1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá chẩn đoán và điều trị ban đầu nhiễm khuẩn đường tiết niệu tại phòng khám ngoại thận – tiết niệu bệnh viện nhân dân gia định

152 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá chẩn đoán và điều trị ban đầu nhiễm khuẩn đường tiết niệu tại phòng khám ngoại thận – tiết niệu bệnh viện nhân dân gia định
Tác giả Nguyễn Thành Đạt
Người hướng dẫn PGS.TS. Ngô Xuân Thái
Trường học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngoại Thận – Tiết niệu
Thể loại Luận văn thạc sĩ y học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 2,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (16)
    • 1.1 Đại cương về nhiễm khuẩn đường tiết niệu (16)
    • 1.2 Nhiễm khuẩn đường tiết niệu đơn thuần (không phức tạp) (25)
    • 1.3 Nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp (29)
    • 1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước (46)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (50)
    • 2.1 Đối tượng nghiên cứu (50)
    • 2.2 Phương pháp nghiên cứu (53)
    • 2.3 Các bước tiến hành nghiên cứu (53)
    • 2.4 Các biến số nghiên cứu (55)
    • 2.5 Thu thập và xử lý số liệu (57)
    • 3.2 Các đặc điểm cận lâm sàng của nhóm nghiên cứu (67)
    • 3.3 Đặc điểm vi khuẩn học của NKĐTN (68)
    • 3.4 Kết quả kháng sinh đồ (74)
    • 3.5 Kết quả điều trị kháng sinh dùng theo kinh nghiệm ở phòng khám (87)
    • 3.6 Đánh giá tình hình tái khám sau điều trị (91)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (93)
    • 4.1 Đặc điểm bệnh nhân, các yếu tố gây phức tạp (93)
    • 4.2 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng lúc khám bệnh (97)
    • 4.3 Phân bố các loại vi khuẩn gặp trong NKĐTN tại phòng khám (100)
    • 4.4 Bàn luận về kháng sinh kinh nghiệm trong điều trị NKĐTN (113)
    • 4.5 Đánh giá kết quả điều trị NKĐTN tại phòng khám (120)
    • 4.6 Kháng sinh trong bối cảnh vi khuẩn tăng đề kháng kháng sinh (122)
  • KẾT LUẬN (115)

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn đường tiết niệu NKĐTN là một thuật ngữ để chỉ nhiều tình trạng lâm sàng khác nhau từ viêm bàng quang với các triệu chứng đường tiết niệu dưới đến viêm thận – bể th

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân nhiễm khuẩn đường tiết niệu đến khám tại phòng khám Ngoại Thận - Tiết niệu Bệnh viện Nhân Dân Gia Định

Bệnh nhân được chẩn đoán NKĐTN có phân lập tác nhân gây bệnh tại phòng khám Ngoại Thận - Tiết niệu Bệnh viện Nhân Dân Gia Định từ 01/2020 – 09/2022

Bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm khuẩn đường tiết niệu trên dựa trên các tiêu chuẩn lâm sàng và kết quả xét nghiệm vi sinh lâm sàng phù hợp với hướng dẫn chẩn đoán của Hội Tiết niệu – Thận học Việt Nam.

Chẩn đoán nhiễm khuẩn đường tiết niệu

 Viêm bàng quang cấp đơn thuần:

+ Tiểu khó, gắt và lắt nhắt, đau vùng trên xương mu

+ Không có triệu trứng 4 tuần trước khi xuất hiện

+ Không sốt hay đau hông

+ Cấy nước tiểu giữa dòng (+) ≥ 10 3 khuẩn lạc/mL

 Viêm thận – bể thận cấp đơn thuần:

+ Loại trừ các chẩn đoán khác

+ Không có tiền sử hay lâm sàng về bất thường tiết niệu

+ Cấy nước tiểu giữa dòng (+) khi ≥ 10 4 khuẩn lạc/mL

- Lâm sàng: có thể có hoặc kết hợp các triệu chứng sau

+ Tiểu khó, gắt, tiểu lắt nhắt và đau trên xương mu

+ Đau hông lưng khi khám

Có một hay nhiều yếu tố đi kèm:

+ NKĐTN trên phụ nữ mang thai

+ Bất thường về cấu trúc: sỏi, hẹp, bướu đường tiết niệu, chèn ép…

+ Bất thường về chức năng: suy thận mạn, bàng quang hỗn loạn thần kinh, ngược dòng bàng quang – niệu quản,…

+ Giảm sức đề kháng: đái tháo đường, hội chứng Cushing, ghép thận, suy giảm miễn dịch – xơ gan,

+ Cấy nước tiểu giữa dòng (+) khi ≥ 10 5 khuẩn lạc/mL ở phụ nữ, hoặc ≥ 10 4 khuẩn lạc/mL ở nam giới, hoặc trong nước tiểu lấy ống thông thẳng ở phụ nữ

 Vi khuẩn niệu không triệu chứng

- Lâm sàng: không có triệu chứng tiết niệu

Cấy nước tiểu giữa dòng có giá trị chẩn đoán khi kết quả ≥ 10^5 khuẩn lạc/mL ở nữ, được khảo sát hơn 24 giờ giữa các lần lấy mẫu, hoặc trong một mẫu duy nhất ở nam giới Ngoài ra, cấy nước tiểu qua thông niệu đạo không lưu có ý nghĩa khi số lượng ≥ 10^2 khuẩn lạc/mL.

- Nhiễm khuẩn huyết từ đường tiết niệu

- Không thực hiện cấy nước tiểu

- Các trường hợp NKĐTN do cùng vi khuẩn được đưa vào mẫu nghiên cứu trước đó trên cùng một bệnh nhân.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả hàng loạt trường hợp

Tất cả các bệnh nhân trong thời gian nghiên cứu phù hợp tiêu chí chọn mẫu đều được đưa vào nghiên cứu

2.2.3 Phương tiện vật liệu trong nghiên cứu:

- Thu thập số liệu bằng phiếu số liệu được thiết kế sẵn dựa trên các biến số cần nghiên cứu

- Thông tin mỗi bệnh nhân được nhập vào một phiếu thu thập số liệu

- Kết quả cấy định lượng vi khuẩn và kháng sinh đồ được lấy từ cơ sở dữ liệu của khoa

Vi sinh và khoa Khám bệnh Bệnh viện Nhân Dân Gia Định.

Các bước tiến hành nghiên cứu

Bệnh nhân đến khám và điều trị tại phòng khám Ngoại Thận – Tiết niệu Bệnh viện Nhân Dân Gia Định trong thời gian nghiên cứu đều đáp ứng các tiêu chuẩn chọn mẫu Thông tin của họ được thu thập dựa trên phiếu thu thập dữ liệu đã chuẩn bị sẵn, đảm bảo tính chính xác và đầy đủ cho nghiên cứu Quá trình này giúp đảm bảo dữ liệu thu thập phản ánh đúng thực trạng và phục vụ cho mục tiêu phân tích của nghiên cứu.

2.3.1 Hỏi bệnh sử và khám lâm sàng

- Họ và tên, tuổi, giới

- Lý do nhập viện: tiểu lắt nhắt, tiểu khó, tiểu đục, bí tiểu, sốt, đau hông lưng

- Tiền sử: sử dụng kháng sinh trước nhập viện, có từng nhập viện hay chăm sóc y tế, có thực hiện thủ thuật xâm lấn trong 12 tháng qua…

 Dấu hiệu sinh tồn: mạch, nhiệt độ, huyết áp

 Nước tiểu: màu sắc, tiểu đục, tiểu máu…

 Rung thận, chạm thận hai bên

 Thăm khám trực tràng bằng ngón tay

- Tổng phân tích tế bào máu

- Sinh hóa máu: Ure, Creatinine, Ion đồ

- Tổng phân tích nước tiểu: tìm hồng cầu, bạch cầu, nitrit

- Kết quả cấy nước tiểu và kháng sinh đồ

- Siêu âm bụng tổng quát

- Ghi nhận kết quả CT scan bụng, UIV,… (nếu có)

- Ghi nhận điều trị kháng sinh (nhóm, đường dùng, thời gian) của bệnh nhân trước và sau khi có kết quả kháng sinh đồ

- Các trường hợp kết hợp 2 loại kháng sinh trở lên và hiệu quả điều trị

- Lâm sàng: các triệu chứng tiết niệu có cải thiện hoặc không còn

- Cận lâm sàng: công thức máu, TPTNT, cấy lại nước tiểu lúc tái khám (nếu có)…

2.3.5 Thời điểm, cách lấy, bảo quản và chuyên chở mẫu nước tiểu:

Quan trọng là lấy nước tiểu trước khi bệnh nhân dùng kháng sinh Nếu được, nên yêu cầu bệnh nhân cố nhịn tiểu cho đến khi lấy mẫu

Nước tiểu cần được lấy vào các lọ vô khuẩn, có nắp đậy kín để tránh rỉ trong quá trình vận chuyển Sau khi lấy, mẫu nước tiểu phải gửi ngay đến phòng thí nghiệm để đảm bảo độ chính xác của kết quả Nếu không thể gửi đi ngay lập tức, có thể bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ 4°C nhưng không quá 24 giờ Trong quá trình lấy mẫu, cần áp dụng phương pháp vô khuẩn để giảm thiểu nguy cơ nhiễm bẩn từ cơ quan sinh dục ngoài hoặc niệu đạo, đảm bảo tính chính xác của xét nghiệm.

Các biến số nghiên cứu

Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu

STT Biến số Phân loại Định nghĩa Cách thực hiện

Năm nghiên cứu – năm sinh Ghi nhận hồ sơ

2 Giới Biến nhị giá  Nam

4 Phân loại Biến danh định

Yếu tố liên quan đến

 Bất thường cấu trúc hệ niệu

 Bất thường chức năng hệ niệu

 Suy giảm khả năng miễn dịch

 Vi khuẩn đa kháng KS

Ghi nhận hồ sơ Biến nhị giá

Tổng phân tích nước tiểu:

 Nitrit (Dương tính/ Âm tính) Chẩn đoán hình ảnh (Bình thường/ Bất thường)

Kết quả cấy NT và

Sự nhạy cảm kháng sinh

Nhóm KS, thời gian dùng, phù hợp với

KSĐ (phù hợp.không phù hợp) Ghi nhận hồ sơ

 Lâm sàng khi tái khám

Thu thập và xử lý số liệu

Số liệu được thu thập bằng “Phiếu thu thập số liệu”

+ Nhập liệu và xử lý số liệu bằng máy vi tính với phần mêm SPSS 16.0

+ Biến số định lượng được thể hiện dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn

+ Biến số định tính được thể hiện theo tỷ lệ (%)

+ Sử dụng phép kiểm Chi - bình phương ( 2) hoặc Fisher để kiểm định giả thuyết thống kê

+ So sánh trung bình của các biến giữa các nhóm dùng t-test

+ Sự khác biệt được xem là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ kết quả nghiên cứu

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong khoảng thời gian từ 1/1/2020 đến 31/12/2021, chúng tôi ghi nhận 158 trường hợp đến khám và điều trị tại phòng khám Ngoại Thận – Tiết niệu Bệnh viện Nhân Dân Gia Định Cuối năm 2022, từ 1/1/2022 đến 31/09/2022, số lượt bệnh nhân tăng lên còn 261 trường hợp, phản ánh rõ sự gia tăng bệnh lý thận tiết niệu tại cơ sở y tế này Số liệu này cho thấy xu hướng tăng số lượng bệnh nhân khám và điều trị ở phòng khám, góp phần nâng cao nhận thức và chăm sóc sức khỏe thận tiết niệu cho cộng đồng.

Bất thường cấu trúc: 246 TH (74,1%) Bất thường chức năng: 47 TH (14,16%) Suy giảm miễn dịch: 5 TH (1,51%) Đái tháo đường: 58 TH (17,47%) Phụ nữ có thai: 6 TH (1,81%) Giới nam: 118 TH (35,54%)

98 TH E Coli 11 TH Klebsiella 26 TH khác

22 TH E Coli 2 TH Klebsiella 1 TH khác

419 TH thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh

3.1 Đặc điểm bệnh nhân và các yếu tố liên quan đến NKĐTN

Tuổi trung bình của dân số nghiên cứu là 54,64 ± 17,03, tuổi nhỏ nhất là 18, tuổi lớn nhất là 92 Số BN trên 50 tuổi chiếm 63,48% (266/419 TH)

Biểu đồ 3.1 Phân bố theo nhóm tuổi và giới tính

Nhóm tuổi từ 50 đến 69 chiếm tỷ lệ cao nhất trong nghiên cứu, chiếm đến 43,44% (182/419 trường hợp) Trong khi đó, nhóm bệnh nhân dưới 20 tuổi có tỷ lệ thấp nhất Phân bố theo nhóm tuổi cho thấy đa số bệnh nhân mắc bệnh liên quan đến NKĐTN trong các nhóm tuổi trên 50, đặc biệt trong các nhóm NKĐTN ĐT và NKĐTN PT, phản ánh rõ xu hướng tăng prevalence ở độ tuổi trung niên và cao tuổi.

