qua việc điểm lại các công trình thuộc phạm vi đề tài, chúng tôi nhận xét khái quát mấy điểm như sau: (1). Việc sưu tầm và nghiên cứu sử thi ot ndro g đã có những thành tựu to lớn, đóng góp quan trọng vào kho tàng văn hóa dân gian của dân tộc và kho tàng sử thi nhân loại. (2) Sử thi – ot ndro g là một hệ thống tác phẩm quan trọng trong bức tranh thể loại sử thi ở Việt Nam nhưng việc nghiên cứu loại hình này mới đang trong giai đoạn đầu tiên, với một số ít tác giả, tác phẩm và những đóng góp nhất định. (3). Việc giới thiệu lí thuyết Công thức truyền miệng của Parry – Lord ở Việt Nam còn rất ít ỏi, việc nhận thức và vận dụng lí thuyết này hầu như chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt. Chính vì thế, một công trình nghiên cứu về thi pháp sử thi – ot ndro g, vận dụng lí thuyết công thức truyền miệng là một công trình cần thiết. Trên có sở tiếp thu thành tựu lí luận của những nhà phôn-cơ-lo thế giới và những gợi ý của các học giả Việt Nam, chúng tôi tìm hiểu đề tài “Công thức truyền miệng trong sử thi - ot ndro g ”. III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (1) Phương pháp lí thuyết: Vận dụng lí thuyết công thức truyền miệng của M.Parry –A.Lord trong việc khảo sát cấu trúc sử thi Mơ Nông; vận dụng phương pháp hệ thống, với các thao tác thống kê, so sánh các công thức trong hệ thống ot ndrong và sử thi các tộc người khác ở Tây Nguyên; phương pháp phân tích văn học: làm nổi bật giá trị tu từ, khả năng diễn đạt, các biện pháp nghệ thuật và tính thẩm mỹ truyền thống của các công thức diễn đạt trong sử thi Mơ Nông (2) Phương pháp nghiên cứu điền dã (điều tra, quan sát, tham dự diễn xướng ) tìm hiểu sử thi trong mối liên hệ văn bản – bối cảnh và diễn xướng. IV. PHẠM VI TƯ LIỆU Hệ thống sử thi Mơ Nông từ 1990 đến nay đã có hơn 40 tác phẩm ot ndro g được xuất bản, chúng tôi lựa chọn trong đó 7 tác phẩm để khảo sát, làm tư liệu trực tiếp cho đề tài, những tác phẩm khác dùng làm tư liệu so sánh khi cần thiết. Trong hệ thống ot ndro g đã xuất bản có 8 nghệ nhân tham gia hát kể (Điểu Klung, Điểu Klứt, Điểu Kâu, Điểu Plang, Điểu Glơi, Điểu Mpiơih, Me Luynh, Me Jêch) chúng tôi chọn trong cụm các tác phẩm của 7 nghệ nhân, mỗi nghệ nhân một tác phẩm có dung lượng lớn nhất để khảo sát (Nghệ nhân Điểu Kâu cũng có tham gia hát-kể một số tác phẩm nhưng chúng tôi đánh giá ông chủ yếu là nghệ nhân dịch sử thi - ot ndro g nên không chọn tác phẩm của ông). Cụ thể là những tác phẩm của các nghệ nhân sau: 1. Rôch, Rông bắt hồn Lêng – Điểu Plang 2. Thuốc cá ở hồ bầu trời, mặt trăng – Điểu Klung 3. Con hổ cắn mẹ Ro g – Điểu KLứt 4. Cướp chăn lêng của Jrêng, Lêng con Ôt – Điểu Glơi 5. Lùa cây bạc cây đồng - Me Luynh 6. Ting, Ru g chết - Điểu Mpiơih 7. Yang bán Bing con Lông- Me Jêch V. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN - Đối với phương pháp nghiên cứu văn học dân gian: Cung cấp những khái niệm cơ bản của phương pháp nghiên cứu thể loại truyền miệng từ các công thức truyền miệng. - Thực tiễn nghiên cứu thể loại sử thi: Việc nghiên cứu hệ thống công thức truyền miệng của sử thi Mơ Nông (thống kê, mô tả, xây dựng mô hình cấu trúc chung của tác phẩm ) góp phần tìm hiểu những vấn đề bản chất của thể loại: Từ cấu trúc loại hình tự sự, quá trình hình thành văn bản truyền miệng – văn bản in; nghiên cứu mối quan hệ văn bản và nghệ nhân, diễn xướng sử thi Mơ Nông - Đối với thực tiễn đời sống văn hóa – xã hội: Khẳng định giá trị của sử thi Mơ Nông nói riêng và sử thi Tây Nguyên nói chung, vai trò của văn hóa dân gian trong đời sống cộng đồng; vai trò của nghệ nhân, trí thức dân gian trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống văn hóa. VI. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN Luận án có các phần: Phần mở đầu, Phần nội dung, Phần kết luận. Thư mục tham khảo Phần nội dung có 3 chương: Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI VÀ LÍ THUYẾT CÔNG THỨC TRUYỀN MIỆNG Chương 2: CÔNG THỨC TRUYỀN MIỆNG TRONG SỬ THI MƠ NÔNG VỚI VIỆC THỂ HIỆN NỘI DUNG, TƯ TƯỞNG THẨM MỸ THỂ LOẠI Chương 3: VAI TRÒ CỦA CÔNG THỨC TRUYỀN MIỆNG ĐỐI VỚI VIỆC DIỄN XƯỚNG VÀ VỚI QUÁ TRÌNH VĂN BẢN HÓA SỬ THI - OT NDRO|NG THƯ MỤC THAM KHẢO TIẾNG VIỆT
Trang 1I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1 Sử thi là một thể loại giàu giá trị bậc nhất trong kho tàng văn học, văn hóadân gian Việc sưu tầm, nghiên cứu giới thiệu sử thi ở Việt Nam được bắt đầu từnhững năm 20 của thế kỉ XX, với công lao đầu tiên của những người Pháp (năm
1927, công sứ người Pháp – Sabatier – công bố sử thi Dăm Săn bằng tiếng Pháp).
Từ đó, hơn 80 năm qua, những nhà nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian ViệtNam đã không ngừng tìm tòi, phát hiện và nghiên cứu các giá trị của sử thi ở ViệtNam Có nhiều tác phẩm sử thi của nhiều tộc người ở các địa phương (chủ yếu sửthi của các tộc người khu vực Tây Nguyên và một số tác phẩm sử thi của ngườiMường, Thái ) đã được giới thiệu
Những năm gần đây, nhờ sự quan tâm đầu tư của Nhà nước cho Dự án “Điềutra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản Kho tàng sử thi Tây Nguyên” (2001-
2007), số lượng tác phẩm sử thi Tây Nguyên nói chung và sử thi - ot nd ro\ng của
người Mơ Nông nói riêng đã được sưu tầm và giới thiệu Năm 2005, trong báo cáo
Sơ kết ba năm thực hiện Dự án, tác giả Ngô Đức Thịnh đã khẳng định giá trị củanhững di sản văn hoá tinh thần đó: “Ngoài sử thi của các dân tộc Ê Đê, Ba Na đãđược biết đến từ trước thì nay đã phát hiện được sử thi, thậm chí với số lượng lớn
ở các dân tộc Mơ Nông, Raglai, Xtiêng, Xê Đăng, Chăm Hroi, Gia Rai… Đặcbiệt, lần đầu tiên chúng ta phát hiện ra 03 bộ sử thi liên hoàn (sử thi chuỗi, sử thi
phổ hệ) đồ sộ là ot nd ro\ng của người Mơ Nông, Dăm Giông của người Ba Na và Dông của người Xê Đăng, mỗi bộ bao chứa trên dưới 100 tác phẩm Những bộ sử
thi liên hoàn trên sẽ được sưu tầm, bổ sung trong thời gian tới Điều này khiến chocác bộ sử thi kể trên đứng vào loại các bộ sử thi có độ dài nhất thế giới, như
Ramayana của Ấn Độ, Cách Tát Nhĩ (Tây Tạng), Giang Cách Nhĩ (Nội Mông)
…”[TL69]
Sử thi Mơ Nông (người bản tộc gọi là ot nd ro\ng, theo cách sử dụng thuật ngữ kép chỉ thể loại là sử thi - ot nd ro\ng) là một hiện tượng văn hoá nghệ thuật
đặc biệt, trước hết vì khối lượng đồ sộ với trữ lượng hơn 200 tác phẩm, trong đó
đã xuất bản hơn 40 tác phẩm (xem phụ lục 1) Trên cơ sở tư liệu đã công bố,
Trang 2chúng ta có thể nhận thấy đây là một bộ sử thi có cấu trúc đồ sộ bậc nhất ở “vùng
sử thi Tây Nguyên”, bao gồm hàng trăm tác phẩm, kể về hàng trăm sự việc, chiếncông của nhân vật trung tâm Tiăng, trong mối quan hệ với bon Tiăng anh hùng và
hệ thống các nhân vật khác Như vậy, chúng ta có một tập đại thành sử thi Mơ
Nông – ot nd ro\ng khổng lồ, thuật ngữ khoa học gọi là sử thi phổ hệ Đặc biệt,
những tác phẩm trường thiên tự sự đó vẫn được lưu giữ trong “đầu khôn ngườigià”, được diễn xướng trong đời sống cộng đồng, thậm chí những nghệ nhân nổibật như Điểu Klung có thể hát-kể hơn 100 tác phẩm với hàng trăm nghìn câu thơ,nghệ nhân Điểu Klứt có thể hát-kể hơn 20 tác phẩm…
Bên cạnh sự khó khăn của việc lưu giữ,bảo tồn tác phẩm, việc giới thiệu sử thicác tộc người ở Việt Nam với bạn bè quốc tế, thậm chí với ngay cả giới trí thứcViệt Nam, cũng gặp phải nhiều khó khăn ở các phương diện: đánh giá, thẩm địnhcác tác phẩm đó như thế nào? Việc xem một tác phẩm có phải sử thi hay khôngcũng gặp nhiều lúng túng Truyền thống lí luận của các nước phương Tây về thểloại sử thi đã khiến nhiều nhà sưu tầm, nghiên cứu đánh giá dè dặt về những tácphẩm mới được phát hiện ở Tây Nguyên Những quan niệm sử thi của hệ thống líluận, mĩ học phương Tây, về cơ bản được hình thành trên cơ sở tư liệu sử thi cổ
đại Hi Lạp mà cứ mỗi một phát hiện sử thi của thế giới (như Kalêvala của Phần
Lan) thì lại ít nhiều làm thay đổi nhận thức của giới khoa học Lí thuyết về côngthức truyền miệng (Oral-formulaic Theory) xuất hiện ở Mỹ nửa cuối thế kỉ XX,trở thành một trong những lí thuyết hiện đại và được ứng dụng phổ biến vào việckhám phá bản chất của thơ ca truyền miệng, nhất là sử thi, trong đó các khái niệmcông cụ như “công thức truyền miệng – chủ đề - bối cảnh diễn xướng” trở thànhphương tiện quan trọng để tìm hiểu bản chất thẩm mĩ của thể loại, đặc biệt là khámphá quá trình hình thành tác phẩm sử thi truyền miệng như thế nào Trên thực tế,nghệ nhân diễn xướng sử thi sáng tạo nên tác phẩm truyền miệng bằng cách chắpdính những công thức truyền miệng có sẵn trong vốn ngôn từ truyền miệng của tộc
người Do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài “Công thức truyền miệng trong sử thi
-ot ndro\ng”, với mong muốn tìm hiểu đặc điểm cấu trúc văn bản truyền miệng
(oral text) của ot nd ro\ng trong mối quan hệ với bối cảnh (context) của môi
trường diễn xướng sử thi (performing envirement)
Trang 3Năm 2008, Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã phối hợp với Ủy ban Nhân dântỉnh Đắc Lắc tổ chức Hội thảo Quốc tế về sử thi Tham dự Hội thảo có hơn 100 đạibiểu của Việt Nam và 18 đại biểu nước ngoài đến từ Trung Quốc, Đài Loan, Nhật
Bản, Ấn Độ, Thái Lan, Lào Hội thảo đã giới thiệu được với bạn bè quốc tế Kho tàng sử thi Việt Nam đồ sộ với 75 tác phẩm mới in bổ sung vào vốn sử thi của dân
tộc, đồng thời khẳng định vị trí của sử thi Việt Nam nói chung và sử thi TâyNguyên nói riêng trong tổng thể bức tranh sử thi Châu Á cũng như thế giới Do
đó, những công trình nghiên cứu chuyên biệt về thể loại sử thi mang tính cấp thiết,góp phần vào việc tìm hiểu giá trị, phổ biến những thành tựu của các cộng đồngdân tộc Việt Nam đến với những người quan tâm trong và ngoài nước
2 Sử thi là một thể loại được giảng dạy trong trường Đại học và Trung họcphổ thông Nhiều vấn đề của việc nghiên cứu và giảng dạy thể loại này trong nhàtrường đang hướng tới việc tiếp cận các thành tựu của ngành nghiên cứu văn hóa,văn học dân gian Vì thế, việc nghiên cứu đặc điểm của hệ thống thẩm mỹ - côngthức truyền miệng trong sử thi là cách tiếp cận thi pháp học mang tính hệ thống,
nhằm khám phá những giá trị văn học – văn hóa của loại hình ot nd ro\ng Những
kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trong giảng dạy sử thi trong nhà trường
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
1 Lịch sử vấn đề sưu tầm nghiên cứu ot nd ro\ng
Tuy rằng việc sưu tầm, nghiên cứu sử thi ở Việt Nam đã có lịch sử gần một
thế kỉ nay nhưng lịch sử sưu tầm, nghiên cứu sử thi – ot nd ro\ng mới chỉ diễn ra
trong khoảng hai thập kỉ gần đây, đặc biệt mạnh mẽ và sôi nổi trong mười nămđầu thế kỉ XXI Về lịch sử vấn đề sưu tầm và nghiên cứu sử thi Mơ Nông, tác giả
Nguyễn Xuân Kính có bài Nhìn lại quá trính sưu tầm, nghiên cứu sử thi Mơ Nông (Tạp chí Văn hóa dân gian số 4(124) năm 2009 [26/3-19]) Với vai trò một nhà
nghiên cứu văn hóa dân gian, người chủ trì “Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản,biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên” trong 3 năm cuối (2004-2007),người trực tiếp biên tập văn học nhiều sử thi Mơ Nông, tác giả đã có cái nhìn hệthống, mang tính lịch sử về vấn đề sưu tầm, nghiên cứu sử thi Mơ Nông Trong
đó, ở mỗi phần, ông đều có những nhận định, đánh giá khách quan, công bằng, đặcbiệt là nhận định về nghệ nhân, những người sưu tầm, những nhà nghiên cứu
Trang 4Ở đây, chúng tôi không tóm tắt, lặp lại công việc đó mà trên cơ sở thu thập tàiliệu, nghiên cứu thực tế, điền dã, chúng tôi trình bày những vấn đề về lịch sử sưutầm, nghiên cứu sử thi Mơ Nông theo yêu cầu và phạm vi của đề tài.
