BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH VÕ NGỌC DIỄM KHẢO SÁT MỐI LIÊN QUAN GIỮA qHBsAg VÀ HBV DNA Ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN VIRUS B MẠN ĐANG ĐIỀU TRỊ TENOFOVIR ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC[.]
TỔNG QUAN
Tình hình nhiễm HBV trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình nhiễm HBV trên thế giới
Nhiễm HBV là vấn đề sức khỏe toàn cầu Viêm gan B được thế giới đặc biệt quan tâm do số người nhiễm bệnh rất cao và các biến chứng nặng có thể dẫn đến tử vong Theo Tổ chức y tế thế giới, có hơn 2 tỉ người có bằng chứng nhiễm siêu vi viêm gan B và gần 400 triệu người bị nhiễm siêu vi B mạn tính Bệnh lý liên quan đến HBV cũng là 1 trong 19 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới và gây ra 500.000 đến 1,2 triệu trường hợp tử vong hàng năm vì viêm gan mạn, xơ gan và ung thư gan[9].
Tỉ lệ nhiễm HBV trên thế giới thay đổi theo khu vực và được chia thành 3 khu vực lưu hành:
Vùng lưu hành cao: có tỉ lệ nhiễm ≥ 8%, hầu hết các nước thuộc Châu Á Thái Bình Dương và Châu Phi vùng sa mạc Sahara Đường lây truyền quan trọng nhất là từ mẹ sang con trong thời kỳ chu sinh, kế đến là nhiễm trùng ở lứa tuổi nhi đồng Châu Á Thái Bình Dương là vùng lưu hành cao nhất của nhiễm HBV với khoảng 300 triệu người mang mầm bệnh, chiếm 75% số trường hợp nhiễm HBV trên toàn cầu.
Vùng lưu hành trung bình: có tỉ lệ nhiễm từ 2-7%, thường gặp ở Đông Âu, Nga, Địa Trung Hải, Trung Đông, Nam Mỹ Lây truyền HBV theo chiều dọc hoặc chiều ngang.
Vùng lưu hành thấp: có tỉ lệ dưới 2%, thường gặp ở khu vực Tây Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ, Nhật, Úc Ở vùng lưu hành thấp, khả năng nhiễm HBV thường do lây truyền theo chiều ngang từ người nhiễm HBV sang người lành chưa có miễn dich qua tiếp xúc các dịch tiết và máu có chứa siêu vi B Đối tượng nguy cơ cao bao gồm nghiện chích ma túy, đồng tính luyến ái, có nhiều bạn tình, tiếp xúc thân mật với người nhiễm HBV mạn.
1.1.2 Tình hình nhiễm HBV tại Việt Nam
Theo Tổ chức y tế thế giới, Việt Nam được xếp vào vùng lưu hành cao nhiễm
HBV[9].Theo Nakata S (1994), tỉ lệ HBsAg (+) tại Việt Nam 10-14%[31 ].
Dương T (2009) [16] ghi nhận tỉ lệ mang HBsAg (+) là 8,8% Như vậy, theo thời gian, chương trình tiêm chủng mở rộng giúp giảm tỉ lệ nhiễm HBV mặc dù còn chậm Ngoài ra, theo Hipgrave DB (2003) [18], tỉ lệ mang HBsAg tăng dần theo tuổi : 12,5 % ở trẻ nhũ nhi; 18,4% ở trẻ em; 20,5 % ở thanh niên và 18,8% ở người trưởng thành Cũng trong nghiên cứu này, tỉ lệ người mang Anti- HBc cũng tăng dần theo tuổi: 19,6% ở trẻ nhũ nhi; 36,4 % ở trẻ em; 55,3% ở thanh niên và 79,2 % ở người trưởng thành cho thấy ngoài lây nhiễm chu sinh, những đường lây khác cũng là những đường lây quan trọng.
Đặc điểm của HBV và chu trình sao chép
HBV là siêu vi có ái tính với gan, thuộc gia đình Hepadnaviridae là một loại siêu vi mang cấu trúc DNA có vỏ bọc, có đặc tính tăng sinh ở gan nhưng có thể tồn tại ngoài gan, chu trình phát triển thông qua phản ứng sao chép ngược hình thành cấu trúc di truyền trung gian pre - genomic RNA[2 ], [ 5 ].
