BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA Y HỌC CỔ TRUYỀN CHUYÊN ĐỀ Y HỌC CỔ TRUYỀN CƠ SỞ CƠ SỞ LÝ LUẬN BỆNH HỌC Y HỌC CỔ TRUYỀN GVHD TS BS LÊ BẢO LƯU HỌC VIÊN VÕ THỊ ÁN[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LỚP CAO HỌC 2021 – 2023
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH ẢNH
CHƯƠNG 1: BỆNH HỌC HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG
1.1 LỊCH SỬ 1
1.2 CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA HỌC THUYẾT ÂM – DƯƠNG 1
1.2.1 Âm dương đối lập 2
1.2.2 Âm – dương hỗ căn 3
1.2.3 Âm – dương tiêu trưởng 4
1.2.4 Âm – dương chuyển hóa 5
1.3 GIẢI THÍCH VỀ THAY ĐỔI BỆNH LÝ 6
1.3.1 Khái quát nhân tố gây bệnh 6
1.3.2 Khái quát về quy luật diễn biến bệnh 6
1.3.2.1 Âm dương thiên thắng 7
a Dương thiên thắng (dương thịnh) 7
b Âm thiên thắng (âm thịnh) 8
1.3.2.2 Âm dương thiên suy 8
a Dương thiên suy (dương hư) 8
b Âm thiên suy (âm hư) 9
1.3.2.3 Âm dương cùng tổn thương (âm dương lưỡng hư) 9
a Âm hư liên lụy dương 9
b Dương hư liên lụy âm 9
1.3.2.4 Âm dương cách ly 10
a Âm thịnh cách dương 10
b Dương thịnh cách âm 10
1.3.2.5 Âm dương chuyển hóa 10
a Do âm chuyển dương 10
b Do dương chuyển âm 11
1.3.2.6 Âm dương ly tán 11
Trang 4b Vong âm 11
1.4 ỨNG DỤNG HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG Y HỌC CỔ TRUYỀN 12
CHƯƠNG 2: BỆNH HỌC HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH
2.1 LỊCH SỬ 13
2.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN BỆNH HỌC THEO HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH 13
2.2.1 Ngũ hành tương thừa 14
2.2.2 Ngũ hành tương vũ 14
2.3 ỨNG DỤNG HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH 15
2.3.1 Giải thích sự phát bệnh 15
2.3.2 Giải thích sự truyền biến của bệnh 15
2.3.2.1 Truyền biến theo quan hệ tương sinh 15
2.3.2.2 Truyền biến bệnh theo quan hệ tương khắc 16
CHƯƠNG 3: BỆNH HỌC HỌC THUYẾT TẠNG TƯỢNG
3.1 HÀM NGHĨA CỦA TẠNG TƯỢNG 17
3.2 HỆ THỐNG CHỨC NĂNG CỦA NGŨ TẠNG 17
3.3 CHỨC NĂNG SINH LÝ 17
3.3.1.1 Tâm 17
a Tâm chủ huyết 17
b Tâm tàng thần 18
c Tâm chủ mạch 18
3.3.1.2 Can 18
a Can chủ sơ tiết 18
b Can tàng huyết 19
c Can chủ cân 19
3.3.1.3 Tỳ 20
a Tỳ chủ vận hóa 20
b Tỳ chủ thống nhiếp huyết 20
c Tỳ tàng ý 20
3.3.1.4 Phế 20
a Chủ khí, điều tiết hô hấp 20
b Phế chủ thông điều thủy đạo 21
Trang 5c Phế triều bách mạch, giúp tâm chủ trị tiết 21
d Phế tàng phách 21
3.3.1.5 Thận 21
a Chủ tiên thiên 21
b Chủ tàng tinh 21
c Thận chủ thủy 22
d Thận chủ nạp khí 22
e Thận tàng chí 22
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CSLL Cơ sở lý luận
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Ứng dụng âm dương trong sinh lý bệnh 12
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1-1 Âm – Dương 1Hình 1-2 Phân loại âm dương thất điều 7Hình 2-1 Ngũ hành 14
Trang 9CHƯƠNG 1: BỆNH HỌC HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG
1.1 LỊCH SỬ
