Giúp người học tiếp cận được với những giải pháp bảo vệ và ứng phó với BĐKH toàn cầu đặc biệt tại địa phương: Không nên chỉ dừng lại ở việc tiếp cận và định hướng nguyên nhân và hậu qu
Trang 12 Biến đổi khí hậu đã và đang trở thành hiểm họa đe dọa đến sự tồn vong của toàn thể nhân loại Việt Nam được cảnh báo là một trong những quốc gia sẽ
phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất khi nhiệt độ Trái Đất không ngừng tăng lên.Câu hỏi đặt ra là làm gì để ứng phó với BĐKH? Bên cạnh những giải pháp mangtầm vĩ mô, cần có sự chung tay của cộng đồng quốc tế, sự tham gia của chính phủ
và người dân thì tăng cường GDBĐKH trong nhà trường phổ thông là giải pháp cótầm quan trọng đặc biệt Bởi vì GDBĐKH nhằm cung cấp kiến thức, hình thành kĩnăng và quan trọng nhất là xây dựng năng lực ứng phó có hiệu quả với những tácđộng của BĐKH cho HS
3 Địa lí là một trong những môn học có nhiều thuận lợi nhất để tích hợp
và lồng ghép GDBĐKH Bởi vì ở nhà trường phổ thông khí hậu và BĐKH là đối
tượng nghiên cứu của khoa học địa lí nói chung và môn Địa lí nói riêng Địa lí phổthông có khả năng nắm vững các kiến thức BĐKH ( biểu hiện, nguyên nhân, hậuquả ) trên phạm vi toàn cầu, khu vực, quốc gia và địa phương Và giúp cho HS có
được khả năng “tư duy toàn cầu hành động địa phương”
4 Phương pháp dạy học dự án là một trong những phương pháp thích hợp để giáo dục biến đổi khí hậu thông qua môn địa lí Lí thuyết và thực tiễn đã
chứng tỏ rằng DHDA là một phương pháp dạy học có hiệu quả của giáo dục
BĐKH DHDA là phương pháp được xây dựng dựa trên tiếp cận trải nghiệm, địnhhướng thực tiễn và định hướng hành động với đặc trưng cơ bản tiếp cận khoa học,được xem là công cụ dạy học hiệu nghiệm, có khả năng phát huy tối đa năng lực
Trang 2của người học, trang bị những kĩ năng cần thiết để họ có thể thích nghi với thực tếcuộc sống nhiều biến động.
5 Internet đã tạo ra những điều kiện hết sức thuận lợi để tiến hành dạy học dự án nội dung giáo dục về sự biến đổi khí hậu, bởi:
- Internet cung cấp khối lượng thông tin khổng lồ, phong phú, cập nhật cho
HS khi các em nghiên cứu các dự án Với vấn đề mang tính thời sự cao như BĐKH,
sự thay đổi diễn ra từng ngày từng giờ và trên quy mô toàn cầu thì chỉ Internet mới
có thể phản ánh được một cách đầy đủ nhất
- Các tiện ích của Internet giúp giáo viên tổ chức, quản lý, HS tiến hành các
dự án học tập một cách thuận lợi, nhanh chóng Trong điều kiện khuôn khổ trườnglớp, chương trình học hạn hẹp thì đây chính là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho dạy học
- Internet vừa có khả năng kết nối người học, vừa tạo ra cơ hội để HS bày tỏnhững quan điểm của cá nhân, thay đổi cách nhìn nhận của người khác cũng nhưcủa chính bản thân mình, tạo ra những cộng đồng cùng chung tay chống lại nguy cơcủa sự BĐKH
Với những lí do trên tôi mạnh dạn đề xuất và nghiên cứu đề tài “TỔ CHỨCCHO HỌC SINH THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VỚI SỰ
HỖ TRỢ CỦA INTERNET TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 6 THCS
II Mục tiêu của đề tài nghiên cứu
Những mục tiêu quan trọng nhất của đề tài là :
- Xác định những cách thức và phương pháp sử dụng hiệu quả DHDA và sự
hỗ trợ của Internet để GDBĐKH trong dạy học Địa lí ở trường THCS
- Xây dựng quy trình với những bước cụ thể để tổ chức cho HS thực hiện các
dự án về BĐKH với sự hỗ trợ của Internet trong dạy học Địa lí, phù hợp với điềukiện dạy học của nước ta hiện nay
III Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đánh giá những mục tiêu nói trên, đề tài cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau :
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc GDBĐKH trong dạy học Địa
lí cho HS THCS thông qua phương pháp DHDA và sự hỗ trợ của Internet
Trang 3- Sáng tỏ phương pháp dạy học hiệu quả, lựa chọn các công cụ Internet phùhợp từ đó thiết kế các dự án học tập nội dung giáo dục về BĐKH với sự hỗ trợ củaInternet.
- Tiến hành thực nghiệm nhằm kiểm chứng kết quả nghiên cứu lí thuyết
IV Giới hạn của đề tài
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu để làm sáng tỏ hiệu quả của một phương
pháp cụ thể trong GDBĐKH thông qua môn Địa lí : Phương pháp DHDA với sự hỗtrợ của Internet
- Phạm vi đối tượng nghiên cứu là HS các trường THCS trên địa bàn thànhphố Hà Nội
V Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã vận dụng phối hợp các phương pháp, trong
đó có các phương pháp chủ yếu sau:
1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp phân tích hệ thống: Phương pháp này coi quá trình dạy
học là một hệ thống, bao gồm quá trình dạy và quá trình học, tồn tại và phát triểntrong mối quan hệ tương hỗ và tạo nên cấu trúc chặt chẽ Đó là quá trình dạy và quátrình học Việc sử dụng phương pháp này nhằm phát hiện ra các chức năng và cầutrúc của hệ thống các phương pháp dạy học Địa lí như: Hệ thống các phương phápdạy học tích cực, hệ thống phương pháp dạy thụ động để từ đó đề xuất việc đổi mớiphương pháp dạy học
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Đổi mới phương pháp dạy học là một
quá trình liên tục và mang tính kế thừa Trong đề tài này, phương pháp nghiên cứulịch sử được sử dụng làm sáng tỏ những khả năng và hiệu quả của việc áp dụngphương pháp dự án vào dạy học ở trường phổ thông
- Phương pháp nghiên cứu các công trình lí luận: Phương pháp này được
sử dụng để nghiên cứu các công trình, cuốn sách về lí luận giáo dục và dạy học,phương pháp dạy học Địa lí, phương pháp DHDA, các đề tài luận văn tốt nghiệp
Trang 4cùng chuyên ngành…Đây là nguồn tư liệu tham khảo chủ yếu giúp cho tác giả hiểu
rõ những quan điểm, những ý kiến của các tác giả đi trước
- Phương pháp thống kê toán học: Giá trị của phương pháp này không chỉ
giới hạn ở chỗ tính toán hay xử lý hàng loạt các số liệu trong quá trình điều tra thực
tế mà còn giải thích và làm rõ mối quan hệ có tính định hướng giữa tâm sinh lí vàkhả năng nhận thức của HS
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích tổng hợp chính là nhằm phát
hiện, khai thác, chọn lọc các khía cạnh khác nhau của tài liệu để phục vụ nghiêncứu Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước
về các vấn đề liên quan đến phương pháp dự án, GDBĐKH, thiết kế và tổ chức các
dự án trong dạy học Địa lí
2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra khảo sát: Với các bảng điều tra câu hỏi phương
pháp này được sử dụng để điều tra tình hình áp dụng phương pháp DHDA, thựctrạng GDBĐKH ở trường THCS trên địa bàn Hà Nội và khảo sát năng lực của GVnhằm phục vụ cho mục đích thiết kế và tổ chức các dự án
- Phương pháp quan sát: Phương pháp này được sử dụng để thu thập
những thông tin định tính Ở đề tài này việc quan sát được thực hiện trong suốt quátrình HS và GV tiến hành dự án để có được điều chỉnh cần thiết phù hợp với thực tếdạy học
- Phương pháp chuyên gia: Các vấn đề trong đề tài được được đem ra tham
khảo ý kiến và thảo luận với các chuyên gia giáo dục, cán bộ chương trình, GV…những người quan tâm, có nhiều kiến thức, kinh nghiệm trong DHDA vàGDBĐKH
- Phương pháp thực nghiệm: Đây là phương pháp thu thập và xử lý thông
tin thực hiện bởi những quan sát trong điều kiện có gây biến đổi đối tượng khảo sátmột cách chủ định Phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích kiểm chứng tínhhiệu quả của đề tài và đánh giá một cách chính xác, khách quan những giả thuyết
mà tác giả đã nêu ra trong đề tài
Trang 5VI Lịch sử nghiên cứu đề tài
Phương pháp dạy học dự án đã được các nhà nghiên cứu lí luận giáo dục
Việt Nam tiếp cận và giới thiệu trong một số cuốn sách, luận văn, các tài liệu tậphuấn cũng như các bài báo cụ thể:
Phương pháp DHDA đã được trình bày trong giáo trình “Lí luận dạy hoc Địa lý đại cương” và trong cuốn sách “Phương pháp dạy học địa lí theo hướng tích cực” của PGS.TS Đặng Văn Đức Trong tài liệu Dạy học Project hay dạy học theo
dự án và một số tài liệu tập huấn về Lí luận giáo dục dạy học hiện đại các tác giả
Nguyễn Văn Cường và Bernd Meier đã đề cập khá rõ vấn đề DHDA
Một số đề tài luận văn tốt nghiệp cũng đã đi sâu tìm hiểu vấn đề DHDA ví
dụ như : Tổ chức dạy học dự án một số kiến thức chương chất rắn và chất lỏng, sự chuyển thể trong SGK Vật lí 10 BCB (Nguyễn Thị Phương Dung); Vận dụng phương pháp dự án trong dạy học tiếng việt 4 cho HS khá giỏi (Châu Thị Lan Chi);
Tổ chức dạy học dự án “sử dụng năng lượng mặt trời” cho học sinh lớp 11 (Nguyễn Cao Cường); Tổ chức DHDA các nội dung kiến thức chương “Mắt – các dụng cụ quang học” trong SGK vật lí 11 (Trần Thị Hải); Tổ chức DHDA giáo dục
vì sự phát triển bền vững trong chương trình SGK Địa lí lớp 10 (Nguyễn Thị Thúy
Hường)
Trên các báo, tạp chí và kỷ yếu hội thảo khoa học đã xuất hiện một số bài
viết về DHDA, đáng chú ý là bài viết Sử dụng sơ đồ tư duy trong DHDA các nội dung kiến thức chương từ trường môn Vật lí 9 của tác giả Trần Văn Thành ; Vận dụng DHDA trong ứng dụng kĩ thuật của Vật lí của Đỗ Hương Trà, Phạm Văn Ngọc; Sử dụng phương pháp DHDA có ứng dụng CNTT ở trường phổ thông của tác
giả Trần Thị Thanh Thủy
Các tài liệu tập huấn của các dự án đào tạo kĩ năng cho GV của Bộ Giáo Dục
và các tập đoàn lớn như: Chương trình dạy học Intel của tập đoàn Intel Việt Nam, chương trình Partners in learning của tập đoàn Microsoft, dự án Việt – Bỉ áp dụng
cho 17 tỉnh miền núi phía bắc…đã đề cập ở mức độ khác nhau đến DHDA Các tài
Trang 6liệu này tập trung bồi dưỡng kĩ năng và năng lực ứng dụng CNTT & TT và thựchành áp dụng phương pháp dự án vào quá trình dạy học.
