1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chuyên đề sự bền chặt của màng phế nang mao mạch và các yếu tố nguy cơ trong covid 19

34 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề sự bền chặt của màng phế nang mao mạch và các yếu tố nguy cơ trong COVID-19
Người hướng dẫn PGS. Lê Thị Tuyết Lan
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa Học Y Sinh (Sinh Lý Học)
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 4,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Đường dẫn khí (5)
  • II. Phổi – phế nang, màng phế nang mao mạch (11)
  • III. Khoang kẽ (16)
  • IV. Các yếu tố nguy cơ trong Covid-19 (19)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (33)

Nội dung

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHBỘ MÔN SINH LÝ – SINH LÝ BỆNH MIỄN DỊCH ---CHUYÊN ĐỀ SỰ BỀN CHẶT CỦA MÀNG PHẾ NANG MAO MẠCH VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TRONG COVID-19 CHUYÊN NGÀNH: CAO HỌ

Trang 1

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BỘ MÔN SINH LÝ – SINH LÝ BỆNH MIỄN DỊCH

-CHUYÊN ĐỀ SỰ BỀN CHẶT CỦA MÀNG PHẾ NANG MAO MẠCH VÀ

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TRONG COVID-19

CHUYÊN NGÀNH: CAO HỌC KHOA HỌC Y SINH

(SINH LÝ HỌC)

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS LÊ THỊ TUYẾT LAN

HỌC VIÊN: NGUYỄN HIẾU THẢO

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2022

Trang 3

MỤC LỤC

I Đường dẫn khí 4

II Phổi – phế nang, màng phế nang mao mạch 10

III Khoang kẽ 15

IV Các yếu tố nguy cơ trong Covid-19 18

a Chất hoạt động bề mặt phổi và vai trò của nó trong hệ thống miễn dịch 18

b Tế bào phế nang loại II là mục tiêu của SARS-CoV-2 19

c Bệnh lý phổi ARDS trong Covid-19 21

d Xơ hoá phổi 26

e Tổn thương mao mạch 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

Trang 4

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Phổi người khô 4

Hình 2 Giải phẫu thùy của phế quản phổi 5

Hình 3 Đường thở màu vàng, động mạch phổi màu xanh và tĩnh mạch phổi màu đỏ 5

Hình 4 Đường dẫn khí người phân chia hơn 23 thế hệ 6

Hình 5 Sơ đồ cấu trúc thành đường dẫn khí 8

Hình 6 Vi thể của thành phế quản 8

Hình 7 Vi thể tiểu phế quản hô hấp (RB) của phổi người mở rộng vào thành các ống phế nang (AD) 11

Hình 8 Vi thể điển tử tế bào biểu mô phế nang loại II 13

Hình 9 Sơ đồ về sự hỗ trợ của mô sợi trong phổi 16

Hình 10 Đề án phản ứng viêm SARS-COV-2 23

Hình 11 Phát hiện mô bệnh học ở phổi COVID-19 bằng phương pháp mổ tử thi xâm lấn tối thiểu 25

Hình 12 Biểu diễn sơ đồ hai giai đoạn mô bệnh học của DAD 26

DANH MỤC BẢNG Bảng 1 Phổi người và các con số 12

Bảng 2 Đặc điểm tế bào của phổi người 13

Trang 5

Hình thể phổi gồm ba mặt: mặt sườn đối diện với khung xương sườn, mặthoành tựa lên vòm hoành và mặt trung thất, nơi phổi trái và phổi phải hướng vàonhau Phổi phải và phổi trái được chứa trong hai khoang màng phổi riêng biệt nhau vàđược ngăn bởi trung thất Ngoại trừ rốn phổi (nơi đường dẫn khí, mạch máu, thần kinh

đi vào phổi), bề mặt phổi được bao bọc bởi màng phổi tạng Màng phổi tạng lách vàocác khe gian thùy phổi và phân chia các thùy phổi (Hình 1)

Hình 1 Phổi người khô

Có thể nhìn thấy mặt sườn và mặt hoành của phổi Màng phổi tạng bao phủ bề mặt nhu mô phổi, lách vào các khe gian thùy Khe chếch chia thùy trên và thùy dưới phổi hai bên Khe ngang là ranh giới của thùy trên và thùy giữa phổi phải.

