1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Lv ths bch quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trên báo mạng điện tử dành cho trẻ em (khảo sát thieunien vn, hoahoctro vn, năm 2019)

102 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lv ths bch quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trên báo mạng điện tử dành cho trẻ em (khảo sát thieunien vn, hoahoctro vn, năm 2019)
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 284,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giáo dục kỹ năng sống là một yêu cầu quan trọng, đảm bảo giáo dục toàn diện cho trẻ em Việt Nam, là việc làm cần thiết, nhằm giúp các em tự tin, chủ động xử lý các tình huống xảy ra trong cuộc sống. Đó còn là việc tạo nền tảng để các em có những tri thức, kỹ năng căn bản để thích ứng với môi trường sống, qua đó khi gặp những tình huống có thể dẫn đến nguy hiểm tính mạng các em biết cách phòng tránh, thoát hiểm, hạn chế những hậu quả đáng tiếc. Về trách nhiệm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em, ngoài trách nhiệm của nhà trường còn có trách nhiệm của gia đình và toàn xã hội, thông qua nhiều hình thức giáo dục như lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em vào các chương trình học tập trong nhà trường; các hình thức vui chơi; các hoạt động xã hội; các phương tiện truyền thông. Đặc biệt là các trang báo mạng điện tử dành cho trẻ em. Ở nước ta, báo mạng điện là một loại hình báo chí ra đời muộn, sau báo in, báo phát thanh, báo truyền hình. Sự ảnh hưởng của báo mạng điện tử, cũng như sự phát triển của loại hình báo chí này, trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, đã đóng góp vô cùng to lớn trong việc định hướng hành vi, văn hóa ứng xử cho cho xã hội, trong đó có các trang Báo mạng điện tử dành cho trẻ em. Trong những năm gần đây, trước sức ép cạnh tranh của các loại hình báo chí, mạng xã hội, báo mạng điện tử đã bộc lộ cả thế mạnh và những phức tạp, hệ lụy khó lường. Bên cạnh những ưu điểm vượt trội như: nội dung đăng tải trên các trang báo mạng điện tử dành cho trẻ em đã cung cấp thông tin, tuyên truyền, định hướng, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ và dần khẳng định đây là kênh thông tin vô cùng quan trọng, hữu ích. Tuy nhiên vẫn còn đâu đó những bài báo đi lệch khỏi quỹ đạo thiên chức của mình. Bị sa đà vào việc câu “view”, giật “tít”, sao cho có thể đến với độc giả một cách nhanh nhất, tiếp cận độc giả nhanh nhất. Đưa lên những nội dung đáp ứng những thị hiếu tầm thường của độc giả mà quên mất đi chức năng giáo dục của mình, nhất là đối với những nội dung dành cho trẻ em. Chính vì vậy, câu hỏi lớn đặt ra cho cả xã hội, nhất là với các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí, đặc biệt là lãnh đạo các tòa soạn báo điện tử dành cho trẻ em là: cần phải làm gì? làm như thế nào? để quản lý tốt nội dung giáo dục trẻ em nói chung, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em nói riêng. Đó chính là lý do tác giả muốn tìm hiểu sâu hơn về vấn đề quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trên báo mạng điện tử và lựa chọn vấn đề “Quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trên báo mạng điện tử dành cho trẻ em (Khảo sát thieunien.vn, hoahoctro.vn, năm 2019) để làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.

Trang 1

NỘI DUNG 12

Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NỘI DUNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ EM TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ DÀNH CHO TRẺ EM 12

1.1 Về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em 12

1.2 Về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trên báo mạng điện tử dành cho trẻ em 22

1.3 Các yếu tố của quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trên báo mạng điện tử dành cho trẻ em 32

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỘI DUNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ EM TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ DÀNH CHO TRẺ EM 46

2.1 Khái quát về báo mạng điện tử và báo mạng điện tử dành cho trẻ em 46

2.2 Những ưu điểm trong quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trên báo mạng điện tử và nguyên nhân 52

2.3 Những hạn chế và nguyên nhân 70

Chương 3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ NỘI DUNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ EM TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬDÀNH CHO TRẺ EM TRONG THỜI GIAN TỚI 79

3.1 Một số vấn đề đặt ra 79

3.2 Một số giải pháp cơ bản 79

3.3 Một số kiến nghị 87

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 2

Bảng 2.1 Số lượng nội dung giáo dục kỹ năng sống 2019 52Bảng 2.2 Số lượng các tin, bài có nội dung giáo dục kỹ năng sống 71

Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ các bài có nội dung giáo dục kỹ năng sống trên Báo

thieunin.vn 72

Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ các bài có nội dung giáo dục kỹ năng sống trên Báo

Hoahoctro.vn 72

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục kỹ năng sống là một yêu cầu quan trọng, đảm bảo giáo dụctoàn diện cho trẻ em Việt Nam, là việc làm cần thiết, nhằm giúp các em tự tin,chủ động xử lý các tình huống xảy ra trong cuộc sống Đó còn là việc tạo nềntảng để các em có những tri thức, kỹ năng căn bản để thích ứng với môitrường sống, qua đó khi gặp những tình huống có thể dẫn đến nguy hiểm tínhmạng các em biết cách phòng tránh, thoát hiểm, hạn chế những hậu quả đángtiếc Về trách nhiệm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em, ngoài trách nhiệmcủa nhà trường còn có trách nhiệm của gia đình và toàn xã hội, thông quanhiều hình thức giáo dục như lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho trẻ emvào các chương trình học tập trong nhà trường; các hình thức vui chơi; cáchoạt động xã hội; các phương tiện truyền thông Đặc biệt là các trang báomạng điện tử dành cho trẻ em

Ở nước ta, báo mạng điện là một loại hình báo chí ra đời muộn, saubáo in, báo phát thanh, báo truyền hình Sự ảnh hưởng của báo mạng điện tử,cũng như sự phát triển của loại hình báo chí này, trong thời đại công nghệthông tin hiện nay, đã đóng góp vô cùng to lớn trong việc định hướng hành

vi, văn hóa ứng xử cho cho xã hội, trong đó có các trang Báo mạng điện tửdành cho trẻ em

Trong những năm gần đây, trước sức ép cạnh tranh của các loại hìnhbáo chí, mạng xã hội, báo mạng điện tử đã bộc lộ cả thế mạnh và những phứctạp, hệ lụy khó lường Bên cạnh những ưu điểm vượt trội như: nội dung đăngtải trên các trang báo mạng điện tử dành cho trẻ em đã cung cấp thông tin,tuyên truyền, định hướng, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ và dần khẳng địnhđây là kênh thông tin vô cùng quan trọng, hữu ích Tuy nhiên vẫn còn đâu đó

Trang 4

những bài báo đi lệch khỏi quỹ đạo thiên chức của mình Bị sa đà vào việccâu “view”, giật “tít”, sao cho có thể đến với độc giả một cách nhanh nhất,tiếp cận độc giả nhanh nhất Đưa lên những nội dung đáp ứng những thị hiếutầm thường của độc giả mà quên mất đi chức năng giáo dục của mình, nhất làđối với những nội dung dành cho trẻ em Chính vì vậy, câu hỏi lớn đặt ra cho

cả xã hội, nhất là với các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí, đặc biệt là lãnhđạo các tòa soạn báo điện tử dành cho trẻ em là: cần phải làm gì? làm như thếnào? để quản lý tốt nội dung giáo dục trẻ em nói chung, giáo dục kỹ năngsống cho trẻ em nói riêng Đó chính là lý do tác giả muốn tìm hiểu sâu hơn vềvấn đề quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trên báo mạng điện

tử và lựa chọn vấn đề “Quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trên báo mạng điện tử dành cho trẻ em (Khảo sát thieunien.vn, hoahoctro.vn, năm 2019) để làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục

kỹ năng sống cho trẻ em

- Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thúy Hằng

(2010), Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh tiểu học, Nxb

Đại học Quốc gia Hà Nội Cuốn sách đưa ra hệ thống khái niệm kỹ năng,

kỹ năng sống, giá trị sống cũng như tầm quan trọng của việc giáo dục kỹnăng sống và giá trị sống cho học sinh cấp tiểu học Đồng thời đề ra một sốgiải pháp nâng hiệu quả hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống chohọc sinh ở cấp tiểu học

- Lương Thị Hằng (2012), Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh ở trường Trung học phổ thông Nam Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên, Luận văn Thạc sỹ Quản lý giáo dục, Trường Đại

học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã đưa ra hệ thống các khái niệm như: kỹ

Trang 5

năng sống, giá trị sống, mối quan hệ giữa kỹ năng sống và giá trị sống Tuynhiên, luận văn chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu biện pháp quản lý hoạtđộng giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh ở trường Trung họcphổ thông Nam Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên Đồng thời đề ra một số giải phápnâng cao tính quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống chohọc sinh ở cấp THCS

- Hoàng Nghĩa Kiên (2013), Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường trung học phổ thông huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, Luận văn Thạc sỹ Giáo dục học, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận

văn đã đưa ra hệ thống khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, kỹ năng, kỹ năngsống Luận văn tập trung phân tích sâu về những tác động của công tác quản

lý đối với hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường Đề ra nhữnggiải pháp nâng cao tính quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sốngcho học sinh ở cấp THPT

- Nguyễn Thị Thủy (2014), Giáo dục kỹ năng sống cho Thanh thiếu niên trên kênh VTV6 - Đài truyền hình Việt Nam, Luận văn thạc sĩ báo chí

học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn đã làm rõ những vấn đề lýluận về giáo dục kỹ năng sống như: khái niệm, vai trò, thế mạnh và hạn chếcủa truyền hình trong công tác giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên;Khảo sát, thống kê, phân tích làm rõ thực trạng, thành công, hạn chế và hiệuquả của kênh VTV6 trong việc thực hiện vai trò giáo dục kỹ năng sống chothanh thiếu niên trong thời gian qua; Đề xuất hệ thống những giải pháp nhằmgóp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả và phát huy vai trò giáo dục kỹ năngsống cho thanh thiếu niên của kênh VTV6