Trong huyết thanh người nhiễm HBV có thể thấy 3 dạng cấu trúc:
Hình cầu vỏ kép, còn gọi là tiểu thể Dane: dạng siêu vi hoàn chỉnh ( virion), đường kính 42mm Màng bọc ngoài là cấu trúc chứa HBsAg; glycoprotein và lipid; phần lõi bên trong là nucleocapsid gồm một phân tử DNA sợi đôi không hoàn thành, kháng nguyên HBcAg,
HBeAg và một số men như polymerase, proteinase…
Các tiểu thể hình cầu (đường kính 22nm) chiếm đa số.
Các tiểu thể hình sợi cũng có đường kính 22nm nhưng chiều dài thay đổi, có khi dài hơn 200nm, do các tiểu thể hình cầu chồng chất lên nhau hình thành Hai tiểu thể này là cấu trúc chứa kháng nguyên bề mặt của HBV được sản xuất dư thừa ở bào tương của tế bào gan[2],
1.2.2.Cấu trúc bộ gen của HBV [1], [2], [5]:
Bộ gen HBV được cấu tạo từ một phân tử DNA vòng, chuỗi đôi, có 4 khung đọc mở ( opening reading frame – ORF ) chồng lên nhau, mã hóa các gen S ( Surface: bề mặt), gen C (Core: lõi), gen P (Polymerase ) và gen X Chiều dài bộ gen khoảng 3.200 nucleotide (3,2kb).Cấu trúc phân tử DNA này bao gồm 2 chuỗi có chiều dài khác nhau:
Chuỗi dài nằm ngoài, có cực tính âm, tạo nên một vòng trong liên tục có chiều dài cố định là 3,2kb, mã hóa đầy đủ cho các thông tin di truyền của siêu vi.
Chuỗi ngắn nằm trong có cực tính dương, chiều dài thay đổi từ 50-1005 chiều dài bộ gen.
Cấu trúc vòng của DNA được đảm bảo là nhờ sự ghép nối hai đầu 5” của 2 sợi DNA trên một đoạn có chiều dài 200 nucleotide, được gọi là vùng liên kết (cohesive region) Vùng này nằm giữa hai trình tự DR1 và DR2 (directly repeated sequence) gồm có 10-11 nucleotide Hai trình tự này có vai trò chủ yếu trong việc khởi phát quá trình tổng hợp của chuỗi DNA tương ứng.
Thứ tự của các nucleotide được đánh số bắt đầu từ 1 tương ứng ở vị trí EcoRI.
Chiều dài của bộ gen thay đổi tùy theo từng phân týp khác nhau.
Chỉ có sợi DNA âm mới được mã hóa Trên sợi DNA này có bốn đoạn gen tương ứng với bốn ORF, là các vùng mã hóa để tổng hợp các protein của siêu vi.
Qúa trình đọc mã được bắt đầu từ bộ ba nucleotide AUG, được gọi là codon khởi động (start codon) và chấm dứt bằng codon kết thúc (stop codon) là TAG.
Bộ gen của siêu vi với chiều dài có hạn nhưng chứa các vùng gen chồng lắp lên nhau nên có khả năng tổng hợp được nhiều loại protein quan trọng Protein của kháng nguyên bề mặt (HBsAg) do gen pre – S1, pre – S2 và gen D tổng hợp, protein của kháng nguyên lõi (HBcAg) do gen pre-C và C tổng hợp, men polymerase do gen P tổng hợp và protein có tác dụng chuyển hóa (transactivation) do gen X tổng hợp.
Gen S bao gồm vùng S, pre-S1 và pre-S2 mã hóa để tổng hợp các protein bề mặt hay HBsAg (“s”: surface). Đoạn gen S tổng hợp nên protein S (Small) có chiều dài 24kd gồm 226 acid amin (aa) Đây là protein chủ yếu (major protein) vì nó chiếm đa số Vùng S có ít nhất 5 quyết định kháng nguyên (antigenic determinant) của HBsAg Tùy theo sự phân bố của các quyết định kháng nguyên mà người ta phân biệt các phân týp khác nhau Mỗi phân týp đều có chung phần quyết định kháng nguyên “a” và khác nhau tùy theo sự ghép cặp của các quyết định kháng nguyên “d” hoặc “y” ghép với “w” hoặc “r” để tạo nên các phân typ như adw, ayw, adr, ayr Chính vùng “a” có liên quan đến tính miễn dịch vì nó quyết định tổng hợp antiHBs. Đoạn gen S và pre – S2 tổng hợp nên protein M (Medium) có chiều dài 31kd gồm 281 aa Vùng pre – S2 có vai trò giúp cho siêu vi bám dính và xâm nhập vào trong tế bào gan qua liên kết với một loại albumin trong huyết thanh người (pSHA: polymerized Human Serum Albumin) để gắn vào các thụ thể với pSHA trên tế bào gan. Đoạn gen S, pre-S1, pre-S2 tổng hợp nên protein L (Large) có chiều dài 39kd gồm 289-
400 aa Đây là vùng chủ yếu tạo nên liên kết giữa siêu vi với các thụ thể trên bề mặt của tế bào gan, giúp siêu vi xâm nhập vào tế bào gan.