Các tài liệu trên đã tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản của phương phápDHDA, gồm:
Thứ nhất, cơ sở lí luận của phương pháp: khái niệm, cách tiếp cận, đặc điểm,
phân loại, mục tiêu, ý nghĩa của phương pháp, vai trò của GV và HS, quy trìnhchung của DHDA
Thứ hai, đưa ra quy trình cụ thể, chi tiết để GV có thể thiết kế, tổ chức cho
HS thực hiện các dự án trong các môn học, bài học cụ thể như Vật lí, Địa lí, Toán,Tiếng Việt, Sinh học…
Thứ ba, lựa chọn những công cụ thích hợp cho DHDA trong đó đặc biệt
nhấn mạnh vai trò của CNTT & TT
Ứng dụng CNTT & TT phục vụ quá trình dạy học là một mảng thu hút rất
nhiều đề tài nghiên cứu Những nghiên cứu đó đã chỉ ra vai trò, chức năng và nhữngứng dụng cụ thể của ICT trong dạy học và giáo dục
Về công cụ Internet đối với dạy học có các nghiên cứu như: Sử dụng tài liệu khai thác thác trên mạng Internet để dạy học Lịch sử ở trường THPT (Đoàn Thị Kiều Oanh), Sử dụng Internet khai thác thông tin, tư liệu dạy học sinh học (Dương Tiến Sỹ); Sử dụng Internet trong dạy học (Phạm Tú Anh) Các tài liệu này đã đề
cập đến chức năng, vai trò, các công cụ của Internet có thể được sử dụng để khaithác thông tin cho dạy học đồng thời đưa ra những hướng dẫn cụ thể Đối với việc
tổ chức quá trình dạy học bằng công cụ Internet thì các tài liệu của Intel, Microsoft
đã đề cập hết sức cụ thể, chi tiết mang tính ứng dụng cao
GDBĐKH, hiện nay là chủ đề thu hút được rất nhiều sự quan tâm, của các
nhà nghiên cứu và quản lý giáo dục Trong các hội thảo quốc gia và quốc tế vềGDBĐKH tổ chức tại trường ĐHSP Hà Nội có hàng trăm báo cáo của các chuyêngia về BĐKH, chuyên gia giáo dục trong nước và ngoài nước, các báo cáo này tậptrung làm rõ những vấn đề sau:
Trang 7- Những kiến thức về khí hậu và BĐKH bao gồm: quan niệm, nguyên nhân,biểu hiện, hậu quả, giải pháp…đó là các bài viết của TS Đào Ngọc Hùng, PGS TSNguyễn Kim Hồng, Nguyễn Ánh Hoàng & Lê Thị Ngọc Bích…
- Ý nghĩa và tầm quan trọng của GDBĐKH cho cộng đồng nói chung và cáctrường học nói riêng Chủ đề này có nghiên cứu của PGS TS Trần Đức Tuấn, PGS
TS Nguyễn Thị Minh Phương, Ths Hồ Thị Thu Hồ…
- Các phương pháp và cách thức GDBĐKH trong nhà trường phổ thông như:Tích hợp GDBĐKH vào chương trình, SGK của các tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng,Trịnh Phi Hoành, Trần Quốc Huy, Nguyễn Tất Thắng…; Sử dụng phương phápDHDA gồm các tác giả: Nguyễn Thị Kim Liên, Trần Văn Thành, Nguyễn Thị ViệtHà; Tổ chức các hoạt động ngoại khóa giáo dục về BĐKH: Trần Thị Bích Hường,
Đỗ Thị Lý…
- Các công cụ sử dụng để GDBĐKH: Phương tiện trực quan (Ths NguyễnTrọng Đức), Tranh biếm họa (Nguyễn Thị Thu), CVCA – đánh giá tác động củaBĐKH (Hà Văn Thắng)…
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các công trìnhnêu trên, đề tài của tôi đã vận dụng để giải quyết một nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể -
Tổ chức cho HS thực hiện các dự án về BĐKH với sự hỗ trợ của Internet trong dạyhọc Địa lí lớp 6 – THCS
VII Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, chương 1, chương 2, chương 3 và kết luận,trong đó:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức cho HS thực hiện các
dự án về BĐKH với sự hỗ trợ của Internet trong dạy học Địa lí lớp 6 - THCS
Chương 2: Thiết kế và tổ chức cho HS thực hiện các dự án về BĐKH với sự
hỗ trợ của Internet trong dạy học Địa lí lớp 6 - THCS
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 8PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC CHO HỌC SINH THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA
INTERNET TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 6 - THCS.
I Quan niệm về biến đổi khí hậu
1 Khái niệm về biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển,
thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyênnhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính bằng thập kỉ hayhàng triệu năm Sự biển đổi có thế là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sựphân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình Sự BĐKH có thế giới hạn
trong một vùng nhất định hay có thế xuất hiện trên toàn Địa Cầu (nguồn: http://vi.wikipedia.org)
2 Những biểu hiện của biến đổi khí hậu
Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung
Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sốngcủa con người và các sinh vật trên trái đất
Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùngđất thấp, các đảo nhỏ trên biển
Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khácnhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệsinh thái và hoạt động của con người
Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trìnhtuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác
Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phầncủa thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển
3 Nguyên nhân gây nên hiện tượng biến đổi khí hậu
Nguyên nhân làm cho khí hậu thay đổi được xác định một phần đến từ tựnhiên nhưng chủ yếu vẫn do con người, cụ thể:
Trang 9Khí hậu trái đất thường xuyên thay đổi trong quá trình lịch sử địa chất, saumột chu kì nóng lại là một chu kì lạnh đi có tên là chu kì băng hà Hiện nay, chúng
ta đang sống trong chu kỳ nóng lên của Trái Đất, bắt đầu khoảng 10 000 năm trướcđây Nguyên nhân của các thay đổi lớn của khí hậu bao gồm: thay đổi vị trí của TráiĐất so với Mặt Trời, thay đổi cường độ hoạt động của mặt trời, sự gia tăng hoạtđộng của tro bụi và hơi nước
Nguyên nhân chính gây ra sự biến đổi nhiệt độ của trái đất và các biến đổikhí hậu kèm theo là sự gia tăng đáng kể lượng khí nhà kính từ các hoạt động củacon người Việc tăng khí nhà kính sẽ làm tăng hiệu ứng nhà kính, phá vỡ cân bằngnhiệt, làm tăng nhiệt độ khí quyển Trái Đất và kèm theo đó là làm biến đổi một loạtnhững đặc trưng khí hậu khác
4 Hậu quả của biến đổi khí hậu
Băng tan và những hệ lụy đi kèm
Khi nhiệt độ Trái Đất tăng lên chịu ảnh hưởng đầu tiên sẽ là những vùng cókhí hậu lạnh, ở Bắc Cực băng sẽ tan chảy, diện tích băng hà và băng vĩnh cửu sẽ bịthu hẹp.Tan băng sẽ làm cho mực nước biển dâng cao gây ngập lụt những vùng đấtthấp và các đảo nhỏ trên biển Hậu quả là, diện tích và không gian sinh tồn của cảsinh vật và con người đều bị thu hẹp Xâm nhập mặn sẽ vào sâu trong đất liền làmsuy thoái diện tích đất canh tác màu mỡ ở các vùng hạ lưu các sông lớn Sóng thần,động đất, dòng hải lưu biến đổi, hiện tượng El nino, La nina…cũng là những hậuquả tai hại do nhiệt độ tăng và nước biển dâng
Thời tiết cực đoan không ngừng gia tăng
Những hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lụt lội, hay khô hạn là hậu quảcủa BĐKH mà nhiều người phải trực tiếp chịu đựng.Thiên tai trong năm 2008 cướp
đi mạng sống của 220.000 người và gây thiệt hại khoảng 200 tỷ USD, biến nó thànhnăm đáng sợ nhất trong lịch sử loài người tính theo tổn thất về người và của BãoNagis đánh vào Mianma tháng 5/2008 là thảm họa thiên nhiên khốc liệt nhất, giếtchết hơn 135.000 người và đẩy hơn 1 triệu người vào cảnh không nhà cửa Chỉ vàingày sau một cơn địa chấn ở Tứ Xuyên (Trung Quốc) đã khiến hơn 70.000 ngườichết, 18000 người mất tích và gần 5 triệu người mất nhà cửa
Trang 10 Biến đổi khí hậu làm suy giảm đa dạng sinh học
Sự tăng lên của nhiệt độ trái đất cùng với sự tăng lên của hàm lượng C02 sẽlàm thay đổi cấu trúc và chức năng của các hệ sinh thái, cũng như sự tương tác sinhthái của các loài và giới hạn địa lí của chúng, cuối cùng để lại hậu quả tiêu cực cho
đa dạng sinh học BĐKH làm biến động vùng phân bố của các loài sinh vật BĐKH
đã buộc các sinh vật phải thay đổi để thích nghi với môi trường sống bằng cách thayđổi chu kỳ sinh trưởng hoặc phát triển đặc điểm thích nghi mới trên cơ thể Nhữngloài không có khả năng thích nghi với những BĐKH có nguy cơ bị tuyệt chủng
Nông nghiệp và an toàn lương thực
BĐKH ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và qua đó lương thựccho nhân loại – kết quả là nạn đói ngày càng trầm trọng
Trái Đất nóng lên sẽ tác động mạnh mẽ hơn đến những vùng có khí hậu nhiệtđới hay những vùng hiện nay đất đai đã bị khô (phần lớn là các nước nghèo châuPhi, châu Á…) các sa mạc sẽ được mở trên diện rộng, đồng thời mực nước biểndâng do băng tan chảy sẽ nhấn chìm những vùng đất duyên hải, khiến một diện tíchlớn đất nông nghiệp bị mất BĐKH không chỉ thu hẹp đất canh tác mà còn làm suygiảm năng suất nông nghiệp
5 Giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu
BĐKH gây ra những hậu quả nặng nề với sự phát triển KT – XH với tất cảcác nước và khu vực Trong cuộc chiến với BĐKH không một ai có thể đứng ngoàicuộc Để giảm nhẹ những thiệt hại nặng nề do BĐKH gây ra người ta nghiên cứu ápdụng tổng hợp các biện pháp hướng tới sống chung với BĐKH với nhận thứcBĐKH là một quá trình không thể đảo ngược Chúng ta chỉ có thể giảm nhẹ chúng
Trang 11dụng những biện pháp phù hợp với tình hình và khả năng của mỗi đối tượng, mỗingành, mỗi cộng đồng trong từng thời điểm sao cho giảm được sự tổn thương doBĐKH.