Thứ hai, những công trình nghiên cứu về báo mạng điện tử và quản

lý nội dung trên báo mạng điện tử

Các tác giả nước ngoài rất quan tâm vấn đề báo chí nói chung, quản lý

báo mạng điện tử nói riêng:

Trang 6

- Philippe Breton, Serge Proulx (1996), Bùng nổ truyền thông – Sự ra đời một ý thức hệ mới, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Tác giả đã khẳng

định, sự ra đời của điện tử học và sự phát triển của khoa học công nghệ đã cótác động mạnh mẽ đối với hệ thống truyền thông (hệ thống các media) Nhờ

đó mà các media trở nên dễ dàng hơn trong việc tiếp cận công chúng, đồngthời dễ dàng làm ảnh hưởng tới tư tưởng, nhận thức của công chúng Bởi vậy,tùy thuộc vào nền văn hóa khác nhau, thể chế chính trị khác nhau mà hệ thốngmedia được sử dụng một cách linh hoạt, phù hợp với tiêu chí hoạt động củatừng tổ chức, cá nhân sử dụng

- Michael Harpe (2012), Study Shows How internet Use Affects Today’s Youth, http://www.redorbit.com ngày 02/11 Tác giả cho thấy: các thanh thiếu

niên ngày nay đang tích cực sử dụng internet thông qua các thiết bị thông tinhiện đại trong cuộc sống của mình Bên cạnh việc cung cấp một lượng thôngtin phong phú, internet cũng mang lại những thông tin về định hướng giáo dục

kỹ năng sống cho giới trẻ Điều này cho thấy, internet nói chung và loại hìnhbáo điện tử nói riêng đã có ảnh hưởng nhất định đối với giới trẻ

Ngoài ra còn có thể kể tới một số công trình nghiên cứu, bài viết khác

về sự ảnh hưởng của internet, của các phương tiện truyền thông đại chúng đối

với vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em: “The Impact of Social Media on Children, Adolescents, and Families” (Tạm dịch: Ảnh hưởng của mạng xã

hội đối với trẻ em, thanh thiếu niên và gia đình) của hai tác giả GwennSchurgin O'Keeffe, Kathleen Clarke-Pearson (đăng trênhttp://pediatrics.aappublications.org/) 01/4/2011đã phân tích về thực trạng sử

dụng mạng xã hội của thanh thiếu niên Mỹ; “Impact of mediause on childrenandyouth”, 11/2012 (Tạm dịch: “Tác động của việc sử dụng phương

tiện truyền thông đối với trẻ em và thanh thiếu niên) được đăng trênhttps://www.ncbi.nlm.nih.gov/ đã có những phân tích sâu sắc về sự ảnh

Trang 7

hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng như: tivi, trò chơI điện tử,

video âm nhạc, Internet đối với trẻ em và thanh thiếu niên; “Effects of Media on Teens: A Look at the Research” (Tạm dịch: Ảnh hưởng của phương

tiện truyền thông đối với giới trẻ: Một góc nhìn nghiên cứu) của hai tác giảAlison Burkhardt và Daniel White Hodge đăng trên website của trường Đạihọc North Park ngày 01/05/2012, trong đó đã chỉ ra rằng, phương tiện truyền

thông đại chúng đã đưa ra những “chỉ số” để những người trẻ định hình cái gì

là “bình thường” và “không bình thường”, củng cố kiến thức, giúp họ nhận

thức rõ về bản thân và những người xung quanh mình

Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về báo mạng điện tử và

quản lý báo mạng điện tử:

- Bùi Hoài Sơn (2008), Phương tiện truyền thông mới và những thay đổi văn hóa xã hội ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Cuốn sách đã

khẳng định: “Dù biết rằng, công nghệ luôn luôn là công nghệ, nó không hoàntoàn tốt cũng không hoàn toàn xấu, màchỉ giúp con người trở nên thuận tiệnhơn trong cuộc sống hàng ngày, tuy nhiên, các phương tiện truyền thông mới

đã khiến nhân loại lo lắng về một khả năng con người trở thành nạn nhân củamáy móc"

- Nguyễn Thế Kỷ (2012), Công tác lãnh đạo quản lý báo chí trong 25 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

Nội dung cuốn sách gồm 3 chương: Chương 1 tập trung làm rõ quan niệm,nội dung và cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý báo chí; chương 2 kháiquát ưu điểm, hạn chế trong công tác lãnh đạo, quản lý báo chí trong 25 nămđổi mới đất nước; chương 3 đề cập đến một số nhiệm vụ và giải pháp nângcao chất lượng, hiệu quả công tác lãnh đạo, quản lý báo chí Trong phần 2 củachương 1, cuốn sách mới điểm qua 10 nội dung quản lý nhà nước về báo chíđược quy định trong Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật

Trang 8

Báo chí (1999); chưa phân tích và đánh giá các nội dung quản lý nhà nước đốivới báo chí.

- Nguyễn Thị Trường Giang (2014), Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Cuốn sách đề cập đến một số vấn đề

xung quanh báo điện tử như: lịch sử ra đời, khái niệm, đặc điểm báo điện tử;

sự khác nhau giữa báo điện tử với trang thông tin điện tử; vai trò của báo điện

tử trong đời sống xã hội; mô hình tòa soạn và quy trình sản xuất thông tin củabáo điện tử, những phẩm chất của nhà báo điện tử; cách viết, trình bày nộidung báo điện tử

- Nguyễn Trí Nhiệm, Nguyễn Thị Trường Giang (2014), Báo mạng điện tử - Đặc trưng và phương pháp sáng tạo, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội Cuốn sách trình bày những kiến thức, kỹ năng, quy trình sản xuất tácphẩm báo mạng điện tử

- Nguyễn Thành Lợi (2014), Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại, Nxb Thông tin và Truyền thông Cuốn sách đã giới

thiệu những nét khái quát nhất về các vấn đề khá mới mẻ đang được nghiêncứu rộng rãi trên thế giới nhiều năm – nhiều thập kỷ qua như: truyền thông xãhội,các lý thuyết về truyền thông, hội tụ truyền thông, xu hướng tòa soạn báohội tụ và những kỹ năng cần thiết trong viết báo đa phương tiện.Cuốn sách đãkhẳng định tầm quan trọng của internet và các thiết bị truyền thông hiện đạiđối với báo chí

- Nguyễn Thị Minh Châu (2014) Báo mạng điện tử đối với việc hỗ trợ phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc

sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Trong đề tài tác giả đã tổng quan cơ sở

lý luận về Báo mạng điện tử, hệ thống lại hệ thống lý thuyết về Báo mạngĐiện tử và chức năng của Báo mạng điện tử; Khảo sát thực tế sinh viênTP.HCM nhằm đánh giá tác động của Báo mạng điện tử đến việc hỗ trợ pháttriển kỹ năng mềm cho sinh viên

Trang 9

- Nguyễn Thị Thủy (2014), Giáo dục kỹ năng sống cho Thanh thiếu

niên trên kênh VTV6 - Đài truyền hình Việt Nam, Luận văn thạc sĩ báo chí

học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Trên cơ sở nghiên cứu và khảo sát

về nội dung, hình thức, phương thức sản xuất các chương trình truyền hìnhcủa kênh VTV6 về vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên, luậnvăn đã chỉ rõ những ưu điểm, cũng như những hạn của các chương trình; từ

đó đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng các chươngtrình giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên trên sóng truyền hình, đápứng nhiệm vụ tuyên truyền mà Đảng và Nhà nước giao phó, đồng thời đápứng nhu cầu thưởng thức thông tin của đông đảo khán giả trẻ yêu thíchkênh VTV6

- Đỗ Quý Doãn (2015), Quản lý và Phát triển Thông tin báo chí ở Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Cuốn sách tập hợp một số bài

phát biểu của tác giả trong các hội nghị và các bài viết đăng trên một số báo,tạp chí Trong đó, có một số đánh giá chung về hoạt động của báo chí và xuấtbản; công tác quản lý nhà nước về báo chí ở một số thời điểm 1999, 2008,

2012, 2013

Qua các cuốn sách và công trình nghiên cứu trên cho thấy Sự pháttriển của báo điện tử gắn liền với sự bùng nổ mạnh mẽ của mạng internet vàcácphương tiện truyền thông khác Tất cả đều có sự ảnh hưởng nhất định đốivới người dân nói chung và đặc biệt là người trẻ hoặc trẻ em nói riêng

Tuy ra đời muộn hơn so với các loại hình báo chí khác nhưng báo mạngđiện tử lại nhanh chóng có được chỗ đứng nhất định, vững vàng trong lòng bạnđọc Trải qua gần 20 năm hình thành và phát triển, báo mạng điện tử đã cónhững đóng góp to lớn cho sự phát triển của báo chí nói riêng và đời sống xãhội nói chung Bởi vậy, báo mạng điện tử đã trở thành đề tài nghiên cứu của rấtnhiều người từ học sinh – sinh viên cho đến các cử nhân, thạc sĩ, nghiên cứusinh hay các nhà nghiên cứu, các phóng viên, BTV Trước hết, về mặt lý luận

và những vấn đề cơ bản của báo mạng điện tử như: sự ra đời và phát triển của

Trang 10

báo mạng điện tử, khái niệm và đặc trưng của báo mạng điện tử, phương thứcsáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử.