1.1 Vấn đề sưu tầm sử thi - ot ndro\ng
1.1.1 Việc phát hiện sử thi - ot ndro\ng
Năm 1927, bằng việc công bố cuốn “Dăm Săn” (do Sarbatier, công sứ người
Pháp sưu tầm và dịch sang tiếng Pháp), người Pháp đã đánh dấu một mốc son trêncon đường tìm kiếm, phát hiện sử thi ở Việt Nam, dù rằng lời giới thiệu về tácphẩm có đoạn rất phiến diện “cay đắng thay bằng chứng đầu tiên về văn chươngcủa người Mọi cũng là cái cuối cùng”.Bởi vì, tình hình sưu tầm, công bố tác phẩm
sử thi không dừng lại ở bằng chứng duy nhất đó Bằng những dự cảm khoa họcnhạy bén, năm 1950 G.Condominas đã nhắc tới hình thức kể chuyện của người
Mơ Nông Gar có tên là noo proo, và ông gọi là épopée (anh hùng ca); tác giả Võ
Quang Nhơn (năm 1981) trong luận án về thể loại sử thi anh hùng của các dân tộc
ở Tây Nguyên cũng cho rằng người Mơ Nông có sử thi nhưng tên bản địa của nó
là gì, hình hài của nó ra sao thì ông chưa biết Trong phần viết về thể loại sử thi
anh hùng, ông đã nêu tên hai sử thi Mơ Nông là Đăm Bơri và Chàng Trăng
[58/369] Nhưng đến nay, chúng tôi vẫn chưa thấy tên hai sử thi này trong danhmục sử thi đã công bố hay sưu tầm
Nằm trong “không gian văn hóa–xã hội” (khái niệm của G.Condominas) vùngTây Nguyên, về đại thể tộc người Mơ Nông cũng có những điều tồn tại, phát triểngiống như các tộc người khác và phải chăng sử thi là hiện tượng văn hóa tồn tạitoàn bộ vùng văn hóa Tây Nguyên? Đó là vấn đề trăn trở, tìm tòi của những nhànghiên cứu văn hóa, văn học dân gian, sau khi đã phát hiện và sưu tầm sử thi Ê
Đê, Ba Na, Gia Rai… Đã có nhiều ý tưởng, nhiều chuyến đi thực tế, điền dã đểtìm sử thi của tộc người này Nhưng phải đến cuối năm 1988, một đoàn nghiêncứu văn hóa dân gian (gồm các cán bộ của Viện Văn hoá dân gian - nay là ViệnNghiên cứu văn hoá: Ngô Đức Thịnh, Đỗ Hồng Kỳ, Tô Đông Hải,… và các nhà
khoa học ở địa phương) mới phát hiện ot nd ro\ng - hình thức sử thi của người
Mơ Nông Bằng trực cảm và cách tìm hiểu mang tính kinh nghiệm thực địa, nhà
nghiên cứu Đỗ Hồng Kỳ đã tìm thấy ot nd ro\ng và đoàn nghiên cứu đã ghi âm
Trang 5những tác phẩm ot nrdong đầu tiên Qua bản dịch, cả nhóm nghiên cứu đã xác
định, đó chính là hình thức sử thi của người Mơ Nông Như vậy việc phát hiện,
sưu tầm sử thi ot nd ro\ng ghi công đầu là các cán bộ nghiên cứu của Viện Nghiên
cứu Văn hóa dân gian và một số trí thức địa phương Tác phẩm xuất bản đầu tiên
-Sử thi cổ sơ Mơ Nông- cũng là sự kết hợp của nghệ nhân xuất sắc (Điểu Kâu) và
nhà sưu tầm nghiên cứu đầy tâm huyết, trách nhiệm (Đỗ Hồng Kỳ), mở ra tín hiệuđáng mừng cho việc sưu tầm, công bố sử thi Mơ Nông
Trên cơ sở những phát hiện đầu tiên đó, các nhà nghiên cứu thuộc ViệnNghiên cứu Văn hóa dân gian và nhóm trí thức địa phương tiếp tục công việc điềutra, sưu tầm và những tác phẩm đầu tiên đã được các Sở Văn hóa - Thông tin các
tỉnh công bố, xuất bản: Cây nêu thần (Sở Văn hóa Thông tin Đắc Lắc, 1994), Mùa rẫy bon Tiăng (Sở Văn hóa Thông tin Đắc Lắc, 1996)… Đến năm 1997, trong
Hội thảo khoa học về sử thi Tây Nguyên, ông Nguyễn Thành Chinh, Giám đốc Sởvăn hoá thông tin Đắc Lắc đã vui mừng thông báo việc phát hiện và xuất bản
những tác phẩm ot nd ro\ng đầu tiên “các nghệ nhân cung cấp khoảng tên 10 sử
thi khác nhau nằm trong một chuỗi hệ thống quan hệ lôgíc với nhau… Việc tìmthấy sử thi Mơ Nông đã làm cho các nhà nghiên cứu phôn-cờ-lo vô cùng ngạcnhiên” [56/172]
Nhưng chỉ vài năm sau, nhờ sự quan tâm đầu tư của Nhà nước cho Dự án
“Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên” (từ đây gọi tắt là Dự án), thực hiện trong thời gian 2001 – 2007, số lượng
tác phẩm sử thi Tây Nguyên đã được xuất bản là 75 tác phẩm, trong đó ot nd ro\
ng nói riêng đã được xuất bản 26 tác phẩm trong hàng trăm tác phẩm được ghi âm hát-kể Chúng tôi được biết trong giai đoạn 2008-2010, bộ sách Kho tàng Sử thi Tây Nguyên tiếp tục được giới thiệu thêm 25 tập nữa, trong đó có một số ot ndro\
ng (xem phụ lục 1) Những thành tựu sưu tầm, công bố sử thi Tây Nguyên ghi
nhận công lao rất lớn của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (đơn vị thực hiện chủyếu là Viện Nghiên cứu Văn hóa), Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam và sở Vănhóa Thông tin các tỉnh Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, Nam Bộ Bên cạnh đó lànhững đóng góp to lớn của các nghệ nhân như Điểu Mpiơih, Điểu Kâu, Điểu Klưt,
Trang 6Điểu Klung - những “báu vật sống” đã giữ gìn vốn ot nd ro\ng của người Mơ
Nông
1.2 Vấn đề nghiên cứu sử thi - ot ndro\ng
1.2.1 Những công trình nghiên cứu về sử thi – ot nd ro\ng
Một trong những tác giả hàng đầu, chuyên sâu nghiên cứu sử thi nói riêng vàvăn học, văn hóa dân gian người Mơ Nông nói chung là ông Đỗ Hồng Kỳ Quá
trình nghiên cứu sử thi – ot nd ro\ng của ông là hệ quả tất yếu của việc phát hiện
ra hệ thống ot nd ro\ng vào năm 1988 và là kết quả của những năm tháng miệt
mài, say mê điền dã, “ăn rừng” cùng với những người Mơ Nông
Kết quả của quá trình điền dã, nghiên cứu thực tế đã được ông công bố tronghàng chục bài báo khoa học, các cuốn sách chuyên đề và công trình luận án Phó
Tiến sĩ Các tác phẩm đáng chú ý là Sử thi cổ sơ Mơ Nông, Sử thi thần thoại Mơ Nông, Văn học dân gian Ê Đê, Mơ Nông mang tính chất nghiên cứu, giới thiệu
tổng quan về diện mạo sử thi Mơ Nông là những công trình đầu tiên về lĩnh vực,đối tượng này
Ngoài những đóng góp rất lớn lao về quá trình sưu tầm sử thi – ot nd ro\ng,
tác giả Đỗ Hồng Kỳ còn được ghi nhận bởi nhiều đóng góp trong nghiên cứu sử
thi nói chung và nghiên cứu ot nd ro\ng nói riêng:
Đóng góp thứ nhất: về phân loại sử thi ot ndro\ng
Cách thức phân loại sử thi ở Việt Nam thường vận dụng những lí luận về phânloại của thế giới như truyền thống châu Âu (sử thi cổ sơ và sử thi cổ đại), TrungQuốc (sử thi sáng thế và sử thi thiết chế xã hội), mà những cách thức phân loại đó
ra đời trên cơ sở tài liệu mà các truyền thống sử thi đó có được, chứ không phảidựa vào tài liệu của chúng ta Hơn nữa, trong quá trình sưu tầm, công bố sử thi ởViệt Nam, số lượng tác phẩm luôn thay đổi, kéo theo đó là diện mạo đặc điểm củaloại hình không còn là những đặc điểm nhất thành bất biến
Từ 1993 đến 1997, tác giả Đỗ Hồng Kỳ đã cho rằng: sử thi Mơ Nông là sử thi
cổ sơ có yếu tố thần thoại Đến những công trình gần đây (2008), tác giả khẳngđịnh chắc chắn rằng đó là sử thi thần thoại
Đóng góp thứ hai: nghiên cứu về nội dung và nghệ thuật sử thi ot ndro\ ng
Trang 7Trong công trình “Sử thi thần thoại Mơ Nông”, tác giả đã phân tích 8 nội dung
của ot nd ro\ng: về sự hình thành con người/thế giới ba tầng và các nhân vật tiêu
biểu/nhân vật khai thiên lập địa/nhân vật anh hùng văn hóa/chiến tranh và ngườianh hùng chiến trận/ca ngợi cuộc sống lao động giàu có và hạnh phúc của cộngđồng/phản ánh những vận động chuyển biến lớn trong xã hội Mơ Nông/sử thi MơNông là từ điển bách khoa của tộc người [31/tr10-27] Những nội dung đó đượctrình bày hết sức cô đọng, có các minh chứng kèm theo từ các tác phẩm sử thi, dẫu
lúc đó số ot nd ro\ng được phát hiện không nhiều nhưng những quan sát bước đầu
và tính khái quát của những luận điểm đã bao quát toàn bộ hệ thống ot nd ro\ng
Về nghệ thuật, thi pháp, tác giả Đỗ Hồng Kỳ nêu lên các phương diện: cấu
trúc ngôn ngữ của tác phẩm ot nd ro\ng /vần trong sử thi Mơ Nông/biện pháp xây
dựng cốt truyện và nhân vật/các thủ pháp nghệ thuật /chức năng tư tưởng thẩm mĩcủa cấu trúc sử thi Mơ Nông Trong đó, ông đặc biệt chú ý đến các biện pháp nghệthuật và cấu trúc mang tính khuôn mẫu của sử thi Mơ Nông Là người có nhiềuthời gian gắn bó với cộng đồng và nghệ nhân Mơ Nông, ông rất am hiểu văn hoá,phong tục cũng như lối diễn đạt của văn chương nghệ thuật của họ Tác giả đã chỉ
ra mối quan hệ mang tính lí luận giữa hình thức và nội dung của tác phẩm ot ndro\ng “trong sử thi Mơ Nông, việc sử dụng hình thức ngôn ngữ nào là tùy
thuộc vào nội dung người ta muốn đề cập: khi muốn kể lại một sự tích, sự việc nào
đó thì dùng ngôn ngữ kể chuyện của Ro yao (kể gia phả), khi muốn nhắc nhở cácthành viên trong cộng đồng làm theo tập tục thì dùng ngôn ngữ của Phat doih (luậttục) hay Rma doih (tục ngữ), khi muốn biểu đạt tình cảm thì dùng mprơ (hình thức
ca khúc của người Mơ Nông)” [31/40]
Đóng góp thứ ba: nghiên cứu về nghệ nhân và môi trường diễn xướng
Với thực tế nghiên cứu điền dã ở các khu vực mà người dân và nghệ nhân MơNông sinh sống, nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Kỳ đã có sự gắn bó sâu sắc, mật thiết,
có thể nói mà “ruột thịt” với các nghệ nhân Những tình cảm mà tác giả dành chocác nghệ nhân nói chung và riêng nghệ nhân Điểu Kâu cho thấy một sự trân trọngcủa ông với những “báu vật dân gian” Sau khi nghệ nhân Điểu Kâu mất, mộttrong những bài viết của ông “Cánh chim ngừng bay giữa đại ngàn”, tưởng nhớ vềnghệ nhân rất cảm động và sâu sắc Ông quan niệm nghệ nhân là yếu tố quyết định
Trang 8để sáng tạo và lưu truyền sử thi, họ có “trí nhớ rất tốt, có thể nói là phi thường”[36/193] Đặc biệt, những ghi chép, quan sát về nghệ nhân luôn được đặt trongmôi trường diễn xướng, mối quan hệ với cộng đồng
Nhìn chung, ở những công trình của tác giả Đỗ Hồng Kỳ, dẫu là các côngtrình sưu tầm, bút kí điền dã hay nghiên cứu lí luận, người đọc cảm nhận một sựsay mê, trân trọng của tác giả với thành tựu văn học, những giá trị văn hóa truyềnthống của người Mơ Nông; đồng thời cho thấy sự am hiểu sâu sắc thực tế và mộtlối viết mượt mà, hào hứng đồng thới có tính lí luận cao Những vấn đề mà ôngphát hiện, đặt ra trong các công trình đó không chỉ gợi mở cho chúng tôi thực hiện
đề tài này mà còn có ý nghĩa rộng lớn với bất kì ai nghiên cứu về ot nd ro\ng cũng
như tổng thể sử thi Tây Nguyên
Một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về sử thi ở Việt Nam, tác giả PhanĐăng Nhật, sau khi ghi dấu mốc về thành tựu nghiên cứu sử thi Ê Đê, cũng có
những bài viết giới thiệu, khẳng định giá trị của ot nd ro\ng: Ôtnrong – một bộ sử thi đồ sộ mới được phát hiện (1998); Mùa rẫy bon Tiăng (1998)… Mặc dù thời điểm công bố những bài viết đó sử thi - ot nd ro\ng chưa được phát hiện và sưu
tầm như hiện nay, nhưng bằng kinh nghiệm và thực tế điều tra, nghiên cứu cũng
như năng lực khái quát, tác giả đã khẳng định sự thống nhất của hệ thống ot nd ro\
ng trên các phương diện:
- Chung đề tài sáng thế và thiết chế xã hội (qua chiến tranh)
- Chung đặc điểm thẩm mĩ, tính kì vĩ, hào hùng, thuộc phạm trù thẩm mĩ oaihùng
- Chung một hệ thống nhân vật, lấy Tiăng kon Rong và gia đình ông làmtrung tâm
- Chung một địa bàn hoạt động, lấy bon Tiăng làm trung tâm
Từ đó, ông đã góp phần khẳng định một cách chắc chắn ot nd ro\ng là sử thi
phổ hệ (genealogical epic) và nhấn mạnh tầm vóc của hệ thống sử thi Mơ Nông
“có thể xếp cùng loại với bộ sử thi phổ hệ nổi tiếng của người Kirghize, sử thiManas Bộ sử thi này được chia làm ba tập dài hơn 1 triệu câu thơ, kể về nhân vậttrung tâm Manas cùng con Semetey và cháu Seytex” [52/295] Sau này, ông còn
viết nhiều bài liên quan đến ot nd ro\ng, nhưng chúng tôi cho rằng bài “Vị trí Kể