I Đường dẫn khí

Đường dẫn khí bao gồm hai phần chức năng Phần dẫn khí gần (cây phế quản)liên tục với phần hô hấp xa (vùng phế nang), nơi diễn ra sự trao đổi khí Cấu trúc cơbản của đường dẫn khí đã được hình thành từ lúc sinh ra, do đó, trẻ sơ sinh và ngườilớn có chung giải phẫu đường dẫn khí phế quản phổi (Hình 2 và 3) Khi phân chia,đường dẫn khí chia đôi nhiều lần, trung bình trên 23 thế hệ, mặc dù số lần chia nhánh

có thể khác nhau Sự biến đổi của đường dẫn khí có nhiều ứng dụng sinh lý Nhữngđường dẫn khí khác nhau có kháng lực với luồng khí khác nhau, do đó khí và các phân

tử trong khí hít vào có thể phân bố không đồng nhất Các nhánh của cây phế quản

Trang 6

giảm dần về kích thước, mất đi sụn và trở thành tiểu phế quản Cuối cùng, tiểu phếquản tận mở vào phế nang, nơi diễn ra sự trao đổi khí của phổi Ở cơ thể người, vùngtrao đổi khí bắt đầu từ một số thế hệ của tiểu phế quản hô hấp thông với ống phế nangtrên thành của chúng Hầu hết ống phế nang kết thúc ở túi phế nang Phần nhu môphổi, nơi kết thúc của tiểu phế quản tận, được gọi là chùm phế nang (Hình 4)

Hình 2 Giải phẫu thùy của phế quản phổi

(Nguồn: Nomenclature of bronchi: Schema, from Netterimages.com 2017)

Hình 3 Đường thở màu vàng, động mạch phổi màu xanh và tĩnh mạch phổi màu đỏ

Có thể thấy buồng tim phải, thân động mạch phổi (xanh) và nơi xuất phát động mạch vành từ động mạch chủ (đỏ) (A) Hình phóng đại hơn cho thấy các nhánh động mạch phổi đi kèm sát các nhánh của đường dẫn khí, trong khi những nhánh của tĩnh mạch

Trang 7

phổi nằm giữa các đơn vị phế quản-động mạch (B) Những động mạch phụ nhỏ (mũi

tên) xuất phát ở những góc bên phải (C).

Hình 4 Đường dẫn khí người phân chia hơn 23 thế hệ

14 thế hệ đầu chủ yếu là đường dẫn khí đơn thuần Hơn 9 thế hệ sau là những đơn vị

hô hấp, nơi chứa các phế nang và diễn ra sự trao đổi khí (Modified from Weibel ER.Morphometry of the Human Lung Heidelberg: Springer; 1963 From Ochs M, 313Weibel ER Functional design of the human lung for gas exchange In: Fishman AP,

Elias JA, Fishman JA, et al., eds Fishman's Pulmonary Diseases and Disorders, 4th

ed New York: McGraw-Hill; 2008:23-69.)Đường dẫn khí được lót bởi lớp biểu mô liên tục, chuyển đổi dần từ biểu môtrụ giả tầng có lông chuyển ở phế quản sang biểu mô trụ đơn có lông chuyển ở cáctiểu phế quản nhỏ hơn nằm gần đơn vị trao đổi khí Ở vùng chuyển tiếp với phế nang

là biểu mô gai Tại tất cả thế hệ của đường dẫn khí, biểu mô được tạo thành bởi nhiềuloại tế bào: tế bào lót, tế bào tiết và một số lượng ít hơn các tế bào có chức năngchuyên biệt (Hình 5) Các tế bào có lông chuyển chiếm ưu thế trong suốt biểu mô phế