Giảm nhẹ – loại trừ nguyên nhân gây BĐKH bằng cách giảm phát thải khí
nhà kính
Thích ứng – tác động tiêu cực của các yếu tố khí hậu được giảm xuống bằng
các biện pháp giảm thiểu những mặt trái của chúng
5.1 Các giải pháp cắt giảm phát thải khí nhà kính vào bầu khí quyển
Trước hết, cần áp dụng công nghệ để giảm phát thải khí nhà kính trong một
số lĩnh vực cụ thể như cung cấp năng lượng, giao thông, xây dựng, công nghiệp,nông nghiệp, lâm nghiệp, phế thải…
Tiếp đó, cần có các chính sách và công cụ giảm nhẹ BĐKH như:
Lồng ghép chính sách khí hậu trong các chính sách phát triển một cách rộngrãi để dễ dàng thực hiện và khắc phục trở ngại
Ban hành những quy chế và tiêu chuẩn để đảm bảo rằng việc phát thải khínhà kính được duy trì ở mức cho phép
Thực hiện đánh thuế cacbon, tức là thuế đánh vào lượng các-bon có trongnhiên liệu, mà chính xác là vào lượng khí thải C02 từ quá trình đốt nhiên liệuchứa các-bon
Sử dụng các biện pháp kích thích tài chính để khuyến khích sự phát triển vàphổ biến công nghệ mới
5.2 Các giải pháp thích ứng với tác động của BĐKH
Để thích ứng có hiệu quả với BĐKH trong mỗi một lĩnh vực cần thiết phảixây dựng hệ thống giải pháp cụ thể, đặc trưng Dưới đây đề cập đến một số giảipháp trong các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, tài nguyên nước, nôngnghiệp, lâm nghiệp, thủy sản…
Trang 12Hộp thông tin số 1.1 Các giải pháp thích ứng với BĐKH
Năng lượng và giao thông vận tải
Xây dựng các kế hoạch phát triển năng lượng và giao thông vận tải có tính đến các yếu
Sử dụng năng lượng tái tạo giảm lệ thuộc vào nguồn năng lượng duy nhất
Tài nguyên nước
Sử dụng nguồn nước khoa học và hợp lý
Khai thác đi đôi với duy trì và bảo vệ nguồn nước
Đầu tư nghiên cứu dự báo dài hạn tài nguyên nước
Nâng cao hiệu quả sử dụng nước, tái sử dụng, chống mặn hóa
Nâng cấp và mở rộng quy mô các công trình tiêu úng
Kiềm chế tốc độ tăng dân số và quy hoạch khu dân cư ven biển
Nông nghiệp
Xây dựng cơ cấu cây trồng phù hợp
Tăng cường hệ thống tưới tiêu cho nông nghiệp
Phát triển các giống cây chịu được điều kiện ngoại cảnh khắc nghiệt
Bảo tồn các giống cây trồng địa phương, thành lập các ngân hàng giống
Xây dựng các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với BĐKH, chuẩn xác hóa thời vụgieo trồng
Cải tiến quản lý, sử dụng đất
Dự trữ lương thực cho những vùng nhạy cảm
Lâm nghiệp
Tăng cường trồng rừng, trước hết là rừng đầu nguồn
Bảo vệ rừng tự nhiên tiến tới đóng cửa khai thác rừng tự nhiên, phòng chống cháy rừng
Thành lập ngân hàng cây rừng tự nhiên nhằm bảo vệ một số giống cây rừng quý hiếm
Tăng cường hiệu suất sử dụng gỗ và kiềm chế sử dụng nguyên liệu gỗ
Thủy sản
Chuyển đổi cơ cấu canh tác ở một số vùng ngập nước từ đơn thuần lúa sang luân canhnuôi cá và cấy lúa
Xây dựng cơ sở hạ tầng, bến bãi neo đậu của tàu thuyền có tính đến mực nước biển tăng
Xây dựng các tuyến đê quai phía trong tạo thành vùng đệm giữa các vùng canh tác nôngnghiệp và biển
Xây dựng hệ thống phòng tránh bão dọc biển cũng như các tuyến đảo
Thiết lập các khu bảo tồn sinh thái tự nhiên, đặc biệt là vùng rạn và đảo san hô
Rút lui: Né tránh tác động tự nhiên của nước biển dâng bằng tái định cư, di dời nhà cửa,
cơ sở hạ tầng ra khỏi những vùng khó khăn nguy hiểm
Trang 13Xây dựng và củng cố đê biển ở những nơi thiết yế
Thiết lập nhiều khu vực xanh – sạch – đẹp
Dự trữ thuốc và chất diệt khuẩn ở những nơi nhạy cảm
Đề phòng sự lây nhiêm và truyền bệnh từ bên ngoài
Tiêu dùng bền vững
Tiêu dùng tiết kiệm: tiết kiệm năng lượng, nước, nguyên liệu
Sử dụng những sản phẩm, hàng hóa thân thiện với môi trường,
Sử dụng tối đa giá trị sử dụng của hàng hóa
Tái chế, tái sử dụng hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng
5.3 Truyền thông và giáo dục về BĐKH
Hoạt động ứng phó với BĐKH đang và sẽ phải đối mặt giải quyết các mâuthuẫn trong suy nghĩ, thái độ, hành vi về sinh hoạt, sản xuất, môi trường giữa cácnhóm đối tượng khác nhau, giữa người này với người khác, và ngay cả trong bảnthân của một con người Với thực trạng này, truyền thông cần và phải được xemnhư là một công cụ quan trọng, cơ bản tác động trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổithái độ, hành vi của con người trong cộng đồng từ đó thúc đẩy họ tự nguyện thamgia vào các hoạt động thích ứng, giảm nhẹ BĐKH từ đơn giản nhất đến phức tạpnhất, và không những chỉ tự mình tham gia mà còn lôi cuốn những người khác cùngtham gia tạo ra các kết quả có tính đại chúng
5.3.1 Mục đích chung của truyền thông về BĐKH
Thông tin và thu hút cộng đồng tham gia vào quá trình chia sẻ thông tinnhằm tạo ra sự hiểu biết chung, nhận thức chung về BĐKH – thực trạng, tác động,hiểm họa tiềm tàng, nguyên nhân, giải pháp cần thiết để thích ứng và giảm nhẹ, từ
đó cùng chia sẻ trách nhiệm và thống nhất hành động theo một hướng chung trongviệc giải quyết các vấn đề liên quan đến BĐKH Mục đích chung của truyền thông
về BĐKH là:
Trang 14 Huy động các kinh nghiệm, kỹ năng, bí quyết của cộng đồng tham gia vàocác hoạt động, chương trình, dự án nhằm ứng phó với BĐKH.
Bảo đảm phụ nữ và nam giới được thu hút bình đẳng trong quá trình chia sẻthông tin, đóng góp ý kiến, bởi phụ nữ và nam giới có kinh nghiệm khácnhau do vai trò giới của họ không giống nhau
Tạo đối thoại thường xuyên trong xã hội để thúc đẩy việc thay đổi các hành
vi thích hợp và có hiệu quả với BĐKH
Các hoạt động truyền thông giáo dục nâng cao nhận thức, làm thay đổi hành
vi con người ( Đào tạo nâng cao kiến thức và kỹ năng, rèn luyện khả năng sẵn sàngthay đổi thói quen và phong tục…) là biện pháp thích ứng với BĐKH
5.3.2 Chủ đề truyền thông về BĐKH hiện nay
Xác định một số chủ đề trọng tâm cần truyền thông về BĐKH như:
Tác động của BĐKH tới kinh kế, giáo dục, sức khỏe của con người
Mối quan hệ giữa đô thị hóa và BĐKH
Các biện pháp giảm nhẹ BĐKH
Cùng nhau liên kết để ứng phó với BĐKH
Vai trò của rừng trong ứng phó với BĐKH
Và nhiều chủ đề khác
Tóm lại, Khi tổ chức cho HS thực hiện các dự án về BĐKH, yêu cầuquan trọng đầu tiên đối với GV là phải có kiến thức về BĐKH GV cần nắmvững khái niệm BĐKH, biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả và những giải pháp
cụ thể để ứng phó và thích nghi Trên cơ sở những hiểu biết đó GV sẽ tìm ranhững kiến thức BĐKH liên quan đến nội dung môn học của mình để cóhướng tích hợp hiệu quả Quan trọng hơn, GV nên lựa chọn những kiến thứcBĐKH gắn liền với những vấn đề đang diễn ra tại địa phương mà HS đanghọc tập và sinh sống Ý tưởng về các dự án học tập thú vị, độc đáo và có giá trịthường xuất phát từ những vấn đề mang tính thực tiễn Truyền thông cũng làmột giải pháp giáo dục có tác động to lớn trong việc thay đổi nhận thức củangười dân về BĐKH Nhà trường là một bộ phận của xã hội Quan điểm của
Trang 15GDPTBV không giới hạn phạm vi giáo dục trong hay ngoài nhà trường, chínhquy hoặc phi chính quy Vì thế, GV cũng phải biết những phương pháp truyềnthông, tiếp đến bồi dưỡng cho HS cách thức truyền thông trong gia đình vàcộng đồng thông qua đó thay đổi nhận thức của nhiều người.
II Giáo dục vì sự phát triển bền vững và giáo dục về biến đổi khí hậu trong nhà trường phổ thông
1 GDPTBV trong nhà trường phổ thông
1.1 Khái niệm về GDPTBV
Khái niệm GDPTBV được lần đầu tiên nhắc đến trong báo cáo Brundland(1987), nhưng phải đến năm 2002 tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về PTBV và
Nghị quyết của Liên hợp Quốc về, Thập kỉ Giáo dục Phát triển Bền vững (từ 2005
đến 2014) khái niệm này mới chính thức công bố rộng rãi
“ GDPTBV là xu hướng phát triển mới của nền giáo dục hiện đại coi trọng
quá trình giải thích và thông hiểu ý nghĩa của PTBV Quá trình này khuyến khích người học chủ động cam kết với những mục tiêu PTBV để xây dựng một nếp sống biết cách tiêu dùng các nguồn lực một cách công bằng và lâu bền.,(theo http://tuoitre.vn – Chính sách giáo dục toàn cầu)“
Mục tiêu của GDPTBV là đưa con người vào vị trí mà nó có thể đóng vai
trò tích cực trong việc tạo ra một hiệu quả bền vững về mặt sinh thái, kinh tế và tạonên một môi trường xã hội công bằng Bằng cách sử dụng những tình huống, nhữngphương pháp và cấu trúc học tập thích hợp, GDPTBV có nhiệm vụ đổi mới quátrình học tập ở tất cả khu vực giáo dục mà nó giúp cho các cá nhân chiếm lĩnh đượccác kĩ năng phân tích, đánh giá và năng lực hành động mà PTBV đòi hỏi(FMER,2002, p 4)
Với tư cách là một trào lưu cải cách giáo dục hiện đại theo những định
hướng của sự PTBV, GDPTBV có những đặc trưng cơ bản sau đây:
GDPTBV xuất phát và phấn đấu vì mục tiêu PTBV của cá nhân, cộng đồng
và xã hội
GDPTBV là nền giáo dục cho và có ý nghĩa với tất cả mọi ng ười
Trang 16 GDPTBV là nền giáo dục hiện đại có tính nhất liên môn, liên ngành
GDPTBV là giáo dục hiện đại theo đuổi mục tiêu xây dựng và phát triển cácnăng lực PTBV cho các cá nhân và các cộng đồng
GDPTBV liên kết chặt chẽ và phù hợp môi trường và văn hoá địa phương
Các chủ đề quan trọng của GDPTBV là quyền con người, hoà bình, an ninh,
bình đẳng giới, đa dạng về văn hoá, sức khoẻ, HIV/AIDS, các thể chế, các nguồn tàinguyên thiên nhiên, sự thay đổi khí hậu, phát triển nông thôn, đô thị hoá bền vững,ngăn chặn và giảm nhẹ thiên tai, xoá bỏ đói nghèo, tinh thần và trách nhiệm, kinh tếthị trường
GDPTBV là nền giáo dục vì mọi người, diễn ra ở mọi địa điểm và với nhiềuhình thức học tập khác nhau: chính quy, không chính quy GDPTBV đòi hỏi sự tiếpcận giáo dục đổi mới, từ chương trình, nội dung, phương pháp sư phạm và kiểm trađánh giá Các hình thức học tập bao gồm học tập chính quy, không chính quy, họctập ở nơi làm việc, ở các cơ sở đào tạo kỹ thuật và dạy nghề, đào tạo giáo viên và
cả ở các tổ chức cộng đồng và xã hội dân sự địa phương
1.2 Tổ chức GDPTBV trong nhà trường phổ thông
Tất cả các môn học ở trong trường phổ thông đều có cơ hội và khả năngtham gia tích cực vào GDPTBV không chỉ là những môn có nhiêu ưu thế Điều nàyxuất phát từ khái niệm GDPTBV có nội hàm rộng không chỉ giới hạn ở giáo dụcmôi trường mà liên quan đến việc giáo dục kinh tế và xã hội theo định hướngPTBV Sự cần thiết phải tăng cường GDPTBV còn xuất phát từ yêu cầu thực tiễn.Mặc dù GDPTBV đã ra đời từ lâu nhưng ở không ít nước trên thế giới lĩnh vực nàyvẫn chưa nhận được sự quan tâm thích đáng
Việc tổ chức GDPTBV trong nhà trường phổ thông cần đi theo những địnhhướng cơ bản, tuân thủ những nguyên tắc và những cách tiếp cận sau:
Trang 17Hộp thông tin 1.2 Những định hướng, nguyên tắc, tiếp cận GDPTBV trong nhà trường phổ PT Định hướng
Giúp HS có được những kiến thức cần thiết về PTBV đồng thời GV giúp HS nhậnthức được những những vấn đề của PTBV
Hình thành và phát triển ở HS những kĩ năng cần thiết để sống một cách bền vững
Giúp HS thấy được những triển vọng của sự PTBV
Hình thành ở HS những giá trị của PTBV
Nguyên tắc
Phát triển tư duy hệ thống
Liên kết các nội dung mặt xã hội, sinh thái và kinh tế trong một thể thống nhất
Dạy học theo quan điểm định hướng hành động
1.3 GDBĐKH theo quan điểm GDPTBV
Như đã trình bày ở trên, GDPTBV có 15 nội dung thuộc ba lĩnh vực, trong
đó thay đổi khí hậu hay BĐKH là một nội dung quan trọng Với tư cách là một bộphận của GDPTBV, GDBĐKH cần đi theo những định hướng, cách tiệp cận củaGDPTBV, tuân thủ những nguyên tắc của GDPTBV Những vấn đề cơ bản củaGDBĐKH theo định hướng GDPTBV gồm:
GDBĐKH cần cung cấp cho người học kiến thức cơ bản về BĐKH, hìnhthành kĩ năng và năng lực để họ có thể ứng phó có hiệu quả với những tác động doBĐKH gây ra Chỉ ra được bản chất và những vấn đề mấu chốt của nội dungBĐKH GDBĐKH không làm cho người học hoang mang, lo lắng, trái lại cần tạocho họ tâm thế sẵn sàng đối phó với những thay đổi bất thường của khí hậu
GDBĐKH chú ý đến nhiều đối tượng trong cộng đồng Bởi vì hậu quả doBĐKH gây ra sẽ tác động không giống nhau ở những cộng đồng dân cư khác nhau.Những đối tượng cần được ưu tiên là người nghèo, phụ nữ, trẻ em và HS ở nhữngvùng khó khăn, những vùng chịu tác động của thiên tai, ven biển, miền núi
Trang 18 Cần thiết phải đưa GDBĐKH vào cộng đồng và không nên chỉ hạnn chế nótrong hệ thống giáo dục chính quy Cần phải lựa chọn những nội dung của BĐKHphù hợp nhất với tình hình thực tế của địa phương để giáo dục Quá trìnhGDBĐKH, kiến thức, kinh nghiệm của người học được sử dụng để xây dựng nănglực ứng phó với BĐKH tại chính nơi họ đang sống.