Trang 9dòng con cháu mẹ Chếp trong hệ thống sử thi Mơ Nông” là bài viết có đóng góp quan trọng vào việc dựng lên diện mạo của ot nd ro\ng, khẳng định vị trí của nó
trong bức tranh rực rỡ của sử thi Tây Nguyên ” [52/ 371-384]
1.2.2 Những bài viết giới thiệu sử thi – ot nd ro\ng
Bên cạnh những công trình nghiên cứu chuyên biệt, những đóng góp trong
việc nghiên cứu về sử thi – ot nd ro\ng thể hiện trong các bài giới thiệu của người
biên tập văn học cho các tác phẩm xuất bản thuộc Kho tàng sử thi Tây Nguyên (từ2004-2010) Trong mỗi tác phẩm, phần đầu tiên là bài giới thiệu khái quát gồmcác nội dung: Giới thiệu về tộc người và quá trình sưu tầm văn bản hóa tác phẩm;tóm tắt; nhận định về thể loại và giá trị tác phẩm Nổi lên qua các bài giới thiệu là
các vấn đề quan trọng của sử thi – ot nd ro\ng đặt ra với các nhà nghiên cứu:
(1): Xác định thể loại, phân loại sử thi – ot nd ro\ng
(2): Nội dung tác phẩm, hình tượng người anh hùng
(3): Nghệ thuật: kết cấu, ngôn ngữ, tác phẩm
(4): Diễn xướng và nghệ nhân
Tác giả Nguyễn Xuân Kính là một trong những người đầu tiên biên tập vănhọc sử thi Mơ Nông, xuất bản năm 2004 Một trong những đóng góp quan trọngcủa ông là đưa ra khái niệm “công thức kể-tả” [87/15] Ông lấy ví dụ một đoạn tảcảnh yên bình của núi rừng mà chúng ta có thể bắt gặp ở bất kì tác phẩm nào củangười Mơ Nông - những công thức kể tả thể hiện sự hồn nhiên, chất phác, sự giản
dị nhưng cũng đầy sức ví von, liên tưởng của ngôn ngữ - mà sẽ không có mặttrong các sáng tác văn học viết:
Đàn lợn rừng ngủ khắp bờ rẫy Đàn chim bum ngủ khắp bụi gai…
Rìu rong bồ áp ngực nhau ngủ Lúa trong bồ áp hạt nhau ngủ
Chúng tôi hiểu khái niệm “công thức kể-tả” mà ông nói đến trong lời giớithiệu cuốn “Cướp chiêng cổ bon Tiăng” chính là những công thức truyền miệngtrong sử thi – khái niệm mà chúng tôi sử dụng trong luận án này
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu công thức truyền miệng trong văn học dân gian
và trong sử thi dân gian
Trang 102.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Việc nghiên cứu văn học dân gian đã trải qua nhiều giai đoạn với nhiềuphương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó mỗi phương pháp lựa chọn nhữngcách thức, những phương tiện khác nhau Phương pháp so sánh loại hình lấy đơn
vị cơ bản là típ (type) và mô-típ (motif); chủ nghĩa cấu trúc nghiên cứu tổng thểcác dấu hiệu hình thức; phương pháp loại hình học của V.I.Prôp dựa trên các
“chức năng” của truyện cổ tích… Có thể nói, việc nghiên cứu thi pháp các thể loạivăn học dân gian đều lựa chọn những dấu hiệu hình thức nhất định
Đến đầu thế kỉ XX, khái niệm công thức truyền miệng (oral fomula) là thuật
ngữ chuyên ngành văn học - văn hóa dân gian xuất hiện lần đầu tiên trong cáccông trình của Milma Parry Sau M.Parry, các học giả sau ông như Albert Lord,Ruth Finnegan, John Foley đã tiếp tục phát triển lí thuyết và ứng dụng nghiên cứunhiều hiện tượng văn học truyền miệng Tất cả những vấn đề lí thuyết công thứctruyền miệng sẽ được chúng tôi trình bày trong chương 1 như là cơ sở lí thuyết củaviệc thực hiện đề tài
Các bài nghiên cứu gần đây cũng đi theo hướng tìm hiểu “công thức truyềnmiệng” và thực sự vấn đề này đã được nhiều học giả Trung Quốc tiếp nhận, vậndụng trong nghiên cứu Chẳng hạn, tác giả Đào Lập Phiên đã nhận xét trong đặcđiểm thứ ba về nghệ thuật của sử thi các dân tộc thiểu số Trung Quốc là “tínhngôn ngữ hoa mĩ tráng lệ tạo nên nét đặc sắn dân tộc tươi sáng nổi bật cho sử thi”
Tác giả có trích lời hát của các nhân vật trong sử thi Cách Tát Nhĩ Ông cho biết các đoạn hát của Cách Tát Nhĩ “rõ ràng đã hấp thu từ vựng của từ ngữ chúc tụng
dân gian như mã tán, yên tán, đao tán, cung tiễn tán… Chúc tụng từ rất phổ biếntrong dân gian dân tộc Tạng, nó là lời tán tụng nhiệt thành đối với sự vật tốt đẹp…Trong đối thoại của nhân vật, sử thi thường căn cứ vào thân phận khác nhau củanhân vật, mượn dân ca để biểu đạt tư tưởng tình cảm, như lời hát của người chăntrâu, dê trong truyện vua Cách Nhát Nhĩ…’’ [61/36] Những yếu tố vay mượn từcác thể loại dân gian cũng làm nên công thức của sử thi và khiến cho tính biểu đạtcủa sử thi thêm sinh động, sâu sắc, mang tầm triết lí, trí tuệ dân gian
Chúng tôi cũng được biết, hiện nay ở Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc cónhiều phân viện mà mỗi phân viện đều có các ngành nghiên cứu về sử thi: Phân
Trang 11viện Nghiên cứu Văn học Mông Cổ (có hai ngành nổi bật nghiên cứu về Jianggia
và Gesar); Phân viện Nghiên cứu Văn học Tây Tạng (có ngành: sử thi và nghệ nhân Gesar); Phân viện Nghiên cứu Văn học các dân tộc phía Bắc (sử thi Thổ Nhĩ
Kì)… Điều đó cho thấy sử thi đã trở thành di sản văn hóa truyền miệng hết sứcquý báu và có giá trị nổi bật và xứng đáng được quan tâm đặc biệt
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.1 Việc nghiên cứu công thức truyền miệng trong Văn học dân gian
Từ những năm 1970, tác giả Đinh Gia Khánh, trong công trình Văn học dân gian Việt Nam và một số bài báo khoa học, đã chú ý đến hiện tượng lặp lại một số
câu mở đầu quen thuộc trong ca dao, tạo thành nhóm có cấu trúc giống nhau Cáctác giả nghiên cứu về ca dao sau này như Đặng Văn Lung, Phan Đăng Nhật, BùiMạnh Nhị,… cũng đều chú ý đến tính chất hệ thống trong ca dao qua những côngthức mở đầu, công thức diễn đạt
Năm 1997, khái niệm “công thức truyền miệng” lần đầu tiên được biết đếnqua bài viết của tác giả Bùi Mạnh Nhị “Công thức truyền miệng và đặc trưng cấutrúc của ca dao dân ca” [55/542] Trong bài viết, ở phần thứ nhất, ông đã trình bàytruyền thống nghiên cứu đặc trưng cấu trúc của bài ca trữ tình dân gian trongphôn-cờ-lo học, chủ yếu là các nhà phôn-cờ-lo học Nga: Vê-xê-lôp-xki, Xô-cô-lôp, La-zy-chin… Phần thứ hai, tác giả viết về vai trò của công thức truyền miệngtrong việc tìm hiểu đặc trưng cấu trúc của bài ca trữ tình dân gian Trong phầnnày, tác giả trích dẫn một số quan niệm về công thức, từ đó đưa ra cách hiểu vềkhái niệm này: “Công thức phôn-cờ-lo là những kiểu mẫu ổn định, điển hình khácnhau của truyền thống…[55/542] “Công thức phôn-cờ-lo đa dạng về hình thái,dung lượng, nội dung, ý nghĩa Công thức có thể là một từ, nhóm từ, dòng thơhoặc nhóm dòng thơ Có công thức thời gian, không gian Có công thức cốttruyện, tình huống, nhân vật, thiên nhiên Có công thức mẫu đề, biểu tượng… Dấuhiệu chung của công thức là ở sự lặp lại, tiêu biểu, điển hình Những dấu hiệu ấybiểu hiện và bảo tồn sự thống nhất của thể loại phôn-cờ-lo nói chung và của phôn-cờ-lo nói riêng [55/543]
Như vậy, tác giả Bùi Mạnh Nhị đã đề cập đến nhiều phương diện của côngthức truyền miệng trong văn học dân gian Ông chỉ ra bản chất của công thức vừa
Trang 12là nội dung vừa là hình thức, nó phản ánh những quy tắc, quy luật của sáng tác dângian và đặc trưng mĩ học phôn-cờ-lo Tiếp theo, ông áp dụng cách hiểu về côngthức như vậy để phân tích một số bài ca trữ tình dân gian Ông đưa ra các dạngcông thức của bài ca như địa danh – phong cảnh; địa danh – sản vật, địa danh –con người… [55/544] Qua việc phân tích, ông kết luận về đặc trưng cấu trúc củabài ca trữ tình dân gian: “Cơ chế tổ chức của ca dao dân ca trữ tình là sự vận động
từ công thức truyền miệng này đến công thức truyền miệng khác, trên cơ sở quyđịnh của mẫu đề” [55/549]
Cuối cùng, ông đề xuất “chúng ta có thể và cần thống kê, miêu tả các mẫu đềtruyền thống, cũng như các công thức chi tiết của từng mẫu đề Có thể lập từ điển
và các chương trình vi tính khác nhau cho những vấn đề này, mã hóa hình thức,ngữ nghĩa nghệ thuật “cốt” văn hóa, dân tộc học của chúng Những công trình nhưthế rất cần cho phôn-cờ-lo học…”[55/549]
Chúng tôi thấy rằng, đây vừa là gợi ý, vừa là nhiệm vụ đặt ra cho những ngườinghiên cứu phôn-cờ-lo Vì thống kê, hệ thống hóa, lưu giữ các công thức truyềnmiệng là việc làm rất cần thiết, liên quan đến vấn đề cốt lõi trong sáng tạo và diễnxướng tác phẩm văn học dân gian Mặc dù trước đó đã có nhiều nhà nghiên cứuđưa ra các khái niệm tương đương nhưng có thể nói, tác giả Bùi Mạnh Nhị làngười đầu tiên ở Việt Nam đã sử dụng thuật ngữ “công thức truyền miệng” quaviệc tiếp thu lí luận về công thức truyền miệng từ các công trình của các nhà phôn-cờ-lo học Nga và vận dụng vào đối tượng quen thuộc – ca dao- trong văn học dângian Việt Nam
Năm 1996, trên Tạp chí Văn học, tác giả Phạm Thu Yến có bài “Tính ngữtrong thơ ca trữ tình dân gian Việt Nam” đề cập đến việc sử dụng tính ngữ mangtính phổ biến, trùng lặp trong ca dao Tác giả đưa ra rất nhiều ví dụ về tính ngữ
như trầu quế trầu hồi, trầu tính trầu tình, sơ cùng thủy tận, nguyệt khuyết sao băng, gừng cay muối mặn, tơ hồng chỉ thắm… Qua đó, bà nhận xét về đặc điểm
của tính ngữ và sự tham gia của nó vào ca dao trữ tình: “Tính ngữ trong các bài catrữ tình dân gian vừa chứa đựng những yếu tố ngôn ngữ nghệ thuật cụ thể, sinhđộng, diễn tả một cách chân thật tình cảm của người lao động “Em như tép nhỏlộn rong”, “Em như chiếu rách nhà hàng bỏ quên”, “củi than nhem nhuốc”… vừa
Trang 13sử dụng nhiều hình ảnh ước lệ, đôi khi dẫu có sáo mòn nhưng được lặp đi lặp lạinhiều lần, trở thành cách nói quen thuộc trong dân gian [55/537] Người viết cũngchỉ ra tính ngữ trong ca dao sử dụng nhiều điển cố, điển tích, đặc biệt là thành ngữdân gian nên đã tận dụng được lối tư duy, lối nói quen thuộc trong lời ăn tiếng nóicủa nhân dân nên ca dao ngắn gọn mà vẫn đủ sức diễn tả ý tưởng, tình cảm mộtcách sâu sắc, rõ ràng.[55/537]
Tóm lại, việc nghiên cứu tác phẩm văn học dân gian từ đặc trưng kết cấu,thông qua những đơn vị như “công thức truyền miệng”, tính ngữ dân gian,… đãđược thực hiện trong thể loại ca dao Tình hình nghiên cứu của phôn-cờ-lo thế giới
về công thức truyền miệng cũng được tiến hành chủ yếu trên hai thể loại: thơ ca và
sử thi Có thể những vấn đề của lí luận công thức chưa được tiếp thu trực tiếp vàmang tính hệ thống nhưng những công trình nghiên cứu cụ thể đã gợi ra tín hiệutốt rằng: hoàn toàn có thể dùng công thức truyền miệng như là phương tiện, mãhóa nghệ thuật để tìm hiểu cấu trúc, đặc trưng thẩm mĩ của các tác phẩm văn họcdân gian
2.2.2 Việc nghiên cứu công thức truyền miệng trong sử thi
Thứ nhất, việc giới thiệu lí luận về công thức truyền miệng ở Việt Nam
1 Năm 2005, lần đầu tiên, giới nghiên cứu ở Việt Nam biết đến lí luận về
“công thức truyền miệng” qua bài dịch trong công trình “Folklore-một số thuậtngữ đương đại” [72/47-52] Trong đó giới thiệu hai bài của John Foley, mang tínhtổng quan về lí thuyết nghiên cứu theo công thức truyền miệng
[John Miles Foley là Giáo sư chuyên nghiên cứu so sánh truyền thống
truyền miệng, về Hi Lạp cổ đại – đặc biệt là Hôme – và sử thi Serbia Ông làngười điều hành Trung tâm nghiên cứu truyền thống truyền miệng củaTrường ĐH Missouri; là Tổng Biên tập đồng thời cũng là tác giả hàng đầucủa tạp chí Truyền thống truyền miệng (Oral Tradition) Các tác phẩm chính
của ông là Đọc thơ dân gian như thế nào (2002), and Cẩm nang về sử thi cổ đại (2005)… đều xoay quanh những vấn đề của loại hình sử thi trên thế giới].
