: “Quan sát và suy đoán”; “Không có phản ứng gì”; “Coi như
không biết”; “Lờ đi và tiếp tục hỏi khai thác thông tin” Việc ngại chia sẻ
suy nghĩ cá nhân của CBXH có thể do bị chi phối bởi chưa nhận thức hết tầm quan trọng hoặc cũng có thể bị ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa
b Phản hồi nội dung trong tham vấn
ĐTB của phản hồi nội dung là 2,15 (thấp hơn ĐTB thang đo - 2,50)
Xu hướng tìm hiểu nguyên nhân để xác định vấn đề của CBXH (ĐTB:1,62 - ĐLC: 0,75) hay suy luận điều đối tượng nói (ĐTB: 1,92 - ĐLC:
0,87) là khá rõ nét Các ý kiến trong thảo luận nhóm cũng ghi nhận: “Để tiết
kiệm thời gian, không hay hỏi lại và ngầm cho là như vậy nhưng sau đó họ lại bảo là không phải như vậy” Tâm lý kinh nghiệm công tác có thể làm
cho CBXH dễ bỏ qua kiểm tra thông tin bằng việc diễn đạt lại điều đối tượng trình bày Phản hồi bằng cách đưa ra lời khuyên về giải pháp (ĐTB: 2,29 - ĐLC: 1,06) thường được áp dụng Trong TCYKHTC có thấy những ý
kiến tương tự như: “Nhắc nhở để sửa đổi”, “Góp ý và nói là không phù
hợp”, “Nói cho họ biết và góp ý để họ điều chỉnh”…
Liên quan tới sử dụng loại câu nói để phản hồi, kết quả điều tra bằng bảng hỏi cho thấy, có trên 50% số người được hỏi cho rằng họ sử dụng phản hồi mang tính khẳng định (ĐTB: 2,44 - ĐLC: 1,05) điều này dễ dẫn đến những kết luận chủ quan
3.2.4 Kỹ năng thấu hiểu
Là một trong những kỹ năng khó nên kết quả của kỹ năng thấu hiểu tỏ
ra thấp nhất trong số 4 kỹ năng được nghiên cứu (ĐTB: 2,06 - ĐLC: 0,48) Phần lớn CBXH chưa có (27,9%) và còn thiếu (55,2%) kỹ năng này khi tham vấn cho đối tượng Số CBXH đã có và rất có kỹ năng thấu hiểu chưa tới 1/5 những người được khảo sát