Trang 8

quản và tiểu phế quản, có vai trò đẩy chất nhầy từ đường thở ngoại biên đến hầu họng(Hình 6) Hệ thống vận chuyển chất nhầy này là một cơ chế bảo vệ quan trọng củaphổi Lớp nhầy có hai phần, một lớp gel bề mặt có độ nhớt cao và lớp quanh nhungmao sâu hơn có cấu trúc như bờ bàn chải Nhung mao tạo thành một tấm thảm dày vàdài trên đỉnh của các tế bào biểu mô, chúng phối hợp với nhau để đẩy lớp chất nhầy vềvùng hầu họng Nhung mao được tạo thành từ các tiểu thể trung tâm, có khoảng 200nhung mao trên đỉnh của mỗi tế bào có lông chuyển Các nhung mao được gắn vàocác tế bào và định hướng di chuyển của chất nhầy Trục của nhung mao gồm một cặpống trung tâm bao quanh bởi chín cặp ống ngoại biên Phần ngọn các nhung mao cócác móc nhỏ giúp bắt chất nhầy và đẩy chúng về phía trước Mỗi nhung mao có tần sốchuyển động từ 12 đến 20 Hz và phối hợp đồng thời với các nhung mao khác trêncùng tế bào và nhung mao trên các tế bào kế cận tạo ra một làn sóng chuyển độngđồng bộ trong đường dẫn khí Rối loạn chức năng lông chuyển nguyên phát (PrimaryCiliary Dyskinesia - PCD) là một nhóm các rối loạn bao gồm hội chứng Kartagener vàđược gọi tên sai là hội chứng bất động lông chuyển Trong PCD, những khiếm khuyếttrong hệ thống ống, trong cánh tay của nhung mao đưa đến rối loạn vận động củanhung mao, ảnh hưởng lên sự vận chuyển chất nhầy trong niêm mạc hô hấp, gây viêmphế quản mạn và viêm phổi tái phát Các tuyến dưới niêm mạc ở các phế quản lớn vànhỏ là nguồn chế tiết chính của đường hô hấp, chứa cả tế bào thanh dịch và dịch nhầy.

Tế bào Goblet ở khí quản và phế quản (Hình 6) sản xuất mucin, một hỗn hợp nhầychứa acid glycoprotein góp phần tạo thành lớp nhầy niêm mạc Các tuyến dưới niêm

và các tế bào Goblet có thể tăng số lượng trong các rối loạn như viêm phế quản mạn,đưa đến tăng tiết chất nhầy và tăng sản xuất đàm nhớt Các tế bào đáy, thường thấytrong biểu mô trụ giả tầng ở phế quản, nằm trên màng đáy nhưng không nhô vào lòngống, đóng vai trò là tế bào đầu dòng của các tế bào có lông chuyển hoặc tế bào chế tiết(Hình 6)

Trang 9

Hình 5 Sơ đồ cấu trúc thành đường dẫn khí

Biểu mô chuyển từ biểu mô trụ giả tầng thành biểu mô trụ đơn và kế đến là biểu mô gai, nhưng giữ lại khảm tế bào lót và tế bào chế tiết Chỉ có khí quản và phế quản chứa sụn và các tuyến dưới niêm mạc Phế nang không có tế bào cơ trơn (From Ochs M, Weibel ER Functional design of the human lung for gas exchange In: Fishman AP, Elias JA, Fishman JA, et al., eds Fishman's Pulmonary Diseases and

Disorders, 4th ed New York: McGraw-Hill; 2008:23-69.)