Bài của J.Foley đã khái quát những công trình, những luận điểm chính của haitác giả M.Parry và A.Lord và những hiệu quả mà lí luận này đem đến Thứ nhất làviệc xác dịnh bản chất truyền miệng của một tác phẩm nhờ những công thức
Trang 14truyền miệng xuất hiện trong đó Thứ hai, những công thức thể hiện mối liên hệchặt chẽ giữa nghệ nhân với công chúng và hoàn cảnh trình diễn thông qua sự mãhóa nghệ thuật ở trình độ cao
2 Năm 2006, trong số chuyên đề về Văn học dân gian của Tạp chí Nghiêncứu Văn học (số 1 – 407), tác giả Trần Thị An có đề cập đến lí thuyết về công thức
truyền miệng qua bài Nghiên cứu văn học dân gian Hoa Kỳ - một số quan sát bước đầu Ở phần thứ hai của bài viết – Vấn đề thuật ngữ - tác giả đã nhận định
“văn học dân gian trong quan niệm của các nhà folklore học Hoa Kỳ có nhiều têngọi khác nhau và mỗi tên gọi có nội hàm khác nhau Có thể hình dung khá rõ nét
sự xuất hiện và thay đổi thuật ngữ này trong lí thuyết công thức truyền miệng(oral-formulic theory) của Milman Parry và học trò của ông là Albert Lord, haigiáo sư trường Đại học Harvard, khi nghiên cứu về sử thi” [1/80]
Tác giả Trần Thị An đã giới thiệu các thuật ngữ sử thi dân gian, nông dân, dân gian, dân tộc, nguyên thủy… trong nhận thức của các nhà phôn-cờ-lo học, để đến cuối cùng “hai nhà nghiên cứu đã đi đến việc dùng thuật ngữ sử thi truyền miệng với nội hàm là kĩ thuật sáng tác, nó cắt nghĩa được việc là tại sao nhiều
người lại có thể cùng sáng tác một bài thơ” [1/80] Tác giả đã tóm tắt điểm cốt lõinhất trong lí thuyết công thức truyền miệng của Parry và Lord “tập trung vào haiđiểm mấu chốt trong nghiên cứu văn học dân gian, một là xác định đặc trưng hìnhthức thơ truyền miệng (phần hiển ngôn trong một bài thơ), để phân biệt với thơthành văn, hai là xác định cách thức sáng tạo (phần tàng ngôn) một bài thơ truyềnmiệng”[1/81] Bài viết cũng trích dẫn những quan niệm của A.Lord về tính truyềnmiệng của văn học dân gian một cách cô đọng và đáng chú ý nhất qua phần viết về
sử thi: “Điều quan trọng không phải là việc diễn xướng bằng miệng mà là việc tổchức tác phẩm trong quá trình diễn xướng bằng miệng” [1/82]
Phần thứ ba của bài viết về nghiên cứu thể loại, tác giả giới thiệu thành tựunghiên cứu sử thi của trường phái Harvard, đặc biệt là thế hệ giáo sư thứ ba(M.Parry) và thứ tư (A.Lord) Từ đó tác giả đánh giá “Lí thuyết công thức truyềnmiệng của trường phái Harvard có ảnh hưởng to lớn với việc nghiên cứu văn họctruyền miệng trên thế giới, nó xuất phát từ việc xác định thế nào là văn học truyềnmiệng, để phân biệt nó với văn học thành văn và cái đích cuối cùng là khẳng định
Trang 15không một hình thức nào có thể hiểu cặn kẽ nếu thiếu hình thức kia Việc nghiêncứu thơ ca dân gian ở đây, có thể nói đã vượt qua giới hạn bó hẹp của việc nghiêncứu một thể loại mà vươn tới nhiều giới hạn mở khác như nghiên cứu diễn xướng,nghiên cứu bối cảnh, nghiên cứu phong cách ngôn ngữ, nghiên cứu quá trình sángtác truyền miệng, nghiên cứu mối quan hệ văn học dân gian và văn học thànhvăn… và nói chung là nghiên cứu các vấn đề của sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo vănhóa của con người [1/94]
Nhìn chung, tác giả Trần Thị An đã đánh giá rất cao những đóng góp của cácnhà phôn-cờ-lo học Hoa Kỳ trong việc sáng tạo, phát triển các lí thuyết, thay đổi
hệ thống quan niệm phôn-cờ-lo và đạt cả những thành tựu nghiên cứu cụ thể.Trong đó, những đóng góp của Lí thuyết công thức truyền miệng, với công sứccủa hai nhà khoa học M.Parry và A.Lord, là hết sức to lớn, thể hiện ở tính ứngdụng trong phạm vi lớn của nó với ngành phôn-cờ-lo
3 Năm 2008, trên Tạp chí Nguồn sáng dân gian (Số 4), chúng tôi có bài
“Tổng thuật tình hình giới thiệu, sưu tầm, nghiên cứu sử thi trên tạp chí Truyềnthống truyền miệng 1986-2007” [23/75-90], trong đó có giới thiệu một số côngtrình liên quan đến vấn đề công thức của sử thi
Bài tổng thuật dựa trên 68 bài viết về sử thi trong tổng số hơn 400 bài từ
1986-2007 trên tạp chí Oral tradition Trong số các bài viết về sử thi, có loạt bài đề cập đến vấn đề công thức truyền miệng như: Hôme và truyền thống truyền miệng (Mark W Edwards, số 1/2 -1986, tr171-230 và số 3 với 110 trang), Sáng tạo câu thơ dân gian trong Ô đi xê của Hôme -theo bài giảng của Parry (năm 1989- William C Scott), Kiểu mẫu Hôme: Đặc trưng phi công thức của thẩm mĩ dân gian (Joseph Russo), Nhận diện sử thi Mông Cổ: Công thức chung của hát sử thi Janggar…
Trong rất nhiều các bài viết đó, chúng tôi trích lại ở đây hai bài:
Thứ nhất, bàn Luận án lí thuyết của Mark W Edwards về Hôme và truyền thống truyền miệng, gồm 110 trang chia thành 10 phần:
1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2 Cấu trúc thơ lục ngôn Hô-me
3 Công thức và thơ lục ngôn
Trang 164 Lịch sử của công thức Hôme: Hôme, Hêsiot, thánh ca Hôme và thơthời sau
5 Câu thơ vắt dòng
6 Nghiên cứu những công thức đặc biệt
7 Công thức và ý nghĩa
8 Phân tích công thức và khảo sát thực tế truyền miệng
9 Hôme và sự phê bình thơ ca truyền miệng
10 Tổng kết
Ông gọi đây là bản Luận án lí thuyết, giới thiệu toàn bộ lịch sử vấn đề nghiên
cứu sử thi và Hôme theo 9 chủ đề trên Ở mỗi một chủ đề có phần giới thiệu cáctác giả theo trình tự thời gian và một nỗ lực sắp xếp theo nội dung nhất quán, kếtthúc có các danh mục tham khảo cơ bản
Thứ hai, bài của Joseph Russo: Kiểu mẫu Hôme: Đặc trưng phi công thức của thẩm mĩ dân gian đặt ra hai vấn đề của việc tìm hiểu Hôme: Thứ nhất, thời đại
ngày nay không có đủ thứ ngôn ngữ gọt rũa để hiểu ý nghĩa của các thành ngữriêng biệt, kiến thức văn học hiện đại không chuẩn bị sẵn sàng cho chúng ta hiểu
về Hôme; Thứ hai, có đúng là I-li-át và Ôđixê là những mảnh ghép chính xác của
truyền miệng dân gian? Tác giả khẳng định rất khó giải quyết những vấn đề nhưvậy, vì ngay cả học giả hàng đầu là Parry cũng cho rằng kĩ thuật kết hợp củaHôme nằm ngoài sự hiểu biết của chúng ta [23/79]
Sau đó bài viết tập trung vào các khía cạnh trong phép tu từ câu thơ Hô-me:
Sự mở rộng phép chuyển nghĩa chung
Phép chuyển nghĩa đặc biệt
Cú pháp mô hồ, ngữ pháp kém và câu thơ không liên tục
Kết luận bài viết, tác giả cho rằng những ý kiến của mình có thể hơi ngược vớinhững quan niệm thông thường và ý nghĩa của phương pháp này sẽ còn mở rộng
và đạt hiệu quả hơn nữa nếu như mở rộng các bản kể khác nhau của Hôme.[23/81]Chúng tôi đã dịch hầu hết những công trình này, nhưng trong khuôn khổ bàitổng thuật không thể trích dẫn đầy đủ Nhưng qua đó, một danh mục những bàiviết có liên quan đến lí luận công thức truyền miệng đã được đề cập trực tiếp.Ngoài ra những bài nghiên cứu theo hướng thi pháp truyền miệng, vận dụng các
Trang 17khái niệm công cụ của lí thuyết công thức khá phổ biến trong Tạp chí Truyền thống truyền miệng
4 Năm 2009, trên tạp chí Văn hóa dân gian, số 4, tác giả Bùi Thiên Thai có
bài “Xung quanh công trình về thi pháp truyền miệng của John Miles Foley” Bài
viết có hai phần: phần thứ nhất giới thiệu về Lí luận trình thức truyền miệng (thuậtngữ chuyển dịch qua tiếng Trung của Lí thuyết công thức truyền miệng), phần thứ
hai giới thiệu về tác phẩm nổi tiếng của Foley “The Theory of Oral Composition – History and Methodology” (Tạm dịch Lí thuyết về sáng tác truyền miệng: lịch sử
và phương pháp)
Trong phần thứ nhất, tác giả đã giới thiệu sơ lược quá trình hình thành líthuyết công thức truyền miệng Parry – Lord và những đóng góp, gợi mở của líthuyết này với việc nghiên cứu phôn–cơ-lo hiện đại và đương đại Trong khuônkhổ một bài điểm sách, tác giả chưa có điều kiện đi sâu vào các khái niệm hayluận điểm cụ thể, bài viết chủ yếu khái quát những thành tựu cơ bản của lí thuyếtParry – Lord và vị trí của nó trong ngành nghiên cứu phôn-cờ-lo Tác giả đặc biệtchú ý đến những vấn đề về phương pháp nghiên cứu của các học giả Parry – Lord:
“Ngữ văn học và Nhân loại học vốn là những khoc học tồn tại từ lâu trước Parry,song việc kết hợp cả hai, đi sâu thâm nhập và nắm chắc hàng loạt các yếu tố hạtnhân trong quá trình biểu diễn truyền miệng thì lại do Parry và Lord khởi xướng.Nguyên tắc khoa học mới mẻ này vừa thể hiện sự nghiêm cẩn và tinh tế của Ngữvăn học, lại vừa mang đặc trưng của Nhân loại học như chú trọng tác nghiệp mangtính thực chứng, chú trọng điền dã [64/74]
Phần thứ hai, bài viết tóm tắt các chương mục trong công trình thi pháp truyềnmiệng của Foley Sau đó, người viết nhận xét về ý nghĩa lịch sử của công trình
“Foley đã tổng kết quá trình phát triển của lí luận trình thức truyền miệng cũngnhư tính chất của lí luận này ở mỗi giai đoạn khác nhau… Foley, bằng cuốn sáchcủa mình cộng với sự hăng say không mệt mỏi trong việc truyền bá lí luận trìnhthức tại rất nhiều nước trong những năm vừa qua đã khiến cho nó có một độ phổcập vô cùng rộng lớn Cuốn sách được coi là một cột mốc trong quá trình pháttriển lí luận trình thức truyền miệng” [64/76]
Trang 18Tác giả cũng cho biết thêm “Từ ngày 9 đến ngày 12 tháng 6 năm 2009, tạiViện Nghiên cứu văn học dân tộc thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, Giáo
sư Foley đã thuyết trình tại đợt hội thảo liên ngành về sử thi học và nghiên cứutruyền thống truyền miệng lấy tên là “Lớp huấn luyện về sử thi học và nghiên cứutruyền thống truyền miệng quốc tế’ [64/77] Điều này chứng tỏ lí luận về côngthức truyền miệng có sự phát triển mạnh mẽ và ứng dụng rộng lớn trong ngànhnghiên cứu phôn-cờ-lo đương đại
Thứ hai, việc tìm hiểu, nghiên cứu công thức truyền miệng trong thể loại
sử thi ở Việt Nam.
1 Người đầu tiên nhắc đến những khuôn mẫu, công thức trong sử thi là tác giả
Phan Đăng Nhật Trong tác phẩm “Sử thi Ê Đê” (in lần đầu tiên năm 1991), khi
viết về cấu trúc sử thi – khan, ông đã sử dụng các khái niệm “hành động” và “thao tác” với ý nghĩa là các đơn vị hạt nhân cơ bản dùng để cấu tạo sử thi – khan:
“Các hành động và thao tác phổ biến được cấu tạo sẵn trong kho tàng khan,
người nghệ nhân có thể lấy trong kho tàng ấy những kiểu mẫu có sẵn, thích hợp đểtrình diễn Tình hình đó tạo nên giá trị ngữ nghĩa của các hành động thao tác của
hệ thống khan nói chung ngoài từng tác phẩm Chúng tôi gọi là giá trị ngữ nghĩa chiều ngang Bên cạnh đó có giá trị ngữ nghĩa trong ngữ cảnh của tác phẩm khan.
Chúng tôi gọi là giá trị ngữ nghĩa theo chiều dọc tác phẩm [47/ 456]
Ngoài ra, ông còn đưa ra rất nhiều công thức so sánh trong nghệ thuật miêu tả
của sử thi- khan Ví như A (tính chất) như A’; A (tình trạng) như A’ [47/599].