Biểu đồ 3.2 Phân bố theo nhóm tuổi trong NKĐTN

- NKĐTN chiếm phần lớn ở độ tuổi 50-69 (182/419 chiếm tỷ lệ 43,44%)

Có sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm người mắc NKĐTN ĐT (đái tháo đường type 2) và NKĐTN PT (phối hợp nhiều yếu tố nguy cơ) từ nhóm tuổi 40 trở lên NKĐTN ĐT phân bố đều ở nhóm tuổi từ 20-59, đặc biệt cao nhất ở nhóm 40-49 tuổi, trong khi NKĐTN PT bắt đầu tăng từ tuổi 40 và đạt đỉnh ở nhóm 50-69 tuổi Điều này cho thấy, bệnh nhân càng lớn tuổi, các yếu tố phức tạp liên quan đến bệnh càng tăng, đòi hỏi các biện pháp phòng ngừa và điều trị phù hợp theo từng độ tuổi.

Biểu đồ 3.3 Phân bố theo giới tính trong NKĐTN

Nhận xét: Tỷ lệ nữ giới chiếm hơn một nửa dân số nghiên cứu, tỷ lệ nam giới chiếm tỷ lệ thấp

NKĐTN ĐT NKĐTN PT NKĐTN

3.1.3 Lý do bệnh nhân đến khám bệnh:

Trong tổng số 419 trường hợp người mắc bệnh truyền nhiễm, tôi đã thu thập dữ liệu trực tiếp từ 143 trường hợp Chúng tôi tiến hành khảo sát bệnh sử bệnh nhân dựa trên bảng thu thập số liệu về các triệu chứng lâm sàng thường gặp, nhằm phân tích đặc điểm và diễn biến của bệnh một cách chính xác và toàn diện.

Biểu đồ 3.4 Lý do khám bệnh

- Tiểu gắt là lý do khám bệnh chiếm thường gặp nhất chiếm tỷ lệ 72,03% với 103/143 TH

- Tiếp đến là tiểu nhiều lần (49/143 TH chiếm tỷ lệ 34,27%)

- Phần lớn TH là có nhiều triệu chứng đi kèm

3.1.4 Phân tầng nguy cơ chung trong NKĐTN:

Bảng 3.1 Phân tầng nguy cơ trong NKĐTN

Nguồn nhiễm Số TH Tỷ lệ (%)

Nhiễm khuẩn cộng đồng (nhóm I) 116 81,12

Nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế (nhóm II) 17 11,89

Nhiễm khuẩn bệnh viện (nhóm III) 10 6,99

Tiểu gắt Tiểu nhiều lần Đau trên xương mu

Tiểu máu Tiểu đục Đau hông lưng

Sốt Tiểu không kiểm soát

Tiểu gấp Chảy mủ dịch từ niệu đạo

Ghi chú: Nhóm I có 38 TH (32,76%) NKĐTN đơn thuần và 78 TH (67,24%) NKĐTN phức tạp

- Nhóm bệnh nhiễm khuẩn cộng đồng chiếm đa số (81,12%), nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế (11,89%), nhiễm khuẩn bệnh viện (6,99%)

3.1.5 Phân loại nhiễm khuẩn đường tiết niệu đơn thuần và phức tạp:

Trong 419 trường hợp nghiên cứu, có 87 (20,76%) trường hợp được xếp vào NKĐTN đơn thuần và 332 (79,24%) trường hợp trường hợp NKĐTN phức tạp

Biểu đồ 3.5 Phân loại nhiễm khuẩn đường tiết niệu

- Tỷ lệ nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp cao (79,24%), các trường hợp nhiễm khuẩn đường tiết niệu đơn thuần có tỷ lệ thấp hơn (20,76%)

Bảng 3.2 Phân loại NKĐTN đơn thuần

NKĐTN đơn thuần Số TH Tỷ lệ (%)

Viêm bàng quang cấp đơn thuần 85 97,7

Viêm thận bể thận cấp đơn thuần 2 2,3

- Viêm BQ cấp đơn thuần chiếm 97,7% trong NKĐTN đơn thuần

3.1.6 Liên quan giữa nhóm tuổi và phân loại nhiễm khuẩn đường tiết niệu:

Trong số 419 TH được nghiên cứu, nếu chia theo tuổi ≥ 50 và < 50 theo nhiễm khuẩn đường tiết niệu đơn thuần hay phức tạp ta được

Bảng 3.3 Liên quan giữa nhóm tuổi và phân loại NKĐTN

NKĐTN đơn thuần NKĐTN phức tạp Số TH Tỷ lệ % Giá trị p

Có mối quan hệ rõ ràng giữa nhóm tuổi và phân loại nhiễm khuẩn đường tiết niệu, trong đó sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 Nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp thường xảy ra nhiều hơn ở nhóm tuổi từ 50 trở lên so với nhóm tuổi dưới 50, cho thấy tuổi tác là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ nghiêm trọng của bệnh.

3.1.7 Các yếu tố gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp:

Bảng 3.4 Các yếu tố gây phức tạp trong NKĐTN

Yếu tố gây phức tạp Số TH Tỷ lệ (%)

Bất thường cấu trúc đường tiết niệu 246 74,1

Bất thường chức năng hệ tiết niệu 47 14,16

Suy giảm miễn dịch 5 1,51 Đái tháo đường 58 17,47

- Yếu tố bất thường cấu trúc đường tiết niệu chiếm tỷ lệ cao nhất (74,1%), kế đến là yếu tố giới nam (35,54%)

- Yếu tố bất thường chức năng hệ tiết niệu chiếm tỷ lệ 14,16% và đái tháo đường 17,47%

- Phụ nữ có thai và suy giảm miễn dịch chiếm tỷ lệ thấp lần lượt là 1,81% và 1,51%

Bảng 3.5 Số yếu tố phức tạp trên từng bệnh nhân

Số yếu tố phức tạp ở một bệnh nhân Số TH (N = 332) Tỷ lệ (%)

Trong tổng số 332 bệnh nhân, có 196 người (chiếm 59,04%) có một yếu tố phức tạp, trong khi đó, 60 bệnh nhân (tương đương 18,07%) có hai yếu tố phức tạp Ngoài ra, có 76 bệnh nhân (chiếm 22,89%) có hơn ba yếu tố phức tạp, cho thấy mức độ phức tạp tăng dần theo số lượng yếu tố liên quan.

Bảng 3.6 Tỷ lệ các yếu tố phức tạp có thể loại bỏ hoặc không

Yếu tố Số TH (N32) Tỷ lệ (%)

Không thể loại bỏ hoặc loại bỏ không hoàn toàn 290 87,35

- 42/332 TH (12,65%) có thể loại bỏ các yếu tố nguy cơ gây NKĐTN phức tạp

Khoảng 87,35% (290/332) các trường hợp không thể hoàn toàn loại bỏ hoặc không thể loại bỏ hoàn toàn, như ở các bệnh nhân suy thận mạn, bệnh bàng quang thần kinh, các bệnh làm suy giảm miễn dịch, hoặc những bệnh nhân cần tạo hình bàng quang bằng ruột.

- 118/332 TH yếu tố phức tạp là nam giới chiếm tỷ lệ 35,54%

3.1.7.1 Bất thường cấu trúc đường tiết niệu

Kết quả nghiên cứu cho thấy:

- Có bất thường cấu trúc đường tiết niệu: 246 TH (74,1%)

- Không có bất thường cấu trúc đường tiết niệu: 86 TH (25,9%)

Các bất thường cấu trúc đường tiết niệu bao gồm sỏi đường tiết niệu, chiếm tỷ lệ 31,33%, trong đó sỏi thận phổ biến nhất với 21,39%, tiếp đến là sỏi niệu quản chiếm 8,73%, và sỏi bàng quang chiếm 1,2% Ngoài ra, thận ứ nước chiếm 15,36%, cùng với các tình trạng khác như tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt và các bệnh lý liên quan đến ống thông đường tiết niệu.

Bảng 3.7 Các dạng bất thường cấu trúc đường tiết niệu

Bất thường cấu trúc đường tiết niệu Số TH Tỷ lệ (%)

Tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt 46 13,86 18,7 Ống thông đường tiết niệu 30 9,04 12,2

Tổn thương bàng quang do hóa chất/xạ trị 2 0,6 0,81

Mở bàng quang ra da 1 0,3 0,41

Trong các bất thường cấu trúc đường tiết niệu, sỏi đường tiết niệu chiếm tỷ lệ cao nhất với 31,33%, phản ánh tầm quan trọng của việc chẩn đoán và điều trị sỏi để phòng ngừa biến chứng Tiếp theo là tình trạng thận ứ nước với tỷ lệ 15,36%, cần được phát hiện sớm để tránh suy giảm chức năng thận Ngoài ra, sự tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt chiếm 13,86%, góp phần vào các vấn đề về tiểu tiện và cần thiết trong việc quản lý sức khỏe nam giới.

- Tổn thương bàng quang do hóa chất/xạ trị (0,6%), thận móng ngựa (0,6%), bàng quang bằng ruột (0,3%) và mở bàng quang ra da (0,3%) là những yếu tố ít gặp

3.1.7.2 Bất thường về chức năng đường tiết niệu:

Kết quả nghiên cứu cho thấy:

- Bất thường về chức năng đường tiết niệu: 47/332 TH chiếm tỷ lệ 14,16%

Bảng 3.8 Các dạng bất thường chức năng đường tiết niệu

Bất thường chức năng đường tiết niệu Số TH Tỷ lệ (%)

- Trong bất thường chức năng đường tiết niệu, suy thận mạn và bàng quang thần kinh chiếm tỷ lệ lần lượt là 6,93% và 7,23%

3.1.7.3 Làm suy giảm miễn dịch của bệnh nhân:

Bảng 3.9 Các bệnh lý làm suy giảm miễn dịch

Suy giảm miễn dịch Số TH Tỷ lệ (%)

Tỷ lệ (%) (Nc) Đái tháo đường 58 17,47 92,06

- Trong nhóm làm suy giảm miễn dịch thì đái tháo đường chiếm tỷ lệ 17,47% và dùng corticoid chiếm tỷ lệ thấp 1,51%

3.1.7.4 Các bất thường khác trong NKĐTN phức tạp:

Bảng 3.10 Các bất thường khác trong NKĐTN phức tạp

Bất thường khác Số TH Tỷ lệ (%)

- Trong nhóm bất thường khác, nam giới chiếm tỷ lệ 35,54%, phụ nữ mang thai chiếm tỷ lệ thấp 1,81%

3.1.7.5 Phân loại theo vị trí trong NKĐTN phức tạp:

Bảng 3.11 Phân loại theo vị trí trong NKĐTN phức tạp

Vị trí NKĐTN phức tạp Số TH Tỷ lệ (%)

- NKĐTN dưới trong NKĐTN phức tạp chiếm đa số với tỷ lệ 71,69% NKĐTN trên , NKĐTN trên và dưới có tỷ lệ lần lượt là 18,67% và 9,64%.

Các đặc điểm cận lâm sàng của nhóm nghiên cứu

3.2.1 Tổng phân tích nước tiểu:

Trong nghiên cứu gồm 419 trường hợp, 91,41% bệnh nhân (383 người) đã được ghi nhận thực hiện TPTNT tại thời điểm khám, trong khi 8,59% không ghi nhận trên hệ thống bệnh án có thể do các bệnh nhân đã thực hiện tại các cơ sở y tế khác, dẫn đến thiếu thông tin trong hệ thống.

Bảng 3.12 Đặc điểm của nước tiểu bệnh nhân lúc khám bệnh Đặc điểm Nam

- Trong nhúm dõn số nghiờn cứu, BC niệu ≥ 10/àL chiếm tỷ lệ cao 93,99% nhưng nitrit (+) chỉ chiếm tỷ lệ 28,72%

- Có mối liên hệ giữa BC niệu với giới tính trong NKĐTN, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05

- Không có mối tương quan giữa nitrit với giới tính trong NKĐTN

3.2.2 Tình trạng ứ nước của thận trên siêu âm hoặc MSCT:

Kết quả nghiên cứu có 51/332 TH ứ nước ở thận, chiếm tỷ lệ 15,36% Trong đó độ

I có 31/332 TH (9,34%), độ II có 16/332 TH (4,82%) và độ III có 4/332 TH (1,2%).

Đặc điểm vi khuẩn học của NKĐTN

Bảng 3.13 Mối liên hệ giữa cấy nước tiểu giữa dòng và nitrit (+)

Cấy (+) Cấy (-) Số TH Giá trị p

- Có mối tương quan giữa nitrit và cấy nước tiểu, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

3.3.1 Các loại vi khuẩn gây bệnh NKĐTN được phân lập

Trong 419 trường hợp được đưa vào nghiên cứu, có 175 mẫu cấy dương tính và được làm kháng sinh đồ chiếm tỷ lệ 41,77%

Chúng tôi ghi nhận các loại vi khuẩn được cấy trong NKĐTN bao gồm

Biểu đồ 3.6 Các loại vi khuẩn gây bệnh trong NKĐTN

- Trong NKĐTN, Gram (-) chiếm 91,43% và Gram (+) chiếm 8,57%

- Họ vi khuẩn đường ruột chiếm đa số trong các tác nhân gây NKĐTN, trong đó E coli là tác nhân phổ biến nhất chiếm tỷ lệ 68,57%

- Theo sao là Klebsiella spp., Proteus mirabilis và Pseudomonas spp lần lượt là

Các loại vi khuẩn gây NKĐTN

Escherichia coli Klebsiella pneumoniae species Proteus mirabilis

Pseudomonas aeruginosa Enterococcus faecalis Morganella morganii Streptococcus agalactiae Neisseria gonorrhoeae Enterobacter cloacae Staphylococcus saprophyticus Providencia rettgeri

3.3.2 Các loại vi khuẩn gây bệnh trong NKĐTN đơn thuần:

Biểu đồ 3.7 Các loại vi khuẩn gây bệnh trong NKĐTN đơn thuần

- Trong NKĐTN đơn thuần, Gram (-) chiếm 92,59% và Gram (+) là 7,41%

Vi khuẩn E coli và Klebsiella spp là hai tác nhân chính gây bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu đơn thuần, chiếm tỷ lệ lần lượt là 81,48% và 7,41% Tổng cộng, hai loại vi khuẩn này chiếm tới 88,89% các trường hợp cấy dương tính, đóng vai trò chủ yếu trong bệnh lý NKĐTN.