Âm dương là một cặp phạm trù của triết học cổ đại Học thuyết Âm dương là một hệ thống lý luận trọng yếu của triết học cổ đại, là thế giới quan vàphương pháp luận để nhận thức và giải thích thế giới của người phương Đông [1]
Khái niệm về âm dương có từ rất sớm, xuất phát từ quan niệm “nhân thântiểu thiên địa”, các y gia thời xưa đã vận dụng Học thuyết Âm – dương vào y học cổtruyền Bộ sách Hoàng đế nội kinh được viết ở giữa thời Chiến quốc – Tần Hán;trong đó các tác giả đã kết hợp Học thuyết Âm – dương với y học để hình thànhHọc thuyết Âm – dương trong y học [1]
- Học thuyết Âm – dương là một bộ phận trọng yếu trong hệ thống lý luậncủa YHCT, là phương pháp luận xuyên suốt trong các lĩnh vực của y học cổ truyền[2]
Hình 1-1 Âm – Dương
(Nguồn: dowload.vn)
1.2 CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA HỌC THUYẾT ÂM – DƯƠNG
Âm Dương là một học thuyết mô tả tính chất luôn luôn có đôi, luôn luôn vậnđộng và vận động theo chu kỳ của mọi vật, mọi hiện tượng trong vũ trụ Nội dungcủa học thuyết Âm Dương được thể hiện qua các quy luật chủ yếu: đó là quy luậtđối lập, hỗ căn, tiêu trưởng và bình hành [1]
Trang 101.2.1 Âm dương đối lập
- Đối lập là một phạm trù của pháp biện chứng, chỉ các mặt đối lập cũng nhưmâu thuẫn với nhau; cũng là chỉ ra tính đấu tranh trong mâu thuẫn, tức là sự bài trừ
và phủ định lẫn nhau trong các mặt đối lập [2]
- Bất kỳ sự vật nào cũng có tính đối lập thống nhất của âm – dương Đó là sựbài trừ và đấu tranh lẫn nhau trong một thể thống nhất [2]
- Âm – dương đối lập là tuyệt đối Mọi sự vật và hiện tượng đều không nằmngoài quy luật này Âm – dương đối lập là căn cứ bên trong của sự hình thành vàbiến hóa của sự vật và hiện tượng nó thúc đẩy sự trao đổi và phát triển khôngngừng của vạn vật trong vũ trụ Không có đấu tranh thì không có sự phát sinh vàbiến hóa của vạn vật Ví dụ:
+ Trong ngày và đêm: ngày lui dần thì đêm sẽ đến, đêm lui dần thì ngày sẽđến Sự thay đổi khí hậu ấm, nóng, mát hay lạnh của bốn mùa chính là kết quả củađấu tranh đối lập của âm – dương Vì vậy, âm – dương đối lập không phải là ngừnglại và cố định mà có liên hê, tức là âm – dương chế ước
+ Trong một năm (đối với sự thay đổi khí hậu) thì xuân hạ là dương và thuđông là âm; trong đó, dương của xuân hạ, âm của thu đông là tương đối và nó có sựchế ước lẫn nhau Mùa hạ vốn dĩ là dương nhiệt thịnh, nhưng sau tiết hạ chí thì âmkhí cũng dần dần phát sinh để chế ước hỏa nhiệt của dương khí; mùa đông vốn là
âm hàn thịnh, sau tiết đông chí thì dương khí cũng dần hồi phục để chế ước âm hàn
Sở dĩ khí hậu xuân hạ là ấm nóng là do dương khí của xuân hạ thượng thăng, ức chếkhí âm hàn của thu đông; sở dĩ thu đông khí hậu hàn lương là do âm khí thu đôngchế ước khí ôn nhiệt của xuân hạ Đó chính là kết quả đấu tranh và chế ước lân nhaucủa âm – dương trong giới tự nhiên