Như vậy, trong công trình nghiên cứu chuyên ngành về sử thi ở Việt Nam, tácgiả Phan Đăng Nhật bằng thực tế thâm nhập ngôn ngữ, cấu trúc nghệ thuật của sử
thi – khan đã phân tích nhiều cấp độ khuôn mẫu (công thức) khác nhau của thể
loại Tuy chưa định danh, định tính cụ thể từng yếu tố nhưng những phác thảo nhưvậy hết sức có giá trị
Chính vì thế, những năm sau này, ông đã có hàng loạt bài viết về những
“khuôn mẫu” trong sử thi khi những dấu hiệu hình thức đó càng ngày càng hiện
rõ, đậm nét trong các loại hình sử thi khác ở Việt Nam Có thể kể đến những bài
trong Thông báo Văn hóa dân gian 2006; tiếp đó trong bài Tính thống nhất và đa dạng của sử thi Tây nguyên, Giải mã một số khuôn hình từ ngữ ở sử thi Đẻ đất đẻ
Trang 19nước, thử tìm vài nét về tư duy cổ Việt – Mường cổ” (Tạp chí Nghiên cứu Văn học
số 1/2006)…
Chúng tôi nhận thấy, trong quá trình xây dựng lí luận và thực tế nhận thức vềthể loại sử thi, nhà nghiên cứu Phan Đăng Nhật luôn đóng vai trò là người tiênphong trong việc vận dụng những lí luận mới nhất của thế giới vào thực tế nghiêncứu sử thi ở Việt Nam và có những đóng góp nhất định vào lĩnh vực này Tuykhông sử dụng thuật ngữ “công thức truyền miệng” nhưng những trường hợp như
“các khuôn hình”, “khuôn mẫu” của sử thi trong một số bài viết gần đây của ông,
về bản chất chính là “công thức truyền miệng” chúng tôi sử dụng trong đề tài này
2 Năm 1997, trong công trình Sử thi thần thoại M’Nông, tác giả Đỗ Hồng Kỳ
đề cập đến những công thức trong sử thi mà ông gọi là “khuôn mẫu” Qua việc tìmhiểu ngôn ngữ của một số tác phẩm được sưu tầm lúc bấy giờ, ông đã khái quát:
“Sử thi M’Nông được cấu tạo nên do các đoạn văn vần và các đoạn về hình thứcnhư thơ tự do bây giờ, xen vào đó có cả những câu đối thoại của ngôn ngữ giaotiếp hàng ngày” [31/28] Những khuôn mẫu biểu hiện trong sử thi Mơ Nông nhưsau: “Số từ trong những câu văn vần trong sử thi Mơ Nông nhìn chung là khôngđược hạn định, trừ một số câu số đoạn như những “khuôn mẫu” được lặp đi lặp lạinhiều lần (thì có số từ cố định) chẳng hạn:
Put kuăl hôt bah chông knetHôt Put kuăl hôt bah knăng
Ka srăng ôp bah tu nglang
(Chim put kêu từ ngọn cây knet Chim tet kêu từ ngọn cây knăng
Cá srăng kêu từ hòn đá trắng)
Tuy nhiên, có những “khuôn mẫu”, sau mỗi lần xuất hiện lại có thay đổi ítnhiều về số lượng từ trong câu [31/29] Ở thời điểm đó, tác giả Đỗ Hồng Kỳ mớidừng lại ở một số phác thảo bước đầu như vậy
Đến năm 2008, trong công trình “Văn học dân gian Ê Đê – Mơ Nông”, ông cụthể hóa những nhận định trước đây bằng những ví dụ về sự thay đổi số từ, chữtrong các dòng thơ [36/268] Tiếp theo trong phần viết về “Biện pháp lặp và chức
Trang 20năng tư tưởng – thẩm mỹ của cấu trúc ot nd ro\ng”, ông phân chia các khuôn mẫu
thành các dạng:
(1) Khuôn mẫu lặp lại y nguyên
(2) Khuôn mẫu ít nhiều có sự thay đổi sau mỗi lần lặp lại
Đứng dưới giác độ nghệ nhân dân gian trong việc sáng tác, diễn xướng sử thi,ông cho rằng việc lặp lại có sự thay đổi như vậy “không làm mất định hướng củatrí nhớ Các chi tiết mới, các tiểu đoạn mới cứ xuất hiện mà không bắt trí óc conngười căng ra để phát huy năng lực phân tích, tổng hợp; dường như người ta chỉ
kể lại những gì như những khuôn mẫu hằn sâu trong óc, rồi từ đó sẽ nhớ các chitiết mới Điều đó lí giải thích tại sao với một khối lượng chi tiết lớn, cần tới hàngvạn câu ndrong biểu đạt, mà nghệ nhân lại có thể nhớ hết được.” [36/316] Ôngcũng đưa ra nhận xét về tác dụng của khuôn mẫu trong việc “chi phối bố cục củanhiều đoạn trong tác phẩm… Các khuôn mẫu đó đã trở thành những công thức cótính chất mô hình, giúp cho chúng khó bị người ta lãng quên” [36/318]
Trong phần viết về sử thi Ê Đê, nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Kỳ cũng trình bày
về phép lặp Trong đó ông sử dụng lại khái niệm của Nguyễn Tấn Đắc “tiếttruyện”, là những khuôn mẫu: sinh nở thần kì, cướp đoạt phụ nữ, cứu vợ…[36/132] Ông đưa ra hai tiết truyện “Cướp đoạt phụ nữ” và “Cứu vợ” được triểnkhai theo một công thức: nhân vật anh hùng vắng nhà (thường là vào rừng săn bắt)– tù trưởng đến bắt vợ - người anh hùng đi cứu vợ Hai tiết truyện này cấu tạo nênphần lớn dung lượng mỗi tác phẩm khan sử thi Và chúng được lặp lại nhiều trong
sử thi [36/133] Ngoài ra, ông còn đưa ra những khuôn mẫu về thời gian, về “ănnăm uống tháng”
Một dấu hiệu nghệ thuật rất quan trọng của sử thi – khan là việc sử dụng các
tính ngữ cũng được tác giả đề cập đến, tuy ông không gọi đó là khuôn mẫu haycông thức Tác giả đã nhận định rất đúng đắn rằng “Những định ngữ về các nhânvật trên không đơn thuần là biện pháp nghệ thuật thuần túy, mà chứa đựng một ýnghĩa tâm lí, thẩm mĩ nhất định của cộng đồng đã sản sinh ra chúng” [36/135]
3 Năm 2008, trên tạp chí Văn hóa dân gian -Số 6, tác giả Ngô Đức Thịnh khi
bàn về sự đa dạng về các thủ pháp nghệ thuật của sử thi Tây Nguyên đã nhận xét
về hiện tượng “lặp”: “Lặp là thuộc tính chung của VHDG, Văn hóa dân gian,
Trang 21trong đó có một căn nguyên quan trọng là dễ nhớ, dễ thuộc trong điều kiện nềnvăn hóa không có chữ viết và truyền miệng Tuy nhiên, “lặp” trong sử thi Tây
Nguyên, đặc biệt là sử thi ot nd ro\ng của người Mơ Nông thì thủ pháp “lặp” trở
thành nổi trội và đặc trưng hơn cả [70/13] Khi nhận xét về thủ pháp lặp chính làtác giả Ngô Đức Thịnh đang nhắc đến công thức trong sử thi vì một trong nhữngthuộc tính của công thức truyền miệng là tính lặp lại trong các dòng, các đoạn củatác phẩm
Ông cũng nhận xét về nội dung cơ bản của những công thức đó trong việcmiêu tả và kể chuyện: “Có thể nói người Mơ Nông đã sáng tạo ra các hình mẫuđiển hình về khung cảnh tự nhiên, hình dáng và hành vi nhân vật, cảnh huống xãhội và giao tiếp, tính cách con người… và tương ứng với nó là các đoạn nói vần đã
có sẵn như cảnh bon làng buổi sáng, khi hội hè, cảnh uống rượu, cách đoán biếtmay rủi qua uống rượu cần, khi đón khách vào nhà, trang phục người anh hùng với
vũ khí đầy người, cách đi trên mặt đất cũng như bay trên trời, cách làm ngải và saikhiến ngải, hành động của các vị thần… [70/13] Đó cũng chính là những khuônmẫu hết sức điển hình, lặp lại với tần số cao trong sử thi Mơ Nông, người đọc đãquen thuộc với những hình thức đó
Cùng với thực tiễn làm việc với nghệ nhân trình diễn sử thi trong quá trình ghi
âm, ông đã đề cập đến vấn đề kĩ thuật sáng tác, trình diễn sử thi – khía cạnh quantrọng trong nghiên cứu văn học dân gian đương đại Quá trình sáng tạo, trình diễnhết sức đặc biệt đó được ông hình dung như sau: “Tôi có cảm giác là các tác phẩm
sử thi ot nd ro\ng là sự lắp ghép các khuôn mẫu (mô-đun) tình huống, trạng thái
đã có sẵn, do vậy, khi diễn xướng, nghệ nhân chỉ cần thuộc các khuôn mẫu đun) đó và lắp ghép lại theo cốt truyện Ai thuộc nhiều tình huống, trạng thái cósẵn thì diễn xướng câu chuyện phong phú hơn, làm say mê người nghe hơn Chưa
(mô-ai trả lời được trong kho vốn sử thi ot nd ro\ng có bao nhiêu khuôn mẫu có sẵn
như vậy Hiện tượng khuôn mẫu có sẵn và diễn xướng lặp của sử thì hoàn toànxuất phát từ nhu cầu truyền miệng, dễ nhớ của các tộc người không có chữ viết
Đây là một trong các vấn đề thi pháp rất lí thú của sử thi - ot nd ro\ng nói riêng và
sử thi Tây Nguyên nói chung mà chúng ta cần đi sâu nghiên cứu [70/13]
Trang 22Về hiệu quả của hiện tượng lặp các đoạn trong sử thi, tác giả nhận xét: “Lặp”trong sử thi tạo ra hiệu quả nhiều mặt, thứ nhất nó đáp ứng nhu cầu dễ nhớ, dễhọc, dễ diễn xuất của một nền văn hóa chưa có chữ viết, thứ hai, trong môi cảnhdiễn xướng cộng đồng, sự lặp lại đó tạo dấu ấn, sự đồng cảm cho người nghe Tuynhiên, trong môi trường văn hóa đọc, chứ không phải diễn xướng thì lại gây trùnglặp, nhàm chán Do vậy, khi văn bản hóa, người ta thường lược bỏ các đoạn ấy,làm tác phẩm cô đọng hơn [70/14] Chúng tôi cho rằng đó là nhận xét chính xáctrên khía cạnh người đọc – người nghe, còn dưới góc độ nghệ nhân – người sángtạo, diễn xướng tác phẩm, thì mục đích, hiệu quả của những công thức lặp lạimang một ý nghĩa thực tiễn, sống động hơn Do đó, người sưu tầm, ghi chép tácphẩm sử thi phải hết sức lưu ý đến đặc trưng này để không lược bỏ những đoạntrùng lặp, vì việc đó ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến hiện trạng của tác phẩm cũng nhưlàm sai lệch hình dung của người đọc
Hiện nay ở một số trường Đại học (KHXH&NV – ĐHQG Hà Nội, ĐHSP HàNội), đã có một số công trình nghiên cứu ở các bậc học xoay quanh đề tài này, kếtquả của các đề tài rất khả quan, cho thấy một hướng đi có triển vọng Có thể kểđến Luận văn Thạc sĩ của tác giả Ngô Minh Hà “Khảo sát các đoạn trùng lặp trong
sử thi Mơ Nông và sử thi Ê Đê” Trong đó tác giả đã khảo sát các đoạn văn trùng
lặp trong bốn sử thi “Cướp chiêng cổ bon Tiăng, Yang bán Bing con Lông, Dăm Săn, Anh em Dăm Trao, Dăm Rao”, tiến hành phân tích và so sánh sự giống nhau
và khác nhau trong các đoạn miêu tả của sử thi hai tộc người Ê Đê và Mơ Nông
4 Trong quá trình biên soạn và giới thiệu sử thi Mơ Nông, các nhà nghiên cứu
đã gặp gỡ nhau ở chỗ cùng nhận ra hiện tượng sử dụng khuôn mẫu (công thức) trong sử thi nói chung và đặc biệt đậm đặc trong sử thi Mơ Nông:
+ Trong tác phẩm Yang bán Bing con Lông, các tác giả giới thiệu sử thi này
đã viết: “Sự có mặt của yếu tố trùng lặp và các công thức kể tả là điều thường thấytrong các tác phẩm VHDG Trong sáng tác dân gian, có những yếu tố trùng lặpgiống như những cấu kiện bê tông đúc sẵn được lặp lại, đặc biệt trong sử thi, hiệntượng này rất phổ biến Những yếu tố có sẵn có khi là một dòng thơ, một đoạn thơ
và có khi lớn hơn thế Đó là trình tự kể chuyện (chuyện tiếp khách, chuyện đánh
Trang 23nhau)… Không ở đâu như trong sử thi Mơ Nông, sự trùng lặp và các công thức kể
tả lại có mặt với một tần số cao như vậy [109/27]
+ Trong tác phẩm Kră, Năng cướp Bing, Kông con Lông, người biên tập – nhà
nghiên cứu Trần Nho Thìn cũng nhận xét: “Các khuôn mẫu diễn đạt (các nhànghiên cứu thường gọi là các cấu kiện đúc sẵn) được dùng lặp đi, lặp lại nhiều lầntrong sử thi này cũng là một dấu hiệu tiêu biểu cho thi pháp sử thi Có khuôn mẫu
tả cảnh uống rượu, có khuôn mẫu tả cảnh nhân vật bay như chim, có khuôn mẫu tảcảnh ngồi nghỉ hút thuốc, ăn trầu, uống nước dừa, có khuôn mẫu tả cảnh đánhnhau giữa những người anh hùng… [92/40]
Tác giả xem đây là đặc trưng thi pháp quan trọng của sử thi và bước đầu đưa
ra những nhận xét, lí giải về đặc điểm và quá trình hình thành những công thứcnhư vậy: “Nguyên tắc tạo những khuôn mẫu diễn đạt được xây dựng trên cơ sởquan sát các hiện tượng tự nhiên, cụ thể hóa, hình tượng hóa những khái niệm trừutượng bằng những hiện tượng, sự vật cụ thể Những khái niệm trừu tượng do đượchình tượng hóa nên rất sinh động, hấp dẫn, giàu sức biểu đạt”
Cuối cùng, tác giả kết luận: “Nhìn chung đây là một hiện tượng văn học hoàntoàn mang tính quy luật Theo lí thuyết liên văn bản (intertexttualité), bất cứ mộthình tượng nghệ thuật, một ngôn từ nào cũng là sự kế thừa lặp lại trên một mức độnào đó một khuôn mẫu có trước Tuy là những công thức nhưng không phải dễdàng xây dựng được các công thức ấy ngay tức khắc, mà thực ra đó là thành quảcủa tư duy nghệ thuật của nhiều thế hệ nghệ nhân Chúng là sự đúc kết của nhiềunhân tố: văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ, ngôn từ… mà thành và do đó, là những mẫu