Các loại vi khuẩn gây NKĐTN ĐT

Escherichia coli Klebsiella pneumoniae species Proteus mirabilis

3.3.3 Các loại vi khuẩn gây bệnh trong NKĐTN phức tạp:

Biểu đồ 3.8 Các loại vi khuẩn gây bệnh trong NKĐTN phức tạp

- Trong NKĐTN phức tạp, Gram (-) chiếm 91,22% và Gram (+) là 8,78%

- Vi khuẩn E coli, Klesiella spp và Proteus mirabilis là những tác nhân chính gây NKĐTN phức tạp với lần lượt là 66%, 7,43% và 7,43%

- Riêng ba tác nhân này đã chiếm 80,86% tác nhân gây bệnh

Các loại vi khuẩn gây NKĐTN PT

Escherichia coli Klebsiella pneumoniae species Proteus mirabilis

Pseudomonas aeruginosaMorganella morganiiEnterococcus faecalisStreptococcus agalactiaeNeisseria gonorrhoeaeEnterobacter cloacaeEnterococcus raffinosusProvidencia rettgeriAcinobacter juniiStaphylococcus aureusEnterococcus faeciumStreptococcus alpha-haemolyticStaphylococcus epideimidis

3.3.4 Men kháng thuốc kháng sinh ESBL trong NKĐTN:

Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ vi khuẩn tiết men ESBL trong NKĐTN

- Trong 175 trường hợp vi khuẩn ghi nhận cho thấy có sự tiết ESBL (+) ở 72/175

- Cụ thể trong đó: E coli 55,83% (67/120 TH) và Klebsiella spp 38,46% (5/13

3.3.5 Tình hình vi khuẩn tiết ESBL trong NKĐTN ĐT và NKĐTN PT:

Bảng 3.14 Tình hình vi khuẩn tiết men ESBL trong NKĐTN ĐT và NKĐTN PT

NKĐTN ESBL (+) Tỷ lệ (%) ESBL (-) Tổng Giá trị p Đơn thuần 9 37,5 15 24

- NKĐTN ĐT vi khuẩn tiết men ESBL chiếm tỷ lệ 37,5% và NKĐTN PT vi khuẩn tiết ESBL chiếm tỷ lệ 57,8%

- Không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa phân loại NKĐTN ĐT hay PT với vi khuẩn tiết ESBL

3.3.6 Liên quan giữa nhóm tuổi và vi khuẩn tiết ESBL:

Bảng 3.15 Liên quan giữa nhóm tuổi và vi khuẩn tiết men ESBL

Nhóm tuổi ESBL (+) Tỷ lệ (%) ESBL (-) Tổng Giá trị p

- NKĐTN ở nhóm tuổi < 50 có tỷ lệ tiết men ESBL 43,9% và nhóm tuổi ≥ 50 tuổi chiếm tỷ lệ 58,7%

- Không có mối tương quan ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi với vi khuẩn tiết ESBL

3.3.7 Tình hình tiết ESBL của vi khuẩn:

Bảng 3.16 Tình hình tiết ESBL của E coli, Klebsiella spp

VK tiết ESBL Số TH ESBL (+) Tỷ lệ (%) ESBL (-) Giá trị p

- Vi khuẩn E coli có tỷ lệ tiết men ESBL 55,83%, Klebsiella spp có tỷ lệ sinh men ESBL 38,46%

- Không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa vi khuẩn tiết men ESBL với vi khuẩn

Kết quả kháng sinh đồ

3.4.1 Tỷ lệ nhạy của các kháng sinh trong NKĐTN

Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ nhạy kháng sinh trong NKĐTN

- Trong NKĐTN, VK còn nhạy cao với ticarcillin, teicoplanin, tigecycline và rifampicin với tỷ lệ 100%

- Đối với kháng sinh nhóm quinolone, độ nhạy với VK của ciprofloxacin và levofloxacin lần lượt là 39,18% và 40,51%

- Đối với nhóm kháng sinh nhóm beta-lactam, độ nhạy có sự khác nhau Cefoxitin có độ nhạy 71,43%, cefuroxime 20%, ceftriaxone 45,2%, cefepime 61,39%

- Vi khuẩn trong NKĐTN còn nhạy với nhóm aminoglycoside 98,73%, 88% với fosfomycin

- NKĐTN nhạy 50% đối với nhóm beta-lactam kết hợp với ức chế beta-lactamase

The Ti car ci lli n Te ico p lan plays a crucial role in the treatment of bacterial infections, utilizing antibiotics such as Tigecycline and Rifampicin Other important antimicrobial agents include Meropenem, Vancomycin, Linezolid, Imipenem, and Tobramycin, which are used to combat resistant bacterial strains The article also highlights the effectiveness of various antibiotics like Pipercillin-Tazobactam, Cefoxitin, Moxifloxacin, Piperacillin, Cefepime, Cefazidime, Amip-Sulbac, Clavuloxacin, Fusidic acid, Ceftriaxone, TMP-SMX, Levofloxacin, Ciprofloxacin, Cefazolin, Tetracycline, Erythromycin, Cefuroxime, Amoxicillin, Clindamycin, and Penicillin in managing bacterial infections Proper selection and utilization of these antibiotics are essential for effective treatment, especially against multidrug-resistant bacteria.

3.4.2 Tỷ lệ nhạy của các kháng sinh trong NKĐTN ĐT và NKĐTN PT:

Biểu đồ 3.11 Tỷ lệ nhạy kháng sinh trong NKĐTN ĐT và NKĐTN PT

NKĐTN phức tạp NKĐTN đơn thuần

- Có sự khác biệt tỷ lệ nhạy giữa NKĐTN đơn thuần và NKĐTN phức tạp, trong đó tỷ lệ nhạy của NKĐTN đơn thuần nhạy hơn NKĐTN phức tạp

- Ở nhóm aminoglycosid (gentamycin, tobramycin, amikacin), tỷ lệ nhạy ở 2 nhóm NKĐTN gần tương đương nhau

- Ở nhóm quinolone, NKĐTN đơn thuần nhạy khoảng 60-62% nhiều hơn so với NKĐTN phức tạp khoảng 34-36%

Piperacillin – tazobactam trong nhóm kháng sinh beta-lactam phối hợp với chất ức chế beta-lactamase có độ nhạy gần như tương đương giữa hai nhóm Trong khi đó, amoxicillin – clavulanic acid đạt tỷ lệ nhạy 100% đối với nhiễm trùng đường tiểu đơn thuần, nhưng giảm xuống còn 40% khi gặp nhiễm trùng đường tiểu phức tạp.

- Ở nhóm cephalosporin, tỷ lệ nhạy của NKĐTN ĐT từ 47-76% và của NKĐTN

- Nhóm kháng sinh carbapenem, NKĐTN đơn thuần có tỷ lệ nhạy 100% so với NKĐTN PT là khoảng 84-95%

- Fosfomycin có tỷ lệ nhạy ở NKĐTN đơn thuần là 80% và NKĐTN phức tạp là 90%

- Kháng sinh vancomycin có tỷ lệ nhạy trên 92,31% trong NKĐTN PT và 100% trong NKĐTN ĐT

3.4.3 Tỷ lệ nhạy cảm của các kháng sinh theo men ESBL

Biểu đồ 3.12 Tỷ lệ nhạy kháng sinh theo men ESBL

- Tỷ lệ nhạy còn cao của nhóm carbapenem, fosfomycin trong nhóm ESBL (-) và ESBL (+) là trên 90%

- Trong nhóm aminoglycoside, amikacin có độ nhạy trên 98% ở 2 nhóm; tobramycin có sự khác biệt giữa 2 nhóm với ESBL (-) có tỷ lệ nhạy 98,25% còn ESBL (+) là 82,26%

Meropenem Amikacin Imipenem Fosfomycin Ertapenem Cefoxitin Cefepime Ceftazidine Tobramycin Ceftriaxone Nitrofurantoin Gentamicin Piperacillin - Tazobactam

Cefazolin Cefuroxime Levofloxacin Trimethprim - Sulfamethoxazole

- Nhóm quinolone độ nhạy với VK tiết ESBL (+) có tỷ lệ nhạy 19-22% và ESBL (-) 50-56%

- Nhóm kháng sinh cephalosporin thế hệ 3 đối với VK ESBL (+) hầu như không còn nhạy nhưng với ESBL (-) tỷ lệ nhạy cao trên 75%

- Đối với nhóm kháng sinh beta-lactam kết hợp với chất ức chế beta-lactamase, với nhóm ESBL (-) nhạy 50% và nhóm ESBL (+) nhạy khoảng 48-66%

3.4.4 Tỷ lệ nhạy cảm của kháng sinh:

3.4.4.1 Tỷ lệ nhạy cảm kháng sinh của vi khuẩn gram âm:

+ Tỷ lệ nhạy cảm kháng sinh của vi khuẩn E coli (N = 120)

Biểu đồ 3.13 Tỷ lệ nhạy kháng sinh của vi khuẩn E coli

- Vi khuẩn E coli còn nhạy với nhóm carbapenem (imipenem, ertapenem, meropenem) trên 98%, amikacin 99,17%

- Vi khuẩn E coli có tỷ lệ nhạy thấp với nhóm quinolone (ciprofloxacin với 34,17% và levofloxacin với 37,82%)

- Đối với nhóm kháng sinh cephalosporin thế hệ 3 cho thấy tỷ lệ nhạy thấp với E coli khoảng 42-49%

- Vi khuẩn E coli còn nhạy với fosfomycin 95,24%

- Vi khuẩn E coli còn nhạy với nhóm beta-lactam phối hợp chất ức chế beta- lactamase 51-60%

+ Tỷ lệ nhạy kháng sinh của vi khuẩn Klebsiella spp (N = 13)

Biểu đồ 3.14 Tỷ lệ nhạy kháng sinh của vi khuẩn Klebsiella spp

- Vi khuẩn Klebsiella spp nhạy với meropenem 100%, imipenem 75% và ertapenem 66,67%

- Trong nhóm aminoglycoside, vi khuẩn Klebsiella spp nhạy với amikacin 100%, gentamicin 75% và tobramycin 61,54%

- Vi khuẩn Klebsiella spp còn nhạy cao với fosfomycin với tỷ lệ nhạy 100%

- Vi khuẩn Klebsiella spp nhạy cảm thấp với nhóm quinolone trong đó ciprofloxacin 30,77% và levofloxacin 38,46%

- Vi khuẩn Klebsiella spp còn nhạy với kháng sinh cephalosporin thế hệ 3 trong đó ceftriaxon nhạy 58,33%, Ceftazidim 61,54%

- Vi khuẩn Klebsiella spp nhạy kém với nhóm beta-lactam kết hợp chất ức chế beta-lactamase 27,27%

+ Tỷ lệ nhạy kháng sinh của vi khuẩn Proteus mirabilis (N = 12)

Biểu đồ 3.15 Tỷ lệ nhạy kháng sinh của vi khuẩn Proteus mirabilis

- Vi khuẩn Proteus mirabilis còn nhạy với ertapenem 100%, nhạy kém với imipenem chỉ 41,67%, với amikacin 100%

- Vi khuẩn Proteus mirabilis còn nhạy với nhóm quinilon có tỷ lệ nhạy 66,67%

- Vi khuẩn Proteus mirabilis còn nhạy với kháng sinh cephalosporin thế hệ 3 với tỷ lệ 54,55-58,33%

- Ở nhóm beta-lactam phối hợp với chất ức chế beta-lactamase vi khuẩn Proteus mirabilis có tỷ lệ nhạy 63,64%

+ Tỷ lệ nhạy kháng sinh của vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa (N = 5)

Biểu đồ 3.16 Tỷ lệ nhạy kháng sinh của vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa

- Vi khuẩn Pseudomonas spp nhạy với tobramycin 100%, amikacin 80% và gentamicin nhạy 60%