Hình 6 Vi thể của thành phế quản

Trang 10

Các tế bào chính của biểu mô trụ giả tầng hô hấp: tế bào có lông chuyển (CiC), các

tế bào Goblet (GC) và các tế bào đáy (BC) Lớp mô liên kết có chứa các mạch máu

nằm bên dưới lớp biểu mô (Courtesy of G Bargsten, Hannover)

Trong khi các tế bào có lông chuyển vẫn hiện diện trong các tiểu phế quản nhỏhơn, các tế bào goblet được thay thế dần bằng tế bào biểu mô phế quản không lôngchuyển (tế bào club) Các tế bào này đặc trưng bởi đỉnh hình vòm của chúng nhô vàolòng ống và chứa các hạt bài tiết protein vào lớp lót tiểu phế quản Tế bào club ngoàichức năng điều hòa miễn dịch còn khử độc phụ thuộc cytochrom P-450 và hoạt độngnhư các tế bào đầu dòng để duy trì biểu mô phế quản

Có một số loại tế bào hiếm gặp hơn được tìm thấy trong đường dẫn khí; tuynhiên chức năng của chúng chưa được hiểu rõ Các tế bào bàn chải, hiếm khi đượctìm thấy trong phổi người, có một bờ dày đặc các vi nhung mao rộng và ngắn Chứcnăng của chúng được cho là để “nếm thử” thành phần hóa học của các chất lỏng lóttrong bề mặt đường dẫn khí Các tế bào thần kinh nội tiết tiết ra các hóa chất trunggian vào các mao mạch ở lớp dưới niêm Đôi khi những tế bào này được tổ chứcthành cụm (biểu mô thần kinh bản thể) được cho là có chức năng nhận cảm oxy Cácbiểu mô thần kinh thường gặp hơn trong đường dẫn khí của thai nhi hoặc bệnh nhithiếu oxy máu mãn tính (ví dụ: loạn sản phế quản phổi)

Về mặt mô học, phần còn lại của đường dẫn khí bao gồm lớp dưới niêm, vớimạng lưới mạch máu và dây thần kinh, và một số lượng thay đổi cơ trơn và sụn.Trong lớp dưới niêm là các tương bào có chứa peptide vận mạch và các amin, các tếbào miễn dịch (tế bào plasma, tế bào lympho và thực bào), và các tuyến dưới niêmmạc Trong phế quản gốc, sụn hiện diện với hình vòng chữ C Tuy nhiên, khi phânnhánh, các thế hệ phế quản về sau ngày càng có ít sụn hơn Sụn tăng cường độ cứngcho đường dẫn khí và do đó đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự thôngthoáng đường dẫn khí, đặc biệt trong thì thở ra Thiếu hụt bẩm sinh sụn đường dẫnkhí, dẫn đến sự mất ổn định đường dẫn khí có liên quan đến giãn phế quản (Hộichứng Williams-Campbell) và tăng thông khí thùy phổi bẩm sinh (trước đây gọi làkhí phế thũng bẩm sinh)

Trang 11

Cấu trúc cơ trơn của đường dẫn khí cũng thay đổi theo vị trí giải phẫu Ởđường dẫn khí rộng nhất, có một bó cơ kết nối hai đầu sụn hình chữ C Khi lượng sụngiảm dần, cơ trơn xếp hình xoắn ốc và ngày càng trở nên mỏng hơn, cuối cùng tại cácống phế nang, tế bào cơ trơn nằm trong các vòng trên đường vào phế nang Co thắt cơlàm tăng độ cứng ở tất cả các đường dẫn khí lớn nhỏ.

Quan điểm cho rằng cơ trơn đường dẫn khí của trẻ sơ sinh không đủ khả nănggây co thắt phế quản là không chính xác Ngay cả trẻ sinh non cũng có cơ trơn, vàmặc dù số lượng ít hơn người lớn, vẫn có đủ khả năng để co thắt đường dẫn khí Thậtvậy, kết quả đo chức năng hô hấp đã chứng minh rằng thuốc giãn phế quản làm thayđổi sức cản đường thở ở trẻ sơ sinh Quan điểm cho rằng trẻ sơ sinh có ít hoặc không

có cơ trơn trong đường dẫn khí không thể giải thích được các rối loạn như loạn sảnphế quản phổi của Northway và bệnh tim bẩm sinh shunt trái phải, với sự phì đại của

cơ trơn đường dẫn khí đã được chứng minh qua các phép đo hình thái Thiếu hụt bẩmsinh cơ trơn và sợi đàn hồi đường dẫn khí lớn có liên quan đến dãn khí quản và phếquản, dẫn đến tăng tiết dịch tại đường dẫn khí và kết quả là viêm phổi tái phát, tronghội chứng Mounier-Kuhn hoặc phình khí phế quản (Tracheobronchomegaly)