Qua khảo sát các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên chothấy, vấn đề giáo dục kỹ năng sống có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trongquá trình giáo dục cho trẻ em, ở Việt Nam nói riêng cũng như các nước trên thếgiới nói chung Chính vì vậy trong thời gian qua đã có rất nhiều các công trìnhnghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chủ yếu tậptrung một số khía cạnh của vấn đề giáo dục kỹ năng sống như: giới thiệu về kỹnăng sống; tầm quan trọng của kỹ năng sống; giáo dục kỹ năng sống, nhưng lạirất ít các công trình nghiên cứu về quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống, đặcbiệt là nghiên cứu về quản lý nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em trêncác loại hình báo chí nói chung, báo mạng điện tử nói riêng

Đó chính là khoảng trống về cả mặt lý luận và thực tiễn cần tiếp tục

được nghiên Vì vậy, tác giả đã lựa chọn vấn đề “Quản lý nội dung giáo dục

kỹ năng sống cho trẻ em trên báo mạng điện tử dành cho trẻ em” để làm đề

tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ Báo chí học – Chuyên ngành Quản lý Báochí – Truyền thông, với mong muốn có một sự đóng nhỏ bé về lý luận và thựctiễn qua kết quả nghiên cứu vấn đề quản lý nội giáo dục kỹ năng sống cho chotrẻ em trên báo mạng điện tử

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả xin phép được kế thừa những ýtưởng khai phá của những nhà nghiên cứu đi trước và coi đó là tiền đề lý luận

và thực tiễn để triển khai đề tài nghiên cứu của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu đề tài

Trên cơ sở phân tích làm rõ lý luận chung, khảo sát thực trạng quản lý nộidung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trên báo mạng điện tử, tác giả luận văn

đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng quản lý vấn đềgiáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trên báo mạng điện tử trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 11

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, tác giả luận văn đã thực hiệnnhững nhiệm vụ như sau:

- Làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý nội dung giáo dục kỹ năngsống cho trẻ em trên báo mạng điện tử dành cho trẻ em

- Khảo sát thực trạng quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ

em trên báo mạng điện tử dành cho trẻ em- đánh giá ưu điểm, hạn chế vànguyên nhân;

- Đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng quản

lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trên báo mạng điện tử dành chotrẻ em trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý nội dung giáo dục kỹnăng sống cho trẻ em trên báo mạng điện tử dành cho trẻ em

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi khảo sát: hoahoctro.vn; thieunien.vn

- Thời gian khảo sát: năm 2019

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh và quanđiểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng, bồi dưỡng thế hệ trẻ, về đổimới giáo dục và đào tạo một cách căn bản, toàn diện; những lý thuyết báo chí-truyền thông hiện đại, quản lý báo chí- truyền thông

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử;

Các phương pháp liên ngành: khoa học quản lý, báo chí học, xã hộihọc…

Trang 12

Các phương pháp cụ thể: logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, sosánh, thống kê, nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực tiễn

6 Đóng góp mới của đề tài

- Đề tài đưa ra khung lý thuyết nghiên cứu quản lý nội dung giáo dục

kỹ năng sống cho trẻ em trên báo mạng điện tử dành cho trẻ em; kết quả khảosát thực trạng về vấn đề này;

- Đề xuất được các giải pháp cơ bản để khắc phục những hạn chế trongcông tác quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trên báo mạngđiện tử dành cho trẻ em

- Đề xuất những kiến nghị cụ thể đối với các tổ chức, cơ quan liên quanđến quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trên báo mạng điện tửdành cho trẻ em

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa lý luận

- Đề tài làm rõ những khái niệm và vấn đề lý luận liên quan đến việcquản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trên báo mạng điện tửdành cho trẻ em hiện nay Đồng thời, đề tài cũng góp phần đưa ra những giảipháp, cách thức cụ thể nhằm nâng cao sự ảnh hưởng tích cực của báo điện tửđối với nhiệm vụ giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cần thiết, bổ ích cho cácphóng viên, biên tập viên và những người phụ trách công tác kiểm duyệt,quản lý quảng cáo tại đài, báo trên cả nước

Ngoài ra, quá trình nghiên cứu đề tài cũng sẽ là một cơ hội để tác giảluận văn tích luỹ kiến thức, nâng cao tầm hiểu biết và nâng cao năng lựcchuyên môn trong nhiệm vụ cụ thể hiện nay của mình

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văngồm 3 chương

Trang 13

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NỘI DUNG GIÁO DỤC

KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ EM TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ

DÀNH CHO TRẺ EM 1.1 Về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Trẻ em

Điều 1 Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em nêu: “Trẻ em được xác định

là người dưới 18 tuổi, trừ khi luật pháp quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm” [3, tr.12] Tại Việt Nam, theo Điều 1, Chương 1 của Luật trẻ em 2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” Còn theo Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”.

Tóm lại, trẻ em là người dưới 16 tuổi (theo pháp luật Việt Nam) hoặc

là người dưới 18 tuổi (theo pháp luật quốc tế) và là một nhóm xã hội đặc thù có các quyền được ghi trong pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế mà Nhà nước, gia đình, nhà trường và xã hội phải thực hiện.

Luật trẻ em Việt Nam 2016 quy định: “Những người dưới 16 tuổi gọi là trẻ em ”, “Những người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên”, “Những người từ đủ 15 tuổi trở lên có giao kết hợp đồng lao động gọi là người lao động” [32, tr.102].

Như vậy trẻ em được hiểu trước hết là một con người được hưởng mọi quyền và mọi tự do đã được nêu ra trong các Công ước Quốc tế về quyền con người mà “không bị bất cứ một sự phân biệt đối xử nào vì chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc mối tương quan khác" [3, tr.8] Trong đó

có quyền được giáo dục, học tập, rèn luyện, nhất là giáo dục kỹ năng sống

Trang 14

Trong Quy định về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạtđộng ngoài giờ chính khóa, ngày 28/2/2014, Hà Nội, kỹ năng sống là khảnăng để có hành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xửhiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày Quanniệm này mang tính khái quát và nhấn mạnh khả năng của mỗi cá nhânnhằm thích nghi và cao hơn là đáp ứng tích cực trước những đòi hỏi và yêucầu của cuộc sống hàng ngày mà cá nhân đó phải đối diện Trong quanniệm này, hai mức độ mỗi cá nhân cần thực hiện là: thích ứng và tích cực.Các vấn đề mỗi cá nhân phải đối diện là: tương tác với người khác, sự thayđổi của điều kiện sống và môi trường, các vấn đề của bản thân, các vấn đề

về học tập và làm việc [5]

Theo UNICEF, kỹ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hìnhthành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiếnthức, hình thành thái độ và kỹ năng Quan niệm này nhấn mạnh cấu trúc vàquá trình hình thành KNS Kỹ năng sống không đồng nhất với kiến thức vềcuộc sống mà nó được cấu thành từ kiến thức về cuộc sống, thái độ đối vớicuộc sống và việc làm cụ thể của cá nhân Vì vậy, KNS cần phải được hìnhthành trong suốt quá trình sinh trưởng của mỗi người Quá trình hình thànhKNS của mỗi cá nhân không chỉ diễn ra ở gia đình, nhà trường mà còn ởngoài xã hội; không chỉ chịu ảnh hưởng của tính chất lịch sử của từng thờiđại mà còn chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hóa của gia đình và xãhội mà mỗi cá nhân sinh sống

Trang 15

Theo UNESCO, kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là:

- Kỹ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định,giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả

- Kỹ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tựnhận thức, tự tin

- Kỹ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác,làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông

- Kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ như: kỹ năng đặt mục tiêu,đảm nhận trách nhiệm,…Quan niệm này chỉ ra hệ thống kỹ năng sống cầnthiết cho mỗi cá nhân trong mối tương quan mật thiết với các trụ cột của giáodục thế giới Hệ thống này mang tính khoa học và thiết thực cho việc xâydựng chương trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh của các quốc gia trênthế giới Tại Việt Nam, theo quan điểm của Bộ giáo dục và đào tạo, trong thờigian gần đây đã có nhiều quan niệm về kỹ năng sống Kỹ năng sống là nănglực tâm lý - xã hội của mỗi cá nhân, giúp con người có khả năng làm chủ bảnthân, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năngứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống [5; tr.8] Kỹ năng sống

là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và tháchthức của cuộc sống hằng ngày, mà đặc biệt tuổi học sinh rất cần để vào đời[30, tr.78]

Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa: Kỹ năng sống là năng lực tâm

lý xã hội giúp cá nhân có những hành vi ứng phó tích cực đối với các tình huốngcủa cuộc sống Như kỹ năng cá nhân, kỹ năng công việc, kỹ năng học tập

1.1.1.3 Giáo dục kỹ năng sống

Để làm rõ khái niệm giáo dục kỹ năng sống, không thể không làm rõ khái niệm giáo dục vì đây là khái niệm quan trọng và cơ bản nhất của giáo

dục học

Trang 16

Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều quan niệm:

“Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt vàlĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người…” [51, tr.9]

Quan niệm trên nhấn mạnh đến sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế

hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, nhưng không thấy nói đến mục đích sâu xahơn, mục đích cuối cùng của việc đó là gì

Ông John Dewey (1859 - 1952), nhà triết học, nhà tâm lí học và nhà cảicách giáo dục người Mỹ, cho rằng: “Giáo dục là “khả năng” của loài người đểđảm bảo tồn tại xã hội” [8, tr.17 - 26] Ngoài ra, ông John Dewey cũng chorằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại chính trongquá trình truyền dạy ấy Như vậy, theo quan điểm của ông John Dewey, ôngcũng đề cập đến việc truyền đạt, nhưng ông nói rõ hơn về mục tiêu cuối cùngcủa việc giáo dục, là dạy dỗ

Trong tiếng Việt, từ ngữ “Giáo dục” có nghĩa: giáo là chỉ bảo, uốnnắn, biến đổi và làm cho hoàn hảo Dục là bản chất hoặc tính khí con ngườicần được uốn nắn chỉ bảo Vậy giáo dục là tiến trình uốn nắn, hướng dẫncon người nhằm ngày càng trở nên toàn diện [40] Muốn thực hiện tiếntrình đó, giáo dục cần sự hiện diện đồng hành của nhà giáo dục và ngườiđược giáo dục, nó vừa mang tính trao nhận, vừa rèn cặp và tư vấn, nhằmchuẩn bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết, hoặc làm thay đổi hành vi

có hại bằng hành vi có lợi Giáo dục cũng là quá trình giao tiếp hai chiềuqua đó người dạy và người học cùng chia sẻ hiểu biết, kinh nghiệm và cùnghọc tập lẫn nhau

Như vậy, qua những quan niệm ở trên có thể thấy về bản chất, giáo dục

là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã hội giữa cácthế hệ loài người; đó là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để hìnhthành cho họ những phẩm chất nhân cách

Trang 17

Từ những quan niệm và phân tích ở trên có thể hiểu: “Giáo dục là sựhướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm của các thế hệ trước cho thế hệsau để làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hoàn thiện hơn”.