+ Trong cơ thể thì âm – dương đối lập chính là mâu thuẫn, là động lực củahoạt động sống và xuyên suốt toàn bộ quá trình của sự sống Hoạt động sống củacon người chính là vận động khí hóa của cơ thể Bản chất của vận động khí hóa lạichính là vận động mâu thuẫn của âm khí với dương khí, hóa khí với thành hìnhtrong cơ thể, tức là đối lập thống nhất của hai mặt âm – dương Quá trình đấu tranhgiữa hai mặt đối lập đã đạt tới sự thống nhất, duy trì được động thái thăng bằng giữa
âm và dương, tức là “âm bình dương bí”; từ đó cơ thể mới duy trì được hoạt độngsống bình thường Trái lại, nếu sự đấu tranh đối lập của âm – dương không đúngmức, làm phá vỡ thế cân bằng thì sẽ xuất hiện âm thắng hoặc dương thắng; hoặc âmbại hoặc dương bại tức là gây nên tình trạng âm – dương thất điều (mất cân bằng)
và cuối cùng sẽ gây nên bệnh tật
Tóm lại, tính tương hỗ đối lập mà không thể phân cách được giữa hai mặt
âm – dương là thuộc tính tồn tại trong mọi sự vật và hiện tượng
2
Trang 111.2.2 Âm – dương hỗ căn
- Khái niệm: hỗ căn thì hỗ nghĩa là căn cứ Hỗ căn là nguồn gốc ca tồn tại,phát triển và vận dộng giữa sự vật tương hỗ đối lập [2]
- Âm – dương hỗ căn là chỉ quan hệ tương hỗ tồn tại giữa âm với dương Haimặt đối lập của âm – dương tức là bất kỳ một bộ phận nào cũng không thể rời khỏi
bộ phận kia để tồn tại và hai mặt là một thể thống nhất; có âm tất sẽ có dương, códương tất sẽ có âm Hai mặt âm – dương đều lấy sự tồn tại của đối phương làm căn
cứ để bản thân tồn tại Tính chất và trạng thái mà âm – dương (đại biểu như trời vàđất, trên và dưới, động và tĩnh, hàn và nhiệt, hư và thực…) không chỉ tương hỗ đốilập mà còn tương hỗ tồn tại Gốc của dương ở âm, gốc của âm ở dương, không códương thì âm không thể được sinh ra, không có âm thì dương không thể biến hóa.Dương ẩn chứa trong âm và âm ẩn chứa trong dương Âm hoặc dương tuy là một
mà lại phân thành hai, sau lại hợp hai mà thành một Âm – dương đối lập nhưng lạithống nhất [2]
- Âm – dương hỗ căn là căn cứ để xác định thuộc tính sự vật: phân tích thuộctính sự vật, không chỉ cần chú ý đến tính khác biệt mà còn phải chú ý đến tính thốngnhất của nó Đó chính là tính liên quan tương hỗ Từ sự khác biệt của sự vật và hiệntượng mà tìm ra sự thống nhất Hai mặt âm – dương phải là một thể thống nhất mới
có thể dùng âm – dương để mà phân tích Ví dụ: phía trên thuộc dương thì phía dướithuộc âm, không có trên thì không có dưới; ban ngày thuộc dương thì ban đêmthuộc âm, không có ngày thì cũng không có đêm Vì thế có thể nói dương tựa vào
âm, âm dựa vào dương, mặt này lấy sự đối lập của mặt khác làm điều kiện để tồntại, không phải là hai mặt đối lập thống nhất thì không thể phân tích thuộc tính của
âm – dương và cũng không thể dùng âm – dương để chứng minh được [2]
- Âm – dương hỗ căn là nguồn gốc của sự phát triển và biến hóa của sự vật[2]:
+ Vì dương gốc ở âm, âm gốc ở dương, âm – dương nương tựa vào nhau nênthiếu đi bất cứ một phương diện nào thì phương diện kia cũng không tồn tại Do đó,
sự phát triển biến hóa của sự vật đều không thể tách rời khỏi âm – dương
+ Y học cổ truyền dùng nguyên lý âm – dương hỗ căn để miêu tả mối quan