- Vi khuẩn Pseudomonas spp nhạy với nhóm quinolone 40%

- Đối với nhóm carbapenem vi khuẩn Pseudomonas spp có tỷ lệ nhạy 80%

- Nhóm kháng sinh cephalosporin thế hệ 3 có tỷ lệ nhạy với Pseudomonas spp 75%

+ Tỷ lệ nhạy kháng sinh của VK Staphylococcus coagulase negative

Biểu đồ 3.17 Tỷ lệ nhạy kháng sinh của VK Staphylococcus spp

- Vi khuẩn Staphylococcus spp còn nhạy cao với vancomycin 100%, teicoplanin

- Vi khuẩn Staphylococcus spp còn nhạy cao với ciprofloxacin 100%

+ Tỷ lệ nhạy cảm kháng sinh của Enterococcus spp

Biểu đồ 3.18 Tỷ lệ nhạy kháng sinh của Enterococcus spp

- Vi khuẩn Enterococcus spp nhạy teicoplanin 100%, vancomicin 85,71%

- Vi khuẩn Enterococcus spp nhạy với ampicillin 100%, tigecycline 100%, ciprofloxacin 57,14%

3.4.4.2 Tỷ lệ nhạy cảm kháng sinh của khuẩn tiết ESBL:

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy có 72 TH vi khuẩn gram (-) tiết men ESBL (E coli: 67/120 TH, Klebsiella: 5/13 TH)

Biểu đồ 3.19 Tỷ lệ nhạy kháng sinh của vi khuẩn tiết ESBL

- Vi khuẩn gram (-) tiết men ESBL (+) còn nhạy > 91% với nhóm carbapenem, amikacin 98,61%, fosfomycin 93,75%

- Đối với nhóm beta-lactam kết hợp chất ức chế beta-lactamase, vi khuẩn gram (-) tiết ESBL còn nhạy 48,53-66%

- Vi khuẩn gram (-) tiết men ESBL (+) không còn nhạy nhóm cephalosporin, nhạy cảm thấp với nhóm fluoroquinolone (19-22%)

+ Tỷ lệ nhạy kháng sinh của vi khuẩn E coli tiết men ESBL (Ng)

Biểu đồ 3.20 Tỷ lệ nhạy kháng sinh của vi khuẩn E coli tiết ESBL

- Vi khuẩn E coli tiết men ESBL còn nhạy cao với nhóm carbapenem trên 96%, amikacin 98,51%, fosfomycin 93,75%

- Vi khuẩn E coli tiết men ESBL nhạy với nhóm beta-lactam phối hợp với chất ức chế beta-lactamase 52-66%

- Vi khuẩn E coli tiết men ESBL nhạy cảm thấp với nhóm cephalosporin thế hệ 3 và nhóm fluoroquinolon nhạy khoảng 20-23%

+ Đặc điểm vi khuẩn học trên nhóm bệnh nhân có sỏi đường tiết niệu:

Trong tổng số 419 trường hợp mắc Nong do Kết tràng trên niêm mạc (NKĐTN), bệnh lý sỏi đường tiết niệu chiếm tỷ lệ đáng chú ý với 104 trường hợp, tương đương 24,82% Trong số này, có 47 trường hợp(cấy (+)), trong đó vi khuẩn gram (-) chiếm đa số với 46/47 trường hợp (97,87%), còn vi khuẩn gram (+) chỉ chiếm 1/47 trường hợp (2,13%).

Bảng 3.17 Đặc điểm vi khuẩn gram (-) ở bệnh nhân có sỏi đường tiết niệu

VK gram (-) Số TH (NF) Tỷ lệ (%)

- Nhóm bệnh nhân NKĐTN có sỏi đường tiết niệu, tỷ lệ gram (-) cao 97,87% trong đó E coli chiếm 65,21% và Proteus mirabilis chiếm 15,22%

+ Đặc điểm vi khuẩn học trên nhóm bệnh nhân đái tháo đường, phụ nữ có thai và suy thận mạn:

- Nhóm bệnh nhân NKĐTN đi kèm đái tháo đường có 58/419 TH (13,84%), cấy (+) có 29/58 TH (50%), trong đó 20 TH nhiễm E coli có 13 TH ESBL (+)

- Nhóm phụ nữ có thai kèm theo NKĐTN có 6/419 TH (1,43%), trong đó 2 TH nhiễm E coli có 1 TH ESBL (+) còn nhạy với nhóm cephalosporin thế hệ 3

- Nhóm bệnh NKĐTN đi kèm suy thận mạn có 22/419 TH (5,37%), có 14 TH cấy (+) trong đó 7 TH nhiễm E coli có 5 TH vi khuẩn tiết men ESBL (+).

Kết quả điều trị kháng sinh dùng theo kinh nghiệm ở phòng khám

Danh sách kháng sinh đặc hiệu của khoa xét nghiệm BV Nhân Dân Gia Định còn hạn chế về kháng sinh đường uống, gây khó khăn trong việc lựa chọn thuốc phù hợp cho bệnh nhân Việc sử dụng kháng sinh dựa trên kháng sinh đồ (KSĐ) và kinh nghiệm không phải lúc nào cũng phản ánh đúng tình hình thực tế lâm sàng Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và có thể dẫn đến kháng thuốc Cần nâng cao khả năng phân tích và cập nhật dữ liệu kháng sinh đồ để tối ưu hóa phác đồ điều trị cho bệnh nhân.

Qua kết quả nghiên cứu, có 234/419 TH (55,85%) được sử dụng KSKN và chưa có kết quả cấy vi khuẩn làm KSĐ

Biểu đồ 3.21 Kháng sinh dùng theo kinh nghiệm ở phòng khám

Ghi chú: Nhóm cephalosporin 2 và 3 (cefaclor, cefuroxim, cefdinir, cefixim, cefpodoxime); nhóm quinolone (ciprofloxacin, levofloxacin)

- Kháng sinh kinh nghiệm được dùng nhiều là nhóm cephalosprrin thế hệ 3 (63,87%), nhóm quinolon (26,45%), fosfomycin (2,26%)

Biểu đồ 3.22 Kháng sinh phối hợp trong điều trị NKĐTN theo kinh nghiệm

- Trong các sự phối hợp kháng sinh thì sự phối hợp giữa KS nhóm beta-lactam với nhóm quinolon được sử dụng nhiều nhất 88,16%

Bảng 3.18 Số loại kháng sinh kinh nghiệm được sử dụng

Số loại kháng sinh Số TH Tỷ lệ (%)

- Phần lớn bệnh nhân được sử dụng 1 loại kháng sinh 158/234 TH chiếm tỷ lệ 67,52% và số bệnh nhân dùng 2 loại chiếm 32,48%

Qua nghiên cứu có 175 TH cấy (+) được làm KSĐ có 92 TH điều trị KSKN chiếm tỷ lệ 52,57%

Bảng 3.19 Sự phù hợp kháng sinh kinh nghiệm theo KSĐ

Kháng sinh kinh nghiệm Số TH Tỷ lệ (%)

1: KSKN nhạy, có trong KSĐ 2: KSKN kháng, có trong KSĐ

1*: KSKN cùng nhóm KS nhạy trong KSĐ 2*: KSKN cùng nhóm KS kháng trong

3: KSKN trung gian trong KSĐ hoặc không ghi nhận trong KSĐ

- Việc điều trị KSKN ban đầu một loại KS có 66/92 TH (71,74%)

- Tỷ lệ dùng KSKN phù hợp KSĐ thực sự chỉ 4,84%

- Nếu tính gộp với tất cả trường hợp KSKN cùng nhóm KS nhạy trên KSĐ thì tỷ lệ này lên tới 61,29%

- Tỷ lệ dùng KSKN không phù hợp KSĐ là 33,87% Tỷ lệ kháng sinh không rõ nhạy hay không có trong KSĐ chiếm tỷ lệ 4,84%

Bảng 3.20 Sự kết hợp kháng sinh kinh nghiệm phù hợp theo KSĐ

Kháng sinh kinh nghiệm Số TH Tỷ lệ (%)

- Điều trị KSKN ban đầu kết hợp hai loại KS có 26/92 TH (28,26%)

- NKĐTN dùng KS kết hợp phù hợp theo KSĐ thực sự là 38,46%

- Nếu tính gộp với tất cả trường hợp KSKN cùng nhóm KS nhạy trên KSĐ và một nhóm kháng hay trung gian trên KSĐ thì tỷ lệ này là 57,69%

Tỷ lệ sử dụng kháng sinh kết hợp không phù hợp hoặc không rõ nhạy cảm trong kháng sinh đồ đạt mức 42,31% Trong khi đó, tỷ lệ kháng sinh không rõ nhạy hay không có trong kháng sinh đồ chiếm 0%, cho thấy sự cần thiết tối ưu hóa việc lựa chọn kháng sinh phù hợp để nâng cao hiệu quả điều trị và hạn chế tình trạng kháng thuốc.

Nhận xét kết quả chung:

- Có 175 TH cấy (+) được làm KSĐ, trong đó 92/175 TH được điều trị KSKN ban đầu cho thấy có 56/92 TH (60,87%) được điều trị KSKN ban đầu phù hợp và 36/92 TH (39,13%) không phù hợp với KSĐ KSKN phù hợp với KSĐ khi các kháng sinh sử dụng ghi nhận là nhạy với KSĐ hoặc cùng nhóm nhạy KSĐ

Thời gian sử dụng Kháng sinh không kê đơn (KSKN) thường kéo dài từ 5 đến 7 ngày Trong thực tế, việc sử dụng KSKN tại các phòng khám không phân biệt bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường type 2 hay type 1 về liều lượng cũng như thời gian điều trị.

Đánh giá tình hình tái khám sau điều trị

Qua nghiên cứu 419 TH NKĐTN được điều trị KSKN thời gian từ 1 đến 2 tuần có

309 TH tái khám (73,75%) và 110 TH không tái khám (26,25%)

Trong 110 TH không tái khám có 31 TH cấy (+) và 79 TH cấy (-), có 34 TH NKĐTN ĐT và 76 TH NKĐTN PT

Bảng 3.21 Số TH bệnh nhân không tái khám sau điều trị KSKN

BN không tái khám TH (%) Cấy NT (+) Số TH KSKN phù hợp (%) Cấy NT (-) Giá trị p

- Số BN có NKĐTN ĐT không tái khám (39,08%) chiếm tỷ lệ cao hơn nhóm NKĐTN PT (22,89%) sau điều trị KSKN từ 1 đến 2 tuần

Trong số 309 TH tỏi khỏm cú 91 TH được làm PTNT cú BC niệu (+) ≥ 10 BC/àL chiếm tỷ lệ 61,54% (56/91 TH) và nitrit (+) 18,68% (17/91 TH)

Trong số 309 TH tái khám có 253 TH tiếp tục điều trị ngoại trú và 56 TH nhập viện điều trị nội trú

Trong số 56 trường hợp tái khám để nhập viện điều trị nội trú nhằm xử lý các yếu tố phức tạp và tiếp tục điều trị bệnh nhân đái tháo đường nội trú, có 46 trường hợp cấy (+) và 10 trường hợp cấy (-) Thời gian điều trị kháng sinh trung bình từ 1 đến 2 tuần tại ngoại trú, đảm bảo hiệu quả trong quản lý bệnh nhân đái tháo đường và các biến chứng liên quan.

Trong số 253 TH tiếp tục điều trị ngoại trú có 98 TH cấy (+) và 155 TH cấy (-) Cụ thể, có 79 TH (31,23%) được XN TPTNT

Bảng 3.22 So sánh kết quả TPTNT trước và sau điều trị KSKN Đặc điểm Trước điều trị

Sau điều trị nhập viện (N, %)

Sau khi điều trị ngoại trú trong 1 đến 2 tuần, NKĐTN cho thấy hiệu quả rõ rệt trên lâm sàng và xét nghiệm BC niệu cùng nitrit giảm đáng kể so với trước khi bắt đầu điều trị kháng sinh kinh nghiệm.

Bảng 3.23 Đánh giá bệnh nhân tái khám sau điều trị KSKN

BN tái khám sau điều trị TH (%) Cấy

Số TH KSKN phù hợp (%)

- NKĐTN ĐT điều trị KSKN phù hợp (57,89%) được điều trị KS thêm 1 tuần, số

TH không phù hợp chuyển sang điều trị theo KSĐ trong thời gian 1 đến 2 tuần

- NKĐTN PT điều trị KSKN phù hợp (24,8%) được điều trị KS thêm 1 tuần, số

TH không phù hợp với KSKN được chuyển điều trị theo KSĐ trong thời gian 1 đến 2 tuần.

BÀN LUẬN

Đặc điểm bệnh nhân, các yếu tố gây phức tạp

Tuổi trung bình của dân số nghiên cứu là 54,64 ± 17,03, với tuổi nhỏ nhất là 18 và tuổi lớn nhất là 92, cho thấy độ tuổi đa dạng trong nhóm nghiên cứu Nghiên cứu về NKĐTN cho thấy tuổi thay đổi tùy thuộc vào đặc điểm dân số và địa điểm nghiên cứu Cụ thể, trong nghiên cứu của tác giả Trần Kim Hùng tại Bệnh viện Chợ Rẫy, tuổi trung bình là 46,97 ± 15,44, có thể do đối tượng nghiên cứu rộng hơn và bao gồm nhiều thể lâm sàng khác nhau Nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với kết quả của tác giả Phạm Thế Anh, với tuổi trung bình là 53,4 ± 16,98, cho thấy sự nhất quán trong phân bổ độ tuổi của bệnh nhân NKĐTN.

Nhóm tuổi từ 50 đến 69 chiếm tỷ lệ cao nhất, phù hợp với các nghiên cứu của tác giả Trịnh Đăng Khoa, Đỗ Văn Công, Nguyễn Thế Hưng và Phạm Thế Anh, cho thấy xu hướng tập trung trong độ tuổi trung niên đến cao niên.

Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ nữ chiếm ưu thế với 71,84% so với nam chỉ 28,16%, tỷ lệ nữ/nam là 2,55

Bảng 4.1 So sánh tỷ lệ giới tính trong các nghiên cứu về NKĐTN tại phòng khám

STT Tác giả Đối tượng nghiên cứu Tỷ lệ nam, nữ

1 Phạm Thế Anh [23] NKĐTN tại PK BV

2 Trần Kim Hùng [27] NKĐTN tại PK BV

3 Chúng tôi NKĐTN tại PK BV

Khi so sánh với các nghiên cứu NKĐTN tại phòng khám trong nước thì chúng tôi có tỷ lệ giới tính khác với tác giả Phạm Thế Anh và Trần Kim Hùng tức tỷ lệ nữ chiếm đa số so với nam, điều này có thể do nghiên cứu của hai tác giả trên được thực hiện với dân số nghiên cứu rộng hơn và nhiều thể lâm sàng

Kết quả của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của tác giả Vũ Đức Huy tỷ lệ nữ/nam là 1,53 [17], tác giả Seung-Ju Lee và cộng sự ghi nhận nữ chiếm ưu thế hơn nam (91,32%:8,68%) [71], tác giả Oyebola Fasugba và cộng sự có tỷ lệ nữ/nam là 80,2%:19,8% [47]

4.1.3 Các yếu tố gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp

Trong kết quả nghiên cứu, có đến 74,1% bệnh nhân phát hiện bất thường cấu trúc đường tiết niệu, trong khi 14,16% gặp phải bất thường chức năng đường tiết niệu Ngoài ra, tỷ lệ suy giảm miễn dịch là 1,51%, đái tháo đường chiếm 17,47%, phụ nữ mang thai chiếm 1,81%, và giới tính nam chiếm tỷ lệ cao nhất là 35,54%.

* Các yếu tố bất thường cấu trúc đường tiết niệu

Bế tắc đường tiết niệu do sỏi là yếu tố gây bất thường cấu trúc đường tiết niệu phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ 42,28% (104/246 trường hợp) Tiếp theo là tình trạng thận ứ nước với tỷ lệ 20,73% (51/246 trường hợp), và tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt chiếm 18,7% (46/246 trường hợp) Đây là những nguyên nhân chính dẫn đến các bất thường về cấu trúc đường tiết niệu cần được chú ý và xử lý kịp thời.

Bảng 4.2 Các bất thường cấu trúc đường tiết niệu so sánh với các tác giả

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận sự khác biệt về các bất thường cấu trúc do sỏi gây ra, đặc biệt là tồn tại ống thông ĐTN, so với các tác giả trước đây Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi mô hình bệnh lý khác nhau ở các khu vực nghiên cứu Những yếu tố địa lý và môi trường có thể ảnh hưởng đến đặc điểm cấu trúc và biểu hiện lâm sàng của các bệnh lý liên quan Các kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện nghiên cứu đa trung tâm để hiểu rõ hơn về đặc điểm bệnh học của từng khu vực.

Theo tác giả Ngô Gia Hy, sỏi niệu dễ gây tắc nghẽn niệu quản, dẫn đến tình trạng ngược dòng nước tiểu từ bàng quang lên niệu quản hoặc bể thận, gây nhiễm khuẩn ngược dòng Khi bị bế tắc do sỏi niệu quản, sự kích thích, cọ sát và ứ đọng nước tiểu liên tục sẽ dẫn đến viêm niệu quản và nhiễm khuẩn nước tiểu, khiến nước tiểu trở nên đục Ngoài ra, sỏi ở khúc niệu quản nội thành bàng quang còn gây viêm niêm mạc bàng quang, là nguyên nhân chính gây ra các triệu chứng như tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu ra máu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người bệnh.

Về tình trạng đặt thông Đường Tiết Niệu (ĐTN), nhiều báo cáo đã chỉ ra sự gia tăng tỷ lệ nhiễm khuẩn ĐTN trên bệnh nhân, đặc biệt là các vi khuẩn đa kháng thuốc Việc kiểm soát và phòng ngừa nhiễm khuẩn liên quan đến quá trình đặt thông ĐTN đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng chăm sóc và giảm thiểu biến chứng cho bệnh nhân Các biện pháp phòng ngừa hiệu quả cần được chú trọng để hạn chế sự phát triển của các vi khuẩn kháng thuốc, góp phần giảm thiểu tình trạng nhiễm khuẩn đa kháng thuốc trong quá trình điều trị.

Pseudomonas aeruginosa, Enterococcus faecalis, E coli, Proteus mirabilis, Klebsiella pneumonia, [106] Theo “Hướng dẫn điều trị” của Hội Tiết niệu Châu Âu năm 2022

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu là nguồn gây bệnh viện phổ biến nhất, đặc biệt khi bệnh nhân được đặt thông bàng quang Thời gian duy trì ống thông bàng quang là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất dẫn đến nhiễm khuẩn đường tiết niệu liên quan đến ống thông, góp phần làm tăng nguy cơ nhiễm trùng trong quá trình điều trị bệnh nhân.

* Các yếu tố bất thường về chức năng đường tiết niệu

Trong các yếu tố bất thường về chức năng đường tiết niệu, bệnh thận mạn chiếm tỷ lệ 48,94% (23/47 TH), kế đến là bàng quang hỗn loạn thần kinh chiếm tỷ lệ 51,06% (24/47 TH)

Bệnh thận mạn hiện nay đã trở thành một gánh nặng lớn đối với sức khỏe cộng đồng toàn cầu Nhờ vào những tiến bộ trong lĩnh vực lọc máu và chăm sóc y tế, bệnh nhân mắc bệnh thận mạn có thể sống lâu hơn, tuy nhiên vẫn đối mặt với nhiều vấn đề y tế liên quan Các nguyên nhân phổ biến gây ra bệnh thận mạn bao gồm đái tháo đường, tăng huyết áp không kiểm soát tốt và những bất thường về cấu trúc, trong đó sỏi niệu quản (ĐTN) là nguyên nhân thường gặp Quá trình lọc máu kéo dài còn gây tổn thương hệ thống miễn dịch, làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, đặc biệt là uồng hợp nhiễm trùng đường tiết niệu (NKĐTN).

* Các yếu tố làm giảm sức đề kháng của bệnh nhân

Trong các yếu tố gây suy giảm miễn dịch bất thường, đái tháo đường chiếm tỷ lệ lớn nhất đến 92,06% (58/63 trường hợp), trở thành nguyên nhân chính dẫn đến suy giảm miễn dịch Tiếp theo, dùng corticosteroid đóng vai trò thứ hai với tỷ lệ 7,94% (5/63 trường hợp), góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng suy giảm đề kháng của cơ thể.

Nhiều nghiên cứu gần đây đã xác nhận rằng nhiễm khuẩn đường tiết niệu (NKĐTN) là biến chứng phổ biến nhất ở bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) Theo Johnson và cộng sự, sự hiện diện của đường niệu chính là nguyên nhân chính gây ra NKĐTN, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát đường huyết để phòng ngừa biến chứng này.

Theo nghiên cứu bệnh chứng của Aswani và cộng sự đã cho thấy rằng tỷ lệ việm thận – bể thận cao hơn có ý nghĩa ở nhóm bệnh nhân mắc ĐTĐ hơn nhóm bệnh nhân không mắc ĐTĐ (9,4% so với 3,2%, p=0,04) [33]

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng lúc khám bệnh

4.2.1 Đặc điểm lâm sàng lúc khám bệnh

Bảng 4.3 So sánh triệu chứng lâm sàng với một số tác giả

Triệu chứng lâm sàng P.T.Anh (2018) [23]

Tiểu nhiều lần 46,08 82,38 34,27 Đau trên xương mu 58,82 19,52 31,47

Qua các nghiên cứu về nhiễm khuẩn đường tiết niệu tại phòng khám, chúng ta thấy triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân thay đổi theo từng địa điểm và đa dạng Sự thay đổi này có thể do các bệnh lý đi kèm, do thể lâm sàng và tình trạng điều trị trước đó

4.2.2 Đặc điểm cận lâm sàng lúc khám bệnh

4.2.2.1 Đặc điểm bạch cầu trong nước tiểu lúc khám bệnh

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đã ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân presence tế bào bạch cầu trong nước tiểu, cho thấy tình trạng viêm nhiễm đường tiết niệu phổ biến Sự khác biệt về tỷ lệ này giữa nam và nữ không đạt ý nghĩa thống kê khi phân tích bằng phép kiểm Chi bình phương, cho thấy giới tính không ảnh hưởng đáng kể đến sự xuất hiện của bạch cầu trong nước tiểu.

Bảng 4.4 So sánh bạch cầu, nitrit trong nước tiểu với một số tác giả

Tác giả Số TH BC niệu (+)

Bạch cầu niệu (+) cao hơn các tác giả Phạm Thế Anh, Nguyễn Thế Hưng và Nguyễn Xuân Chiến

Trong nhiễm trùng niệu, khuẩn niệu thường đi kèm với tăng bạch cầu trong nước tiểu, kèm theo nước tiểu chứa nhiều mủ và vi khuẩn Mủ trong nước tiểu xuất phát từ bàng quang hoặc từ đường tiết niệu trên thoát ra ngoài, nhưng không nhất thiết nước tiểu của thận cũng phải chứa mủ Viêm bàng quang không đồng nghĩa với viêm cầu thận, và về lâm sàng thường không có triệu chứng chính xác để phân biệt giữa viêm nhiễm bàng quang đơn độc và viêm bàng quang kèm viêm cầu thận.

Khi gặp trường hợp viêm nhiễm khuẩn đường tiết niệu, cần điều trị như viêm thận để đảm bảo khử khuẩn niệu hiệu quả Tiểu mủ với kết quả cấy nước tiểu âm tính có thể xuất phát từ một số nguyên nhân khác nhau Việc nhận biết và xử lý chính xác các nguyên nhân này rất quan trọng để tránh các biến chứng nặng, đồng thời giúp cải thiện tình trạng bệnh nhanh chóng Do đó, chẩn đoán chính xác và điều trị phù hợp là yếu tố quyết định thành công trong quản lý các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu.

- Nhiễm khuẩn niệu đã được điều trị bằng thuốc tiệt khuẩn hay kháng sinh, trong quá trình điều trị vi khuẩn biến mất sớm hơn tế bào mủ

- Nhiễm khuẩn chủ mô thận cô lập không liên hệ với đường bài tiết của thận như trong viêm thận kẽ mạn tính

4.2.2.2 Đặc điểm nitrit trong nước tiểu lúc khám bệnh

Trong kết quả nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận có 110/383 TH có nitrit (+) trong nước tiểu lúc khám bệnh chiếm tỷ lệ 28,72%

Theo bảng 3.13 cho thấy có mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa nitrit và cấy nước tiểu với p < 0,05

Tỷ lệ nitrit (+) của chúng tôi cao hơn tác giả Nguyễn Xuân Chiến (11,99%) và Nguyễn Thế Hưng (23,2%), thấp hơn so với tác giả Phạm Thế Anh (30,63%)

4.2.3 Về phân tầng nguy cơ nhiễm khuẩn

Trước đây, vấn đề nhiễm khuẩn nói chung và NKĐTN nói riêng chỉ được phân làm

Nhiễm khuẩn có thể được phân thành hai nhóm chính: nhiễm khuẩn cộng đồng và nhiễm khuẩn bệnh viện, trong đó nhiễm khuẩn bệnh viện là tình trạng nhiễm khuẩn xảy ra sau 48 giờ nhập viện của bệnh nhân Năm 2008, CDC đã cập nhật khái niệm về nhiễm khuẩn đường tiết niệu liên quan đến chăm sóc y tế (health-care-associated UTI) nhằm nâng cao nhận thức và quản lý hiệu quả các trường hợp nhiễm trùng này.

Trong 419 trường hợp NKĐTN, chúng tôi trực tiếp phân tầng 143 TH thì ghi nhận nhóm I, II, III lần lượt là 81,12%, 11,89% và 6,99% Chúng tôi ghi nhận được 11,89%

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu sau các thủ thuật y tế như nội soi tán sỏi ngược chiều, nội soi chẩn đoán bàng quang, cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt, hoặc đặt thông đạo có thể xảy ra ngay cả trong các can thiệp tối thiểu Để phòng ngừa nhiễm khuẩn nặng, cần đảm bảo chỉ định đúng, kỹ thuật vô khuẩn trong quá trình thực hiện, theo dõi sát sao và sử dụng kháng sinh hợp lý khi cần thiết.

Việc phân tầng nguy cơ là cần thiết để giúp bác sĩ lâm sàng xác định chính xác bệnh nhân cần kháng sinh phổ hẹp, phổ rộng hoặc phổ rộng nhất Điều này đảm bảo điều trị hiệu quả, tối ưu hóa quá trình chăm sóc và giảm thiểu tình trạng đề kháng kháng sinh đang ngày càng gia tăng [1], [2], [3].