Ba loại protein này hiện diện với số lượng khác nhau trên bề mặt khác nhau của virion, trong đó protein S chiếm đa số, cả ba protein này tạo nên kháng nguyên HBsAg.
Gen C Ở đầu 5’ của gen C có 2 codon khởi động quá trình đọc mã Trình tự các nucleotide giữa
2 codon này được gọi là vùng gen pre-C (precore).
Nếu quá trình đọc mã bắt đầu từ codon AUG thứ nhất ở vị trí 1814 và đọc suốt chiều dài của đoạn gen pre-C và C sẽ tổng hợp nên HBeAg Sự hiện diện của HBeAg phản ánh tình trạng siêu vi đang tăng sinh và liên quan tính lây nhiễm cao.
Nếu quá trình đọc mã bắt đầu từ codon AUG thứ nhì ở vị trí 1901và đọc suốt chiều dài của đoạn C sẽ tổng hợp nên HBcAg.
Sản phẩm của gen này là DNA polymerase, được dùng để tổng hợp DNA mới từ RNA tiền genom (pregenome) mà sợi RNA tiền genom lại được tạo ra từ khuôn mẫu là DNA của HBV dưới tác dụng của men RNA polymerase của tế bào gan.
Sản phẩm của gen P liên quan đến cơ chế sao chép ngược và tham gia tạo ra phần capsid bao bọc bên ngoài cấu trúc RNA tiền genom.
Gen X mã hóa một polypeptide khoảng 145 -154 aa tùy theo từng phân týp
Chức năng của gen này vẫn chưa được biết chính xác nhưng có lẽ nó giữ vai trò chuyển hoạt hóa (transactivation) trong quá trình nhân đôi siêu vi.
Protein X còn có liên quan đến sự điều hòa quá trình tăng trưởng của tế bào nên có thể đóng vai trò trong cơ chế sinh ung thư của tế bào gan bị nhiễm.
1.2.3.Kiểu gen ( Genotype ) của HBV[3]
Dựa vào so sánh trình tự các nucleotide trên HBV DNA, người ta xác định có genotype khác nhau được ký hiệu từ A đến H.
Genotype A thường gặp ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ, Trung Phi, Ấn Độ.
Genotype B và C chủ yếu tìm thấy ở Châu Á Thái Bình Dương, Nhật Bản.
Genotype D thường thấy ở vùng Địa Trung Hải, Trung Đông, Ấn Độ.
Genotype E tìm thấy ở Châu Phi, đặc biệt là ở miền Nam sa mạc Sahara.
Genotype F tìm thấy ở một số thổ dân Châu Mỹ và quần đảo Polynesia.
Genotype G ghi nhận ở Mỹ (Atlanta) và Pháp (Lyon).
Genotype H được báo cáo ở vùng Trung và Nam Mỹ
Diễn tiến tự nhiên của nhiễm HBV mạn
1.3.1 Các giai đoạn trong diễn tiến tự nhiên của nhiễm HBV mạn
Diễn tiến tự nhiên của nhiễm HBV mạn rất thay đổi và vẫn còn chưa hiểu rõ Sự chuyển dịch từ nhiễm trùng cấp tính sang mạn tính cho thấy sự thất bại miễn dịch khi thải trừ siêu vi và được thể hiện bằng sự tồn tại kéo dài của HBV DNA và kháng nguyên HBeAg trong máu Tính đa dạng của nhiễm HBV mạn được phân chia thành các giai đoạn khác nhau, tùy thuộc vào giá trị ALT, sự có mặt của HBeAg và mức độ HBV DNA trong máu.
Diễn tiến tự nhiên của nhiễm HBV gồm 4 giai đoạn: giai đoạn dung nạp miễn dịch, giai đoạn thải trừ miễn dịch, giai đoạn kiểm soát miễn dịch, giai đoạn trốn thoát miễn dịch.