Trên cơ sở khái niệm “kỹ năng sống” và khái niệm “giáo dục”đã được phân tích và làm rõ Tác giả đưa ra khái niệm: “Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em” là giáo dục cách sống chủ động, linh hoạt và khả năng ứng phó một

cách hiệu quả với những tình huống trong cuộc sống, thông qua việc trang bịcho trẻ em các tri thức, kinh nghiệm của những người đi trước.Giáo dục kỹnăng sống là một quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằmhình thành năng lực hành động tích cực, có liên quan tới kiến thức và thái độ,giúp cá nhân có ý thức về bản thân, giao tiếp, quan hệ xã hội, thực hiện côngviệc, ứng phó hiệu quả với các yêu cầu thách thức của cuộc sống hàng ngày

1.1.2 Đặc điểm, nội dung và phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em

1.1.2.1 Đặc điểm

Giáo dục không bao giờ là muộn, tuy nhiên việc giáo dục kỹ năng sốngcho trẻ em muốn có kết quả tốt cần quan tâm đến những đặc điểm riêng củađối tượng người học là trẻ em như: thời điểm giáo dục; đối tượng giáo dục; sựkết hợp của các chủ thể giáo dục

- Về thời điểm giáo dục: Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng từ 3-6

tuổi là giai đoạn “cửa sổ vàng” cho trẻ học tập Giai đoạn này não bộ của trẻphát triển rất mạnh, khả năng ngôn ngữ, sáng tạo, ghi nhớ của trẻ rất cao Tạithời điểm trẻ đang tò mò, khao khát tìm hiểu thế giới xung quanh là thời điểmtốt nhất để dạy trẻ biết cách cư xử đúng mực, tự tin giao tiếp, tư duy sáng tạo,

và hình thành các kỹ năng sống cơ bản Ở trong giai đoạn này, nếu trẻ emđược quan tâm chu đáo, dạy dỗ nghiêm túc, sẽ hình thành những thói quen tốtgiúp ích rất nhiều cho trẻ khi bước vào giai đoạn tiểu học

Trang 18

- Về mục đích giáo dục: Quá trình giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em

cần tập trung vào những mục đích cụ thể, phù hợp với nhận thức và lứa tuổi.phù hợp với điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội của mỗi địa phương Vớimục tiêu là hướng tới hình thành ở trẻ em sự tự tin, giúp trẻ em biết hợp táctrong đội nhóm, giúp trẻ ý thức về giá trị của bản thân, giúp trẻ em biết giảiquyết mâu thuẫn một cách hòa bình, giúp trẻ em có khả năng tự lập, giúp trẻ

em biết sống có trách nhiệm, giúp trẻ em biết biểu lộ sự bao dung, sự tôntrọng người khác, giúp trẻ em biết quan tâm đến nhu cầu của người khác vàsẵn sàng giúp đỡ họ

- Về chủ thể giáo dục: Việc giáo dục trẻ em nói chung cũng như giáo

dục kỹ năng sống cho trẻ em nói riêng, là một quá trình lâu dài liên tục, diễn

ra ở nhiều môi trường khác nhau, liên quan rất nhiều đến các chủ thể giáo dụcnhư: gia đình, nhà trường và xã hội Vì thế, việc giáo dục nói chung và giáodục kỹ năng sống cho trẻ em nói riêng luôn luôn đòi hòi có sự phối hợp củanhiều lực lượng như các đoàn thể xã hội, gia đình và nhà trường Ý nghĩa sâu

sắc của việc phối hợp giáo dục đã được Bác Hồ chỉ ra từ lâu: "Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn" [44, tr.168-172]

Chúng ta đều biết rằng trong thực tế, trong môi trường xã hội mà trẻsống, học tập và phát triển; bên cạnh các mặt tác động, các ảnh hưởng tíchcực luôn hàm chứa các yếu tố ngẫu nhiên và với trình độ thiếu từng trải, ítvốn sống lại hiếu động, trẻ em dễ bắt chước theo, vi phạm các chuẩn mực, tácđộng tiêu cực đến sự phát triển nhân cách của trẻ Nhất là khi thiếu sự phốihợp đúng đắn, thiếu sự thống nhất tác động giáo dục, thậm chí có sự đốinghịch giữa nhà trường và xã hội hoặc gia đình thì hậu quả xấu trong giáo dụcsẽ xuất hiện, nếu không kịp thời khắc phục hậu quả sẽ rất tai hại

Trang 19

Trong lý luận cũng như trong thực tiễn giáo dục, sự thống nhất tácđộng giáo dục từ nhà trường, gia đình và xã hội được xem là vấn đề có tínhnguyên tắc đảm bảo cho mọi hoạt động giáo dục có điều kiện đạt hiệu quả tốt.

Trong việc tổ chức kết hợp các lực lượng giáo dục, gia đình có vai trò

và tác động vô cùng quan trọng, là trọng tâm của các hoạt động kết hợp Giađình là nơi trẻ em được sinh ra, lớn lên và hình thành nhân cách của mình.Ảnh hưởng giáo dục của gia đình đến với trẻ em là sớm nhất Giáo dục concái trong gia đình không phải chi là việc riêng tư của bố mẹ mà còn là tráchnhiệm đạo đức và nghĩa vụ công dân của những người làm cha mẹ Nó đượcxác định trong nhiều văn bản pháp luật ở nước ta từ trước đến nay như trongHiến pháp (1992), Luật Hôn nhân và gia đình (1986), Luật Bảo vệ chăm sóc

và giáo dục trẻ em (1991) và luật trẻ em (2016) gắn với quan hệ máu mủruột thịt và tình yêu sâu sắc của cha mẹ với con cái nên giáo dục gia đìnhmang tính xúc cảm mạnh mẽ, có khả năng cảm hóa rất lớn Trong khi đó giáodục trong nhà trường và ngoài xã hội, hướng đến số đông và theo từng cấp độtuổi, trình độ nhất định của trẻ em thì giáo dục trong gia đình mang tính cábiệt với từng đứa trẻ về mọi mặt như: sức khỏe, giới tính, cá tính từ đó cóthể đặt ra những nội dung, hình thức giáo dục cụ thể với mỗi em Hơn nữa,giáo dục gia đình được diễn ra hàng ngày trong cuộc sống, có khả năng đápứng kịp thời những yêu cầu đặt ra trong thực tiễn của gia đình và giải quyếtnhững tình huống nảy sinh trong cuộc sống Đó những ưu thế riêng biệt đốivới sự hình thành và phát triển nhân cách và kỹ năng sống của trẻ em

Tóm lại, việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội đối với việcgiáo dục kỹ năng sống cho trẻ em là một nguyên tắc cơ bản nếu muốn có sựthành công Sự phối hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục trên, trước là đểđảm bảo sự thống nhất trong nhận thức cũng như hoạt động giáo dục cùngmột hướng, một mục đích, đồng tâm tạo sức mạnh kích thích, thúc đẩy quátrình phát triển nhân cách và kỹ năng của trẻ, tránh sự tách rời mâu thuẫn, bài

Trang 20

xích lẫn nhau gây cho các em tâm trạng nghi ngờ, hoang mang, dao độngtrong việc lựa chọn, định hướng các giá trị tốt đẹp của nhân cách, kỹ năng củatrẻ Sự phối hợp gia đình, nhà trường, xã hội có thể diễn ra dưới nhiều hìnhthức Vấn đề cơ bản hàng đầu là tất cả các chủ thể giáo dục phải phát huy tinhthần trách nhiệm, chủ động tạo ra những mối quan hệ phối hợp vì mục tiêugiáo dục đào tạo thế hệ trẻ thành những người công dân hữu ích cho đất nước.

- Về đặc điểm đối tượng giáo dục - trẻ em: Con người hay vạn vật trên

thế giới này đều cần có qua trình sinh trưởng và phát triển Trẻ em không phải

là người lớn thu nhỏ lại và người lớn không phải lúc nào cũng có thể hiểuđược trí tuệ, nguyện vọng và tình cảm độc đáo của trẻ em, vì “trẻ em cónhững cách nhìn, cách suy nghĩ và cảm nhận riêng của nó” Do đó, vấn đềgiáo dục cho trẻ em cũng có sự khác biệt,phải phù hợp với quá trình pháttriển tư duy và trí tuệ;phải tạo ra cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tínhcủa trẻ em một cách toàn diện Đối với trẻ em tư duy mang đậm màu sắcxúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tưduy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Khả năngkhái quát vấn đề, phân tích và giải quyết vấn đề cụ thể phát triển dần theolứa tuổi Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ởphần đông trẻ em Chính vì vậy vấn đề giáo dục cho trẻ em nói chúng vànhất là giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em nói riêng phải phù hợp với từnglứa tuổi cụ thể của trẻ em

1.1.2.2 Các nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em

Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em là hoạt động do các chủ thể giáo dục

tổ chức theo kế hoạch Chương trình giáo dục kỹ năng sống của các lực lượnggiáo dục hiện nay được triển khai 2 cách: một là theo hướng tiếp cận năng lựcngười học (ở đây là trẻ em); hai là theo hướng tiếp cận nội dung (ở đây là nộidung giáo dục của các lực lượng tham gia giáo dục, trong đó có nội dung tin