hệ giữa kết cấu với công năng trong cơ thể; trong đó, vật chất thuộc âm và côngnăng thuộc dương
- Vật chất là cơ sở vật chất của sự sống, công năng là tiêu chí chủ yếu của sựsống; vật chất là cơ sở của công năng và công năng lại phản ánh vật chất Côngnăng của tạng phủ hoạt dộng cân bằng Vận động biến hóa (tiêu và trưởng) của âm– dương ổn đinh trong một phạm vi nhất định (trong mối quan hê giữa cơ thể vớihoàn cảnh tự nhiên) thì mới có thể duy trì được trạng thái cân bằng bình thường.Nếu âm – dương vận động biến hóa vượt quá giới hạn nhất định (chỉ giới hạn cân
Trang 12bằng) thì sự cân bằng bị phá vỡ, gây hủy hoại đối với tự nhiên và gây nên bệnh cho
cơ thể
- Nếu hai mặt âm –dương mất đi điều kiện tồn tại, có dương mà không có âmgọi là “cô dương” hoặc có âm mà không có dương gọi là “cô âm”; độc âm thì khôngsinh, độc dương thì không trưởng…cho nên toàn bộ sự vật sẽ không thể tồn tạiđược, không thể sinh hóa và sinh trưởng được
- Trong quá trình hoạt động sống, nếu quan hệ âm – dương hỗ căn bìnhthường bị phá vỡ thì cơ thể sẽ phát sinh bệnh tật và gây nên chứng bệnh nguy hiểmảnh hưởng đến tính mạng, vì thế nói: “ Âm – Dương ly quyết, tinh khí nãi kiệt”
- Âm – dương hỗ căn là căn cứ bên trong về chuyển hóa tương hỗ của âm –dương: vì âm – dương là đại diện cho hai phương diện sự vật liên hệ tương hỗ hoặchai phương diện đối lập trong mọt sự vật nên âm và dương trong mọt điều kiện nhấtđịnh có thể tự chuyển hóa tương phản Chuyển hóa tương hỗ của âm – dương trongmột điều kiện nhất định cũng chính là lấy mối quan hệ tồn tại tương hỗ làm cơ sở
Do hai phương diện đối lập của âm – dương không có mối quan hệ tương hỗ liênkết và tương hỗ cùng tồn tại nên không thể chuyển hóa theo hướng tự mình hướngđến hoặc tựu mình tương phản được
- Hai mặt âm – dương là tương hỗ đối lập và tương hỗ tồn tại: bất kỳ một sựvật và hiện tượng nào đó đều không thể tách khỏi sự vật và hiện tượng khác để độclập tồn tại, vì tồn tại trong phương diện này là tiền đề cho tồn tại của phương diệnkhác [2]
Ví dụ: trong phạm trù nóng và lạnh thì nóng là dương và lạnh là âm, không
có nóng thì không có lạnh Hoặc như xét về nhiệt độ của nước là 30 0C và 15 0C thì
30 0C là nóng thuộc dương và 15 0C là mát thuộc âm; nhưng nếu xét về khoảng 150C – 4 0C thì 15 0C là nóng thuộc dương và 4 0C là mát thuộc âm Như vậy, 15 0Ctrng điều kiện này thì là nóng, thuộc dương; trong tình huống khác là mát hoặc lạnh,thuộc dương Chính vì vậy mà âm – dương hai mặt mang tính không thể phân chia
1.2.3 Âm – dương tiêu trưởng
- Âm – dương tiêu trưởng là chỉ sự vận động tăng hay giảm, thịnh hay suy,tiến hay thoái của hai mặt âm – dương đối lập Hai mặt đối lập này không phải làtrạng thái đứng im không thay đổi mà mỗi mặt luôn vận động biến hóa từ thịnh đếnsuy, từ tăng đến giảm, từ tiến đến thoái hoặc ngược lại Quy luật tiêu – trưởng của
âm – dương là âm tiêu thì dương trưởng và dương tiêu thì âm trưởng Âm – dươnggiao cảm là quy luật căn bản của vũ trụ Sự thay đổi của âm – dương tiêu – trưởngứng trong thời tiết và ngày đêm cũng ang tính quy luật chu kỳ [2] Ví dụ:
+ Khí hậu mùa đông đến mùa xuân hạ:
Khí âm hàn dần dần tiêu thoái
4
Âm tiêu dương trưởng
Trang 13Khí dương nhiệt đân dần tăng trưởng
+ Khí hậu mùa hạ đến mùa thu đông:
Khí dương nhiệt dần dần tiêu thoái
Khí âm hàn dần dần tăng trưởng
- Hai mặt âm – dương trong quá trình vận động tiêu – trưởng luôn giữ đượccân bằng tương đối, chính vì thế cơ thể con người mới duy trì được quy luật hoạtđộng bình thường Âm – dương cân bằng là một tiêu chí của sức khỏe Sự tiêu –trưởng của âm – dương trong một phạm vi nhất định thể hiện quá trình hoạt độngsinh lý của cơ thể trong trạng thái cân bằng Nếu mối quan hệ về tiêu – trưởng vượtqua giới hạn sinh lý thì sẽ xuất hiện âm hoặc dương thiên thịnh hoặc thiên suy; lúc
đó sẽ gây nên rối loạn hoạt động sinh lý của cơ thể, tật bệnh từ đó sẽ phát sinh.Trong quá trình phát triển bệnh tật cũng tồn tại quá trình âm – dương tiêu – trưởng.Một mặt nào đó thái quá tất nhiên làm cho mặt kia bất cập và ngược lại một mặt bấtcập sẽ làm cho mặt kia thái quá Âm – dương thiên thịnh là thuộc về quá trình diễnbiến bệnh trong âm – dương “trưởng”; âm – dương thiên suy là thuộc về quá trìnhdiễn biến bệnh của âm – dương “tiêu” Âm – dương thiên thịnh hay thiên suy chính
là sự khái quát cao đọ về quy luật diễn biến bệnh tiêu – trưởng bất thường của âm –dương [2]
Tóm lại, con người và giới tự nhiên trong toàn bộ quá trình phát triển và biếnhóa đều bao hàm quá trình tiêu – trưởng của âm – dương; là kết quả tất yếu của haimặt âm – dương đối kháng, đối lập và hỗ căn tồn tại [2]
1.2.4 Âm – dương chuyển hóa
- Chuyển hóa tức là thay đổi và biến hóa Chuyển hóa là chỉ đôi bên mâuthuẫn thông qua đối kháng ở một điều kiện nhất định nào đó sẽ đi theo hướng đốilập với mình Âm – dương chuyển hóa là chỉ hai mặt đối lập của âm – dương trongmột điều kiện nhất định nào đó sẽ thay đổi và biến hóa, tức là âm có thể chuyển hóathành dương và dương có thể chuyển hóa thành âm [2]
- Quá trình biến hóa của âm – dương bao gồm quá trình lượng biến và chấtbiến Âm – dương chuyển hóa là quy luật cơ bản của vận động biến hóa của sự vật.Trong quá trình âm – dương tiêu trưởng thì sự vật sẽ từ “hóa” đến “cực”; tức là tiêutrưởng phát triển đến khi vượt qua mức bình thường thì sự tất nhiên sẽ hướng đếnchuyển hóa tương phản Chuyển hóa của âm – dương cần phải có một điều kiệnnhất định, nếu không thể chuyển theo hướng chuyển hóa đối lập, điều kiện chuyểnhóa này YHCT gọi là “trọng” hoặc “cực” Cho nên, có thể nói: “trọng âm tất dương,trọng dương tất âm”, “hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn”[2]
- Âm – dương tiêu trưởng (lượng biến) và chuyển hóa (chất biến) là hai giaiđoạn mật thiết không thể tách rời trong toàn bộ quá trình biến hóa và phát triển của
Dương tiêu âm trưởng
Trang 14sự vật Âm – dương tiêu trưởng là tiền đề của âm dương chuyển hóa; âm – dươngchuyển hóa là kết quả tất yếu của âm – dương tiêu trưởng [2].