số văn hóa tinh thần chung của toàn bộ tộc, bộ lạc, có thể xem là các mẫu gốc Cáckhuôn mẫu chính là thành phần mang chất văn học đậm nét nhất trong một sử thi.Việc sử dụng chúng đem lại những khoái cảm thẩm mỹ vì tất cả mọi thành viên bộtộc sẽ cùng chia sẻ kinh nghiệm thảm mỹ đó Hiện tại ở nước ta chưa có nhữngcông trình nghiên cứu chuyên biệt về hiện tượng khuôn mẫu, nhưng ông ĐiểuKâu, người Mơ Nông cho tôi biết rằng chính những khổ thơ khuôn mẫu ấy đã gâyhứng thú to lớn cho người nghe sử thi [92/ 40]
Trong quá trình biên tập sử thi, tại hội thảo Sơ kết ba năm thực hiện Dự án, tácgiả Trần Nho Thìn cho chúng tôi biết ông đặc biệt quan tâm đến vấn đề đặc trưng
Trang 24nghệ thuật, phương thức sáng tác, ngôn ngữ diễn đạt của sử thi dân gian Ông đang
có ý định thực hiện công trình nghiên cứu về phương thức sáng tạo tồn tại, lối tưduy diễn đạt của loại hình truyện thơ, trong đó coi sử thi như một đối sánh đểkhám phá đặc trưng nghệ thuật của những loại hình tác phẩm trường thiên trongvăn học dân gian các dân tộc thiểu số Do đó, ông đã thể hiện sự quan tâm đếnnhững khía cạnh thi pháp của sử thi và có những nhận định mang tính lí luận, kháiquát cao
+ Trong phần giới thiệu sử thi – ot nd ro\ng, nhiều tác giả đã nhận ra sự xuất
hiện và những đặc sắc của những khuôn mẫu diễn đạt, nhưng chỉ có một người
duy nhất gọi đơn vị đó là công thức là tác giả Nguyễn Thị Phương Châm, chị đã
nhận thấy hiện tượng này qua việc vận dụng các thuật ngữ của M.Parry: “Thủpháp nghệ thuật đặc trưng nhất và cũng là yếu tố thuộc về hình thức dễ nhận thấy
nhất trong Lấy ché con ó của Tiăng cũng như nhiều sử thi Mơ Nông khác là sự
trùng lặp, ở đây là sự nhắc lại cả đoạn văn vần nhiều lần trong mỗi đoạn hát-kể[101/34]… Sự trùng lặp này là khá phổ biến và trở thành đặc trưng không chỉ của
sử thi mà của chung văn học truyền miệng Chính vì sự phổ biến và quan trọngcủa nó đối với các tác phẩm thơ ca truyền miệng mà từ những năm 30, khi nghiên
cứu về sử thi I-li-át và Ô-đi-xê, M.Parry đã khái quát lên một lí thuyết công thức
truyền miệng Lý thuyết của Parry sau đó đã được áp dụng rộng rãi để nghiên cứu
về thơ ca truyền miệng nói riêng và văn học truyền miệng nói chung., trong đóAlbert Lord quan tâm sâu hơn đến cách kể chuyện của các nghệ nhân, RuthFinnegan đề cập đến phương thức truyền miệng của sự sáng tác khi diễn xướng,một hình thức của phương thức truyền miệng theo công thức trong thơ ca truyềnmiệng” [101/35]
Tác giả cũng đặt ra vấn đề “phải chăng chính nhờ những công thức truyềnmiệng, những sự sáng tác khi diễn xướng mà sử thi vẫn luôn có sức hấp dẫn trongthế giới hiện đại? [101/35]
Gần đây nhất (2010), công trình của tác giả Phạm Nhân Thành “Hệ thốngnghệ thuật của sử thi Tây Nguyên” đã nghiên cứu những phương diện nghệ thuậtcủa sử thi Tây Nguyên: cấu trúc trần thuật, đặc điểm nhân vật chính và các biệnpháp nghệ thuật của sử thi Tây Nguyên Trong nhiều chương mục, tác giả đã gọi
Trang 25các đoạn trùng lặp trong miêu tả là “công thức” [65/ trang 47,57 ], tác giả phânchia thành ba nhóm: lời dẫn, lời miêu tả, lời đối thoại; tiến hành phân tích nộidung và bước đầu lí giải dưới góc độ văn hóa lịch sử, đặc trưng của thể loại về sự
có mặt của các công thức đó Đây là công trình nghiên cứu có tính chất hệ thống
và chuyên sâu về nghệ thuật của sử thi Tây Nguyên, mang tính khái quát cao và làmột sự gợi ý cho cách triển khai một số phần trong đề tài của chúng tôi
Tóm lại, qua việc điểm lại các công trình thuộc phạm vi đề tài, chúng tôi nhận
xét khái quát mấy điểm như sau:
(1) Việc sưu tầm và nghiên cứu sử thi ot nd ro\ng đã có những thành tựu to
lớn, đóng góp quan trọng vào kho tàng văn hóa dân gian của dân tộc và kho tàng
sử thi nhân loại
(2) Sử thi – ot nd ro\ng là một hệ thống tác phẩm quan trọng trong bức tranh
thể loại sử thi ở Việt Nam nhưng việc nghiên cứu loại hình này mới đang tronggiai đoạn đầu tiên, với một số ít tác giả, tác phẩm và những đóng góp nhất định.(3) Việc giới thiệu lí thuyết Công thức truyền miệng của Parry – Lord ở ViệtNam còn rất ít ỏi, việc nhận thức và vận dụng lí thuyết này hầu như chưa có côngtrình nghiên cứu chuyên biệt
Chính vì thế, một công trình nghiên cứu về thi pháp sử thi – ot nd ro\ng, vận
dụng lí thuyết công thức truyền miệng là một công trình cần thiết Trên có sở tiếpthu thành tựu lí luận của những nhà phôn-cơ-lo thế giới và những gợi ý của các
học giả Việt Nam, chúng tôi tìm hiểu đề tài “Công thức truyền miệng trong sử
thi - ot nd ro\ng ”.
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
(1) Phương pháp lí thuyết: Vận dụng lí thuyết công thức truyền miệng của
M.Parry –A.Lord trong việc khảo sát cấu trúc sử thi Mơ Nông; vận dụng phương pháp hệ thống, với các thao tác thống kê, so sánh các công thức trong hệ thống ot ndrong và sử thi các tộc người khác ở Tây Nguyên; phương pháp phân tích văn học: làm nổi bật giá trị tu từ, khả năng diễn đạt, các biện pháp nghệ thuật và tính
thẩm mỹ truyền thống của các công thức diễn đạt trong sử thi Mơ Nông
(2) Phương pháp nghiên cứu điền dã (điều tra, quan sát, tham dự diễn xướng …)
Trang 26tìm hiểu sử thi trong mối liên hệ văn bản – bối cảnh và diễn xướng.
IV PHẠM VI TƯ LIỆU
Hệ thống sử thi Mơ Nông từ 1990 đến nay đã có hơn 40 tác phẩm ot nd ro\ng
được xuất bản, chúng tôi lựa chọn trong đó 7 tác phẩm để khảo sát, làm tư liệutrực tiếp cho đề tài, những tác phẩm khác dùng làm tư liệu so sánh khi cần thiết
Trong hệ thống ot nd ro\ng đã xuất bản có 8 nghệ nhân tham gia hát kể (Điểu
Klung, Điểu Klứt, Điểu Kâu, Điểu Plang, Điểu Glơi, Điểu Mpiơih, Me Luynh, MeJêch) chúng tôi chọn trong cụm các tác phẩm của 7 nghệ nhân, mỗi nghệ nhânmột tác phẩm có dung lượng lớn nhất để khảo sát (Nghệ nhân Điểu Kâu cũng cótham gia hát-kể một số tác phẩm nhưng chúng tôi đánh giá ông chủ yếu là nghệ
nhân dịch sử thi - ot nd ro\ng nên không chọn tác phẩm của ông) Cụ thể là những
tác phẩm của các nghệ nhân sau:
1 Rôch, Rông bắt hồn Lêng – Điểu Plang
2 Thuốc cá ở hồ bầu trời, mặt trăng – Điểu Klung
3 Con hổ cắn mẹ Ro\ng – Điểu KLứt
4 Cướp chăn lêng của Jrêng, Lêng con Ôt – Điểu Glơi
5 Lùa cây bạc cây đồng - Me Luynh
6 Ting, Ru\ng chết - Điểu Mpiơih
7 Yang bán Bing con Lông- Me Jêch
V ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
- Đối với phương pháp nghiên cứu văn học dân gian: Cung cấp những kháiniệm cơ bản của phương pháp nghiên cứu thể loại truyền miệng từ các công thứctruyền miệng
- Thực tiễn nghiên cứu thể loại sử thi: Việc nghiên cứu hệ thống công thứctruyền miệng của sử thi Mơ Nông (thống kê, mô tả, xây dựng mô hình cấu trúcchung của tác phẩm…) góp phần tìm hiểu những vấn đề bản chất của thể loại: Từcấu trúc loại hình tự sự, quá trình hình thành văn bản truyền miệng – văn bản in;nghiên cứu mối quan hệ văn bản và nghệ nhân, diễn xướng sử thi Mơ Nông…
- Đối với thực tiễn đời sống văn hóa – xã hội: Khẳng định giá trị của sử thi
Mơ Nông nói riêng và sử thi Tây Nguyên nói chung, vai trò của văn hóa dân gian
Trang 27trong đời sống cộng đồng; vai trò của nghệ nhân, trí thức dân gian trong việc bảotồn, phát huy các giá trị truyền thống văn hóa.
Trang 28VI CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án có các phần: Phần mở đầu, Phần nội dung, Phần kết luận Thư mụctham khảo, Phụ lục
Phần nội dung có 3 chương:
Chương 1:
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
VÀ LÍ THUYẾT CÔNG THỨC TRUYỀN MIỆNG
Chương 2:
CÔNG THỨC TRUYỀN MIỆNG TRONG SỬ THI MƠ NÔNG
VỚI VIỆC THỂ HIỆN NỘI DUNG, TƯ TƯỞNG THẨM MỸ THỂ LOẠI
Chương 3:
VAI TRÒ CỦA CÔNG THỨC TRUYỀN MIỆNG
ĐỐI VỚI VIỆC DIỄN XƯỚNG
VÀ VỚI QUÁ TRÌNH VĂN BẢN HÓA SỬ THI - OT NDRO|NG
Trang 29Chương 1:
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
VÀ LÍ THUYẾT CÔNG THỨC TRUYỀN MIỆNG
1 1 KHÁI QUÁT VỀ TỘC NGƯỜI MƠ NÔNG
1.1.1.Đời sống vật chất và tinh thần của tộc người Mơ Nông
Tộc người Mơ Nông ở Việt Nam có khoảng gần 70.000 người, sống chủ yếu ởĐắc Nông, Đắc Lắc và một phần Bình Phước, Lâm Đồng Người Mơ Nông thuộcloại hình nhân chủng Indonésien, họ có tầm vóc thấp, nước da ngăm đen, môi hơidầy, mắt nâu đen, tóc đen và thẳng, một số người tóc đen uốn tự nhiên
Về ngôn ngữ: Ngôn ngữ Mơ Nông thuộc ngữ hệ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam
Á) Do địa bàn sinh sống có nơi xen kẽ với người Ê Đê (chẳng hạn nhóm MơNông Rlâm ở huyện Lăk) nên trong vốn từ vựng Mơ Nông ít nhiều có chịu ảnhhưởng của tiếng Ê Đê (thuộc ngữ hệ Malay- Pôlinêdi, ngữ hệ Nam Đảo) [33/3]
Trong công trình Không gian xã hội vùng Đông Nam Á, học giả
G.Condominas đã mô tả và nhận xét khá nhiều hiện tượng ngôn ngữ của người
Mơ Nông như cách sử dụng hậu từ chỉ sự thuộc về (de), hậu từ chỉ người được nhận vật tặng hoặc hành động (in) [8/334], hiện tượng biến đổi âm theo vùng địa
lí… Trong đó, tiếng Mơ Nông có đặc trưng là “nguyên âm ngắn, từ đơn âm.Người Mơ Nông có rất nhiều nhóm, sự thống nhất giữa các nhóm này không phảitrên cơ sở địa lý hay lịch sử mà chủ yếu dựa vào sự thống nhất của ngôn ngữ.Condominas đã quan sát thấy điểm quan trọng này và cho biết sự ngăn cách giữalàng này với làng khác là do sự phát âm khác nhau các từ và việc sử dụng các phụ
từ [8/336]
Condominas cũng cho biết tiếng Mơ Nông đã được phiên âm qua một hệthống bảng phiên âm từ năm 1952 được công bố bởi ông chủ tịch Ủy ban Đà Lạt[8/333], bản thân ông cũng lập một bảng từ vựng tiếng Mơ Nông có sự giải thíchkèm theo bằng tiếng Việt Hiện nay, ngoài Từ điển tiếng Mơ Nông được xuất bản,
đã có phẩn mềm Từ điển Việt – Mơ Nông gồm 12.131 mục từ, và từ điển MơNông - Việt gồm 13.031 mục từ
Trang 30Về địa bàn và hình thái cư trú: người Mơ Nông sinh sống chủ yếu ở huyện
Lăk (tỉnh Đắc Lắc), các huyện Đắc Rlâp và Đắc Min, huyện Krông Nô, KrôngPách, Ea Sup (tỉnh Đắc Nông)… Chính vì địa bàn cư trú rộng, không tập trung vàtrải qua những biến động lớn trong lịch sử, việc du canh du cư nên người MơNông bị phân chia thành nhiều nhóm khác nhau: Mơ Nông Nông (nhóm Nong,Biăt, Nor), Mơ Nông Preh, Mơ Nông Gar, Mơ Nông R’ông, Mơ Nông Rlâm…Các tên gọi đó thực ra là tên Mơ Nông ở các địa bàn cư trú khác nhau, cho nênmỗi nhóm Mơ Nông có một số biểu hiện khác nhau về đời sống vật chất, đời sốngtinh thần nhưng cơ bản vẫn thống nhất trên những nét lớn
Chúng tôi đến nhiều bon Mơ Nông, xin mô tả hai bon trong đó
Thứ nhất, Bon Jâng Plây II thuộc xã Trường Xuân, huyện Đắc Song, Đắc
Nông Trước đây chỉ có một bon, sau do sự phát triển dân số và sự di cư nên đượctách ra thành hai bon (Jâng Plây I và Jâng Plây II) Bon Jâng Plây II có 67 hộ với
315 khẩu, sống dọc theo trục đường chính của bon Nương rẫy ở xa so với khu nhà
ở Kinh tế chủ yếu của người trong bon là làm nương rẫy, rẫy ở xa, trồng cà phê,hạt tiêu, mì (sắn) khoai… Nhìn chung bon Jâng Plây II khá phát triển, ở gầnđường giao thông nhưng dân cư thưa thớt, có khi cả một đoạn đường dài chỉ có vàinóc nhà, mỗi nhà cách nhau những vạt rẫy xa Ban ngày trong bon vắng vẻ, ít cócác hoạt động của đời sống vì mọi người đều lên rẫy, có khi họ ở lại chòi rẫy cảngày hoặc nhiều ngày liên tục Người dân chủ yếu lên rẫy trồng trọt, hái rau và bắt
Trang 31nơi quan trọng nhất là vựa thóc và sạp để ché rượu Nơi trú ngụ của mỗi một giađình được xác định bằng kho thóc của họ và số ché ít hay nhiều chứng tỏ điều kiệnkinh tế giàu hay nghèo của người chủ nhà.