Trang 21

bài về giáo dục kỹ năng sống trên báo chí) nhằm hình thành và phát triển chotrẻ em các kỹ năng, năng lực cá nhân để các em có khả năng làm chủ bảnthân, khả năng ứng xử phù hợp với người khác và với xã hội, khả năng ứngphó tích cực trước các tình huống của cuộc sống phù hợp đặc điểm phát triểnlứa tuổi Để đáp ứng mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em cần quan tâmnhững nội dung sau:

Một là, kỹ năng nhận biết và quản lý bản thân; bao gồm: Kỹ năng tự

nhận thức ở trẻ em là khả năng hiểu đúng những khía cạnh cơ bản của bảnthân, bước đầu biết điểm mạnh và điểm yếu của bản thân; Kỹ năng xácđịnh giá trị ở trẻ em là khả năng ý thức được những giá trị cơ bản, dễ nhậnbiết mà bản thân mình lựa chọn trong cuộc sống; Kỹ năng kiểm soát cảmxúc ở trẻ em là khả năng nhận thức được cảm xúc của mình trong một tìnhhuống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đó đối với bản thân vàngười khác, đồng thời biết điều chỉnh và thể hiện cảm xúc của mình mộtcách phù hợp…

Hai là, kỹ năng giao tiếp cuộc sống; như: Kỹ năng cảm thông, là khả

năng đặt mình trong hoàn cảnh của người khác để hiểu, thông cảm và chấpnhận người khác; Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, là khả năng tìm được sựgiúp đỡ, sự hỗ trợ từ những cá nhân khác và các tổ chức nhằm thực hiệnnhững mục đích của mình; Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, là khả năng nhậnbiết được nguyên nhân làm nảy sinh mâu thuẫn và hành động tích cựcnhằm thỏa mãn nhu cầu của các bên; Kỹ năng giao tiếp là khả năng bày tỏsuy nghĩ và thái độ của trẻ em một cách phù hợp với hoàn cảnh và đốitượng giao tiếp

Ba là, kỹ năng ra quết định; bao gồm: Kỹ năng đặt mục tiêu đối với trẻ

em là khả năng biết đề ra và thực hiện được mục tiêu của bản thân trong cuộcsống, trẻ sống có mục đích, có kế hoạch và có khả năng thực hiện được mục

Trang 22

tiêu của mình; Kỹ năng quản lý thời gian ở là khả năng biết sử dụng thời gianhợp lý cho các hoạt động của mình theo thứ tự ưu tiên và thực hiện công việcđúng thời hạn; Kỹ năng ra quyết định là khả năng biết lựa chọn phương án tối

ưu để giải quyết vấn đề hay tình huống cá nhân gặp phải trong cuộc sống

+ Tự giáo dục: Thông qua hoạt động học tập và giáo dục giúp trẻ emtiến hành các hoạt động tự giáo dục các kỹ năng sống để biến quá trình giáodục thành kỹ năng của bản thân

+ Giáo dục kỹ năng sống thông qua sách báo, và các phương tiệntruyền thông: Các bài tác phẩm này đều tập trung vào mục đích tuyên truyềncác chủ trương, chính sách bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nói chung.Qua đó, phát hiện và biểu dương những gương điển hình, phản ánh những vấn

đề bất cập về trẻ em, các phương pháp giáo dục trẻ em trong nhà trường Bêncạnh đó có rất nhiều tác phẩm viết về phương pháp chăm sóc, giáo dục trẻ emtrong gia đình, nhà trường và xã hội Đặc biệt là mảng đề tài giáo dục kỹ năngsống cho trẻ em, có thể kể đến một loạt những bài viết, những chuyên mục

như“kỹ năng sống”, “trường lớp”, “sáng tác”, “Phóng viên nhỏ” hay những chuyên đề như “Tuyên truyền về tấm gương vượt khó”… Qua đó, cung cấp

những kiến thức, kỹ năng sống cho trẻ, tạo môi trường thuận lợi giúp trẻ hìnhthành nhân cách và phát triển một cách bình thường

Trang 23

Tóm lại, có nhiều phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em.Mỗi phương pháp giáo dục có hình thức giáo dục khác nhau, nhưng cácphương pháp giáo dục phải đảm bảo tính khoa học, phát huy tính tích cực,

tự giác, chủ động, phù hợp với tư duy sáng tạo của trẻ em; bồi dưỡng chotrẻ em năng lực tự học và hợp tác, khả năng thực hành, lòng say mê học tập

và ý chí vươn lên

1.2 Về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trên báo mạng điện tử dành cho trẻ em

1.2.1 Khái niệm, chức năng báo chí, báo mạng điện tử

1.2.1.1 Khái niệm và chức năng của báo chí

Báo chí là một hiện tượng xã hội, ra đời do nhu cầu thông tin - giaotiếp, giải trí và nhận thức của con người, có ảnh hưởng rộng lớn tới đời sống

xã hội Báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng truyền tải thông tin vềcác sự kiện, sự việc, hiện tượng đang diễn ra trong hiện thực khách quan mộtcách nhanh chóng, chính xác và trung thực đến đông đảo công chúng, nhằmtích cực hoá đời sống thực tiễn

Theo Luật Báo chí năm 2016, thì “Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử” [32, tr.5].

Báo chí ra đời từ trước công nguyên, ban đầu là các bản tin, những kýhiệu, hình vẽ chép tay, khắc lên vỏ, thân cây, trên da thú , sau này mới cógiấy in và các bản tin, thông báo được in trên giấy Đến khoảng thế kỷ XII, xuhướng phát triển mới thì các bản tin, truyền tin ngày càng phát triển và đóngvai trò không thể thiếu trong đời sống xã hội Đến nay, báo chí trở thành loạihình truyền thông rất phổ biến Ảnh hưởng của nó với đời sống xã hội là hếtsức rộng lớn và sâu sắc Thậm chí khả năng và điều kiện thụ hưởng các sản

Trang 24

phẩm báo chí còn được coi là một chỉ số quan trọng để đánh giá tính chất vănminh của một xã hội hiện đại.

Tác giả Nguyễn Văn Dững cho rằng báo chí có đặc điểm chung: “làhoạt động thông tin – giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn nhất, là phươngtiện và phương thức kết nối xã hội hữu hiệu nhất, là phương tiện và phươngthức can thiệp xã hội hiệu quả nhất thông qua mối quan hệ với công chúng và

dư luận xã hội, với nhân dân và với các nhóm xã hội và cộng đồng quốc tế”[10, tr.150]

Lịch sử phát triển của báo chí chính là sự gia tăng các tiện ích của quátrình thu thập, xử lý và tiếp nhận thông tin dành cho số đông trong xã hội.Tính chất công khai, rộng rãi và nhanh chóng đã khiến báo chí trở thành mộtnguồn năng lực có sức mạnh độc tôn Việc bày tỏ quan điểm, chính kiến trênmặt báo, định hướng dư luận xã hội đã khiến báo chí vượt xa khả năng củamột phương tiện truyền tin thông thường Nó thực sự là vũ khí có sức côngphá lớn, thực sự là một thứ quyền lực: quyền lực của trí tuệ, nhận thức, củakhả năng thức tỉnh lý trí, cổ vũ dư luận Sức mạnh của phương tiện truyềnthông lan tỏa nhanh nhất, rộng khắp trong thời đại thông tin tri thức là sứcmạnh trực tiếp thúc đẩy sự phát triển xã hội, tạo nguồn lực và cơ hội cho mỗi

cá nhân phát triển

Theo quan niệm từ trước đến nay, báo chí là phương tiện truyền thôngđại chúng, truyền tải những những thông tin thời sự có tính định kỳ đến vớiđông đảo công chúng Đặc điểm nổi bật của báo chí chính là tính công khai và

sự lan tỏa nhanh chóng, rộng khắp

Theo tác giả Đỗ Chí Nghĩa, báo chí là loại hình các phương tiện truyềnthông đại chúng được cơ quan thẩm quyền cấp phép hoạt động, có nhiệm vụchuyển tải thông tin nhanh nhất, mới mẻ nhất đến cho đông đảo công chúng,nhằm tích cực hóa đời sống thực tiễn” [37, tr.17]

Trang 25

Tóm lại, báo chí là một bộ phận của truyền thông đại chúng, nhưng là

bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nền tảng và có khả năng quyết địnhtính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyềnthông đại chúng Do đó, trong nhiều trường hợp, có thể dùng báo chí để chỉtruyền thông đại chúng; và ngược lại, nói đến truyền thông đại chúng - trướchết phải nói đến báo chí Hiểu theo nghĩa rộng báo chí được bao gồm: báo,tạp chí in, báo phát thanh, báo truyền hình, báo mạng điện tử

Ở Việt Nam, báo chí là của dân và vì dân; nền báo chí cách mạng đượcđặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản lí của Nhà nước và hoạtđộng trong khuôn khổ pháp luật; bảo đảm tính tư tưởng, tính chân thực, tínhnhân dân, tính chiến đấu và tính đa dạng của hoạt động báo chí Báo chí thựchiện vai trò vừa là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của các tổ chức chínhtrị - xã hội, đồng thời cũng là diễn đàn của nhân dân trong công cuộc đổi mới,trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, côngbằng, dân chủ, văn minh

Xã hội phát triển càng cao, con người càng văn minh, chức năng củabáo chí càng đa dạng để đáp ứng nhu cầu của một xã hội hiện đại Nhữngchức năng của báo chí có quan hệ chặt chẽ, bổ xung cho nhau tạo thànhnhững mắt xích của một hệ thống hoàn chỉnh, chặt chẽ Nằm trong sự tácđộng qua lại thương xuyên, các chức năng này chỉ được hình dung đầy đủkhi hoạt động của nó được xem xét như một quá trình tập thể, hệ thốngtổng hợp, khi các kết luận và những kết quả hoạt động của nó là kết luận vàhoạt động của các loại hình và phương thức của hệ thống báo chí thốngnhất Việc tách ra và phân tích các chức năng báo chí về mặt lý luận chỉ có

ý nghĩa khi người ta hiểu đầy đủ hơn về mối quan hệ thống nhất giữachúng và từ đó sử dụng có hiệu quả hơn mối quan hệ đó vào hoạt độngthực tiễn báo chí