Ví dụ: một năm có 4 mùa Mùa xuân đến thì mùa đông đi; mùa hạ đi thì mùathu đến Mùa xuân hạ thuộc dương, mùa thu đông thuộc âm Bốn mùa xuân, hạ, thu
và đông vận chuyển không ngừng; nó thể hiện sự chuyển hóa hỗ tương của âm –dương Khi khí hậu hàn lạnh của mùa đông chuyển dần sang khí hậu ôn ấm của mùaxuân là âm chuyển hóa thành dương; khi khí hậu ấm nóng của mùa hạ chuyển sangkhí hậu mát lạnh của mùa thu là dương chuyển hóa thành âm [2]
+ Hoạt động của cơ thể trong điều kiện sinh lý bình thường thì quá trình traođổi vật chất và công năng chính là quá trình chuyển hóa âm – dương Ví dụ: chấtdinh dưỡng (thuộc âm) không ngừng chuyển hóa thành hoạt động công năng(dương), hoạt động công năng (dương) lại không ngừng chuyển hóa thành vật chấtdinh dưỡng (âm) Trên thực tế, trong hoạt động sống, luôn có sự thống nhất về âm –dương tiêu trưởng và chuyển hóa Tức là quá trình thống nhất về lượng biến thì chấtbiến [2]
+ Trong quá trình phát sinh bệnh, âm – dương chuyển hóa thường biểu hiệnchuyển hóa tương hỗ ở một điều kiện nhất định như: biểu chứng và lý chứng, hànchứng và nhiệt chứng, hư chứng và thực chứng, âm chứng và dương chứng [2]
* Nếu bệnh nhân bị tà nhiệt ủng trệ ở phế, biểu hiện lâm sàng là: sốt cao, mặt
đỏ, bứt rứt, mạch sác có lực thì đó chính là biểu hiện phản ứng công năng của cơ thểcòn thịnh vượng; tính chất bệnh được xếp thuộc dương chứng, nhiệt chứng và thựcchứng [2]
* Nhưng cũng người bệnh đó, khi bệnh phát triển đến giai đoạn nghiêmtrọng hơn, do nhiệt độc quá mạnh làm hao thoát chính khí cơ thể thì bệnh nhân đangtrong tình huống sốt cao, mặt hồng, bứt rứt, mạch sác có thể đột nhiên xuất hiện sắcmặt trắng bệch, chân tay lạnh ngắt, tinh thần u ám, mạch vi muốn tuyệt Đó chính làmột loạt chứng nguy hiểm của âm hàn và là biểu hiện phản ứng công năng của cơthể suy kiệt; tính chất bệnh lúc này lại xếp thuộc âm chứng, hàn chứng và hư chứng.Loại tính chất diễn biến bệnh này thuộc về dương chuyển thành âm [2]
1.3 GIẢI THÍCH VỀ THAY ĐỔI BỆNH LÝ
1.3.1 Khái quát nhân tố gây bệnh
Y học cổ truyền cho rằng các nhân tố gây bệnh mặc dù phức tạp và đa dạngnhưng thuộc tính căn bản của nó có thể xếp vào 2 loại lớn là âm tà và dương tà Nóichung, lục dâm thuộc dương tà; ăn uống, thất tình…thuộc âm tà Trong các yếu tốcủa lục dâm gây bệnh thì “phong, nhiệt, hỏa thử” thuộc về dương tà; “hàn thấp”thuộc về âm tà…[2]
6
Trang 151.3.2 Khái quát về quy luật diễn biến bệnh
Cơ thể ở trạng thái sinh lý là kết quả của âm – dương duy trì được động tháicân bằng Nếu quá trình đó bị phá vỡ sẽ xuất hiện thay đổi thiên thịnh hoặc thiênsuy của âm – dương dẫn đến cơ thể sẽ phát sinh bệnh tật – CSLL bệnh học theo họcthuyết âm - dương [1]
Hình 1-2 Phân loại âm dương thất điều
(Nguồn: Giáo trình Lý luận cơ bản y học cổ truyền, 2021)
1.3.2.1 Âm dương thiên thắng
- Âm dương thiên thắng là chỉ âm hoặc dương quá thiên thịnh, dẫn đến biếnhóa cơ chế sinh bệnh lấy tà khí thịnh làm chủ, đa số thuộc về cơ chế sinh bệnh củathực chứng Từ tính chất của tà khí mà nói, dương tà tấn công cơ thể sẽ dẫn đếndương thịnh, còn âm tà tấn công cơ thể sẽ là âm thịnh, nên sách Tố vấn – Thiên Âmdương ứng tượng đại luận, viết: “Dương thắng thì nhiệt, âm thắng thì hàn”[1]