Về kinh tế: Người Mơ Nông là một trong những cư dân tiêu biểu của phương
thức canh tác nông nghiệp dùng cuốc ở Tây Nguyên Kinh tế nương rẫy chiếm vịtrí trọng yếu, theo cách nói của họ là “ăn rừng” – canh tác bằng cách đốt rẫy Tổchức xã hội của người Mơ Nông dựa trên cơ cấu bon (làng) ở gần (xen) với rừng
Do đó, những người xung quanh gọi người Mơ Nông là “những người ăn rừng”
(saa brii) Hình thái kinh tế của họ là nửa du canh, tức là mỗi năm ăn ở một vạt
rừng khác nhau, họ đốt rừng để trồng rẫy, nhưng không cố định nhiều năm trênmột địa điểm mà cứ hết các vạt rừng xung quanh thì chuyển đi nơi khác, đất đaiđược nghỉ ngơi, mọc lại thành rừng thì họ quay trở về Đây là yếu tố quan trọng đểtìm hiểu về đời sống, quan niệm, phong tục của người Mơ Nông, họ khác vớinhững dân du canh khác là có sự trở về làng bản cũ, cho nên trong ý thức của họ
có quan niệm về quê gốc, trong những áng sử thi Mơ Nông, Tiăng thường nhắc vềquê cũ, những nơi mẹ Ro\ng, cha Bo\ng đi mở rừng, lập bon Về cơ bản, boncủa họ vẫn tương đối cố định, và đời sống được ổn định hơn nếu họ tìm đượcnhững mảnh đất màu mỡ, gần nguồn nước và đặc biệt là được sự đồng ý, che chởcủa các vị thần linh
Người Mơ Nông nói riêng và các dân tộc ở Tây Nguyên nói chung sống dựavào rừng Rừng là nguồn lợi, là sự che chở của thần linh đối với họ cho nên đồngbào một mặt tôn kính bằng các hình thức tín ngưỡng, thờ cúng thần rừng, cùng vớicác kiêng kị, tập tục, một mặt giữ gìn, bảo vệ rừng Đối với họ, rừng là nơi trú ngụcủa thần linh, là nơi mà lưỡi rìu không bao giờ được đụng đến Nhiều hình thứcnghi lễ được tiến hành trong rừng, khiến hình dung của đồng bào về rừng càng trởnên thiêng liêng, huyền bí Những bí tích về rừng và không gian huyền thoại củarừng càng ngày càng được bồi đắp trong niềm tin của cộng đồng và cũng là cáchthức để họ giữ gìn rừng của mình Nhìn bề ngoài, kinh tế của người Tây Nguyên là
du canh hay nửa du canh nhưng nhà dân tộc học Từ Chi thì cho rằng, “hình thứckinh tế của người Tây Nguyên không phải du canh du cư mà là hỏa canh” [10/549]
và dù có du canh thì rừng không bị hủy vĩnh viễn “Cư dân Tây Nguyên có một
Trang 32quan hệ chặt chẽ với núi rừng nên quy phạm ứng xử với môi trường chủ yếu làxoay quanh quan hệ với núi rừng Có thể nói văn hóa Tây Nguyên là một nền vănhóa núi rừng [12/168]
Bên cạnh việc luân canh lúa là hình thái kinh tế phổ biến và quan trọng nhất,người Mơ Nông cũng có phát triển một số nghề thủ công, trong đó quan trọng làdệt, những nghề rèn kim loại thì kém phát triển và thường phải dựa vào những dântộc anh em sống ở xung quanh Thực tế này dẫn đến đặc điểm của đời sống kinhtế-xã hội của người Mơ Nông: người phụ nữ rất quan trọng trong lao động, sảnxuất và trao đổi hàng hóa; những chuyến đi xa trao đổi sản phẩm nông nghiệp đểđổi lấy công cụ tạo điều kiện giao lưu giữa người Mơ Nông và các dân tộc khác
Về đời sống xã hội, phong tục tập quán: Người Mơ Nông tổ chức xã hội thị tộc mẫu hệ (gọi là mpôl), cư trú trên nhà vợ và theo dòng họ mẹ Hôn nhân theo
chế độ ngoại hôn, cấm những người cùng thị tộc mẹ có quan hệ với nhau, ngườiđàn ông sau khi kết hôn cứ trú bên nhà vợ Ông Y Tiêng (tên gọi này cho thấy ông
là người Ê Đê, theo vợ về đây làm trưởng bon) người nhỏ thó, nước da ngăm đen,sinh năm 1964, quê ở Đắc Hai lấy vợ thì theo vợ về đây sinh sống Hơ Rin sinhcho ông năm người con, đều đặt tên theo họ mẹ: lần lượt là Hơ Tuyên, Hơ Thanh(con trai)… Ông kể ngày xưa hai người tự tìm hiểu nhau, về sau vợ ông sang hỏiông làm chồng Làm đám cưới ở nhà gái trước, mời tất cả họ hàng nhà vợ Sau đólàm đám cưới ở nhà trai (lúc này chỉ có hai gia đình) Trước khi về nhà vợ, bố mẹông dặn dò các con cái ăn ở hạnh phúc, lo làm kinh tế Trong cả hai nơi tổ chức,nhà trai phải chi phí mọi thứ: trâu, bò, lợn gà…
Về văn hóa truyền thống: Người Mơ Nông truyền thống tôn trọng tính cộng
đồng, không có thủ lĩnh thực sự như các tộc người ở phía Bắc, trong các loại hìnhthủ lĩnh, người Mơ Nông thường có thủ lĩnh tôn giáo, có tính chất tinh thần chứkhông phải thủ lĩnh quân sự Trước khi người Pháp sang xâm lược, “các cộngđồng Mơ Nông thường chỉ có những người đứng đầu được bầu để tiến hành cácnghi lễ với ruộng đất, xây dựng bon làng và sở hữu đất đai” [9/378] Vai trò đáng
kể nhất của những người đó là tiến hành các nghi lễ Hiện nay, tổ chức xã hội củangười Mơ Nông được hành chính hóa và quy phạm theo những chức danh giốngnhư người Việt: có trưởng thôn, có chủ tịch xã… nhưng song song với hệ thống
Trang 33đó, vẫn có những người già có kiến thức, có kinh nghiệm được coi trọng Già làng
là một tổ chức rất dân chủ của thiết chế công xã nông thôn theo quan hệ đồngđẳng: Chủ làng – già làng – dân làng “Già làng là một hội đồng được dân cử, hếtsức dân chủ Hiện tượng này không phải độc nhất vô nhị ở Tây Nguyên mà phổbiến nhiều nơi trên thế giới và được gọi là cơ chế lão quyền” [10/551]
Quan hệ trong bon tương đối tốt đẹp nhưng giữa các bon lại luôn phải trong tưthế đề phòng, đối phó “Các làng thường phải rào kĩ để được yên ổn Xưa kiathường xảy ra đánh nhau giữa các làng vì những duyên cớ không đâu (nghi oan là
ma lai, đòi nợ, ) Có khi dẫn đến những cuộc chiến tranh đẫm máu” [12/119].Nhưng về cơ bản, người Mơ Nông cũng như một số tộc người ở Tây Nguyêntrước 1945 vẫn đang ở cuối giai đoạn công xã nguyên thủy, chưa có sự hình thànhcác bộ lạc và chiến tranh bộ lạc Vì thế những xung đột thường do mâu thuẫn cánhân hoặc một số nhóm trong cộng đồng về việc tranh chấp địa bàn cư trú Những
sự mô tả chiến tranh trong sử thi nằm trong tư duy thẩm mĩ của thể loại, là cáchhình dung của con người về những anh hùng chứ không phải mô tả những tư liệu
từ đời sống thực tại
Người Mơ Nông có đời sống tín ngưỡng đặc biệt phong phú Họ quan niệmthế giới có ba tầng (trời, đất và dưới mặt đất) và ở nơi đâu cũng có các thần linhngự trị và chi phối cuộc sống con người Cho nên, những hoạt động thường ngàycủa đồng bào cũng thường hướng về các vị thần linh, để ý, chăm chú từng hànhđộng, ngôn ngữ, kiêng kị… để biểu lộ niềm tôn kính cũng như sợ hãi trước các thếlực siêu nhiên Họ có một hệ thống quan niệm về linh hồn và đi kèm theo đó là cáchình thức nghi lễ, sinh hoạt, diễn xướng liên quan Để điều khiển linh hồn thì cóbùa ngải, để an ủi linh hồn thì có tế lễ… Giấc mơ cũng là biểu hiện cho thấy sựđiều khiển, chi phối của linh hồn với đời sống thực tại của con người “Người taxem giấc mơ là cách thế giới siêu linh mách bảo cho con người biết trước việcmình định làm là tốt hay xấu, nên hay không nên Gần như là một quy tắc chỉ đạohành động trước khi định đoạt một việc gì: từ mua ché, mua chiêng, đến cưới xin,làm rẫy, dời làng… người ta đều phải chờ sự mách bảo của thế giới siêu linh quagiấc mơ” [12/113]
Trang 34Nhìn chung, “tính tình người Mơ Nông thầm lặng, có phần hơi lạnh lùng Họkhông thích giao du rộng rãi như người Ê Đê, Gia Rai Có lẽ cái thú vui nhất của
họ là những người đồng tộc ngồi bên nhau nói chuyện, uống rượu Cuộc sống của
họ luôn thể hiện tính chất hai mặt: vừa hiện thực vừa hư ảo Họ vừa có tính thựcdụng nhưng cũng rất tin vào những điều huyền ảo, tin vào thế giới tâm linh Đó là
sự hiện diện của cách sống và tư duy nguyên thủy còn lưu giữ một cách mạnh mẽtrong họ” [33/141] Tuy không được tổ chức thường xuyên nhưng những dịp hội
lễ đóng vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức đời sống cộng đồng, khôi phục vàphát triển quan hệ cá nhân với cộng đồng, tạo ra nhịp điệu riêng trong cuộc sốngcủa đồng bào Phải chăng, đó là những nguyên nhân về mặt cơ sở xã hội cũng nhưtâm lí góp phần sáng tạo nhiều giá trị tinh thần phong phú, các hình thức phôn-cờ-
lo đa dạng và giàu giá trị của người Mơ Nông, trong đó có sử thi – ot nd ro\ng.
1.1.2 Giá trị phôn-cơ-lo của người Mơ Nông
Thành tựu nổi bật nhất của phôn-cơ-lo của người Mơ Nông tất nhiên là kho
tàng sử thi – ot nd ro\ng, chúng tôi sẽ giới thiệu ở phần sau Trong mục này,
chúng tôi chủ yếu đề cập đến những thể loại phôn-cơ-lo Mơ Nông khác như truyện
cổ dân gian, ca dao, tục ngữ… mà mỗi thể loại đều hết sức phong phú, có nhữngđặc điểm độc đáo và giá trị riêng nhất định trong tổng thể văn học dân gian của tộcngười Mơ Nông
1.1.2.1 Truyện cổ dân gian
Một trong những tập truyện cổ dân gian đầu tiên của người Mơ Nông đượcgiới thiệu là cuốn “Truyện cổ M’nông” do Y Thi sưu tầm và biên soạn (Nxb Văn
hóa dân tộc 1988) Năm 2006, Trương Bi chủ biên xuất bản Sự tích cây nêu thần (Nkhôngch yau n’gân njuh), Kho tàng truyện cổ Mơ Nông, Sở Văn hóa - Thông
tin Đắc Lắc Cũng năm 2006, nhóm soạn giả Nguyễn Văn Huệ, Lưu Quang Kha,Nguyễn Văn Phổ, Đinh Lê Thư, Phan Xuân Viện đã sưu tầm trên địa bàn huyệnLăk và Đăk Mil, tỉnh Đắc Lắc, bổ sung 27 truyện vào kho tàng truyện cổ Mơ
Nông và xuất bản cuốn Truyện cổ Mơ Nông.