Giáo dục BĐKH cần tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để người học đượctham gia tích cực vào quá trình hành động, quá trình ra quyết định đối với nhữngvấn đề BĐKH ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của bản thân, gia đình và cộng đồng
Cần xây dựng các mạng lưới khoa học, giáo dục và truyền thông về BĐKHtrên bình diện quốc gia và quốc tế Ở đó gắn kết những nhà khoa học, những nhàgiáo dục, những người làm công tác xã hội từ nhiều tổ chức nhiều, quốc gia khácnhau cùng chung tay bảo vệ khí hậu GDBĐKH cần tư duy mang tính toàn cầu vàhành động gắn với địa phương
Tóm lại, GDBĐKH là một trọng tâm của GDPTBV Bởi vì BĐKH ảnhhưởng đến tất cả nhưng lĩnh vực còn lại trong nội dung PTBV, không chỉ là môitrường mà còn cả kinh tế và xã hội Tổ chức GDBĐKH sẽ góp phần nâng cao hiệuquả giáo dục trên nhiều phương diện khác nhau Điều này góp phần thực hiệnnguyên tắc liên môn, liên ngành trong GDPTBV GDBĐKH hướng đến những giátrị, thay đổi hành vi, hình thành năng lực cho người học, chính vì thế mà phươngpháp dự án là phương pháp thích hợp Trong DHDA ứng dụng CNTT & TT là mộttrong những yêu cầu cơ bản để chắc chắn rằng phương pháp này sẽ phát huy hiệuquả tối đa Hơn thế nữa, CNTT đặc biệt là Internet đảm bảo việc thực hiện tốt cácnguyên tắc của GDPTBV là giáo dục ở mọi nơi, mọi lúc và cho tất cả mọi người
2 GDBĐKH trong nhà trường phổ thông
2.1 Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc đưa GDBĐKH vào nhà trường phổ thông.
Đưa giáo dục BĐKH vào nhà trường phổ thông là nhiệm cấp bách và có ýnghĩa cũng như tầm quan trọng đặc biệt bởi những lí do sau:
BĐKH đã trở thành một trong những nguy cơ và thách thức lớn nhất của thờiđại chúng ta Hơn thế, Việt Nam là một trong 5 quốc gia bị đe dọa và sẽ chịu những
Trang 19hậu quả nặng nề nhất khi mực nước biển không ngừng tăng lên Chính vì lẽ đó nhậnthức được sâu sắc vấn đề BĐKH (nguyên nhân, hậu quả và giải pháp ứng phó) làhết sức cần thiết đối với tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, mọi thành phần dân cư…để
có các hành động cụ thể thích ứng với BĐKH toàn cầu Nhà trường phổ thông với
sứ mệnh nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; với mạng lưới rộngkhắp đất nước, với hệ thống chương trình, nội dung, kế hoạch và phương pháp giáodục; với đội ngũ hùng hậu của những người làm công tác giáo dục đóng một vai trò
to lớn và có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến việc nâng cao nhận thức về BĐKH cho HS
Giáo dục trong nhà trường đóng vai trò quyết định đối với việc hình thành tưcách công dân, cách ứng xử đối với xã hội, đối với môi trường, trong đó có cáchứng xử trước hiện tượng BĐKH của mỗi cá nhân Một khi HS có được những hiểubiết về hiện tượng BĐKH, nguyên nhân cũng như tác động trực tiếp của nó đối vớicuộc sống của người dân, với sự tồn vong của đất nước, nhân loại, thì trong mọihành động các em sẽ cân nhắc để hạn chế nguy cơ dẫn đến BDKH, chọn lối sốngthân thiện với môi trường vì mục tiêu PTBV Giáo dục là một trong những biệnpháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất và có tính bền vững trong các biện pháp để thựchiện mục tiêu bảo vệ môi trường cũng như mục tiêu của giáo dục về BĐKH
Việt Nam đã có chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH và đangđược triển khai sâu rộng Tuy nhiên chúng ta lại còn thiếu các chương trình giáodục phổ thông về bảo vệ khí hậu và BĐKH có chất lượng và có tác động mạnh đến
HS Trước thực trạng trên, đưa GDBĐKH vào chương trình phổ thông và thực mộtcách có hiệu quả là nhiệm vụ cấp thiết hơn bao giờ hết
2.2 Mục tiêu của việc tiến hành GDBĐKH trong nhà trường phổ thông
GDBĐKH là một bộ phận của GDPTBV, chính vì vậy giáo dục về BĐKH vì
sự PTBV được xem là mục tiêu cao nhất GDBĐKH không đơn thuần là dạy học vềBĐKH mà thông qua các hoạt động đa dạng của mình phát triển ở người học nhậnthức và năng lực ứng phó với BĐKH, đồng thời giúp cho người học có được nhữnghành vi thái độ bảo vệ theo những định hướng cơ bản của GDPTBV Giáo dụcBĐKH không nên và không cần thiết làm cho người học hoảng sợ, bi quan về tương
Trang 20lai với những rủi ro và tác động tiêu cực của BĐKH mà cần thiết phải giúp cho HSvững tin về triển vọng tốt đẹp của bảo vệ khí hậu và thích ứng thành công vớiBĐKH trong tương lai Vì vậy nững mục tiêu và định hướng cơ bản của GDBĐKHcần phải là:
Giúp người học quan tâm đến vấn đề bảo vệ khí hậu, hiểu rõ nguyên nhân, hậu quả của BĐKH: Những nguyên nhân của BĐKH do con người gây ra, liên
quan đến các hoạt động của con người, nên nguyên nhân và hậu quả của BĐKH cầnđược xác định và làm sáng tỏ Chương trình GDBĐKH có thể và cần giúp chongười học nhận dạng và hiểu rõ các nguyên nhân của BDKH cũng như những khảnăng tổn thương mà cá nhân hay cộng đồng sẽ phải gánh chịu khi BĐKH xảy ranhằm hạn chế, giảm thiểu với nó
Giúp người học tiếp cận được với những giải pháp bảo vệ và ứng phó với BĐKH toàn cầu đặc biệt tại địa phương: Không nên chỉ dừng lại ở việc tiếp cận và
định hướng nguyên nhân và hậu quả, thông qua các hoạt động đa dạng của mình,GDBĐKH cần chia sẻ, chuyển giao, cung cấp những giải pháp hữu hiệu để bảo vệ
và ứng phó với BĐKH Đó là các giải pháp: sử dụng hiệu quả năng lượng, sử dụngnăng lượng tái sinh, tạo ra sự thay đổi trong lối sống, sinh hoạt…
GDBĐKH cần được đổi mới và chuyển hóa theo những định hướng cơ bảnsau đây:
Phát triển năng lực hành động: Phát triển năng lực hành động ứng phó với
BĐKH chứ không đơn giản là kiến thức, kĩ năng liên quan đến BĐKH, đó mới làmục tiêu đích thực của GDBĐKH Mục tiêu này sẽ đạt được nếu coi trọng yếu tốđộng cơ, niềm tin cá nhân trong việc hình thành năng lực hành động và được thiết
kế, triển khai thực hiện băng tiếp cận liên môn nhằm làm cho việc học tập trở nênsống động hơn, cụ thể hơn và người học có nhiều cơ hội để trải nghiệm và tiếp cậnnhiều hơn với thực tiễn sinh động của cuộc sống
Thay đổi hành vi – thái độ: Đây được xem là nội dung và mục tiêu hàng đầu
của GDBĐKH Sự thay đổi trong kiến thức, kĩ năng cần phải dẫn tới sự thay đổihành vi – thái độ của người học theo những định hướng của PTBV GDBĐKH sẽ
Trang 21thành công khi làm cho cá nhân và cộng đồng quan tâm hơn đến vấn đề BĐKH, cónhững hành vi và thái độ tích cực để bảo vệ khí hậu và sẵn sàng ứng phó với nhữngthách thức của BĐKH.