- Do giữa âm dương có quan hệ đối lập mà chế ước, nên một bên thịnh bênkia sẽ suy, dương thịnh sẽ gây tổn thương âm, dần phát triển thành bệnh lý âm hư;hay âm thịnh sẽ gây tổn thương dương, dần phát triển thành bệnh lý dương hư Sách
Tố vấn – Thiên Âm dương ứng tượng đại luận, viết: “Âm thắng thì dương bệnh,dương thắng thì âm bệnh”, đó là xu thế phát triển tất yếu của cơ chế sinh bệnh âmdương thiên thịnh [1]
a Dương thiên thắng (dương thịnh)
- Dương thắng tắc nhiệt: tình trạng bệnh tật là do tà khí cang thịnh gây nên,tính chất bệnh thuộc về nhiệt chứng [1], [2]
Ví dụ: thử nhiệt xâm nhập cơ thể gây sốt cao, khát nước, ra mồ hôi, chất lưỡihồng, rêu lưỡi vàng, mạch sác
Âm dương thất điều
Âm dương cùng tổn thương
Âm dương cách ly
Âm dương chuyển hóa
Âm dương
ly tán
Trang 16- Dương thịnh thường dẫn đến tổn thương âm dịch nên khi xuất hiện sốt cao,
ra mồ hôi, mặt đỏ, mạch sác thì sẽ làm tổn thương tân dịch gây khát nước…cho nênnói “dương thịnh tắc âm bệnh” tức là chỉ dương thịnh tất nhiên gây tổn thương âmdịch của cơ thể [1], [2]
- Nguyên nhân: ngoại cảm ôn nhiệt dương tà; tình chí nội thương, ngũ chíquá cực mà hóa hỏa hoặc do khí trệ, huyết ứ, thực tích,…uất lại hóa nhiệt mà hìnhthành [1]
b Âm thiên thắng (âm thịnh)
- Âm thịnh tắc hàn: tình trạng bệnh tật là do âm tà thiên thịnh gây nên, tínhchất bệnh thuộc về hàn chứng [2]
Ví dụ: ăn đồ sống lạnh làm cho âm khí thiên thịnh gây ra chứng tay chânlạnh, đau bụng, đại tiện lỏng, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm
- Âm thịnh sẽ làm tổn thương dương khí nên khi người bệnh đau bụng, đạitiện lỏng, chất lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm thì phần dương khí bị hao tổn màbiểu hiện là chân tay lạnh, người lạnh…cho nên nói “âm thịnh tắc dương bệnh” tứcchỉ âm thịnh tất nhiên gây tổn thương chính khí (dương khí) của cơ thể [2]
- Nguyên nhân: ngoại cảm hàn thấp âm tà hoặc do ăn quá nhiều thức ăn sốnglạnh hoặc do ứ huyết, thủy thấp,…tích tụ mà hình thành [1]
1.3.2.2 Âm dương thiên suy
- Âm dương thiên suy, là chỉ âm hoặc dương hư suy bất túc, dẫn đến biến hóa
cơ chế sinh bệnh lấy chính khí suy làm chủ, đa số thuộc về cơ chế sinh bệnh của hưchứng [2]
- Do giữa âm dương có quan hệ đối lập mà chế ước, nên một bên suy bên kia
sẽ thịnh, từ đó mà hình thành biến hóa cơ chế sinh bệnh của âm dương thiên suy [2]
a Dương thiên suy (dương hư)
- Dương hư tắc hàn: Dương hư là phần dương khí của cơ thể bị hư tổn Căn
cứ vào nguyên lý âm – dương cân bằng nên bất kỳ mặt nào bị bất túc thì mặt kiatương đối thiên thịnh Dương hư không chế được âm thì làm cho phần âm thiênthịnh mà gây nên chứng hàn [1], [2]
Ví dụ như khi dương khí hư nhược sẽ xuất hiện chứng hư hàn, gồm cá triệuchứng như là sắc mặt trắng, sợ lạnh, chi lạnh, tự hãn, mạch vi…
- Nguyên nhân: tiên thiên bất túc, hoặc hậu thiên thất điều, hoặc lao lực nộithương hoặc bệnh lâu ngày tổn hao dương khí mà hình thành
- Dương hư có thể gặp ở ngũ tạng, lục phủ, như Tâm dương hư, Tỳ dương
hư, Thận dương hư,…nhưng lấy Thận dương hư làm chủ Vì Thận dương hư là gốc
8
Trang 17của dương trong cơ thể, Thận dương hư trong cơ chế sinh bệnh dương hư chiếm vịtrí cực kỳ quan trọng [1], [2].