Trong khu vực lưu hành cao như Châu Á, nhiễm trùng thường xảy ra từ mẹ sang con trong thai kỳ, lúc chuyển dạ hay trong những năm đầu đời theo 4 giai đoạn kể trên với diễn tiến xét nghiệm huyết thanh như sau
Giai đoạn dung nạp miễn dịch (DNMD): có thể kéo dài đến 30 năm và rất hiếm khi xảy ra chuyển huyết thanh HBeAg Tần suất tích lũy mất HBeAg tự nhiên trong ba năm đầu sau nhiễm trùng ≤ 2%, tăng đến 15% sau 20 năm tiếp theo Trong giai đoạn này, siêu vi tăng sinh mạnh, HBeAg (+) được sản xuất từ gen C, HBV DNA thường khoảng 10 8 - 10 10 copies/ml nhưng tổn thương gan ở mức tối thiểu Điều trị kháng siêu vi ở giai đoạn này không được khuyến cáo Tuy nhiên, người nhiễm HBV cần được theo dõi tiến triển đến giai đoạn thải trừ miễn dịch để can thiệp điều trị vì sự chuyển dịch từ giai đoạn này sang giai đoạn thải trừ miễn dịch ( viêm gan B mạn HBeAg dương) có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Giai đoạn thải trừ miễn dịch (TTMD): xảy ra trong thời gian từ 15-35 tuổi với biểu hiện tổn thương gan do đáp ứng miễn dịch thể hiện bằng các đợt tăng ALT, có thể kèm theo vàng da và HBV DNA giảm Cơ chế thúc đẩy để bước vào giai đoạn này vẫn chưa rõ, có lẽ do sự biểu hiện kháng nguyên của HBV đưa đến đáp ứng miễn dịch trung gian gây độc tế bào mạnh mẽ nhằm thải trừ HBV và các tế bào gan nhiễm siêu vi Tuy nhiên, đáp ứng miễn dịch tự nhiên trong viêm gan B mạn thường không đủ mạnh mẽ để thải trừ hoàn toàn các tế bào gan bị nhiễm HBV và không làm mất được HBeAg cũng như HBsAg như trong viêm gan siêu vi B cấp.
Qua nhiều đợt viêm gan siêu vi bùng phát, tổn thương viêm lặp đi lặp lại làm tích lũy mô xơ, lâu dần dẫn đến xơ gan Tuy nhiên, HBeAg và HBV DNA cũng giảm dần theo thời gian, diễn tiến mất hẳn HBeAg và chuyển đổi huyết thanh HBeAg để bước sang giai đoạn HBV không hoạt tính hay giai đoạn kiểm soát miễn dịch Chỉ có 25% bệnh nhân chuyển đổi huyết thanh HBeAg tự nhiên sau nhiều đợt bùng phát Tình trạng chuyển đổi huyết thanh xảy ra càng muộn, tích lũy tổn thương mô càng nhiều, nguy cơ xơ gan càng cao Thời điểm xảy ra chuyển đổi huyết thanh HBeAg ở trẻ da trắng trung bình là 6,5 tuổi (từ 5,8 -> 8 tuổi), ở trẻ Châu Á là 11,8 tuổi (từ 4 -> 19,7 tuổi).
Giai đoạn kiểm soát miễn dịch ( KSMD) hay mang HBV không hoạt tính (IC): sau nhiều năm nhiễm siêu vi B (3-5 thập niên), HBeAg trở nên âm tính, bệnh nhân thường không có triệu chứng lâm sàng, ALT không tăng, anti-Hbe xuất hiện, nồng độ HBV DNA trong huyết thanh thấp thể hiện sự kiểm soát của miễn dịch hiệu quả đối với siêu vi B HBsAg vẫn còn (+) và có thể hiện diện suốt đời nếu HBV DNA hòa nhập được vào bộ gen của tế bào gan Giai đoạn này có thể kéo dài suốt đời khi hệ thống miễn dịch vẫn kiểm soát được siêu vi Vì vậy, nhiễm siêu vi B ở giai đoạn này còn gọi là tình trạng mang HBV không hoạt tính (inactive carrier – IC) Đa số trường hợp kiểm soát được siêu vi bền vững, HBsAg giảm dần và trở nên âm tính.