Trang 26

Báo chí có 5 chức năng cơ bản

- Chức năng thông tin – giao tiếp là chức năng cơ bản, chức năng khởi

nguồn của bảo chí Thông tin trên báo chí đã không chỉ trở thành sức mạnhchính trị trong cuộc đấu tranh chính trị - tư tưởng, sức mạnh đột phá của sựphát triển kinh tế, khoa học mà còn góp phần hình thành diện mạo văn hoáquốc gia cũng như nhân cách mỗi con người

- Chức năng giáo dục tư tưởng là chức năng xuyên suốt, thể hiện tính

mục đích của báo chí Với chức năng này, theo quan điểm của Đảng ta, báochí là công cụ, phương tiện quan trọng dùng để truyền bá hệ tư tưởng củaĐảng, giáo dục lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và làm cho hệ tưtưởng - lý luận này trở thành chủ đạo, chiếm ưu thế trong đời sống tinh thần,

tư tưởng của đông đảo nhân dân

- Chức năng khai sáng, giải trí được hiểu rằng, báo chí không chỉ là

kênh thông tin - truyền thông quan trọng cung cấp thông tin, kiến thức, màcòn là diễn đàn trao đổi, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm phong phú nhằmnâng cao trình độ dân trí, đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững

- Chức năng quản lý, giám sát và phản biện xã hội của báo chí thể hiện

ở chỗ, báo chí duy trì và phát triển mối liên hệ chặt chẽ giữa chủ thể và kháchthể quản lý thông qua việc duy trì và phát triển dòng thông tin hai chiều, bảođảm cho các quyết định quản lý được thông suốt và thực thi

- Chức năng kinh tế - dịch vụ xuất phát từ đòi hỏi khách quan của hoạt

động báo chí trong nền kinh tế thị trường

1.2.1.2 Khái niệm, đặc điểm báo mạng điện tử

Tháng 5/1992 trang Diễn đàn Chicago được thành lập đánh dấu sự rađời của báo mạng điện tử Sau đó, người ta đã ứng dụng tối đa những ưuthế vượt trội về kỹ thuật của Net và cho ra đời một loại hình báo chí mớitích hợp được sức mạnh của các loại báo chí truyền thống (báo in, phát

Trang 27

thanh, truyền hình) Từ khi ra đời đến nay loại hình báo chí thứ tư có rấtnhiều cách gọi khác nhau: Online Newspaper (báo trực tuyến), ElictronicJournal (báo điện tử), Cyber Newspaper (báo mạng), Internet Newspaper(báo Internet), báo mạng điện tử

Online Newspaper (báo trực tuyến) là cách gọi của những nước sửdụng tiếng Anh đối với loại hình báo chí có sản phẩm đăng trên Internet

Từ “trực tuyến” có nghĩa là đường thẳng, sử dụng từ này trong điện tử tinhọc với hàm nghĩa mô tả phương thức tương tác hoặc truyền thông tin, dữliệu của các thiết bị với nhau theo một đường thẳng (hai chiếc máy tínhhoặc hai chiếc điện thoại di động kết nối với nhau có thể xem là trựctuyến) Từ đó cho thấy ngay bản thân khái niệm này đã không phản ánhđược hết khả năng ứng dụng những ưu thế vượt trội về kỹ thuật NET củabáo mạng điện tử, cho nên, cần có một khái niệm đầy đủ, phổ quát hơn vềbáo mạng điện tử Trên thế giới và ở Việt Nam đang tồn tại nhiều cách gọikhác nhau đối với loại hình báo chí này: báo điện tử (Electronic Journal),báo trực tuyến (Online Newspaper),báo mạng (Cyber Newspaper), báo chíinternet (Internet Newspaper) và báo mạng điện tử

Ở Việt Nam, thuật ngữ “báo mạng điện tử” lần đầu tiên được ghi rõtrong văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước từ năm 1999 Cụ thể là tạiĐiều 3, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999 ghirõ: Báo chí nói trong Luật này là báo chí Việt Nam, bao gồm: báo in (báo,tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (chương trình phát thanh),báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe – nhìn thời sự đượcthực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử (được thựchiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu

số Việt Nam, tiếng nước ngoài

Trang 28

Mới nhất, Luật Báo chí (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày5/4/2016, Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 Quy định tại khoản 5,Điều 4 Luật Báo chí như sau: “Báo chí điện tử là loại hình báo chí sử dụngchữ viết, hình ảnh, âm thanh được truyền dẫn trên môi trường mạng, bao gồmbáo điện tử và tạp chí điện tử” Tuy nhiên, khái niệm báo điện tử có nghĩa rấtchung chung, không giúp hiểu rõ đặc điểm của loại hình báo chí phát hànhtrên mạng: tờ báo được sản xuất trong vòng khép kín trên mạng LAN của tòasoạn hay tờ báo được “chạy” trên môi trường mạng toàn cầu internet.

Khái quát lại, có thể hiểu: “Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web, phát hành trên mạng internet, có ưu thế trong chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời,

đa phương tiện và tương tác cao” [39, tr.32].

Báo mạng điện tử là loại hình báo chí ra đời muộn hơn báo in, phátthanh và truyền hình Nhưng bản thân nó mang trong mình sức mạnh củatruyền thông đại chúng truyền thống cùng kết hợp với mạng máy tính nên nó

có những đặc điểm và ưu thế vượt trội:

Một là, cho phép cập nhật thông tin tức thời, thường xuyên và liên tục.

Nhờ vào sự phát triển của công nghệ, máy vi tính và đặc biệt là vai tròcủa mạng toàn cầu Internet, các nhà báo trực tuyến có thể dễ dàng xâm nhập

sự kiện, nhanh chóng viết bài và gửi về toà soạn thông qua hệ thống thư điện

tử Với tốc độ đường truyền nhanh, thậm chí các nhà báo có thể đưa tin cùnglúc với sự kiện, ví dụ như khi tường thuật một trận bóng đá, hay một cuộchọp báo…

Không chỉ tức thời, báo mạng điện tử còn cho phép nhà báo thườngxuyên update thông tin Điều này khác với báo giấy hoặc các loại hình báo chíkhác ở chỗ nhà báo có thể đăng tải thêm tin tức bất cứ lúc nào mà không phảichờ đến giờ lên khuôn hay sắp xếp chương trình như ở các loại hình báo chí

Trang 29

khác Chính vì thế mà người ta còn cho báo mạng điện tử một đặc trưng làtính phi định kì.

Đặc điểm này giúp cho báo mạng dễ dàng vượt trội hơn so với các loạihình báo chí khác về tốc độ thông tin, lượng thông tin, đảm bảo tính thời sự

và tạo ra sự thuận tiện cho độc giả Nhiều người tìm đến báo mạng điện tử đểcập nhật thông tin cũng là vì lí do này

Hai là, có tính tương tác cao.

Tính tương tác là một trong những đặc trưng quan trọng của báo chí.Khi mà mọi điều kiện của con người được nâng cao, nhu cầu được đáp ứng vềthông tin, cũng như sự tương tác với báo chí của độc giả càng được coi trọng

Ở bất kì loại hình báo chí nào, tính chất này cũng được những ngườilàm báo lưu tâm Đối với báo mạng, nhờ có những đặc trưng nổi trội về côngnghệ mà dường như tính tương tác có vẻ cao hơn so với các loại hình còn lại

Không dừng lại ở sự tương tác giữa độc giả với toà soạn, ở báo mạngđiện tử, chúng ta còn có thể thấy sự tương tác nhiều chiều giữa độc giả vớinhà báo, độc giả với độc giả, hay độc giả với nhân vật trong tác phẩm báo chí

Quá trình tương tác trên báo mạng điện tử nhanh chóng và thuận tiệnhơn nhiều so với các loại hình báo chí khác Ngay sau mỗi tác phẩm báo chíđăng trên trang báo mạng điện tử đều có mục phản hồi, ngoài ra còn có rấtnhiều kênh tương tác khác như feedback, vote, email, forum… tiện cho độc giả

dễ dàng đóng góp ý kiến của mình Điều này khó thấy trên báo hình, phát thanhhay báo giấy

Ba là, có tính đa phương tiện.

Người ta nói báo mạng điện tử là một loại hình báo chí tổng hợp, tíchhợp nhiều công nghệ (multimedia) Trên một tờ báo mạng, thậm chí ngaytrong một tác phẩm báo mạng có thể tích hợp cả báo viết, báo phát thanh vàbáo hình

Trang 30

Khi đọc báo mạng độc giả có thể chủ động xem những tác phẩm mìnhquan tâm ở bất kì trang nào giống như báo in Đồng thời cũng được trực quannhững hình ảnh, video clip, lắng nghe những âm thanh mà không hề bị phụthuộc vào các yếu tố thời gian, không gian.

Sự tích hợp này giúp cho báo mạng điện tử có được những yếu tố hấp dẫncủa các loại hình báo chí khác, vì thế mà trở nên sinh động hơn, hấp dẫn hơn

Năm là, khả năng lưu trữ và tìm kiếm dễ dàng.

Báo mạng điện tử cho phép lưu trữ bài viết theo hệ thống khoa học, vớimột lượng khổng lồ thông tin lưu trữ Đồng thời với đó là khả năng tìm kiếm

dễ dàng nhờ vào các mục tìm kiếm với các từ khoá được đính kèm trên mỗitrang báo mạng điện tử Có thể xem theo ngày, xem theo bài, hoặc theo chủđề… Nếu không có điều kiện đọc ngay lúc online, độc giả báo mạng có thểlưu bài viết lại để đọc sau, hoặc là độc giả cũng có thể đọc lại nhiều lần tuỳthích, mà thao tác hoàn toàn đơn giản Điều này với truyền hình hay phátthanh là vô cùng khó

Sáu là, tính xã hội hoá cao, khả năng cá thể hóa tốt.