b Âm thiên suy (âm hư)
- Âm hư tắc nhiệt: âm hư là phần âm dịch của cơ thể bất túc Do âm hưkhông chế ước được dương làm cho phần dương trở nên thiên thịnh tương đối
Ví dụ như người bị bệnh tổn thương phần âm lâu ngày sẽ gây nên chứng hưnhiệt; gồm các triệu chứng như là triều nhiệt, đạo hãn, ngũ tâm phiền nhiệt, miệnglưỡi khô, mạch vi sác…
- Nguyên nhân: dương tà thương âm, hoặc do ngũ chí quá cực, hóa hỏathương âm, hoặc do bệnh lâu ngày tổn thương âm dịch mà hình thành
- Âm hư có thể gặp ở cả ngũ tạng, lục phủ, như Phế âm hư, Tỳ âm hư, Thận
âm hư,…nhưng lấy Thận âm hư làm chủ Vì Thận âm là gốc của âm trong cơ thể,nên Thận âm hư trong cơ chế sinh bệnh âm hưu chiếm vị trí cực kỳ quan trọng [1],[2]
1.3.2.3 Âm dương cùng tổn thương (âm dương lưỡng hư)
Âm dương cùng tổn thương, là chỉ âm hoặc dương bất kỳ bên nào hư tổn,cũng sẽ ảnh hưởng đến bên còn lại, từ đó hình thành biến hóa cơ chế sinh bệnh của
âm dương lưỡng hư Do Thận âm, Thận dương là gốc của âm dương của ngũ tạng,nên khi dương khí hoặc âm dịch của tạng phủ tổn thương đến một mức độ nhấtđịnh, sẽ tổn thương đến Thận âm, Thận dương và khiến bản thân Thận âm dươngthất điều, từ đó sinh dương hư liên lụy âm và âm hư liên lụy dương của cơ chế sinhbệnh âm dương cùng tổn thương [1]
a Âm hư liên lụy dương
Âm hư liên lụy dương, là do âm khí hư tổn, liên lụy dương khí hóa sinh bấttúc, hoặc dương khí mất nguồn nương tựa mà hao tán, từ đó trên cơ sở âm hư xuấthiện dương hư, hình thành biến hóa cơ chế sinh bệnh của âm dương lưỡng hư lấy
âm hư làm chủ, như Thận âm hư suy ảnh hưởng đến Thận dương hóa sinh, mà xuấthiện sợ lạnh, chi lạnh, mạch trầm tế,…là biểu hiện của Thận dương hư suy, vì vậyhình thành chứng âm dương lưỡng hư do âm hư liên lụy dương [1]
b Dương hư liên lụy âm
Dương hư liên lụy âm, là do dương khí hư tổn, không có dương thì âm khôngthể hóa sinh, từ đó trên cơ sở dương hư xuất hiện âm hư, hình thành cơ chế sinhbệnh của âm dương lưỡng huwlaasy dương hư làm chủ Trong chứng Thận dương
hư, khí hóa thất điều, rối loạn chuyển hóa tân dịch, tân dịch ngưng tụ mà thủy thấpnội sinh gây phù thũng; khi bệnh phát triển, dương khí bất túc không hóa sinh tândịch, tân dịch hư tổn xuất hiện các triệu chứng gầy ốm, phiền táo, khát nước, nặng