4.2.4 Liên quan giữa nhiễm vi khuẩn đa kháng thuốc trong NKĐTN

Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận nhiều trường hợp vi khuẩn kháng nhiều nhóm kháng sinh, trong đó kháng ít nhất là 2 nhóm cephalosporin và nhóm quinolon

Bảng 4.5 Liên quan giữa vi khuẩn đa kháng KS và NKĐTN Đơn thuần Phức tạp Tổng Giá trị p

VK không đa kháng KS 17 66 83

Không có sự tương quan có ý nghĩa thống kê giữa vi khuẩn đa kháng kháng sinh với phân loại nhiễm khuẩn đơn thuần hay phức tạp

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp (NKĐTN phức tạp) thường liên quan đến các yếu tố như bệnh đái tháo đường, ức chế miễn dịch hoặc các bất thường giải phẫu và chức năng của đường tiết niệu, như bế tắc hoặc rối loạn chức năng cơ bàng quang, dẫn đến khó điều trị triệt để so với nhiễm khuẩn không phức tạp Hiểu biết mới về xử trí NKĐTN phức tạp nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét các bệnh nhiễm khuẩn do mầm bệnh đa kháng thuốc.

Théo tác giả Nguyễn Thế Hưng, vi khuẩn đa kháng kháng sinh gần đây nổi lên như một nguyên nhân chính gây khó khăn trong điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp Sự xuất hiện của các chủng vi khuẩn kháng thuốc càng làm tăng thách thức trong việc kiểm soát và điều trị các nhiễm trùng này Vi khuẩn đa kháng kháng sinh trở thành mối lo ngại lớn trong y học hiện đại, yêu cầu các phương pháp điều trị mới và hiệu quả hơn.

Vi khuẩn tiết men ESBL ở E coli có tỷ lệ 63,4% và Klebsiella là 50% [24].

Phân bố các loại vi khuẩn gặp trong NKĐTN tại phòng khám

4.3.1 Tỷ lệ các loại vi khuẩn được phân lập

Bảng 4.6 So sánh loại vi khuẩn phân lập được giữa các tác giả

Tác giả Năm Số TH Gram âm (%) Gram dương (%)

Nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với các tác giả trong và ngoài nước, vi khuẩn gây bệnh NKĐTN chủ yếu là gram âm

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ vi khuẩn gram âm tương đương với tác giả Nguyễn Xuân Chiến với tỷ lệ 91,1% và Nguyễn Thế Hưng với tỷ lệ 89,6% Kết quả của chúng tôi cao hơn các tác giả Koichiro Wada và cộng sự, Ngô Xuân Thái, Phạm Thế Anh và Trần Kim Hùng

Tóm lại, vi khuẩn gram âm là tác nhân gây bệnh chủ yếu trong NKĐTN

4.3.2 Phân bố các loại vi khuẩn gặp trong NKĐTN đơn thuần

Bảng 4.7 So sánh loại vi khuẩn gặp trong NKĐTN đơn thuần giữa các tác giả

Tác giả Nơi nghiên cứu

Enterococcus faecalis (9,85), Klebsiella pneumoniae (3,64), Streptococcus agalactiae (2,63),…

Klebsiella pneumoniae (2,99), Streptococcus agalactiae (4,48), Staphylococcus saprophyticus

Klebsiella pneumoniae (5,74), Proteus mirabilis (3,28), Staphylococcus coagulase (-)

PK BV Nhân Dân Gia Định

Klebsiella pneumoniae (7,41), Enterococcus faecalis (3,7), Staphylococcus saprophyticus

Tỷ lệ vi khuẩn E coli gây NKĐTN ĐT trong nghiên cứu của chúng tôi là 81,48%

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ vi khuẩn E coli cao hơn so với các nghiên cứu trước đó trong và ngoài nước, như của tác giả Koichiro Wada và cộng sự (70,15%), Nguyễn Xuân Chiến (66,11%) và Phạm Thế Anh (59,84%), có thể do quy mô mẫu nhỏ hơn và sự thay đổi của phổ vi khuẩn theo thời gian cũng như từng bệnh viện khác nhau E coli là tác nhân chính gây viêm bàng quang và viêm thận – bể thận, với ít nhất 80% trường hợp do vi khuẩn này, phần lớn thuộc nhóm huyết thanh O Từ khi còn tồn tại, E coli luôn là tác nhân phổ biến nhất gây nhiễm trùng đường tiết niệu, chiếm tới 85% nhiễm khuẩn cộng đồng và 50% nhiễm khuẩn bệnh viện Ngoài ra, các vi khuẩn khác trong họ Enterobacteriaceae như Proteus và Klebsiella, cùng với vi khuẩn gram dương như Enterococcus faecalis và Staphylococcus saprophyticus, chiếm tỷ lệ còn lại trong phần lớn các nhiễm khuẩn cộng đồng.

Nghiên cứu của chúng tôi xác nhận rằng Enterobacteriaceae là tác nhân chính gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu đơn thuần, phù hợp với các kết quả trong y văn E coli chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm đến 81,48%, trở thành vi khuẩn gây nhiễm trùng đường tiết niệu phổ biến nhất Tiếp theo là Klebsiella pneumoniae với tỷ lệ 7,41%, trong khi nhóm vi khuẩn gram dương thường gặp nhất là Staphylococcus coagulase (-), chiếm 3,7%.

4.3.3 Phân bố các loại vi khuẩn gặp trong NKĐTN phức tạp

Bảng 4.8 Phân bố các loại vi khuẩn gặp trong NKĐTN phức tạp

Tác giả Năm Số TH E coli (%) Các vi khuẩn khác (%)

Enterococcus faecalis (12,22), Pseudomonas aeruginosa (5,64), Klebsiella pneumoniae (5,96),…

Klebsiella pneumoniae (13,7), Pseudomonas aeruginosa (7,5), Proteus mirabilis (4,7),…

Klebsiella pneumoniae (7,41), Enterococcus faecalis (4,63), Proteus mirabilis (3),…

Pseudomonas spp (14,86), Proteus mirabilis (3), Klebsiella spp (4,79), Enterococcus spp (12,09)

Klebsiella spp (7,43), Proteus mỉabilis (7,43), Pseudomonas spp (3,38)

Tỷ lệ vi khuẩn E coli gây bệnh trong NKĐTN phức tạp là 66%, thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ 81,48% trong NKĐTN đơn thuần Điều này cho thấy phổ vi khuẩn ở NKĐTN phức tạp đa dạng hơn và vi khuẩn có khả năng kháng thuốc cao hơn, đặc biệt là trong các trường hợp liên quan đến điều trị Các nghiên cứu cho thấy, vi khuẩn gây NKĐTN phức tạp thường kháng thuốc hơn so với các vi khuẩn gây NKĐTN không phức tạp, làm tăng khó khăn trong việc điều trị bệnh.

Tỷ lệ E coli gây Nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp trong nghiên cứu của chúng tôi là 65,1%, tương đương với tỷ lệ của tác giả Nguyễn Xuân Chiến và gần bằng tỷ lệ của Koichiro Wada cùng cộng sự (67,36%) Mức tỷ lệ này cao hơn so với các nghiên cứu của Phạm Thế Anh (33,5%), Seung-Ju Lee và cộng sự (59,56%) và Shio-Shin Jean cùng cộng sự (60,5%), có thể do sự khác biệt về địa điểm nghiên cứu và mô hình bệnh tật tại mỗi bệnh viện.

Các yếu tố làm tăng độc lực của vi khuẩn gồm có chất bám dính bề mặt, đóng vai trò trung gian kết nối vi khuẩn với receptor chuyên biệt trên tế bào biểu mô đường tiết niệu Ngoài ra, các độc tố do vi khuẩn tiết ra gây tổn thương mô đường tiết niệu và kích hoạt phản ứng viêm nhanh chóng, góp phần vào quá trình nhiễm trùng.

Các yếu tố gây độc của vi khuẩn E coli chủ yếu liên quan đến các chất bám dính bề mặt Những chất này đóng vai trò trung gian giúp E coli gắn kết với receptor trên tế bào biểu mô đường tiết niệu, qua đó tăng khả năng gây bệnh Hầu hết các loại vi khuẩn E coli gây bệnh đều sở hữu nhiều loại chất bám dính khác nhau, và tổng hiệu quả của các chất này góp phần làm tăng độc tính của vi khuẩn.

4.3.4 Bàn luận về tỷ lệ tiết ESBL trong NKĐTN

Bảng 4.9 Tỷ lệ tiết ESBL trong NKĐTN đơn thuần so với các tác giả khác

Tác giả Nơi nghiên cứu

Vi khuẩn khác tiết ESBL (%)

PK BV Nhân Dân Gia Định

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ tiết men ESBL trong vi khuẩn gây nhiễm trùng đường tiết niệu nói chung đạt 41,14% (72 trên 175 trường hợp), cho thấy mức độ kháng thuốc đáng báo động Cụ thể, trong các trường hợp nhiễm khuẩn đường tiết niệu đài thận, tỷ lệ vi khuẩn E coli tiết men ESBL cũng tăng cao, cho thấy sự cần thiết của việc kiểm soát và xây dựng chiến lược điều trị phù hợp nhằm giảm thiểu tình trạng kháng thuốc và nâng cao hiệu quả điều trị.

Tỷ lệ E coli tiết ESBL trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn tác giả Nguyễn

Xuân Chiến ghi nhận tỷ lệ viêm bàng quang là 34,83%, tương đồng với mô hình bệnh tật trong nghiên cứu của chúng tôi, trong đó Nhiễm khuẩn đường tiết niệu dưới chiếm 72,45% Tuy nhiên, có sự chênh lệch về tỷ lệ E coli tiết ESBL, với kết quả của chúng tôi cao hơn so với các nghiên cứu ở các nước phát triển như Nhật Bản (5,7%) và Hồng Kông (5,2%) Trong khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ E coli tiết ESBL ở Thái Lan là 12,5%, còn kết quả của chúng tôi chỉ thấp hơn so với nghiên cứu tại Trung Quốc, quốc gia đã cảnh báo về tình trạng gia tăng nhanh chóng của vi khuẩn tiết ESBL.

Tỷ lệ E coli tiết men ESBL trong bệnh nhân nhiễm trùng đường tiết niệu thấp hơn ở nhóm nhiễm trùng phức tạp (40,91% so với 59,18%), cho thấy tình trạng đáng chú ý vì phần lớn các ca nhiễm trùng này xảy ra trong cộng đồng Khi vi khuẩn tiết men ESBL, khả năng kháng kháng sinh của chúng sẽ tăng lên đáng kể, đặc biệt đối với các nhóm thuốc như cephalosporin thế hệ 2, 3 và quinolon, là những nhóm thuốc phổ biến được sử dụng trong khám chữa bệnh Điều này vừa làm tăng chi phí điều trị, vừa gây ra nhiều khó khăn trong hiệu quả điều trị các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu.

Bảng 4.10 Tỷ lệ tiết ESBL trong NKĐTN phức tạp so với các tác giả

Tác giả Nơi nghiên cứu Năm

Châu Á – Thái Bình Dương 2013 1597 39,45 362 43,65 N.T.T.Tâm

Khoa Tiết Niệu BV Chợ Rẫy

Khoa Tiết Niệu BV Chợ Rẫy

Chúng tôi PK BV Nhân

Tỷ lệ E coli tiết ESBL trong nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở nghiên cứu của chúng tôi là 59,18%, cao hơn nhiều so với các tác giả khác như Phạm Thế Anh (28,57%), Nguyễn Thị Thanh Tâm (39,1%), và Nguyễn Minh Tiếu (45%), có thể do khác về địa điểm nghiên cứu và mô hình bệnh tật Kết quả của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Xuân Chiến với tỷ lệ 53,85%, chủ yếu do thể lâm sàng của nhiễm khuẩn đường tiết niệu dưới chiếm đa số trong nghiên cứu của chúng tôi, góp phần giải thích sự tương đồng này.

Tỷ lệ Klebsiella spp tiết men ESBL trong nghiên cứu của chúng tôi lại cao hơn tác giả Nguyễn Xuân Chiến 26,32% và tác giả Phạm Thế Anh 21,05% Điều này cho thấy sự khác nhau về địa điểm nghiên cứu cho kết quả phổ vi khuẩn thay đổi

Tỷ lệ tiết men ESBL của E coli và Klebsiella spp biến đổi theo từng khu vực, quốc gia và bệnh viện Theo nghiên cứu SMART về kháng kháng sinh ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương từ năm 2010 đến 2013, tỷ lệ tiết ESBL của E coli và Klebsiella spp vẫn tiếp tục chứng tỏ sự đa dạng theo địa phương Việc giám sát tỷ lệ tiết ESBL là cần thiết để đánh giá và kiểm soát sự lây lan của các vi khuẩn kháng thuốc, góp phần tối ưu hóa chiến lược điều trị bệnh nhân hiệu quả.