Tăng cường các giá trị và sáng tạo: Trở thành công dân toàn cầu, quan tâm
đến các cộng đồng dân cư bị thiệt thòi do BĐKH, tích cực tuyên truyền và thực hiệnbảo vệ khí hậu, thân thiện và làm bạn với môi trường…được xem là những giá trịcần được khuyến khích khi tiến hành GDBĐKH
2.3 Nguyên tắc GDBĐKH trong nhà trường phổ thông.
GDBĐKH trong nhà trường phổ thông Việt Nam cần đảm bảo các nguyêntắc sau:
Đảm bảo mục tiêu GDBĐKH phải phù hợp với mục tiêu giáo dục của cấphọc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục nói chung
Hướng giáo dục về BĐKH tới việc cung cấp cho HS những kiến thức liênquan đến BĐKH và những kĩ năng ứng phó với những thiên tai do BĐKH gây ra,phù hợp với tâm, sinh lí từng lứa tuổi
Nội dung GDBĐKH phải chú trọng các vấn đề thực tiễn, gắn với địaphương, đất nước, trên cơ sở đó hình thành các kĩ năng, phương pháp hành động
cụ thể để HS có thể tham gia có hiệu quả vào các hoạt động phòng chống thiên tai
do BĐKH gây ra ở địa phương, đất nước phù hợp với lứa tuổi HS
Phương pháp GDBĐKH đảm bảo tạo điều kiện cho HS chủ động tham giavào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em phát hiện các vấn đề liên quan đếnBĐKH và tìm hướng giải quyết vấn đề dưới sự tổ chức và hướng dẫn của GV
Tận dụng các cơ hội để GDBĐKH nhưng phải đảm bảo kiến thức cơ bảncủa môn học, tính logic của nội dung và không làm quá tải lượng kiến thức vàtăng thời gian của bài học
2.4 Nội dung của GDBĐKH trong nhà trường phổ thông.
Việc lựa chọn những nội dung GDBĐKH để đưa vào chương trình giáo dụcphổ thông phải dựa trên những kiến thức khoa học về BĐKH, xuất phát từ mục tiêugiáo dục, trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc dạy học Những nội dung đó bao gồm:
Trang 22 Thực trạng của BĐKH trên phạm vi toàn cầu, khu vực, quốc gia và địaphương.
Tác động và hậu quả của BĐKH trên phạm vi toàn cầu, quốc gia và khuvực - địa phương (trước mắt và tương lai)
Nguyên nhân của sự BĐKH, đặc biệt là những nguyên nhân do con ngườitạo ra, như phát thải khí nhà kính gây nên sự ấm lên toàn cầu…
Những biện pháp hạn chế tác nhân gây nên BĐKH trên phạm vi toàn cầu,quốc gia và địa phương, biện pháp hành chính (chính sách), biện pháp kỹ thuật…
Ứng phó trước tác động của BĐKH ở Việt Nam: phòng chống ngập lụt ởđồng bằng châu thổ và vùng ven biển, sạt lở đất vùng ven biển; lũ và sạt lở đất ởvùng núi…
Những kĩ năng cần thiết ứng phó với thiên tai do BĐKH gây nên ở địaphương (kĩ năng cụ thể phòng chống lũ, lụt, sạt lở đất, bão
2.5 Các phương pháp GDBĐKH trong nhà trường phổ thông.
2.5.1 GDBĐKH trong các giờ học ở trên lớp
GDBĐKH trong nhà trường phổ thông, trong các giờ trên lớp được thực hiệnbằng phương thức tích hợp những nội dung liên quan vào một số môn học Việctích hợp GDBĐKH được triển khai ở ba mức độ sau đây:
Mức độ toàn phần: Mục tiêu và nội dung của bài học hoặc của chương
trong sách giáo khoa môn học phù hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung củaGDBĐKH
Mức độ bộ phận: Chỉ có một phần bài học có mục tiêu và nội dung của
dự án
Trang 232.5.2 GDBĐKH thông qua các hoạt động ngoại khóa
Hoạt động GDBĐKH không nên và không chỉ hạn chế trong các giờ học ởtrên lớp mà con phải thực hiện thông qua các hoạt động ngoại khóa
Ngoại khóa là hình thức tổ chức dạy học ngoài lớp, không quy định bắt buộctrong chương trình, hoạt động dựa trên sự tự nguyện tham gia của một số hay sốđông HS có hứng thú, yêu thích bộ môn và ham muốn tìm tòi, sáng tạo, dưới sựhướng dẫn của GV N i dung ho t ội dung hoạt động ngoại khóa thường liên quan với ạt động ngoại khóa thường liên quan với đội dung hoạt động ngoại khóa thường liên quan với ng ngo i khóa th ạt động ngoại khóa thường liên quan với ường liên quan với ng liên quan v i ới
n i dung h c t p trong ch ội dung hoạt động ngoại khóa thường liên quan với ọc tập trong chương trình và phù hợp với hoàn cảnh của địa ập trong chương trình và phù hợp với hoàn cảnh của địa ương trình và phù hợp với hoàn cảnh của địa ng trình v phù h p v i ho n c nh c a à phù hợp với hoàn cảnh của địa ợp với hoàn cảnh của địa ới à phù hợp với hoàn cảnh của địa ảnh của địa ủa địa địa a
ph ương trình và phù hợp với hoàn cảnh của địa ng v à phù hợp với hoàn cảnh của địa đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của HS tham gia hoạt động đ ểm tâm sinh lí lứa tuổi của HS tham gia hoạt động c i m tâm sinh lí l a tu i c a HS tham gia ho t ứa tuổi của HS tham gia hoạt động ổi của HS tham gia hoạt động ủa địa ạt động ngoại khóa thường liên quan với đội dung hoạt động ngoại khóa thường liên quan với ng
n y.L ho t à phù hợp với hoàn cảnh của địa à phù hợp với hoàn cảnh của địa ạt động ngoại khóa thường liên quan với đội dung hoạt động ngoại khóa thường liên quan với ng giáo d c ngo i gi lên l p, ho t ục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa có à phù hợp với hoàn cảnh của địa ờng liên quan với ới ạt động ngoại khóa thường liên quan với đội dung hoạt động ngoại khóa thường liên quan với ng ngo i khóa có ạt động ngoại khóa thường liên quan với nhi u ý ngh a thi t th c ĩa thiết thực đối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ết thực đối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ực đối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc đối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ới i v i vi c th c hi n các m c tiêu d y h c, ệc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ực đối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ệc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa có ạt động ngoại khóa thường liên quan với ọc tập trong chương trình và phù hợp với hoàn cảnh của địa đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của HS tham gia hoạt động c
bi t l m c tiêu v k n ng v thái ệc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc à phù hợp với hoàn cảnh của địa ục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa có ĩa thiết thực đối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ăng và thái độ Thông qua sự tham gia tích cực à phù hợp với hoàn cảnh của địa đội dung hoạt động ngoại khóa thường liên quan với Thông qua s tham gia tích c c ực đối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ực đối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc
v o các ho t à phù hợp với hoàn cảnh của địa ạt động ngoại khóa thường liên quan với đội dung hoạt động ngoại khóa thường liên quan với ng ngo i khóa, ng ạt động ngoại khóa thường liên quan với ường liên quan với ọc tập trong chương trình và phù hợp với hoàn cảnh của địa i h c bi t v n d ng nh ng tri th c ã ết thực đối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ập trong chương trình và phù hợp với hoàn cảnh của địa ục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa có ững tri thức đã ứa tuổi của HS tham gia hoạt động đ
h c ọc tập trong chương trình và phù hợp với hoàn cảnh của địa đểm tâm sinh lí lứa tuổi của HS tham gia hoạt động ảnh của địa gi i quy t nh ng v n ết thực đối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ững tri thức đã ấn đề do thực tiễn đời sống đặt ra, biết điều đ do th c ti n ực đối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ễn đời sống đặt ra, biết điều đờng liên quan với ối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc i s ng đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của HS tham gia hoạt động t ra, bi t i u ết thực đối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc đ
ch nh h nh vi, à phù hợp với hoàn cảnh của địa đạt động ngoại khóa thường liên quan với đứa tuổi của HS tham gia hoạt động o c, l i s ng cho phù h p, bi t n m b t nh ng v n ối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ợp với hoàn cảnh của địa ết thực đối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ắm bắt những vấn đề ắm bắt những vấn đề ững tri thức đã ấn đề do thực tiễn đời sống đặt ra, biết điều đ nóng b ng c a th i ỏng của thời đại Bằng cách đó, người học rèn luyện cho mình ủa địa ờng liên quan với đạt động ngoại khóa thường liên quan với i B ng cách ó, ng ằng cách đó, người học rèn luyện cho mình đ ường liên quan với i h c rèn luy n cho mình ọc tập trong chương trình và phù hợp với hoàn cảnh của địa ệc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc
nh ng k n ng giao ti p, k n ng ng x có v n hóa, nh ng thói quen trong ững tri thức đã ĩa thiết thực đối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ăng và thái độ Thông qua sự tham gia tích cực ết thực đối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ĩa thiết thực đối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ăng và thái độ Thông qua sự tham gia tích cực ứa tuổi của HS tham gia hoạt động ử có văn hóa, những thói quen trong ăng và thái độ Thông qua sự tham gia tích cực ững tri thức đã
h c t p, lao ọc tập trong chương trình và phù hợp với hoàn cảnh của địa ập trong chương trình và phù hợp với hoàn cảnh của địa đội dung hoạt động ngoại khóa thường liên quan với ng, k n ng t ch c, k n ng ho t ĩa thiết thực đối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ăng và thái độ Thông qua sự tham gia tích cực ổi của HS tham gia hoạt động ứa tuổi của HS tham gia hoạt động ĩa thiết thực đối với việc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ăng và thái độ Thông qua sự tham gia tích cực ạt động ngoại khóa thường liên quan với đội dung hoạt động ngoại khóa thường liên quan với ng nhóm …Với những ới V i nh ng ững tri thức đã
kh n ng trên, vi c t ch c các ho t ảnh của địa ăng và thái độ Thông qua sự tham gia tích cực ệc thực hiện các mục tiêu dạy học, đặc ổi của HS tham gia hoạt động ứa tuổi của HS tham gia hoạt động ạt động ngoại khóa thường liên quan với đội dung hoạt động ngoại khóa thường liên quan với ng ngo i khóa có tác d ng r t l n ạt động ngoại khóa thường liên quan với ục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa có ấn đề do thực tiễn đời sống đặt ra, biết điều ới trong giáo d c v BKH nh tr ục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa có ĐBKH ở nhà trường phổ thông ở nhà trường phổ thông à phù hợp với hoàn cảnh của địa ường liên quan với ng ph thông ổi của HS tham gia hoạt động
Hộp thông tin số 1.3 Các hình thức hoạt động ngoại khóa GDBĐKH
Ngoại khóa nhận thức
Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về BĐKH
Tổ chức thi sáng tác văn thơ, thi hung biện, thi vẽ tranh…về chủ đề BĐKH
Tổ chức các cuộc nói chuyện, giao lưu, với chuyên gia về BĐKH
Tổ chức triển lãm, chiếu phim về BĐKH
Ngoại khóa truyền thông
Tổ chức các cuộc thi sáng tạo các ấn phẩm truyền thông về BĐKH
Tổ chức tập huấn và thi cán bộ truyền thông về BĐKH
Xây dựng các câu lạc bộ, đội, nhóm hành động vì BĐKH
Xây dựng trang thông tin định kì và bảng tin về BĐKH
Ngoại khóa hành động
Tham quan tìm hiểu tình hình BĐKH tại địa phương
Các chiến dịch làm sạch môi trường học đường và địa phương
Nghiên cứu các giải pháp, thu gom, phân loại và tái chế rác, tiết kiệm năng lượng,
Giúp đỡ nhân dân địa phương trồng, chăm sóc rừng, cải tạo đất đai, nguồn nước
Tổ chức quyên góp vật phẩm ủng hộ các địa phương chịu tác động của thiên tai
Tổ chức các buổi giao lưu, thi đấu thể thao hưởng ứng phòng trào hành động vì BĐKH
Trang 24III GDBĐKH cho HS THCS thông qua môn Địa lí và phương pháp DHDA với sự hỗ trợ của Internet.