Nhờ vào sự phủ sóng của mạng toàn cầu Internet, báo mạng điện tửkhông có giới hạn về khoảng cách, thêm vào đó là tính tương tác cao, do đó

dễ dàng có thể thấy tính xã hội hoá rất cao ở loại hình báo chí mới mẻ này

Trang 31

Tuy nhiên, báo mạng điện tử lại cũng có khả năng cá thể hóa tốt Tính

cá thể hoá được thể hiện ở chỗ người đọc được chủ động lựa chọn tờ báo,trang báo, bài báo theo nhu cầu, đọc bao lâu tùy thích.Ngoài ra, báo mạngđiện tử có độ lan toả cao, dễ dàng đính chính, chi phí thấp do chỉ phải post bàimột lần duy nhất, đồng thời thông tin lại có giá trị sử dụng cao hơn do đượcđọc theo nhu cầu của độc giả

Tuy vậy, báo mạng điện tử còn một vài hạn chế, đó là độ tin cậy củathông tin còn thấp, muốn đọc được báo mạng thì độc giả ít nhất cũng phải cómáy tính nối mạng, và biết những thao tác sử dụng đơn giản nhất

Cần trang bị cho mình những kỹ năng cơ bản nhất, để có thể tận dụngđược hết những ưu thế của báo mạng điện tử, góp phần thỏa mãn những nhucầu thông tin ngày càng cao của bản thân Hội nhập cùng với nền báo chí tiến

bộ của nhân loại

1.2.2 Vai trò của báo mạng điện tử dành cho trẻ em trong giáo dục

kỹ năng sống cho trẻ em

Vai trò được quan niệm là một tập hợp các chức năng, các quyền vànghĩa vụ gắn cho một vị trí xã hội của một người hay một nhóm người mà xãhội mong đợi phải được thực hiện Vai trò của báo mạng điện tử trong giáodục kỹ năng sống cho trẻ em được hiểu là một tập hợp các bài viết, các chươngtrình, các chuyên mục trên báo mạng điện tử được xã hội và công chúng kỳvọng, mong đợi phải thực hiện như:

Một là, đồng hành cùng ngành giáo dục, đưa giáo dục Việt Nam đổi mới

và phát triển Để làm được điều đó, cần tuyên truyền sâu, rộng nội dung củađổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay- hướng tới mục tiêu giáo dục trẻ em mộtcách toàn diện như: phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lựccông dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu Chú trọng giáo dục lý tưởng,

Trang 32

truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thựchành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học,khuyến khích học tập suốt đời.

Hai là, nâng cao nhận thức của các lực lượng giáo dục về ý nghĩa, lợi

ích của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em Giáo dục kỹ năngsống cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt đốivới trẻ em Môi trường giáo dục được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho học sinh

áp dụng kiến thức và kỹ năng vào các tình huống “thực” trong cuộc sống.Giáo dục kỹ năng sống được thực hiện trong gia đình, trong nhà trường vàcộng đồng Người tổ chức giáo dục kỹ năng sống có thể là bố mẹ, là thầy

cô, là bạn cùng học hay các thành viên cộng đồng Trong nhà trường phổthông, giáo dục kỹ năng sống được thực hiện trên các giờ học, trong cáchoạt động lao động, hoạt động đoàn thể - xã hội, hoạt động giáo dục ngoàigiờ lên lớp và các hoạt động khác

Ba là, giúp trẻ em giáo dục toàn diện bằng cách thông qua các tác phẩm

báo chí, cung cấp cho trẻ em cả kiến thức, kỹ năng, thái độ để thích ứng vớicuộc sống hiện đại ngày nay; Khuyến khích trẻ em học tập, rèn luyện kỹ năngmột cách thường xuyên, liên tục để hình thành kỹ năng sống trong thực tế;Thúc đẩy sự hoàn thiện nhân cách, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển; Tuyêntruyền, hướng dẫn cho trẻ em tiếp cận các hành vi lành mạnh, tránh xa tệ nạn

xã hội; Giúp trẻ em hòa nhập nhanh với cuộc sống, biết xử lý các tình huốngtrong cuộc sống, làm chủ bản thân, ứng phó tình huống nảy sinh trong cáchoạt động học tập và sinh hoạt hàng ngày

Tóm lại, vai trò giáo dục kỹ năng sống trên báo mạng điện tử là, nângcao nhận thức, thúc đẩy hành vi tích cực giảm thiểu các hành vi tiêu cực trướccác vấn đề xã hội khác cho trẻ em Đó cũng là vai trò quan trọng trong côngtác giáo dục nói chung và giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em nói riêng

Trang 33

1.3 Các yếu tố của quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ

em trên báo mạng điện tử dành cho trẻ em

1.3.1 Khái niệm quản lý, quản lý báo chí

- Quản lý

Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan niệm về quản lý theonhững cách tiếp cận khác nhau Chính vì sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến

sự phong phú về quan niệm

Theo Đại từ điển tiếng Việt, “quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệthống hay quá trình vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt đượcnhững mục tiêu đã định” Nói cách khác quản lý là sự tác động liên tục có tổchức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đốitượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạtđộng thành một chính thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu mộtcách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến độngcủa môi trường” [40, tr.1363]

Harol Koontz cho rằng, "quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mụctiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạtđộng của những người khác" [21] Trong cuốn “Khoa học Tổ chức và Quảnlý”, tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “Quản lý là một quá trình lập kếhoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trongmột tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mụctiêu cụ thể” [1] Tác giả Nguyễn Phúc Châu lại cho rằng: “Quản lý là sự tácđộng liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý) lênkhách thể quản lý” [6]

Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo đãtừng nói rằng: “Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi

cá nhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo” Tiếng Việt

Trang 34

cũng có từ “quản lý” và “lãnh đạo” riêng rẽ giống như “manager” và “leader”trong tiếng Anh [52] Theo Frederick Winslow Taylo(1856-1915), một kỹ sưngười Mỹ và là một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản

lý, tiếp cận khái niệm “quản lý” dưới góc độ chất lượng điều hành con người,

đã cho rằng: “Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua ngườikhác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách

tốt nhất và rẻ nhất” [14, tr.7]

Còn theo Henrry Fayol (1886-1925), nhà khoa học người gốc Pháp,lại tiếp cận khái niệm “quản lý” theo góc độ quy trình của công việc Theoông, “Quản lý là một quy trình bao gồm tất cả các khâu: lập kế hoạch, tổchức, phân công, điều khiển và kiểm soát các nỗ lực cá nhân, bộ phận và sửdụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mụctiêu đề ra” [24, tr.8]

- Quản lý báo chí

Ở Việt Nam, Nhà nước quản lý tất cả các loại hình báo chí Chính vìvậy nói đến quản lý báo chí có nghĩa là quản lý nhà nước về báo chí Quản lýnhà nước về báo chí là sự đòi hỏi tất yếu khách quan, là hoạt động quản lý củachủ thể quản lý lên các đối tượng khách thể quản lý, là nguyên tắc và phươngthức bắt buộc để tạo điều kiện cho báo chí phát triển; huy động tối đa nănglực tác động của báo chí vào những mục đích cụ thể, hạn chế đến mức thấpnhất những tác động tiêu cực

Quản lý nhà nước về báo chí mang tính quyền lực chính trị, do một

bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản

lý nhằm ban hành và duy trì các quy định đã được đề ra Quản lý nhà nướctrong lĩnh vực báo chí là một bộ phận của quản lý công vụ của bộ máy nhànước, hoạt động quản lý được điều chỉnh bằng pháp luật, lấy pháp luật làmcông cụ chủ yếu Tuy nhiên, với đặc thù là quản lý tư tưởng văn hóa nên

Trang 35

quản lý nhà nước đối với báo chí còn thể hiện bởi trách nhiệm công dân,đạo đức nghề báo.

Cho đến nay, chưa có một khái niệm nào về quản lý nhà nước về báochí được coi là chính thức Luật Báo chí hiện hành cũng không đề cập đếnkhái niệm quản lý nhà nước về báo chí mà chỉ nêu vai trò, chức năng, các loạihình báo chí và nội dung quản lý nhà nước về báo chí

Tóm lại, quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội Bất kỳ ởđâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chungđều xuất hiện quản lý Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chứcđiều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất địnhdựa trên những quy luật khách quan Xã hội càng phát triển, nhu cầu và chấtlượng quản lý càng cao

Quản lý báo chí là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong lĩnh vực báo chí

1.3.2 Mục đích của quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ

em trên báo mạng điện tử dành cho trẻ em

Thời gian qua, các cơ quan thông tấn báo chí nói chung báo mạng điện

tử nói riêng đã luôn đồng hành cùng ngành Giáo dục trên con đường đổi mớicăn bản toàn diện giáo dục và đào tạo theo định hướng của Nghị quyết29/NQ-TƯ ngày 4 tháng 11 năm 2013 Sự đồng hành của báo chí thời gianqua đã giúp cho những chủ trương, chính sách, thay đổi lớn về giáo dục vàđào tạo được lan tỏa rộng rãi tới dư luận xã hội Để có được những thànhcông đó, vấn đề quản lý nội dung giáo dục trên báo chí đã được Ban biêntập các báo hết sức quan tâm, đặc biệt là những nội dung giáo dục kỹ năng

Trang 36

sống cho trẻ em trên báo mạng điện tử nhằm đạt được những mục đích cụthể như sau:

Một là, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện

con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghềnghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có khả năng sáng tạo củamỗi cá nhân đã được quy định trong Luật Giáo dục Việt Nam năm 2019 Nộidung quản lý này đảm bảo yêu cầu tối quan trọng của công tác quản lý là phảiđúng pháp luật và đảm bảo đúng định hướng cơ bản của Bộ Giáo dục và Đàotạo về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em