II Phổi – phế nang, màng phế nang mao mạch

Phổi nằm trong lồng ngực, gồm có phổi phải và phổi trái, đơn vị cấu tạo cuốicùng của phổi là các phế nang

Phế nang là đơn vị cấu tạo cuối cùng của phổi và nó là đơn vị chức năng thựchiện quá trình trao đổi khí Phế nang được các mao mạch phổi bao bọc như một mạnglưới Mỗi phế nang như một cái túi nhỏ rất mỏng manh, nhận không khí từ nhánh tậncùng của cây phế quản là các ống phế nang Từ các ống phế nang có các túi phế nang

và đến các phế nang Ở người có khoảng 300 triệu phế nang và có diện tích tiếp xúcgiữa phế nang và mao mạch là khoảng 70-120m2 tuỳ theo thì hô hấp là thở ra hay hítvào

Trang 12

Hình 7 Vi thể tiểu phế quản hô hấp (RB) của phổi người mở rộng vào thành các ống

phế nang (AD)

Thành được lót bởi biểu mô trụ phế quản điển hình (dấu sao) Lưu ý rằng các nhánh động mạch phổi (PA) đi kèm theo tiểu phế quản hô hấp Hình phóng đại: mao mạch (mũi tên), đại thực bào (M), biểu mô trụ giả tầng có lông (E) được thay thế bằng biểu

mô vảy phế nang loại I Lưu ý rằng lớp sợi dày (F) với nhiều tế bào cơ trơn (From Ochs M, Weibel ER Functional design of the human lung for gas exchange In: Fishman AP, Elias JA, Fishman JA, et al., eds Fishman's Pulmonary Diseases and

Disorders, 4th ed New York: McGraw-Hill; 2008: 23-69.)

Chùm phế nang là phần của nhu mô phổi nối với một tiểu phế quản tận Đây làđơn vị trao đổi khí cơ bản của phổi Ở phổi người trưởng thành, các chùm phế nang

có đường kính 6-10 mm với tổng thể tích khí 2000-4000 ml và diện tích bề mặtkhoảng 140 m2 (Bảng 1), khoảng cách từ phế nang đến tiểu phế quản tận gần nhất là 5

mm Phế nang thực sự không có dạng hình cầu mà giống hình lục giác Đường kính

Trang 13

phế nang trung bình 200-300 m Trong các chùm phế nang, các lổ gian phế nang (lổKohn) hiện diện trong các vách phế nang Mặc dù có các kênh thông khí hỗ trợ, thực

tế lổ Kohn được phủ bởi surfactant Bằng chứng siêu âm cho thấy rằng các đại thựcbào phế nang đi qua các lổ này để đến các phế nang lân cận Trong phổi trẻ sơ sinh,

có rất ít hoặc không có lổ Kohn Điều này có thể giải thích là phổi trẻ sơ sinh dễ xẹphơn phổi người lớn

Bảng 1 Phổi người và các con số

số lượng nhiều hơn các tế bào loại I, nhưng do dạng hình trụ nên chỉ chiếm khoảng5% tổng diện tích bề mặt phế nang (Bảng 2) Đặc trưng mô học của các tế bào này làcác vi nhung mao và các thân lamellar, là nơi dự trữ surfactant (Hình 8)

Trang 14

Hình 8 Vi thể điển tử tế bào biểu mô phế nang loại II

Surfactant giàu phospholipid được dự trữ trong các thể lamellar (LB) trước khi được bài tiết Sự giãn mỏng của tế bào phế nang loại I tạo thành chổ kết nối chặt với tế bào phế nang loại II (mũi tên) Một mao mạch (C) nằm bên dưới tế bào loại II Màng phế nang-mao mạch gồm 3 lớp: tế bào biểu mô phế nang (Epi), màng đáy (BM) và tế bào nội mô mao mạch (Endo) (From Ochs M A brief update on lung stereology J

Microsc 2006;222:188-200.)