Klebsiella spp lần lượt là 39,45% và 43,65% [65]

4.3.5 Tỷ lệ nhạy kháng sinh của các loại vi khuẩn

4.3.5.1 Tỷ lệ nhạy của các kháng sinh với E coli trong NKĐTN đơn thuần

Bảng 4.11 Tỷ lệ nhạy kháng sinh của E coli trong NKĐTN ĐT so với các tác giả

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nhạy kháng sinh đường tĩnh mạch đối với amikacin đạt 100%, trong khi đó tỷ lệ nhạy với ceftriaxone là 57,14% Kết quả về khả năng nhạy của amikacin phù hợp với các nghiên cứu của các tác giả trong nước và quốc tế như Koichiro Wada và cộng sự (100%), Seung-Ju Lee và cộng sự (100%), cũng như Nguyễn Xuân Chiến (97,49%) Đối với ceftriaxone, tỷ lệ nhạy của chúng tôi thấp hơn so với các nghiên cứu của các tác giả ở Hàn Quốc và Nhật Bản, nhưng cao hơn so với tác giả Phạm Thế Anh và thấp hơn Nguyễn Xuân Chiến, cho thấy sự khác biệt về kháng kháng sinh theo từng vùng và đối tượng nghiên cứu.

Trong các kháng sinh đường uống, nhóm quinolone của chúng tôi cho tỷ lệ nhạy cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Xuân Chiến và Phạm Thế Anh, nhưng thấp hơn các nghiên cứu của tác giả ở Hàn Quốc và Nhật Bản Kháng sinh fosfomycin trong nghiên cứu của chúng tôi đạt tỷ lệ nhạy 100%, cao hơn đáng kể so với Nguyễn Xuân Chiến (88,29%), Koichiro Wada cùng cộng sự (98,1%) và Pak-leung Ho (98,2%).

Bàn luận về kháng sinh kinh nghiệm trong điều trị NKĐTN

4.4.1 Kháng sinh kinh nghiệm trong điều trị NKĐTN đơn thuần

Hướng dẫn của hội Tiết niệu – Thận học VIệt Nam, việc điều trị kháng sinh trong NKĐTN đơn thuần được liệt kê trong bảng sau (Bảng 1.)

Chẩn đoán NKĐTN đơn thuần dựa trên các triệu chứng chính như đau hông lưng, tiểu gắt, tiểu nhiều lần Để xác định chính xác, xét nghiệm TPTNT nên được thực hiện, đặc biệt trong các trường hợp chẩn đoán không rõ ràng hoặc bệnh nhân không đáp ứng với điều trị kháng sinh Trong những tình huống này, cần thiết phải cấy nước tiểu để xác định vi khuẩn gây bệnh và kháng sinh đồ, giúp hướng dẫn điều trị hiệu quả hơn.

Aminopenicillins hiện không còn phù hợp để điều trị do tỷ lệ E coli kháng thuốc cao trên toàn thế giới Kết hợp aminopenicillins với chất ức chế beta-lactamase như ampicillin-sulbactam hoặc amoxicillin-axit clavulanic và sử dụng cephalosporin đường uống generally không được khuyến cáo Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nhạy cảm của ampicillin chỉ đạt 9,52%, phù hợp với các số liệu y văn Tỷ lệ nhạy của amoxicillin-clavulanic ghi nhận là 100%, cao hơn nhóm cephalosporin thế hệ 3 và quinolon, tuy nhiên chỉ có một trường hợp trên vi khuẩn E coli được ghi nhận, có thể chưa phản ánh đúng khả năng nhạy cảm thực tế và cần nghiên cứu với quy mô lớn hơn.

Fluoroquinolones như ofloxacin, ciprofloxacin và levofloxacin là nhóm kháng sinh rất hiệu quả trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu đơn thuần; tuy nhiên, do có xu hướng gây mất cân bằng hệ sinh thái, nên cần dành nhóm kháng sinh này cho các trường hợp nhiễm khuẩn trầm trọng hơn Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ nhạy cảm của vi khuẩn đối với ciprofloxacin là 39,18%, với levofloxacin là 40,51%, thấp hơn so với một số nghiên cứu trong nước đã được liệt kê trong bảng 4.11 Các hướng dẫn quốc tế cũng nhấn mạnh rằng khi sử dụng nhóm quinolon, tỷ lệ đề kháng nên duy trì dưới 10% để đảm bảo hiệu quả điều trị và hạn chế tình trạng kháng thuốc.

Trong nhóm cephalosporin thế hệ 3, các kháng sinh tĩnh mạch như ceftriaxone và cefotaxime thường được sử dụng trong điều trị nội trú, trong khi đó, các kháng sinh uống như cefdinir, cefpodoxim và cefixim lại được kê đơn phổ biến tại các phòng khám ngoại trú Mặc dù cùng thuộc nhóm cephalosporin thế hệ 3, độ nhạy cảm của các kháng sinh này không hoàn toàn giống nhau Theo nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nhạy của nhóm cephalosporin thế hệ 3 trong điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu dao động trong khoảng 60% đến 68%.

Tỷ lệ nhạy của fosfomycin đạt khoảng 80% và nitrofurantoin đạt 100% trong điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu không biến chứng (NKĐTN) đơn thuần, cho thấy đây là những kháng sinh uống có hiệu quả cao và có thể được kê đơn tại phòng khám Mặc dù fosfomycin mới được sử dụng trong vài năm gần đây, nhưng đã xuất hiện dấu hiệu đề kháng kháng sinh, làm giảm hiệu quả điều trị trong một số trường hợp Nitrofurantoin là kháng sinh có độ nhạy cao, tuy nhiên, do tình trạng thiếu cung ứng tại Việt Nam và một số quốc gia khác, không được khuyến cáo sử dụng khi độ lọc cầu thận (GFR) dưới 60 ml/phút để đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị.

 Các guideline trên thế giới:

- Theo hướng dẫn của Hội Tiết niệu Châu Âu, nhóm kháng sinh lựa chọn đầu tiên là: fosfomycin trometamol 3g liều duy nhất; pivmecillinam 400 mg x 3 lần / ngày trong 3-

Bạn có thể sử dụng thuốc nitrofurantoin 100 mg x 2 lần mỗi ngày trong vòng 5 ngày để điều trị Trong trường hợp cần thay thế, nhóm kháng sinh bao gồm trimethoprim kết hợp với sulfamethoxazole (160/800 mg) uống hai lần mỗi ngày trong 3 ngày hoặc trimethoprim 200 mg hai lần mỗi ngày trong 5 ngày, là lựa chọn hàng đầu tại những vùng có tỷ lệ kháng E coli dưới 20%.

Theo hướng dẫn của Hội Tiết niệu Hoa Kỳ, các thuốc kháng sinh phù hợp để điều trị viêm đường tiết niệu bao gồm nitrofurantoin 100mg x 2 lần/ngày trong 5 ngày, trimethoprim-sulfamethoxazol (160/800 mg) x 2 lần/ngày trong 3 ngày (không nên sử dụng nếu tỷ lệ kháng thuốc tại khu vực vượt quá 10-20% hoặc đã dùng trong 3 tháng gần nhất), pivmecillinam 400 mg x 2 lần/ngày trong 5 ngày và fosfomycin trometamol liều duy nhất 3g Nhóm fluoroquinolon hoặc beta-lactam chỉ được sử dụng khi các lựa chọn trên không phù hợp hoặc không thể sử dụng.

Tại Hội Tiết niệu Châu Á năm 2018, các chuyên gia khuyên dùng kháng sinh đầu tay trong điều trị nhiễm trùng tiết niệu gồm fosfomycin (3g một lần duy nhất hoặc 1g x 3 lần/ngày trong 2 ngày), nitrofurantoin macrocrystal (100 mg x 2 lần/ngày trong 5-7 ngày), trimethoprim-sulfamethoxazol (160/800 mg x 2 lần/ngày trong 3 ngày) và amoxicillin-clavulanic (500/125 mg x 2 lần/ngày trong 7 ngày nếu kết quả soi nước tiểu cho thấy nhiễm khuẩn do cầu khuẩn gram dương) Khi các thuốc đầu tay không thể sử dụng, các kháng sinh nhóm quinolone (levofloxacin, ciprofloxacin) và cephalosporin (cefdinir, cefpodoxim) là các lựa chọn thay thế hiệu quả.

Từ kết quả nghiên cứu và các hướng dẫn quốc tế, kháng sinh đầu tay để điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu không biến chứng ở phụ nữ tại phòng khám bệnh viện Nhân Dân Gia Định bao gồm nitrofurantoin, fosfomycin, amoxicillin – axít clavulanic, với tỷ lệ nhạy cảm cao; trong đó, trimethoprim-sulfamethoxazol cũng được khuyến cáo nhưng tỷ lệ nhạy chỉ 46,15% Các nhóm kháng sinh như cephalosporine và quinolone nên là lựa chọn thứ hai, đặc biệt giữ nhóm quinolone cho các trường hợp nhiễm trùng phức tạp hoặc nặng hơn Việc lựa chọn kháng sinh còn phụ thuộc vào tình hình tồn kho thuốc tại từng khu vực và phòng khám Trong trường hợp phụ nữ mang thai bị viêm bàng quang, có thể dùng các kháng sinh giống như nhóm không mang thai, tuy nhiên cần tránh TMP-SMX và nhóm fluoroquinolon do có nguy cơ gây quái thai hoặc tổn thương não do tăng bilirubin, đặc biệt khi dùng trong 3 tháng cuối của thai kỳ Thời gian điều trị kháng sinh là 7 ngày để đạt hiệu quả tốt nhất.

4.4.2 Kháng sinh kinh nghiệm trong điều trị NKĐTN phức tạp

Theo hướng dẫn của Hội Tiết niệu- Thận học Việt Nam, điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu phức tạp cần tập trung vào 4 mục tiêu chính: xử trí bất thường đường tiết niệu, sử dụng kháng sinh phù hợp nhất dựa trên kết quả cấy nước tiểu và xét nghiệm độ nhạy cảm của vi khuẩn với kháng sinh, đồng thời điều trị theo kinh nghiệm và điều chỉnh bằng cách sử dụng kháng sinh uống dựa trên tác nhân vi khuẩn được phân lập Để ngăn chặn sự phát triển của các chủng vi khuẩn kháng thuốc, việc điều trị nên dựa trên kết quả cấy nước tiểu whenever có thể, nhằm đảm bảo hiệu quả tối ưu và hạn chế tình trạng kháng thuốc kháng sinh.

Trong trường hợp nhiễm khuẩn đường tiết niệu đơn thuần, việc điều trị có thể bắt đầu dựa trên triệu chứng lâm sàng và kết quả phân tích nước tiểu hỗ trợ, mà không bắt buộc phải thực hiện cấy nước tiểu Tuy nhiên, đối với nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp, khi nhận biết các yếu tố gây phức tạp, bác sĩ cần thực hiện cấy nước tiểu thường quy để chẩn đoán chính xác và hướng điều trị phù hợp Nhiều bác sĩ lâm sàng vẫn nhầm lẫn rằng nhiễm khuẩn này chỉ là nhiễm khuẩn cộng đồng, dẫn đến việc bỏ qua yếu tố phức tạp cần phải được xử lý kỹ lưỡng hơn.

Trong quản lý nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp, việc đánh giá tác nhân gây bệnh và tình hình đề kháng kháng sinh là cực kỳ quan trọng để đưa ra phương pháp điều trị phù hợp Theo đồng thuận khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, nitrofurantoin được coi là kháng sinh đầu tay cho các trường hợp nhiễm trùng nhẹ, với tỷ lệ nhạy lên đến 84,16% trong nghiên cứu của chúng tôi Fosfomycin có tỷ lệ nhạy cao hơn là 90%, nhưng cần xem xét kỹ hơn do số lượng trường hợp sử dụng là hạn chế Các kháng sinh uống khác như levofloxacin, ciprofloxacin, và amoxicillin-clavulanic đều có tỷ lệ nhạy thấp, lần lượt là 36,84%, 34,72%, và 40% Trong nhóm kháng sinh tiêm, các cephalosporin như ceftazidim, ceftriaxon, và cefepim cũng cho tỷ lệ nhạy thấp lần lượt là 49,22%, 42,28%, và 58,65%, ngoại trừ cefoxitin có tỷ lệ nhạy tới 75%, cho thấy cần thận trọng trong lựa chọn kháng sinh để tối ưu hiệu quả điều trị.

Thời gian điều trị cho người lớn mắc nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp chưa được xác định rõ, tuy nhiên thường kéo dài từ 1 đến 4 tuần tùy thuộc vào tình trạng lâm sàng của bệnh nhân Việc xác định thời gian điều trị phù hợp là yếu tố quan trọng để đạt hiệu quả cao trong quá trình điều trị Mặc dù chưa có khoảng thời gian cố định, nhưng bác sĩ cần dựa trên các dấu hiệu lâm sàng và kết quả xét nghiệm để điều chỉnh phác đồ phù hợp, giúp bệnh nhân nhanh chóng hồi phục và giảm thiểu các biến chứng.

Việc chữa khỏi hoàn toàn bệnh mà không tái phát đòi hỏi phải loại bỏ triệt để các yếu tố nguy cơ gây bệnh Do đó, việc cấy nước tiểu nên được thực hiện từ 5-9 ngày sau khi kết thúc điều trị ban đầu và sau đó theo dõi lại sau 4-6 tuần để đảm bảo không còn nhiễm trùng tiềm ẩn, từ đó giảm nguy cơ tái phát bệnh hiệu quả.