Năm 2008, Tổng tập Văn học dân gian các dân tộc thiểu số, tập 14, phần
truyện cổ tích tuyển chọn 6 truyện Mơ Nông theo tài liệu chép tay của Trương Bi,nghệ nhân Điểu Kâu dịch
Trang 35Về thần thoại: Cho đến nay, thần thoại người Mơ Nông chưa được tập hợp
đầy đủ trong một công trình cụ thể Vốn thần thoại truyền miệng lưu truyền trongđời sống dân gian, qua lời kể của nghệ nhân Giới nghiên cứu biết đến những câuchuyện đó qua những tư liệu điền dã dân tộc học, trong những sách địa chí, hồi kýcủa những học giả người Pháp trước đây
Theo tư liệu của Condominas – Đại hồng thủy, khúc ca thần thoại – bài viếtnăm 1953, in năm 1972, ông cho biết “có bài ghi chép của cha Marius Boutary sưu
tầm ở Paang Tieng có nhan đề là Mang Lêeng Mang Taa, trong đó chỉ có từ mang
có nghĩa là đêm tối, chỉ thời kì lạnh đến dữ dội đến nỗi nó biến mọi sinh vật thànhtảng đá; những tảng đá này đáng chú ý bởi hình dạng lạ lùng của chúng đã giữ lạitên của chúng từ thời bấy giờ Người ta không biết là Đại hồng thủy đã đổ xuống
tổ tiên trước hay là sau sự hóa đá” [9//349]
Người Mơ Nông đã đặc biệt chú ý miêu tả một trận lụt khổng lồ và cái rét như
là hậu quả của trận lụt này, của sự ẩm kèm theo cái rét và cũng như những cảnh
âm u tối tăm bao trùm lúc đó Văn bản tiếng Việt, kèm theo tiếng Mơ Nông mànhà nghiên cứu cung cấp như sau:
Chết cứng đờ, là nàng Maang điên dại, con gái của Soor; gày guộc, Jaaang, Như Kraang ống lắc lư muốn thi các điệu hát với Put, con gái Kôong:
Dưới vô số những đống cây đốn cháy đen mọc cỏ không đếm xuể (mọc) ở dưới; muốn đua các điệu hát với Put, con gái Dlaang:
Nói nói: hãy xem chó ăn gì
Cây trúc to rủ xuống
cây trúc to nghiêng nghiêng
cây trúc to đầu đưa (vì gió)
Bắt cá bắt ở Rmang
bắt cá đực ở sông Nting
ô mi, con trâu sừng quay xuống đất lao đầu vào nhà Nting
ô mi, chắn ngang cửa nhà Nting
Ăn con hươu làm Yaang Brêe
ăn con hoẵng làm Yaang Khônge lẩn trốn
ăn con khỉ làm Yaang The lẩn trốn mãi mãi
Yaang Teh muốn lôi kéo Yaang Brêe co rúm lại (vì lạnh)
tự trốn tránh, nắm lấy tai Yaang Daa
Trang 36Yaang Teh muốn lôi kéo Yaang Brêe không chịu
ở phía thượng lưu, nhằng nhịt những thân cây chết với gốc nổi trên mặt nước
ở phía hạ lưu, người ta sa lầy trong cỏ ar, những cơn lốc trong cây nii, trong cây
có hai chân
tôm nhảy loạn xạ
cua khua cẳng bò ngang
con nhái pôi bụng to
bầu rượu quay cuồng, con gái của Mang Liing lâm nguy
Người ta vứt vào lửa cái kệ để thống (và xuất hiện Aang, con gái của Mang Liing Mang Liing chạy trốn, khi chạy trốn đã đập vỡ cái bầu, đập vỡ
Mang Liing chạy trốn, khi chạy trốn đã đập vỡ cái bầu nước; khi chạy đã đập vỡ cái bầu cháo
Người ta bỏ cơm nguội bảy ngày
Người ta hiến tế một con trâu rôh, có một khuỷu tròn
Người ta hiến tế một con trâu rah, một khuỷu, một sừng
một con trâu cái đẻ ba lần”
Ông gọi đây là “điệu hát cổ” mang tính chất hết sức bí hiểm mô tả cảnh khốncùng khắp nơi giáng xuống thế gian cùng nạn Đại hồng thủy, nạn đói và chứngđiên đã tiêu diệt con người Người dân cho nhà nghiên cứu biết Braah là một vịthần có hình dáng là khối tròn đen
Qua ví dụ trên, chúng ta cũng thấy được sự tồn tại của hình thái thần thoại cổxưa: những bài văn vần gắn với nghi lễ, tín ngưỡng của cộng đồng: hiến tế trâu
Trong Truyện cổ Mơ Nông, có thần thoại “Cội nguồn” đã giải thích nguồn
gốc của đất trời cây cỏ, gắn liền với chiến công, sự sáng tạo của các vị thần khaithiên lập địa (Krak, Ntung, Bung tạo ra các giống vật, Yang tạp ra sông núi,Thần Rừng tạo ra các sông suối…) Đó là cả thế giới thần linh phong phú, sinhđộng, mà mỗi hình tượng thần biểu trưng cho những chiến công mở mang bờ cõi,chinh phục tự nhiên, tạo lập địa bàn cư trú của con người
Krak Lưn đẽo đá rất giỏi, chàng có thể đẽo thành người hay hình con vật… Nếu chàng đẽo đá thành hình con rùa thì như con rùa thật đang ngỏng cổ lên nghe chuyện… Khi đẽo đã được nhiều rồi, Krak Lưn bèn chạm vào các tượng đá để chúng thành con người thật, con vật thật [57/13]
Trang 37Krak Lưn đóng vai trò là thần sáng tạo, thần khai sáng làm ra muôn vật Điềuđặc biệt, thần thoại Mơ Nông, cùng với hệ thống sử thi, truyền thuyết dân gian tạothành dòng chảy liên tục trong việc giải thích sự hình thành của thế giới và muônvật, trong đó lựa chọn biểu tượng ĐÁ với ý niệm: Con người và muôn vật sinh ra
từ đá Trong sử thi, đó là:
Từ thời xa xưa
Có con bướm soi mình trên đá
Có con bướm quan hệ với đá Con chuồn chuồn quan hệ với nước Hòn đá đẻ ra một trăm con người Dòng thác sinh ra một nghìn con người Nước biến sinh ra trứng và nở ra Tiăng (Bông, Rong và Tiăng, dòng 1-7) [31/ 427] Trong truyện cổ tích Chàng đá lăn: Có chàng trai sinh ra trong tảng đá lớn,
nhờ Chim ưng mổ vỡ tảng đá dính trước người, chàng mới trở thành chàng traiđẹp đẽ…
Những biểu tượng thần thoại đã được tiếp nối trong thể loại sử thi, cổ tích thểhiện quan niệm của người Mơ Nông về vũ trụ, về nguồn gốc của sự sống và conngười Sự thống nhất trong cách sử dụng những biểu tượng thần thoại đã thể hiệnsức sống mạnh mẽ của vốn văn học dân gian, tính kế thừa trong sáng tác dân giancủa người Mơ Nông
Trong Sự tích cây lúa, bà Ka Lôm mang dáng dấp một Nữ thần, bà Mẹ xứ sở
với vóc dáng, kích thước khổng lồ Bà cũng là hiện thân của tinh thần sáng tạo,biểu tượng cho thành tựu trong lao động sản xuất của người Mơ Nông: Bà sinh ra
từ trong lòng đất, dạy dân làm ra lửa Bà lấy từ trong lòng mình ra mọi thứ chocon người Chỉ riêng bà Ka Lôm có muối vì bà lấy từ trong người ra [57/18] Sau
đó con bà là Ha Muôi đã làm cho cây lúa không còn tự đi về làng nữa, rồi chúngbiến thành đàn ong bay về trời, dân làng trở nên đói kém Sau có người tên làHgian Yê – Kôl – Tang bày cho mọi người cách lên rừng cúng Giàng cầu xin bancho lúa gạo
Trang 38Thần thoại tuy không phải là lịch sử nhưng nó đã lưu giữ những kí ức về lịch
sử của nhân loại Thần thoại phản ánh đời sống nguyên thủy của người Mơ Nôngvới tất cả những nỗi vất vả, cực nhọc để sinh tồn và sáng tạo các giá trị văn hóa,đạt được những thành quả lao động to lớn Qua những câu chuyện này, người MơNông như thấy được bóng dáng của tổ tiên, thấy được nguồn gốc và quá trình pháttriển của mình
Về truyền thuyết: Căn cứ trên số lượng truyền thuyết đã được sưu tầm, có thể
nói truyền thuyết của người Mơ Nông không mang tính hệ thống và ở một trạngthái nhỏ lẻ, vụn vặt Trong đó ít có những truyền thuyết đề cập đến toàn thể cộngđồng Mơ Nông trong quá trình vận động của lịch sử Chúng tôi nhận thấy có nhiều
truyền thuyết về dòng họ, về từng bon làng cụ thể: Kiêng ăn thịt nai, Sự tích về các dòng họ (Họ Du kiêng ăn thịt nai, Họ Du kiêng ăn củ păng lăn, Họ Du kiêng
ăn thịt trăn…) Điều này rõ ràng phản ánh thực tế quá trình tồn tại và phát triểncủa tộc người Mơ Nông Hệ quả tất yếu của sự thiên di liên tục, sự phân chia táchthành các nhóm nhỏ khiến cho truyền thuyết bị phân tán và hướng vào những chủ
đề nhỏ hơn Màu sắc dòng họ, gia đình, bon làng… trở nên đậm nét hơn
Các truyện Ntar Nkhun không mổ vợ đẻ, Sự tích dòng họ Buôn Kroong (kiêng
ăn thịt khỉ), đều có chung cốt truyện: Người phụ nữ đẻ là chết Ntar Nkhun cưới
vợ sinh con không muốn vợ chết đi hỏi muôn loài Cuối cùng nhìn thấy bầy khỉ đỡ
đẻ về làm cho vợ Câu chuyện kể gia phả của dòng họ 13 đời, mang dấu ấn truyềnthuyết phả hệ nhưng cơ bản vẫn là truyện cổ tích loài vật
Về truyện cổ tích: Nội dung của truyện cổ tích Mơ Nông khá phong phú, đã tái
hiện đời sống, không gian sinh hoạt văn hóa của đồng bào, mỗi lời kể đều thấmđẫm không khí núi rừng Tây Nguyên, vang vọng tiếng cồng chiêng, huyền ảo vớinhững lễ hội, phong tục cổ truyền: cúng thần bến nước, cúng Giàng, đan gùi, bửacủi, đi bứt dây mây (công việc của chàng Trâu rừng ở truyện cùng tên)…
Trong truyện cổ Mơ Nông, có hai nhân vật tên là Djũt và N’ơi thường đi cặpđôi với nhau, nhưng mang tính đối lập về hình dáng, tính cách và hành động Thânhình Djũt “cao to như gốc cây trăm tuổi”, còn N’ơi chỉ “to hơn con thỏ một chút”.Djũt chậm chạp, thật thà, ngờ nghệch thì trái lại N’ơi nhanh nhẹn và tinh khôn.Trong cuộc sống Djũt luôn luôn bị N’ơi chơi xỏ: đi phát rẫy, Djũt làm quần quật
Trang 39cả ngày, N’ơi nằm chơi Khi Djũt về, N’ơi bê hòn đá làm dấu của Djũt đến đặt ởphát rẫy đã phát là của mình Djũt bực lắm nhưng đành bấm bụng chịu vậy Đi câu
cá, Djũt bị N’ơi dùng mẹo lấy hết cá Đi bẫy chim, Djũt bị N’ơi lừa lấy mất rấtnhiều cơm nếp, trứng gà luộc Đây là truyện cổ tích sinh hoạt, khác với truyện củangười Việt thường đề cập đến một nhân vật thông minh hoặc ngốc nghếch thìtruyện của Mơ Nông đặt hai nhân vật song song với nhau Tác giả dân gian cũngkhông hẳn phê phán hay khen ngợi nhân vật nào mà giữa thái độ trung lập, chỉ đưa
ra các tình huống, phần còn lại tùy thuộc vào cảm nhận của người đọc Truyệnmang tính giải trí cao và có ý nhắc nhở nhẹ nhàng về thái độ ứng xử của con người
(Anh Djũt và em N’ơi).
Truyện Y Tol Len và Hơ Bia kể về cuộc kén rể của Hơ Bia, các chàng trai thi
bắn xoài, ai thắng được lấy Hơ Bia Y Tol Ten chiến thắng đưa xoài cho Hơ Bia
ăn mang bầu Dân làng cho rằng Hơ Bia chửa hoang nên bắt tội, nhốt cả nhà vào
cái trống; Truyện Hai anh em Ndrok và Ok lại nhằm giải thích hiện tượng hôn
nhân anh em ruột, tàn dư của xã hội nguyên thủy, tạp hôn: Hai anh em đi rừng,người em uống nước trong ống tre mang thai Dân làng kết tội loạn luân Đứa consinh ra ngày là bò, đêm là người Sau giúp cha mẹ trở nên giàu có… Đó là những
số phận, những cuộc đời bất hạnh trên hành trình tìm kiếm hạnh phúc của mình đãthể hiện những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, ước mơ về cuộc đổi đời kì vĩ, thể hiệncái nhìn đầy nhân hậu, lạc quan của người dân Đằng sau những cuộc phiêu lưu kì
ảo đó là những quan niệm, phong tục, ứng xử của cộng đồng Điều này làm nêntính sâu sắc, thú vị của nhóm truyện cổ tích Mơ Nông
Có một số lượng lớn là kiểu truyện người lấy vật (hay nhân vật xấu xí mà tài
ba, nhân vật mang lốt)… Kiểu truyện nhân vật xấu xí mà tài ba, hay truyện ngườilấy vật mang mô hình cấu trúc chung theo dạng thức kết thúc có hậu: nhân vậtsinh ra mang lốt – nhân vật vượt qua thử thách (về tài năng, phẩm chất) – trở lạihình dáng ban đầu (đẹp đẽ)- kết hôn Nhưng trong truyện dân gian Mơ Nông,nhiều truyện thuộc dạng này lại kết thúc bi kịch:
Chàng Trâu rừng 1: Có người con gái bị Trâu rừng bắt nhờ Cáo cứu nên lấy
Cáo làm vợ Sau gia đình cô giết chết Cáo, cô đốt lửa nhảy vào tự tử theo chồng
Từ đống tro mọc lên cây bí, em gái cô một hôm đi làm qua dó thấy quả bí hái về
Trang 40Ít lâu sau trái bí nứt ra, người chị sống lại Người chị ở nhà thấy trời mưa chạy racất củi, bị nước mưa ngấm vào lại biến thành tro.
Chàng Trâu rừng 2: Cô gái bị trâu rừng quyến rũ, lấy nhau rồi sinh con Hai
vợ chồng đưa con về làng chồng Trâu rừng trói vợ vào gốc cây rồi gọi họ hàngđến ăn thịt Chồn cứu cô vợ và giết chết họ hàng nhà trâu Cô vợ lấy Chồn rồi trở
về nhà bố mẹ Nhưng người em trai cô tưởng rằng Chồn hại cô nên xô Chồn vàođống lửa Cô vợ thấy chồng chết, khóc mãi mà chết theo [57/53]
Điều này được các nhà dân tộc học lí giải: “Ta có thể tìm thấy chủ đề xungkhắc giữa người anh trai và người chồng bị đẩy lên mức phải loại trừ lẫn nhau,trong một màn diễn rất cổ mà ngày nay bị quên lãng Khi có một người đàn ôngchết, giữa thời gian ngày chết và ngày an táng, một chàng trai đến tán tỉnh cô gáiđúng vào ngày chết của anh trai cô ta Anh ra chen vào các ca khúc về tình yêubên cạnh những lời khóc than của cô gái với anh trai mình” [56/244]
Kể chuyện rắn: người vợ ngoại tình chờ chồng đi rẫy thì ra bến nước gặp Rắn.
Đứa con nghe được kể cho cha, người cha giả cách của vợ giết chết rắn Rồi ngườichồng đuổi vợ đi Chị vợ không được ai cho ở cùng nên ở chung với chuồng lợn.Rồi chị sinh ra một ổ rắn Người chồng trở nên nghèo đói, túng quẫn Nhờ chimdẫn đường tìm vợ và đoàn tụ với nhau [mô típ trao tín vật để biết may rủi – chiếcnhẫn] Hình thức kết thúc không có hậu xuất hiện nhiều như vậy cho thấy hiệnthực xã hội với những bế tắc, đau khổ của con người là điều có thực Đó cũng làmột cách để lí giải các hiện tượng xã hội và những vấn đề của đời sống Nhưngmỗi số phận đau khổ không giải quyết được đó cũng để lại những bài học thực tế
về cách ứng xử, về đạo đức của con người và qua đó càng khẳng định ước mơ,khát vọng hạnh phúc mạnh mẽ hơn của con người
Về đặc trưng thể loại: Một trong những đặc điểm nổi bật của truyện cổ tích
Mơ Nông là sự giao thoa, hòa trộn với những thể loại truyện dân gian khác Hiệntượng này mang tính phổ biến ở các tộc người ít có tính biến động về đời sống xãhội – lịch sử, dẫn đến tình trạng chưa xuất hiện những yếu tố cần thiết cho sự rađời một số thể loại văn học dân gian Sự thiếu vắng của những thể loại đó được bùđắp bằng hình thức truyện kể như một chỉnh thể tổng hợp chưa bị chia tách Chẳnghạn truyện “Bon con nai” nói về người đi rừng lạc vào bon của nai, thấy cả cộng