Bảng 2 Đặc điểm tế bào của phổi người

Loại tế bào Tổng số tế bào

(%)

Thể tích tế bào(3)

Diện tích bề mặtđỉnh (2)

Biểu mô

 Phế nang loại I

 Phế nang loại II

816

1764889

5098183

Trang 15

Trong vách ngăn phế nang là một lớp kẽ mỏng bao gồm hầu hết các loại tế bàokhác nhau và mạng lưới sợi Nguyên bào sợi đóng góp gián tiếp vào đặc tính cơ họcthông qua việc hình thành và duy trì hệ thống mạng sợi, tác động đến đặc tính đàn hồithành phế nang Nhìn chung, sự đóng góp của tế bào vào các đặc tính cơ học đượcước tính là nhỏ với mạng lưới sợi ảnh hưởng đáng kể nhất đến độ đàn hồi và độ cứngcủa mô Mạng lưới sợi là thành phần chịu lực chính và cung cấp hỗ trợ cấu trúc chínhcho phổi, đặc biệt là các phế nang Để bảo vệ mô khỏi những căng thẳng cao có thểgây tổn thương, mạng lưới sợi sẽ duy trì cấu trúc của phế nang Sự tập trung của cácsợi trong thành phế nang được điều chỉnh bởi sức căng bề mặt Sức căng bề mặtdương cao ở rìa tự do của vách ngăn phế nang gây ra sự giãn nở và nồng độ sợi tănglên để ổn định vách ngăn với nồng độ ứng suất tăng lên Mạng lưới sợi quang hỗ trợkiểm soát mức độ giãn nở và co lại của các phế nang để bảo vệ các mô khỏi bị hư hại

và tối ưu hóa quá trình trao đổi khí Elastin chịu trách nhiệm về sự co lại đàn hồi của

Trang 16

phổi và góp phần chủ yếu vào các đặc tính cơ học của mô ở thể tích thở bình thườngkhi mức căng thẳng thấp Các sợi elastin thể hiện mối quan hệ ứng suất-biến dạng đànhồi tuyến tính và có thể dễ dàng biến dạng về chiều dài gấp hai lần Thành phần sợichính khác là collagen với các sợi được cấu tạo chủ yếu từ một lượng khác nhau củacollagen loại I và loại III, cho phép các mức độ cứng khác nhau giữa các sợi Các sợicollagen ảnh hưởng đến các đặc tính của mô ở mức độ biến dạng và căng thẳng caohơn Không giống như elastin, collagen có mối quan hệ căng thẳng đàn hồi phi tuyếntính dẫn đến mô cứng rõ ràng ở thể tích cao hơn Ở khối lượng thấp hơn, collagenthường được xem là uốn nếp hoặc gợn sóng trong một mạng lưới không đồng nhất.

Sự uốn cong của các sợi cho phép collagen có tác động lớn hơn đến các đặc tính cơhọc với độ giãn nở lớn hơn Nhìn chung, các đặc tính cơ học của mô phế nang quyếtđịnh hiệu quả trao đổi khí [15]

Màng phế nang-mao mạch có nơi dày, nơi mỏng Sự trao đổi khí xảy ra chủyếu ở vùng mỏng, nơi chỉ có phần mỏng của tế bào loại I, màng đáy và các tế bào nội

mô mao mạch (Hình 8) Các mao mạch trải qua nhiều stress (ví dụ, trong khi tập thểdục hoặc tăng thông khí phổi) và chúng buộc phải có sức bền lớn Sức bền này chủyếu được tạo nên bởi collagen loại IV nằm trên màng đáy Phần dày của màng phếnang-mao mạch bao gồm mô liên kết, chất vô định hình và các nguyên bào sợi rãirác Phần dày, ngoài việc đóng vai trò hỗ trợ cho cấu trúc phế nang, còn hoạt độngnhư một vị trí trao đổi chất lỏng và các phân tử hòa tan [1]