1 Phương pháp dạy học dựa trên dự án
1.1 Khái niệm dạy học dự án
Có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về dạy học theo dự án DHDAđược nhiều tác giả coi là một hình thức dạy học vì khi thực hiện một dự án, có nhiềuphương pháp cụ thể được sử dụng Tuy nhiên khi không phân biệt rạch ròi giữahình thức và phương pháp dạy học, người ta có thể gọi nó là phương pháp dự án,nhưng trong trường hợp này cần hiểu đó là phương pháp dạy học theo nghĩa rộng,một phương pháp dạy học phức hợp
Có thể hiểu dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế họach, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Làm việc nhóm là hình thức cơ bản của DHDA.
Định nghĩa này được tôi chính thức sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tàicủa mình
1.2 Những đặc trưng quan trọng của dự án
Trong các tài liệu về dạy học dự án có rất nhiều đặc điểm được đưa ra Cácnhà sư phạm Mỹ đầu thế kỷ 20 khi xác lập cơ sở lý thuyết cho phương pháp này đãnêu ra 3 đặc điểm cốt lõi của DHDA: định hướng HS, định hướng thực tiễn và địnhhướng sản phẩm
Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của
thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Các dự án họctập, nhờ đó góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xãhội Trong những trường hợp lý tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lạinhững tác động xã hội tích cực
Trang 25Định hướng người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù
hợp với khả năng và hứng thú cá nhân Trong quá trình thực hiện dự án có sự kếthợp giữa nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết vào trong hoạt động thực tiễn,thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lí thuyết cũng nhưrèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học Trong DHDA,người học cần tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học.Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làmviệc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm DHDA đòi hỏi vàrèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia,giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án
Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được
tạo ra Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lí thuyết, màtrong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạtđộng thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu
Từ những đặc trưng nêu trên, chúng ta thấy DHDA là phương pháp có rấtnhiều ưu điểm, cụ thể là:
Gắn lí thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội;
Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học;
Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm;
Phát triển khả năng sáng tạo;
Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp;
Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn;
Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc;
Phát triển năng lực đánh giá
Tuy vậy, phương pháp này cũng còn một số hạn chế nhất định:
DHDA không phù hợp trong việc truyền thụ tri thức lí thuyết mang tínhtrừu tượng, hệ thống cũng như rèn luyện hệ thống kĩ năng cơ bản;
Trang 26 DHTDA đòi hỏi nhiều thời gian Vì vậy DHDA không thay thế chophương pháp thuyết trình và luyện tập, mà là hình thức dạy học bổ sungcần thiết cho các phương pháp truyền thống
DHDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp
1.3 Các hình thức cơ bản của dạy học theo dự án
DHDA có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau Sơ đồ dướiđây trình bày một số cách phân loại DHDA:
Hình 1.1: Sơ đồ phân loại dạy học dự án
1.4 Tiến trình tổ chức DHDA
Có nhiều cách xây dựng tiến trình thực hiện dự án khác nhau, nhìn chung cóthể tiến hành theo ba giai đoạn sau:
Kích thích, dẫn dắt HS đi đến ý tưởng dự án Cần tạo ra một tình huống
xuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đóchú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống Cần chú ý đếnhứng thú của người học cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài GV có thể giới thiệumột số hướng đề tài để HS lựa chọn và cụ thể hoá Trong trường hợp thích hợp,sáng kiến về việc xác định đề tài có thể xuất phát từ phía HS
Tổ chức để HS lập và thực hiện kế hoạch dự án Trong giai đoạn này
những công việc của GV và HS sẽ là:
Trang 27HS với sự hướng dẫn của GV xây dựng đề cương cũng như kế hoạch choviệc thực hiện dự án Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việccần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân côngcông việc trong nhóm.
Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cánhân Trong giai đoạn này HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thựctiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Kiến thức
lí thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn GV luônluôn quan sát, hỗ trợ, khuyến khích HS hoàn thành các nhiệm vụ của dự án
Hỗ trợ HS đánh giá dự án Đến đây, GV hướng dẫn HS thu thập kết quả
và công bố sản phẩm dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú Tổ chức đánh giábao gồm việc HS tự đánh giá hoạt động của các em, các nhóm đánh giá lẫn nhau kếthợp với đánh giá của GV và bên ngoài Trong DHDA, chú ý nhiều hơn đến đánhgiá quá trình vì vậy giai đoạn này cũng là lúc GV đưa ra những tổng kết cho toàn bộtiến trình dự án
Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối Trongthực tế chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cầnđược thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án Với những dạng dự án khácnhau có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án
Tóm lại, DHDA là một hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểmdạy học định hướng vào người học, quan điểm dạy học định hướng hoạt động vàquan điểm dạy học tích hợp DHDA góp phần gắn lí thuyết với thực hành, tư duy vàhành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực làmviệc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thầntrách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học
2 Sử dụng phương pháp dự án để GDBĐKH trong môn Địa lí ở nhà trường phổ thông.
Một câu hỏi được đặt ra là: Sử dụng phương pháp DHDA như thế nào trongmôn Địa lí để GDBĐKH đạt hiệu quả cao? Để tìm câu trả lời cần phải phân tích
Trang 28mối quan hệ giữa 3 yếu tố của quá trình này gồm: GDBĐKH, phương pháp DHDA
và môn Địa lí
Trong hệ thống các môn học ở nhà trường phổ thông thì Địa lí là môn cónhiều ưu thế nhất khi tích hợp kiến thức về GDBĐKH Bởi, các kiến thức địa lí gắnliền với kiến thức BĐKH, từ biểu hiện, nguyên nhân cho đến hậu quả đều có thểlàm rõ nhờ kiến thức địa lí tự nhiên và KT – XH HS cần được cung cấp những kiếnthức cơ bản về Địa lí trước khi các em tìm hiểu về BĐKH Ví dụ, các em không thểhiểu được nguyên nhân gây hiệu ứng nhà kính nếu không được học về nhiệt độkhông khí và quá trình cân bằng nhiệt của trái đất, các chất khí nhà kính trong khíquyển…
Khí hậu là đối tượng nghiên cứu của khoa học Địa lí nói chung và môn Địa línói riêng Khoa học Địa lí nhấn mạnh đến mối quan hệ tác động qua lại giữa cácthành phần của môi trường, trong đó sự thay đổi của khí hậu sẽ kéo theo sự thay đổicủa hàng loạt các yếu tố còn lại Chỉ với đặc trưng này đã cho thấy cần thiết phảidạy môn Địa lí trước khi dạy về BĐKH
Hơn nữa, môn Địa lí trong nhà trường phổ thông giúp HS tìm hiểu về nhữngvấn đề tự nhiên, KT – XH trên phạm vi toàn cầu, đến các khu vực, các nước trên thếgiới và cuối cùng là Việt Nam Trong khi đó quan niệm đúng đắn về nhận thứcBĐKH là “tư duy toàn câu hành động địa phương” Rõ ràng có mối liên hệ khăngkhít giữa môn Địa lí và GD BĐKH
Môn Địa lí có nhiều thuận lợi hơn cả khi áp dụng phương pháp dạy học
dựa trên dự án vì: Thứ nhất, đặc điểm nổi bật của phương pháp DHDA là tính định
hướng thực tiễn và có ý nghĩa thực tiễn xã hội, điều này phù hợp với môn Địa lí đặcbiệt là Địa lí KT – XH bởi nó đề cập đến những sự vật, hiện tượng diễn ra trong
chính cuộc sống hàng ngày của HS Thứ hai, Địa lí là môn học tổng hợp sẽ là rất
phù hợp khi DHDA cần đảm bảo tính phức hợp, kết hợp nhiều lĩnh vực ,nhiều khíacạnh khác khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề
Phương pháp DHDA đảm bảo thực hiện có hiệu quả tất cả những mục tiêu
và định hướng của GDBĐKH DHDA là phương pháp được xây dựng dựa trên tiếp
Trang 29cận trải nghiệm, tiếp cận khoa học; định hướng thực tiễn và có ý nghĩa thực tiễn xãhội là những đặc trưng cơ bản nhất của phương pháp này Vì vậy, phương pháp dự
án giúp phát huy tối đa năng lực của người học, trang bị những kĩ năng cần thiết để
có thể thích nghi với thực tế cuộc sống nhiều biến động
3 Sử dụng Internet để tổ chức các hoạt động GDBĐKH trong dạy học Địa lí lớp 6 - THCS
3.1 Dạy học với Inetnet là một bộ phận của E – Learning
a Định nghĩa E – Learning (Giáo dục điện tử)
E-learning (viết tắt của Electronic Learning) là thuật ngữ mới Hiện nay, tùytheo quan điểm và hình thức thể hiện có khá nhiều cách hiểu về E-learning
Hiểu theo nghĩa rộng, E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc họctập, đào tạo dựa trên CNTT & TT, đặc biệt là CNTT
Theo quan điểm hiện đại, E-learning là sự chuyển tải các nội dung học sửdụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mang Internet,Intranet,… trong đó nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băngvideo, audio… thông qua một máy tính hay TV; người dạy và người học có thể giaotiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: E-mail, thảo luận trực tuyến (chat),diễn đàn (forum), hội thảo video… Có hai hình thức giao tiếp giữa người dạy vàngười học: giao tiếp đồng bộ (Synchronous) và giao tiếp không đồng bộ
(Asynchronous) Giao tiếp đồng bộ là hình thức giao tiếp trong đó có nhiều người
truy cập mạng tại cùng một thời và trao đổi thông tin trực tiếp với nhau như: thảoluận trực tuyến, hội thảo video, nghe đài phát sóng trực tiếp, xem tivi phát sóng trực
tiếp… Giao tiếp không đồng bộ là hình thức mà những người giao tiếp không nhất
thiết phải truy cập mạng tại cùng một thời điểm, ví dụ như: các khoá tự học quaInternet, CD-ROM, e-mail, diễn đàn Đặc trưng của kiểu học này là giảng viên phảichuẩn bị tài liệu khoá học trước khi khoá học diễn ra Học viên được tự do chọn lựathời gian tham gia khoá học
Trang 30b Vai trò của Internet trong E – Learning
E - learning là dịch vụ được cung cấp dựa trên nền tảng Internet Cũng có thểhiểu Internet là một công cụ để thực hiện E – learning Vào năm 2006, Hội đồngnghiên cứu E-Learning Hoa Kỳ (Sloan Consortium) đã đưa ra một phân loại các lớphọc như bảng sau Các lớp học có áp dụng công nghệ Internet ở các m c C v D ứa tuổi của HS tham gia hoạt động à phù hợp với hoàn cảnh của địa
c coi l nh ng l p h c E-Learning.