Hai là, định hướng tư tưởng và tạo được sự đồng thuận của các lực

lượng giáo dục đối với mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em Sự phốihợp các lực lượng giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội là quá trìnhvận động, thu hút mọi thành viên trong cộng đồng tham gia vào quá trình giáodục, tạo môi trường giáo dục thống nhất Đặc biệt là giáo dục gia đình Bởigia đình là một thiết chế xã hội, là cơ sở của xã hội, là tế bào tự nhiên của xãhội, một môi trường xã hội vi mô; là một lực lượng giáo dục, một chủ thể giáodục Chính vì vậy, giáo dục gia đình có ý nghĩa đặc biệt trong cuộc sống củamỗi cá nhân; là môi trường bảo đảm sự giáo dục, truyền lại cho thế hệ saunhững giá trị văn hóa truyền thống Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiêncủa đứa trẻ, gia đình có trách nhiệm đầu tiên trong giáo dục trẻ em Khi trẻ đihọc, gia đình còn là môi trường để trẻ thực hành những điều đã học ở trường,rèn luyện hành vi, kỹ năng sống

Ba là, cung cấp nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trên báo

mạng điện tử phù hợp với tâm sinh lý và khả năng tiếp nhận của trẻ em Giáodục trẻ em trên báo mạng điện tử có cách thức, con đường hoàn toàn khác sovới giáo dục trong gia đình hay nhà trường Không mang tính mô phạm nhưnhững bài học giáo dục công dân, báo mạng điện tử giáo dục kỹ năng sống

Trang 37

cho trẻ em bằng việc lựa chọn nội dung để đưa tin như: chân dung người tốt,việc tốt, cách đánh giá hành vi, cử chỉ, lời nói, việc làm của các nhân vật,hoặc qua phân tích các sự kiện, vấn đề để định hướng những suy nghĩ, hànhđộng cho trẻ em Cung cấp cho trẻ em những kỹ năng sống cơ bản như: nhậnbiết và quản lý bản thân; kỹ năng giao tiếp cuộc sống; kỹ năng ra quyết địnhmột cách có hiệu quả Thông qua nội dung tin, bài những quan điểm sai lầm,những hành vi lệch chuẩn những cách ứng xử không phù hợp được báo chíđưa ra phân tích, mổ xẻ, tạo tương tác nhằm tác động nhiều chiều đến trẻ em

Tóm lại, mục đích quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ

em trên báo mạng điện tử chính là quản lý nội dung tin, bài nhằm đảm bảotính thống nhất trong vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em theo đúngđịnh hướng giáo dục của Đảng, Nhà nước cũng như Bộ Giáo dục và Đàotạo đã đề ra

1.3.3 Chủ thể và đối tượng quản lý

Chủ thể quản lý

Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và đối tượng bị quản lýtiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý và các khách thể khác chịucác tác động gián tiếp từ chủ thể quản lý

Chủ thể quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em chính là cơ quan quản lý báo chí truyền thông có vai trò định hướng, giám sát đảm bảo

cho hoạt động của các cơ quan báo chí đúng chủ trương đường lối của Đảng,pháp luật của Nhà nước Đối với đơn vị trực tiếp làm công tác truyền thông,chủ thể quản lý là tổng biên tập, các phó tổng biên tập, thư ký tòa soạn,trưởng các ban chuyên môn

Đối với Tổng biên tập: công tác quản lý nhằm tạo ra sự thống nhất ý chí

trong tổ chức cụ thể ở đây là tòa soạn báo mạng điện tử dành cho trẻ em.Đảmbảo định hướng sự phát triển của tòa soạn trên cơ sở xác định mục tiêu, kế

Trang 38

hoạch sản xuất tin bài và hướng mọi nỗ lực của các đối tượng quản lý vàomục tiêu giáo dục trẻ em,trong đó có vấn đề giáo dục kỹ năng sống.

- Tổ chức, điều hoà, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân,

tổ chức, nhằm đạt được mục tiêu quản lý Tổ chức điều hòa để nội dung giáodục kỹ năng sống cho trẻ em có tính hệ thống, liên tục, không mâu thuẫn đảmbảo nội dung đáp ứng được số lượng và chất lượng theo kế hoạch Mục tiêu

đã đề ra

- Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức bằng cách kích thích,động viên; uốn nắn lệch lạc, sai sót nhằm giảm bớt những nội dung chưa đảmbảo chất lượng trong quá trình thực hiện

Đối với phóng viên, biên tập viên: những người trực tiếp thực hiện lại

chịu sự quản lý, chỉ đạo, giám sát của Ban biên tập, nhằm thực hiện đúngnhững nội dung giáo dục trẻ em theo định hướng trước khi đăng tải trêntrang báo Việc quản lý ấy tạo ra sự thống nhất theo chủ trương, đường lốicủa Đảng, pháp luật của nhà nước và tôn chỉ, mục đích của tờ báo Nộidung khi đăng tải phải thể hiện rõ nội dung ấy đề cập đến vấn đề gì? Đểlàm gì? Phục vụ cho đối tượng nào?

Tóm lại, chủ thể quản lý có vai trò rất lớn trong quản lý nội dung tinbài, cả về số lượng; chất lượng và hình thức thể hiện theo kế hoạch đã đề ra.Ngoài ra, chủ thể quản lý còn là người tạo ra sự hứng khởi để các phóng viên,biên tập viên cùng sáng tạo, xây dựng nên nhiều tác phẩm báo chí có giá trị.Nhất là trong mảng đề tài giáo dục trẻ em

Đối tượng quản lý

Đối tượng quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trên báomạng điện tử chính là những tin, bài có nội dung giáo dục đào tạo nói chung,cũng như những tin bài về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em nói riêng

Ví dụ như những tin bài về học tập, những kỹ năng trong cuộc sống;

Trang 39

những hình ảnh người tốt, việc tốt; những hành vi ứng xử văn hóa;vui chơi,giải trí; những phân tích tâm sinh lý lứa tuổi…Thông qua những nội dung đógiúp cho trẻ em từng bước thu nạp kiến thức; biết tự rèn luyện cho mìnhnhững thói quen tốt, tránh được những thói quen xấu, từ đó dần hình thành kỹnăng sống cho bản thân.

1.3.4 Nội dung quản lý

Quản lý nội dung báo mạng điện tử là một phần trong công tác quản lýcủa tòa soạn báo Khi đề cập đến, quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống chotrẻ em trên báo mạng điện tử, chính là đề cập đến nội dung quản lý quy trìnhsản xuất tin bài của mảng đề tài này Nội dung quản lý bao gồm nhiều côngđoạn, từ khâu quản lý việc lập kế hoạch sản xuất tin bài cho đến quản lý trongsắp xếp về nhân sự tham gia; từ khâu viết bài cho đến khâu biên tập; từ khâuđăng tin bài cho đến khâu thu thập ý kiến phản hồi từ độc giả

1.3.4.1 Xây dựng kế hoạch tin bài và sắp xếp nhân sự trong lĩnh vực sáng tạo tác phẩm báo chí về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em

Về kế hoạch tin bài

Xây dựng kế hoạch tin bài là một trong những nhiệm vụ quan trọngnhất của Ban Biên tập, bao gồm tổng biên tập các phó tổng biên tập, thư kýtòa soạn, trong đó Tổng Biên tập là người chịu trách nhiệm chính Với đặc thù

là trang báo mạng điện tử dành cho trẻ em, kế hoạch sản xuất tin bài đượcBan Biên tập xây dựng trên cơ sở xác định mục tiêu cả về số lượng, nội dung

và hình thức thể hiện:

- Mục tiêu chung: Nội dung đáp ứng được mục đích, tôn chỉ của tờ báo

là viết về trẻ em viết cho trẻ em nên nội dung, hình thức phải phù hợp với khảnăng tiếp nhận và tâm sinh lý lứa tuổi

- Mục tiêu cụ thể: nội dung tin bài về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ emphải cung cấp được các kỹ năng cơ bản nhất như, kỹ năng nhận biết và quản

lý bản thân; kỹ năng giao tiếp cuộc sống; kỹ năng ra quyết định

Trang 40

Về sắp xếp nhân sự

Sắp xếp bộ máy nhân sự trong sản xuất tin bài có nội dung giáo dục kỹnăng sống cho trẻ là xác định các bộ phận nhân sự và các chức năng nhiệm vụcủa từng bộ phận nhân sự tham gia

- Thành lập các bộ phận chuyên trách trong tòa soạn tham gia sản xuấtcác tin bài liên quan đến hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em như BanThư ký, Ban Biên tập, Ban Giáo dục…

- Xác định nhiệm vụ cụ thể của từng bộ phận tham gia mảng giáo dục

kỹ năng sống: bộ phận chỉ đạo chung (Ban Biên tập), bộ phận chỉ đạo trựctiếp (trưởng các ban chuyên môn và các bộ phận có liên quan),

- Phân công phóng viên, nhà báo, cộng tác viên tham gia trực tiếp viếtbài có nội dung về giáo dục trẻ em

- Xác lập cơ chế phối hợp làm việc giữa các bộ phận tham gia trongtòa soạn

1.3.4.2 Kiểm tra việc thực hiện quy trình sản xuất tác phẩm báo chí về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em

Trong quá trình sáng tạo tác phẩm báo chí, nhà báo, dù sáng tạo tácphẩm thuộc loại hình báo chí nào, cũng cần tuân thủ một quy trình chung, baogồm 6 bước: tìm hiểu và nghiên cứu thực tế; xác định chủ đề - đề tài - tư tưởngchủ đề; thu thập và khai thác thông tin; thể hiện tác phẩm về nội dung và hìnhthức; duyệt, đăng báo, xuất bản, phát hành, phát sóng và lắng nghe thông tinphản hồi Tuy nhiên, việc ứng dụng quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí ở cácloại hình báo chí khác nhau cũng có sự khác biệt Chính vì vậy vấn đề kiểm trathực hiện quy trình này cũng cần phù hợp với loại hình thực tiễn

1.3.4.3 Thẩm định, đánh giá chất lượng bài báo về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trước khi công bố

Tác phẩm báo chí là sản phẩm cá nhân sáng tạo ban đầu của nhà báonhưng sau khi hoàn thành sẽ được biên tập cho phù hợp với chủ đề, tôn chỉ

Ngày đăng: 16/03/2023, 10:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w