III Khoang kẽ

Khoang kẽ có nhiều chức năng trong phổi ngoài việc tạo khuôn cấu trúc gồmcác protein không hòa tan Các protein này tác động lên sự tăng trưởng và biệt hóa tếbào, lên chuyển động của các chất hòa tan và nước trong phổi Những tế bào trongkhoang kẽ phổi không những giữ vai trò riêng nhờ vào đặc tính co lại hoặc tổng hợpcủa chính nó mà còn tương tác với các tế bào khác (ví dụ, tế bào nội mô và biểu mô)

để thay đổi cấu trúc và chức năng cơ bản của phổi Một giàn mô sợi liên tục hiện diệntrong khoang kẽ với hệ thống trục (dọc theo đường hô hấp từ rốn phổi đến ống phếnang), hệ thống ngoại biên (dọc theo màng phổi tạng vào các vách liên tiểu thùy), và

hệ thống vách (dọc theo vách phế nang) (Hình 9) Phần lớn cấu trúc khoang kẽ được

Trang 17

hình thành từ collagen nhóm I mà, cùng với các phân nhóm collagen ít gặp khác, tạo

ra một khuôn mô sợi trong phổi Elastin cung cấp độ đàn hồi và hỗ trợ cho cấu trúc

mô sợi này Cả elastin và collagen thay đổi rất chậm trong tình trạng bình thường.Tuy nhiên, đôi khi sự tái cấu trúc xảy ra nhanh Trong các bệnh lý như thiếu α1-antitrypsin (các elastase của bạch cầu đa nhân trung tính làm thoái biến elastin) và xơphổi (tăng số lượng collagen), có sự thay đổi rõ về chất lượng và số lượng các proteinnày Phần còn lại của cấu trúc khoang kẽ được tạo bởi proteoglycans vàglycosaminoglycans Những phức hợp carbohydrate-protein này có thể ảnh hưởng lên

sự tăng sinh và biệt hóa tế bào ngoài chức năng đã biết của chúng trong việc gắn vàdính tế bào (laminin) và khả năng giảm bớt chuyển động của dịch(glycosaminoglycans)

Hình 9 Sơ đồ về sự hỗ trợ của mô sợi trong phổi

(From Weibel ER, Bachofen H How to stabilize the alveoli Surfactant or fibers.

News Physiol Sci 1987;2:72-75.)

Nguyên bào sợi có khả năng tổng hợp các thành phần của cấu trúc ngoại bào(vd: collagen, elastin, và glycosaminoglycans) và như vậy là góp phần quan trọngtrong sự cấu thành khoang kẽ phổi Chúng có mặt ở tất cả các vùng khoang kẽ phổi,mặc dù cấu trúc rõ ràng của chúng có thể thay đổi, cho thấy tính đa dạng của loại tếbào này Ví dụ, các nguyên bào sợi có đặc tính co lại (nguyên bào sợi cơ), vài nguyên