đượp với hoàn cảnh của địa à phù hợp với hoàn cảnh của địa ững tri thức đã ới ọc tập trong chương trình và phù hợp với hoàn cảnh của địa
Nhóm truyền tải qua Internet Tỷ lệ nội dung được Phân loại lớp học Mô tả
Sử dụng công nghệ Internet để đăng tải học liệu như đề cương, bài tập, bài giảng Học viên và thầy gặp gỡ trực tiếp (mặt giáp mặt)
D
08% +
Trực tuyến (Online)
Tất cả nội dung trên Internet; không có gặp mặt trực tiếp
Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại lớp học E – learning
3.2 Internet: công cụ giáo dục và dạy học trong nhà trường phổ thông
Bruce và Levin (1997) cho rằng Internet còn được xem như là một công cụhữu hiệu của dạy học với khả năng tác động đến giáo dục và dạy học ở những khíacạnh khác nhau, cụ thể là:
thông tin thích hợp cho một công việc, việc làm để hiểu được những thông tin vềcác nguồn lực có liên quan tới công việc thế nào, và nếu có thể được áp dụng sựhiểu biết trong một cách thức sản xuất Internet nâng cao kiến thức của HS truy cậpvào các nguồn dữ liệu từ bên ngoài bao gồm các chuyên gia trong lĩnh vực, cũngnhư tương tác trực tiếp với họ Do đó, tiếp xúc với thực tế đời sống của bối cảnh
Trang 31bên ngoài, đào tạo các HS đối mặt với những bất trắc của công việc luôn thay đổicủa thế giới
truyền thông, Internet là một công cụ nhanh vượt trội để thiết lập mối liên lạc.Những thông tin liên lạc bao gồm đồng bộ và không đồng bộ với hình thức như e-mail, danh sách gửi thư, tin tức, trò chuyện và hội thoại video Các giao tiếp tươngtác giữa HS với các chuyên gia ở những khoảng cách xa về Địa lí , khác biệt vềvăn hóa và truyền thống ; giữa GV nơi này có điều kiện để liên hệ với các GV
ở nơi khác
khuyến khích hoạt động học tập cho HS, tạo nên một khung sườn giống như hoạt động trong thực tế Qua các hoạt động này trên Internet sẽ giúp phát triển kĩ năng
tư duy bậc cao cho HS Ví dụ: HS có thể trình bày, minh chứng sự hiểu biết về cáckhái niệm đã được tiếp thu của mình thông qua việc xây dựng và tham gia pháttriển các sản phẩm như các trang web Trong các hoạt động đó, HS sẽ tự điều chỉnhkiến thức của cá nhân theo tiến trình trao đổi, rút ra kinh nghiệm và tiến bộ vềchuyên môn theo mỗi một phương thức rất riêng của cá nhân
3.3 Ý nghĩa của việc sử dụng công cụ Internet trong giáo dục và dạy học
a Internet có một sức mạnh to lớn, góp phần phát triển động cơ, hứng thú học tập của HS Với ưu thế của một nguồn thông tin khổng lồ, đầy màu sắc, sống động,
phản ánh sự đa dạng của thế giới, internet kích thích ở HS sự tò mò và ham muốntìm tòi nghiên cứu Đối với cá nhân và các nhóm HS khi độc lập giải các bài tậpnhận thức hay thực hiện các dự án thì internet chẳng những là nguồn tài liệu khổng
lồ, quý giá có thể khai thác được mà còn là nơi các có thể công bố kết quả học tậpnghiên cứu của mình Hơn nữa, HS có thể sử dụng Internet để tiến hành các cuộcđiều tra nghiên cứu khi HS sử dụng thư điện tử để thu thập, trao đổi ý kiến với bạn
bè, GV, chuyên gia về đề tài mà họ cần phải tìm hiểu ( điều tra, phỏng vấn qua thưđiện tử ).Như vậy, internet có khả năng tạo ra các động lực mạnh mẽ kích thích học
Trang 32sinh tích cực, độc lập làm việc Để tạo ra những động lực như vậy trong các giờ họcbình thường GV phải sử dụng các kĩ thuật và những hình thức tổ chức tốn kém thời gian.
b Internet cung cấp khối lượng thông tin khổng lồ, phong phú cho dạy học Với
các kĩ năng cơ bản về sử dụng internet GV và HS có thể khai thác từ internet mộtkhối lượng thông tin khổng lồ không chỉ dưới các văn bản mà còn có hình ảnh ( đentrắng, màu, động và không động ) và âm thanh…nhằm phục vụ cho các mục đíchkhác nhau của việc học tập nghiên cứu
Với tư cách là một “thư viện ảo” khổng lồ, tiện dụng, nơi mà GV và HS cóthể nhận được rất nhanh chóng những thông tin phong phú, cập nhật chính xác,nhiều màu sắc, nếu họ được tiếp cận, biết sử dụng và khai thác thông tin từ Internet
Có thể nói không có SGK nào và thư viện nào có thể cung cấp thông tin một cáchnhanh và cập nhật như Internet Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với GV mà với
cả HS Với nguồn tư liệu phong phú, cập nhật hóa, việc chuẩn bị bài lên lớp, việcsoạn thảo phiếu học tập cho HS, việc chuẩn bị các hồ sơ dạy học của GV sẽ thuậntiện hơn và nhanh chóng hơn Nhờ Internet HS có thể tìm được những thông tin bổsung có giá trị để hiểu sâu sắc thêm bài học, để hoàn thành các bài tập ở nhà và đặcbiệt để hoàn thành các báo cáo do HS độc lập hoàn thành hoặc phối hợp với các bạntrong một nhóm
c Internet tạo điều kiện thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học Khi sử dụng
Internet như một phương tiện dạy học hiện đại thì việc dạy học cần được tổ chứctheo các quan điểm mới với những hình thức tổ chức và phương pháp mới thíchhợp Để sử dụng có hiệu quả Internet cần tổ chức các giờ học Địa lí theo quan điểmkiến tạo và hoạt động hóa người học Theo chiến lược dạy học kiến tạo, cần thiếtthiết lập những bài toán nhận thức, những vấn đề chứa đựng những tình huống códụng ý sư phạm để người học học tập trong hoạt động, học tập bằng thích nghi vàđạt được những thành quả mong muốn Ở đây, người thầy đảm nhiệm các chứcnăng của người thiết kế, ủy nhiệm, điều khiển và thể chế hóa các hoạt động nhậnthức của HS Nói cách khác đây là dạy học Địa lí theo kiểu “ thầy thiết kế - trò thicông”
Trang 33Dạy học theo quan điểm nêu trên thể hiện rất rõ khi GV tổ chức cho HS thựchiện các dự án Phương pháp học tập này đòi hỏi HS phải biết kết hợp làm việc độclập của cá nhân với làm việc tập thể chung toàn nhóm Lớp học được tổ chức thànhcác nhóm nhỏ (từ 3-5 học sinh) và các nhóm sử dụng máy tính có kết nối vớiInternet để hoàn thành một đề tài (một nhiệm vụ học tập) nhất định, trong mộtkhoảng thời gian nhất định dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ của GV Các thành viên trongnhóm phải tìm kiếm thông tin, lựa chọn, xử lí, đánh giá và kiểm định các thông tintìm kiếm được với tinh thần trách nhiệm chung Rõ ràng đây là cách tổ chức dạyhọc theo quan điểm hướng về HS (lấy HS làm trung tâm), tạo cho HS nhiều cơ hội
để làm việc, để hành động trong sự tương tác mạnh mẽ với các thành viên trongcùng một nhóm nhằm thực hiện cho được của những cam kết Khả năng khác nhaucủa các thành viên của nhóm được sử dụng và năng lực làm việc nhóm của cácthành viên sẽ được rèn luyện và nâng cao Sự thi đua thật sự giữa các nhóm nhỏ cóthể phát triển trong các pha đánh giá và tổng hợp của dự án
Như vậy, Việc sử dụng Internet trong những hình thức dạy học thích hợp cóthể tạo nên những đóng góp quan trọng đối với việc thực hiện các mục tiêu học tập như :
Nâng cao động cơ, hứng thú học tập
Tăng cường tiến bộ và năng lực học tập
Tăng cường khả năng liên kết trong lĩnh vực viết và nói
Tăng cường và nâng cao năng lực hành động nhờ liên tục xử lí, gia côngcác kiến thức thu nhận được
Tăng cường và nâng cao khả năng làm việc độc lập và làm việc nhóm
Tăng cường và nâng cao trách nhiệm của bản thân và trách nhiệm chungtrong quá trình học tập
3.4 Khả năng sử dụng Internet để tổ chức GDBĐKH
3.4.1 Các trang web về BĐKH và GDBĐKH
Các website có nội dung liên quan đến BĐKH rất phong phú (phụ lục?).
Theo một thống kê sơ bộ, chỉ riêng ở Việt Nam đã có hơn 30 trang có nội dungBĐKH và giáo dục về BĐKH Đây là nguồn tài nguyên hết sức quan trọng và có
Trang 34giá trị đối với quá trình GDBĐKH cho HS ở nhà trường phổ thông Tuy nhiên,không phải tất cả các trang web đều có thể sử dụng để GDBĐKH trong nhà trườngphổ thông Vì vậy, những trang web thích hợp dựa theo những tiêu chí cơ bản sau:
Hộp thông tin số 1.4 Tiêu chí đánh giá trang website
Về nội dung
Độ chính xác
Thông tin chính xác
Thông tin phổ biến
Được cập nhật thường xuyên
Thông tin được cập nhật mới nhất
Thông tin khách quan được trình bày một cách có cân nhắc
Quan điểm và hình ảnh không xuyên tạc
Sử dụng đúng văn phạm chính tả và cấu trúc ngữ pháp
Nội dung của đường link phải có liên quan, đáng tin cậy, phù hợp
Tài liệu tham khảo đáng tin cậy
Ý kiến của giới chuyên môn về tác giả, người thiết kế
Danh tiếng của trang chủ
Sự phù hợp
Khái niệm và từ ngữ phù hợp với khả năng nhạn thức của học sinh
Thông tin phù hợp với nội dung khóa học, dự án,
Sự tác động qua lại phù hợp với sự phát triển trí tuệ và thể chất của những người xemđược định trước
Phạm vi kiến thức
Thôn tin được cung cấp bao trùm những chủ đề dành cho đối tượng học sinh cụ thể
Sự phát triển chủ đề hợp lý trong phạm vi trang gốc (trang đang đươc đánh giá) vànhững link tham khảo khác
Thông tin cung cấp không được truy cập dễ dàng từ nguồn khác
Về kĩ thuật
Sự điều hướng
Có thể truy cập dễ dàng vào trang đó; trang không bị quá tải
Hình ảnh được tải về trong một khoảng thời gian hợp lý
Những đường liên kết nội bộ dễ dàng truy cập trong trang đó
Định dạng đa phương tiện chuẩn
Có thể chọn tải về hoặc in toàn bộ hay là một phần của bài văn hay là đồ họa
Những hình ảnh, nghệ thuật không chỉ có trang trí mà con có chức năng nhất định
Thông tin được thể hiện thông qua văn bản cả hình ảnh, âm thanh, chuyển động
Thông tin làm kích thích trí tưởng tượngsự tò mò của người đọc
Những sản phẩm dành cho quảng cáo không chiếm đa số
Nguồn: Laxman Mohanty và Neharika Vohra (2006), trang 138 – 140
Trang 353.4.2 WebQuest
WebQuest là một phương pháp dạy học, trong đó HS tự lực thực hiện trongnhóm một nhiệm vụ về một chủ đề phức hợp, gắn với tình huống thực tiễn Nhữngthông tin cơ bản về chủ đề được truy cập từ những trang liên kết (Internet links) do
GV chọn lọc từ trước Việc học tập theo định hướng nghiên cứu và khám phá, kếtquả học tập được HS trình bày và đánh giá