- Hiện nay các guideline hướng dẫn điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu phức tạp đều gộp chung nhiễm khuẩn tiết niệu trên và dưới, không có hướng dẫn riêng cho viêm bàng quang cấp Do đó các khuyến cáo về KSKN trong nhiễm khuẩn tiết niệu phức tạp đều là kháng sinh chích, chỉ có nhóm quinolon có thể được dùng làm KSKN uống nếu như tỷ lệ kháng ở khu vực < 20%, thậm chí < 10% và chưa dùng trong 6 tháng qua [50], [57] Các khuyến cáo này rõ ràng là không thể áp dụng trong điều kiện Việt Nam, nơi mà tỷ lệ kháng kháng sinh nhóm quinolon cao hơn rất nhiều so với các nghiên cứu thực hiện ở châu Âu hay Mỹ

Đánh giá kết quả điều trị NKĐTN tại phòng khám

Việc đánh giá kết quả điều trị tại phòng khám bệnh viện Nhân Dân Gia Định gặp nhiều khó khăn hơn so với bệnh nhân nằm viện, do khả năng kiểm soát tái khám và chế độ điều trị hạn chế Ngoài ra, danh sách kháng sinh dự phòng Đái tháo đường (KSĐ) còn giới hạn về số lượng, đặc biệt thiếu các loại kháng sinh uống phổ biến được kê toa ở phòng khám Tình trạng thiếu kháng sinh ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả điều trị và cần được khắc phục để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe.

Ks trong KSĐ không chỉ giới hạn lựa chọn kháng sinh phù hợp mà còn gây khó khăn trong việc đánh giá chính xác tính nhạy kháng của kháng sinh Việc suy diễn tính nhạy kháng dựa trên đặc điểm của cùng nhóm kháng sinh có thể dẫn đến sai lệch trong thực tế Ngoài ra, việc nhận diện vi khuẩn tiết ESBL qua xét nghiệm KSĐ cũng gặp nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến việc đưa ra chẩn đoán chính xác và lựa chọn điều trị hiệu quả.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có tổng cộng 419 bệnh nhân, tuy nhiên chỉ có 309 bệnh nhân thực hiện tái khám sau lần đầu điều trị Đa số bệnh nhân quay lại tái khám sau 7 ngày điều trị KSKN, trong khi nhiều trường hợp phải sau hơn 1 tháng mới đến khám lại, ảnh hưởng đến quá trình theo dõi và đánh giá hiệu quả điều trị.

Có 110 trường hợp không tái khám sau điều trị bệnh KSKN, trong đó có 31 trường hợp cấy (+) và 79 trường hợp cấy (−) Trong tổng số 309 bệnh nhân tái khám, có 253 người tiếp tục điều trị ngoại trú và hẹn lịch tái khám định kỳ, trong khi 56 bệnh nhân phải nhập viện điều trị nội trú kèm theo các can thiệp ngoại khoa Đánh giá kết quả điều trị khi tái khám cho thấy, trong số 309 trường hợp, kết quả điều trị đạt hiệu quả tích cực, phản ánh chất lượng chăm sóc và quản lý bệnh nhân sau điều trị KSKN.

Trong số các bệnh nhân nhập viện điều trị nội trú, có 56 trường hợp, trong đó có 10 bệnh nhân cấy (-) và được chỉ định điều trị can thiệp ngoại khoa Các trường hợp còn lại, gồm 46 bệnh nhân cấy (+), tiếp tục điều trị kháng sinh theo kháng sinh đồ và sau đó sẽ được thực hiện các can thiệp ngoại khoa phù hợp.

- Có 253 TH điều trị ngoại trú, trong đó 155 TH cấy (-) được chuyển qua điều trị kháng viêm, có 98 TH cấy (+) tiếp tục điều trị kháng sinh theo KSĐ

Trong quá trình đánh giá chất lượng dịch vụ khám sức khỏe định kỳ (KSKN) trong điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu, tổng cộng có 234 bệnh nhân đã sử dụng dịch vụ trong lần khám đầu tiên Trong số này, 175 trường hợp đã được cấy ra vi khuẩn và thực hiện kháng sinh đồ (KSĐ), giúp xác định chính xác nguyên nhân nhiễm khuẩn và đề xuất phương pháp điều trị phù hợp.

Chúng tôi ghi nhận có 92 trên tổng số 175 bệnh nhân điều trị KSKN, trong đó 60,87% (56 bệnh nhân) sử dụng kháng sinh theo kinh nghiệm phù hợp, còn 39,13% (36 bệnh nhân) không phù hợp với kết quả kháng sinh đồ Kháng sinh theo kinh nghiệm được xem là phù hợp khi các thuốc được sử dụng ghi nhận nhạy cảm với kết quả kháng sinh đồ hoặc thuộc cùng nhóm kháng sinh đề xuất.

Tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu tại các phòng khám hiện vẫn còn chưa thống nhất, gây ra sự khó khăn trong việc đưa ra hướng điều trị phù hợp Hạn chế trong việc sử dụng kháng sinh uống tại phòng khám và thiếu sót về kháng sinh đặc hiệu còn ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị Việc cập nhật và thực hiện các hướng dẫn chuẩn về sử dụng kháng sinh đóng vai trò quan trọng để nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.

KS gặp khó khăn trong việc kê đơn thuốc theo chỉ định của bác sĩ, đặc biệt trong bối cảnh gia tăng đề kháng kháng sinh hiện nay Việt Nam là một trong những điểm nóng về vấn đề đề kháng kháng sinh, khiến việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn nhẹ như viêm đường hô hấp trên không luôn dễ dàng Tình hình này đặt ra thách thức lớn đối với các chuyên gia y tế trong việc đảm bảo hiệu quả điều trị, đòi hỏi các giải pháp phòng ngừa và kiểm soát kháng sinh hiệu quả hơn.

Chúng tôi khuyến cáo rằng việc điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu nên dựa trên khuyến cáo của các hướng dẫn sử dụng thuốc (KSĐ) whenever có thể Đánh giá hiệu quả điều trị không chỉ dựa vào việc triệu chứng cải thiện trên lâm sàng mà còn cần theo dõi sự cải thiện của xét nghiệm nước tiểu, như phân tích tổng hợp nước tiểu nhanh, rẻ tiền để có đánh giá khách quan Ngoài ra, thực hiện cấy nước tiểu để xác nhận điều trị đã triệt để là cần thiết, mặc dù không phải lúc nào cũng dễ thực hiện trong phòng khám.

Nhiều bác sĩ vẫn sử dụng kháng sinh ngay cả khi kết quả kháng sinh đồ đã cho thấy vi khuẩn kháng thuốc Điều này có thể do bác sĩ chưa biết kết quả cấy nước tiểu trước đó hoặc tin tưởng vào sự cải thiện lâm sàng mà không cần điều trị kháng sinh Lưu ý rằng triệu chứng viêm đường tiết niệu vẫn có thể giảm dù không dùng kháng sinh, nhờ vào thuốc kháng viêm thường được kê kèm trong đơn thuốc [46], [55] Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh đúng cách vẫn có lợi trong việc giảm triệu chứng, tiêu diệt vi khuẩn trong nước tiểu và ngăn ngừa tái phát bệnh [46], [55].

Ngày đăng: 16/03/2023, 09:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y Tế (2015), "Sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn", Hướng dẫn sử dụng kháng sinh, tr. 12-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng kháng sinh
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2015
2. Bộ Y Tế và GARP - VN (2009), "Báo cáo sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh tại 15 bệnh viện Việt Nam năm 2008-2009&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh tại 15 bệnh viện Việt Nam năm 2008-2009
Tác giả: Bộ Y Tế, GARP - VN
Năm: 2009
3. Cục Quản Lý khám chữa bệnh (2013), "Kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn từ 2013 đến năm 2020", Bộ Y Tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn từ 2013 đến năm 2020
Tác giả: Cục Quản Lý khám chữa bệnh
Nhà XB: Bộ Y Tế
Năm: 2013
4. Cục Quản Lý khám chữa bệnh (2013), Kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020, Hà Nội, Bộ Y Tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020
Tác giả: Cục Quản Lý khám chữa bệnh
Nhà XB: Bộ Y Tế
Năm: 2013
5. Đỗ Văn Công (2020), Đánh giá kết quả chẩn đoán và điều trị viêm thận-bể thận cấp tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Luận văn Chuyên khoa Cấp II, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả chẩn đoán và điều trị viêm thận-bể thận cấp tại Bệnh viện Chợ Rẫy
Tác giả: Đỗ Văn Công
Nhà XB: Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2020
6. Hội Tiết niệu Thận học Việt Nam (2020), Hướng dẫn điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu, NXB Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu
Tác giả: Hội Tiết niệu Thận học Việt Nam
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 2020
7. Ngô Gia Hy (1982), "Nhiễm trùng niệu", Niệu học tập II, NXB Y Học, tr. 3-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niệu học tập II
Tác giả: Ngô Gia Hy
Nhà XB: NXB Y Học
Năm: 1982
9. Nguyễn Đỗ Chỉnh (2018), Đánh giá chẩn đoán và điều trị viêm niệu đạo cấp ở nam giới tại phòng khám Tiết niệu Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ nội trú, Đại học Y Dược TP. HCM, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chẩn đoán và điều trị viêm niệu đạo cấp ở nam giới tại phòng khám Tiết niệu Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Đỗ Chỉnh
Nhà XB: Đại học Y Dược TP. HCM
Năm: 2018
10. Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng (2018), "Báo cáo 58 trường hợp thận ứ nước nhiễm khuẩn do bế tắc niệu quả tại Bệnh viện Bình Dân", Hội thảo vệ tinh Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo 58 trường hợp thận ứ nước nhiễm khuẩn do bế tắc niệu quả tại Bệnh viện Bình Dân
Tác giả: Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng
Năm: 2018
11. Nguyễn Thị Thanh Tâm (2014), Khảo sát vi trùng học và các yếu tố nguy cơ của nhiễm trùng tiểu phức tạp, Luận án Chuyên khoa II, Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát vi trùng học và các yếu tố nguy cơ của nhiễm trùng tiểu phức tạp
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Tâm
Nhà XB: Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2014
12. Nguyễn Xuân Chiến (2017), Đánh giá chẩn đoán và điều trị viêm bàng quang cấp ở phụ nữ tại phòng khám tiết niệu, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Nội trú, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chẩn đoán và điều trị viêm bàng quang cấp ở phụ nữ tại phòng khám tiết niệu
Tác giả: Nguyễn Xuân Chiến
Nhà XB: Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2017
13. Phạm Hùng Vân, Phạm Thái Bình (2013), Kháng sinh - đề kháng kháng sinh, Kỹ thuật kháng sinh đồ, Các vấn đề cơ bản thường gặp, NXB Y học TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kháng sinh - đề kháng kháng sinh, Kỹ thuật kháng sinh đồ, Các vấn đề cơ bản thường gặp
Tác giả: Phạm Hùng Vân, Phạm Thái Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2013
14. Trần Lê Duy Anh (2015), Xác định kết quả chẩn đoán nhiễm khuẩn đường tiết niệu do vi khuẩn tiết ESBL và hiệu quả kháng sinh liệu pháp, Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định kết quả chẩn đoán nhiễm khuẩn đường tiết niệu do vi khuẩn tiết ESBL và hiệu quả kháng sinh liệu pháp
Tác giả: Trần Lê Duy Anh
Nhà XB: Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2015
15. Trần Văn Sáng, Trần Ngọc Sinh (2011), "Nhiễm trùng niệu", Bài giảng bệnh học Niệu khoa, NXB Phương Đông, Hồ Chí Minh, tr. 161-232 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng bệnh học Niệu khoa
Tác giả: Trần Văn Sáng, Trần Ngọc Sinh
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2011
16. Trịnh Đăng Khoa (2017), Đánh giá chẩn đoán và điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở bệnh nhân đái tháo đường, Luận văn Chuyên khoa Cấp II, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chẩn đoán và điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở bệnh nhân đái tháo đường
Tác giả: Trịnh Đăng Khoa
Nhà XB: Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2017
17. Vũ Đức Huy (2009), Đánh giá kết quả điều trị ngoại sỏi đường tiết niệu trên kèm theo nhiễm trùng niệu, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Nội trú, Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả điều trị ngoại sỏi đường tiết niệu trên kèm theo nhiễm trùng niệu
Tác giả: Vũ Đức Huy
Nhà XB: Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2009
20. Hội Hồi sức cấp cứu và Chống độc Việt Nam (2020), "Nhiễm khuẩn đường tiết niệu", Hướng dẫn chung sử dụng kháng sinh, tr. 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiễm khuẩn đường tiết niệu
Tác giả: Hội Hồi sức cấp cứu và Chống độc Việt Nam
Nhà XB: Hướng dẫn chung sử dụng kháng sinh
Năm: 2020
21. Hội Tiết niệu - Thận học Việt Nam (2020), Hướng dẫn điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu, NXB Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu
Tác giả: Hội Tiết niệu - Thận học Việt Nam
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 2020
24. Ngô Xuân Thái, Nguyễn Thế Hưng (2017), "Đánh giá chẩn đoán và điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp tạo bệnh viện Chợ Rẫy", Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược, 19 (1), tr. 178-182 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chẩn đoán và điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp tạo bệnh viện Chợ Rẫy
Tác giả: Ngô Xuân Thái, Nguyễn Thế Hưng
Nhà XB: Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược
Năm: 2017
8. Ngô Xuân Thái (2015), Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn đường tiết niệu tại phòng khám BV Đại Học Y Dược, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w