Ngày đăng: 16/03/2023, 09:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Xin Zou, Ke Chen, Jiawei Zou, Peiyi Han, Jie Hao, Zeguang Han (2020) "Single- cell RNA-seq data analysis on the receptor ACE2 expression reveals the potential risk of different human organs vulnerable to 2019-nCoV infection".Frontiers of medicine, 14 (2), 185-192 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Single-cell RNA-seq data analysis on the receptor ACE2 expression reveals thepotential risk of different human organs vulnerable to 2019-nCoV infection
15. Elizabeth Dimbath, Veeranna Maddipati, Jennifer Stahl, Kerry Sewell, Zachary Domire, Stephanie George, et al. (2021) "Implications of microscale lung damage for COVID-19 pulmonary ventilation dynamics: a narrative review".Life Sciences, 274, 119341 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Implications of microscale lung damage for COVID-19 pulmonary ventilation dynamics: a narrative review
Tác giả: Elizabeth Dimbath, Veeranna Maddipati, Jennifer Stahl, Kerry Sewell, Zachary Domire, Stephanie George
Nhà XB: Life Sciences
Năm: 2021
2. Ruth Vock, Ewald R Weibel (1993) "Massive hemorrhage causes changes in morphometric parameters of lung capillaries and concentration of leukocytes in microvasculature". Experimental lung research, 19 (5), 559-577 Khác
3. Tobias A Fuchs, Alexander Brill, Denisa D Wagner (2012) "Neutrophil extracellular trap (NET) impact on deep vein thrombosis". Arteriosclerosis, thrombosis, and vascular biology, 32 (8), 1777-1783 Khác
4. Tomomi Ichikawa, Kiyoshi Hirahara, Kota Kokubo, Masahiro Kiuchi, Ami Aoki, Yuki Morimoto, et al. (2019) "CD103hi Treg cells constrain lung fibrosis induced by CD103lo tissue-resident pathogenic CD4 T cells". Nature immunology, 20 (11), 1469-1480 Khác
5. Maximilian Ackermann, Stijn E Verleden, Mark Kuehnel, Axel Haverich, Tobias Welte, Florian Laenger, et al. (2020) "Pulmonary vascular endothelialitis, thrombosis, and angiogenesis in Covid-19". New England Journal of Medicine, 383 (2), 120-128 Khác
6. Dominic Wichmann, Jan-Peter Sperhake, Marc Lütgehetmann, Stefan Steurer, Carolin Edler, Axel Heinemann, et al. (2020) "Autopsy findings and venous thromboembolism in patients with COVID-19: a prospective cohort study".Annals of internal medicine, 173 (4), 268-277 Khác
7. Sharon E Fox, Aibek Akmatbekov, Jack L Harbert, Guang Li, J Quincy Brown, Richard S Vander Heide (2020) "Pulmonary and cardiac pathology in African American patients with COVID-19: an autopsy series from New Orleans". The Lancet Respiratory Medicine, 8 (7), 681-686 Khác
8. Leo Nicolai, Alexander Leunig, Sophia Brambs, Rainer Kaiser, Tobias Weinberger, Michael Weigand, et al. (2020) "Immunothrombotic dysregulation in COVID- 19 pneumonia is associated with respiratory failure and coagulopathy".Circulation, 142 (12), 1176-1189 Khác
9. Thomas Menter, Jasmin D Haslbauer, Ronny Nienhold, Spasenija Savic, Helmut Hopfer, Nikolaus Deigendesch, et al. (2020) "Postmortem examination of COVID‐19 patients reveals diffuse alveolar damage with severe capillary congestion and variegated findings in lungs and other organs suggesting vascular dysfunction". Histopathology, 77 (2), 198-209 Khác
11. Borja Recalde-Zamacona, Laura García-Tobar, Alan Argueta, Laura Álvarez, Carlos Eduardo De Andrea, Mirian Fernández Alonso, et al. (2020)"Histopathological findings in fatal COVID-19 severe acute respiratory syndrome: preliminary experience from a series of 10 Spanish patients".Thorax, 75 (12), 1116-1118 Khác
12. Ronny Nienhold, Yari Ciani, Viktor H Koelzer, Alexandar Tzankov, Jasmin D Haslbauer, Thomas Menter, et al. (2020) "Two distinct immunopathological profiles in autopsy lungs of COVID-19". Nature communications, 11 (1), 1-13 Khác
13. Sabrina Setembre Batah, Alexandre Todorovic Fabro (2021) "Pulmonary pathology of ARDS in COVID-19: a pathological review for clinicians".Respiratory medicine, 176, 106239 Khác
14. Andrea Calkovska, Maros Kolomaznik, Vladimir Calkovsky (2021) "Alveolar type II cells and pulmonary surfactant in COVID-19 era". Physiol. Res, 70 (2), S195-S208 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w