Cùng với việc ra đời và phổ biến của Internet, ngày nay việc thu thập và xử
lý thông tin trên mạng là một kĩ năng cần thiết trong nghiên cứu và học tập cũngnhư trong lao động nghề nghiệp Việc ứng dụng CNTT và sử dụng Internet trongdạy học ngày càng trở nên quan trọng Tuy nhiên, việc HS truy cập thông tin mộtcách tự do trên mạng Internet trong dạy học có những nhược điểm chủ yếu là:
Việc tìm kiếm thường kéo dài vì lượng thông tin trên mạng lớn
Dễ bị chệch hướng khỏi bản thân đề tài
Nhiều tài liệu được tìm ra với nội dung chuyên môn không chính xác, cóthể dẫn đến “nhiễu thông tin”
Chi phí thời gian quá lớn cho việc đánh giá và xử lý những thông tintrong dạy học
Việc tiếp thu kiến thức qua truy cập thông tin trên mạng có thể chỉ mangtính thụ động mà thiếu sự đánh giá, phê phán của người học
Để khắc phục những những nhược điểm trên đây của việc học qua mạng,người ta đã phát triển phương pháp WebQuest Năm 1995 Bernie Dodge ở trườngđại học San Diego State University (Mỹ) đã xây dựng Webquest trong dạy học Cácđại diện tiếp theo là Tom March (Úc) và Heinz Moser (Thụy Sĩ) Ý tưởng của họ làđưa ra cho HS một tình huống thực tiễn có tính thời sự hoặc lịch sử, dựa trên cơ sởnhững dữ liệu tìm được, HS cần xác định quan điểm của mình về chủ đề đó trên cơ
sở lập luận HS tìm được những thông tin, dữ liệu cần thiết thông qua những trangkết nối Internet links đã được GV lựa chọn từ trước
WebQuest có thể được chia thành các WebQuest lớn và các WebQuest nhỏ:
Trang 36 WebQuest lớn: Xử lý một vấn đề phức tạp trong một thời gian dài (ví dụ
cho đến một tháng), có thể coi như một dự án dạy học
WebQuest nhỏ: Trong một vài tiết học (ví dụ 2 đến 4 tiết), HS xử lý một đề
tài chuyên môn bằng cách tìm kiếm thông tin và xử lý chúng cho bài trình bày, tức
là các thông tin chưa được sắp xếp sẽ được lập cấu trúc theo các tiêu chí và kết hợpvào kiến thức đã có trước của các em
WebQuest có thể được sử dụng ở tất cả các loại hình trường học Điều kiện
cơ bản là HS phải có kỹ năng đọc cơ bản và có thể tiếp thu, xử lý các thông tin dạngvăn bản Bên cạnh đó, HS cũng phải có những kiến thức cơ bản trong thao tác vớimáy tính và internet WebQuest có thể sử dụng trong mọi môn học Ngoài ra,WebQuest rất thích hợp cho việc dạy học liên môn
3.4.3 Sử dụng công cụ giao tiếp trên Internet
Các công cụ giao tiếp mạng mở rộng một cách nhanh chóng quy mô củacộng đồng mà HS có thể giao tiếp Thông qua thư điện tử (Email), trò chuyện(chat), tin nhắn tức thời (instant messaging), thăm dò ý kiến qua mạng (onlinesurvey) và giao thức truyền thanh mạng (VoIP), GV và HS có thể thảo luận, chia sẻ
ý kiến với các bạn đồng trang lứa hay các chuyên gia trên khắp thế giới HS có thể
sứ dụng các công cụ giao tiếp trên mạng để:
Giao tiếp với những người khác bên ngoài lớp học
Nhận thông tin phản hồi và sản phẩm của các em
Làm việc dự án theo nhóm và theo cặp với thời gian thực
Tham gia thao luận tương tác
Thực hành ngôn ngữ viết
Thực hành ngôn ngữ nói
Chia sẻ các thông tin dạng văn bản, tài liệu và các tài nguyên khác
Thu thập thông tin từ nhiều cá nhân
Trang 37TT Công cụ Chức năng Phục vụ dạy học
- Thảo luận, trao đổi trực tuyếntheo cặp, nhóm
- Theo dõi, quản lí tiến độ họctập, thực hiện dự án
- Thảo luận, trao đổi, phân tíchsản phẩm trực tuyến
4 Online survey
(thăm dò ý kiến
trên mạng)
Cho phép tập hợp và phân tích dữliệu bằng cách đưa các câu hỏi lênmạng
- Khảo sát, thăm dò thực trạng,nhu cầu người học
- Đánh giá kết quả thông quakhảo sát người học khi kết thúc
- Thảo luận trao đổi nhóm trựctuyến
- Tổ chức tọa đàm, hội thảo
Bảng1.2: Các công cụ giao tiếp trên Internet và chức năng phục vụ dạy học
3.4.5 sử dụng các công cụ để phản ánh và theo dõi các năng lực hợp tác.
GV có thể sử dụng những công cụ trực tuyến để giúp HS làm việc cộng táctrong quá trình học tập hay thực hiện dự án HS có thể sử dụng những công cụ họctập trực tuyến để:
Chia sẻ suy nghĩ về bài học, dự án với những người khác
Chia sẻ những liên kết trang web
Mời cho ý kiến và phản hồi ý kiến cho người khác
Bổ sung, chỉnh sửa nội dung cho những người khác
Tạo các trang web có nhiều lớp
Tạo các văn bản nối tiêp nhau như nhật ký học tập
Một số công cụ cộng tác trực tuyến thường được sử dụng phổ biến trong dạyhọc đặc biệt là DHDA:
Trang 38Blogs là tên viết tắt của weblogs, blog được dùng để chia sẻ thông tin và ýkiến với người đọc cũng như thu thập thông tin phản hồi và thảo luận Blog thường
có dạng nhật ký và được cập nhật thông tin thường xuyên Blog dùng để đăng tải
nhật kí, liệt kê các nguồn nghiên cứu, ghi chép lại bài học, thu thập ý kiến phản hồi,thảo luận về các vấn đề liên quan đến đề tài
Wiki là các trang web cộng tác được cài đặt sao cho nó có thể được chỉnh sửa
bởi bất kỳ ai hoặc chỉ bởi những người sử dụng được chỉ định Người tạo wiki cóthể nhận được thông báo về tất cả những thay đổi, và có thể dò tìm và theo dõi sựphát triển của nội dung trang
biên tập văn bản hay bảng tính
Các trang web cộng tác cho phép các cá nhân tạo hoặc tải tài liệu lên trangweb Sau đó, tùy vào việc được cấp phép, các cá nhân có thể biên tập các tài liệubằng cách sử dụng các công cụ định dạng quen thuộc Một số trang còn cung cấpchức năng biên tập và tạo các bài thuyết trình và các bảng tính Trong dạy học cáctrang web cộng tác dùng để viết cộng tác, sửa chữa, biên tập, cho và nhận ý kiếnphản hồi từ nhiều người viết, theo dõi sự đóng góp của các tác giả, so sánh các lầnchỉnh sửa khác nhau,
Mạng xã hội, hay gọi là mạng xã hội ảo, (social network) là dịch vụ nối kết
các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khácnhau không phân biệt không gian và thời gian Mạng xã hội có những tính năng nhưchat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ file, blog và xã luận Hiện nay thế giới cóhàng trăm mạng mạng xã hội khác nhau, các trang nổi tiếng MySpace, Facebook,Orkut, Hi5, Friendster, Bebo, CyWorld, Mixi, tại Việt Nam xuất hiện rất nhiều các
mạng xã hội như: Zing Me, YuMe, Tamtay và Go.vn (theo http://vi.wikipedia.org )
Sử dụng các trang mạng xã hội phục vụ mục đích dạy học, đây là một
cách tiếp cận mới nhưng rất hiệu quả, cụ thể:
Trang 39 Mạng xã hội tạo ra phương pháp giao tiếp hoàn toàn mới giữa nhà
trường và gia đình, GV và HS, giữa HS với nhau từ đó rút ngắn khoảng cách và xóa
bỏ những ranh giới, tất cả đều có thể tham gia vào quá trình đào tạo
Tạo cơ hội để nâng cao kiến thức của GV, họ có thể đang tận dụng các
trang xã hội như một cách để chia sẻ, cung cấp nguồn tài nguyên kiến thức cũngnhư hỗ trợ và phản hồi các ý tưởng nhằm phục vụ lợi ích phát triển cá nhân
Đối với HS, mạng xã hội tạo cho các em môi trường học tập tương tác,
nhẹ nhàng và thú vị
Từ những trình bày trên, cho phép đưa ra một số nhận định sau: Internet córất nhiều tiện ích và tác dụng để tổ chức dạy học nói chung và DHDA nói riêng.Điều quan trọng là phải lựa chọn trong số đó những công cụ thích hợp và cóphương pháp sử dụng khi tổ chức các dự án học tập cho HS Trong điều kiện hiện,khi thực hiện các dự án nên khai thác tối đa các trang web có nội dung về BĐKHhay GDBĐKH như là một nguồn thông tin quan trọng Sử dụng phương phápWebquest để tổ hệ thống các trang web này nhằm hỗ trợ HS trong quá trình làm dự
án Sử dụng có hiệu quả các công cụ giao tiếp phổ biến hiện nay như Chat, Email,Blog, Wiki, Facebook thành những kênh liên lạc chính trong dự án Các công cụnày đóng vai trò mà nguồn cung cấp tư liệu cho dư án, GV sử dụng để theo dõi tiến
độ, hỗ trợ HS thực hiện dự án, HS sử dụng để thảo luận, trao đổi với các thành viêntrong nhóm, với GV để giải quyết những nhiệm vụ học tập, sử dụng để trình bày kếtquả dự án
4 Thực trạng của việc sử dụng phương pháp dự án và Internet ở nhà trường THCS trên địa bàn Hà Nội
4.1 Thực trạng của việc sử dụng phương pháp DHDA ở nhà trường THCS trên địa bàn Hà Nội
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là một trong hai địa phương mà GV được tiếp cận sớm nhất với phương pháp DHDA thông qua các chương trình dạy học của Intel và Microsoft Việt Nam
Trang 40Chương trình Đơn vị triển
khai
Năm bắt
Dạy học intel Công ty Intel
Việt Nam và
Bộ Giáo Dục
2003 đến nay
Course Intel Teach to the Future PBL
Intel Teach Getting Start
Intel Teach Essential
Intel Teach Elements
bộ Giáo Dục
2005 đến nay
Chương trình hỗ trợ giáo viên
Giáo viên sáng tạo
Hội thảo đổi mớigiáo dục thế kỉ 21
Đào tạo kỹ năng CNTT cho GV, HS
Ứng dụng CNTT
& TT trong dạy học tích cực
Phương pháp dự án
Bảng1.3 : Các chương trình DHDA có triển khai tại Hà Nội
Đến nay, các chương trình trên đã tập huấn và đào tạo cho hàng nghìn GVtrong cả nước Chương trình dạy học Intel bồi dưỡng được khoảng 8000 GV tại 170trường thuộc 17 tỉnh (2007); Chương trình Partners in Learning có 50 nghìn GV vàhơn 2 triệu HS được tiếp cận với các khóa học (2005 - 2009)
Ở Hà Nội, chương trình Intel với khóa học cơ bản (Intel Teach To The Future), trong 2 năm 2006 – 2007 đã bồi dưỡng được cho 250 GV, đa phần là GV THPT.
Tiếp đó, khóa học khởi đầu (Intel Teach Getting Start) có khoảng 6000 GV
được tham gia tập huấn, tuy nhiên không có nhiều GV THCS Hiện nay khóa học
Intel Teach Essential và Intel Teach Elements chỉ mới được thí điểm ở một vài
trường trong nội thành, cấp THCS có trường TH Quốc Tế Hà Nội Academy (Tây Hồ)
Các chương trình đã mang lại rất nhiều thay đổi trong các trường học trên địabàn cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng Đối với phương pháp DHDA nhữngchương trình trên có đóng góp hết sức to lớn:
Khởi xướng, phát triển và bồi dưỡng năng lực dạy học theo phương pháp dự
án cho GV các trường THCS
Thay đổi cách quản lý dạy học