Ngoài ra, khoảng 30% bệnh nhân trong giai đoạn này bị đồng nhiễm thêm các siêu vi hướng gan như HDV, HCV làm thúc đẩy miễn dịch tế bào không đặc hiệu có thể giúp chấm dứt tình trạng mang HBsAg (+), nhưng lại tăng nguy cơ suy gan cấp hay trở thành tác nhân thay thế siêu vi B gây bệnh gan mạn tính.
Giai đoạn trốn thoát miễn dịch hay giai đoạn viêm gan tái hoạt (VGTH):
Tuy nhiên, sau khi kiểm soát được siêu vi bằng miễn dịch với HBeAg âm tính, có khoảng 15-30% người nhiễm HBV có thể diễn tiến tái hoạt siêu vi biểu hiện bằng sự tái xuất hiện HBV DNA và HBeAg nhưng thường gặp xuất hiện trở lại HBV DNA nhưng HBeAg vẫn âm tính Phản ứng tái hoạt siêu vi thường diễn ra trước phản ứng viêm gan Vì vậy, giai đoạn này còn được gọi là viêm gan tái hoạt với HBeAg (-).
Sự tái hoạt siêu vi gây nên phản ứng miễn dịch thải trừ trở lại, nhằm vào các tế bào mang HBV có hoạt tính, gây tổn thương mô gan dẫn đến viêm gan, xơ gan và ung thư gan Do có HBV DNA tăng trở lại nên người nhiễm HBV ở giai đoạn này gọi là giai đoạn mang HBV có hoạt tính (active carrier) Trong giai đoạn này, HBV DNA và ALT vẫn có thể dao động do tương tác giữa siêu vi và hệ miễn dịch.Vì vậy, có 2 trạng thái mang HBV có hoạt tính được nhận diện dựa vào hoạt tính viêm gan ( mức tăng và diễn biến ALT) và hoạt tính sao chép ( HBV DNA thường xuyên ở mức cao hay chỉ dao động khi cao khi thấp) Brunetto và cs
(2010) [10] phân loại thành “Nhóm AC2” với bệnh gan hoạt tính rõ và HBV DNA cao thường xuyên , còn được gọi là CHBe (-) và “ Nhóm AC1” với hoạt tính sao chép và hoạt tính bệnh gan không ổn định, có khi trở về mức bình thường.
Bảng 1.1: Tóm tắt diễn tiến tự nhiên của nhiễm HBV mạn tính
Giai đoạn ALT Mô học gan HBV DNA HBeAg HBsAg
DNMD BT * Tổn thương tối thiểu
TTMD Tăng Xơ hóa đa dạng
KSMD BT * Tổn thương tối Thấp: 40 tuổi.
Giới: chia 2 nhóm nam và nữ
2.6 Phương pháp thu thập số liệu:
Chúng tôi tiến hành thu thập số liệu từ hồ sơ bệnh án ngoại trú tại phòng khám Viêm Gan Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh Hồi cứu tất cả các bệnh nhân đến khám tại phòng khám Viêm gan từ tháng 09/2019 – 09/2020, thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh, không vi phạm tiêu chuẩn loại trừ Ghi nhận các thông tin bằng bảng thu thập số liệu. Đối với các bệnh nhân thu thập số liệu tiến cứu:
Các bệnh nhân đến khám tại phòng khám Viêm Gan Bệnh viện Đại Học Y Dược TP.HCM từ tháng 10/2020 – 05/2021 thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh, không vi phạm tiêu chuẩn loại trừ, được giới thiệu nghiên cứu đang thực hiện và những thông tin thu thập cũng như nhấn mạnh việc giữ bí mật thông tin cá nhân người bệnh Nếu người bệnh chấp thuận tham gia nghiên cứu thì ký vào mẫu đơn, sau đó tiếp tục các bước thu thập thông tin:
Bước 1: Thu thập các số liệu cơ bản: ghi nhận các thông tin hành chính như tên, tuổi, giới, mã số của các bệnh nhân được lấy mẫu trong nghiên cứu.
Bước 2: Ghi nhận dấu hiệu lâm sàng, tiền sử của bệnh nhân
Bước 3: Ghi nhận kết quả các cận lâm sàng sẵn có của bệnh nhân Ghi nhận theo bảng thu thập số liệu soạn sẵn.
Cắt ngang mô tả phân tích mẫu tại ba thời điểm tháng 0, 3, 6 tháng, ghi nhận các dấu hiệu lâm sàng, tiền sử, các kết quả cận lâm sàng sẵn có của người bệnh.
Bệnh nhân viêm gan virus B mạn > 18 tuổi điều trị Tenofovir Đồng ý tham gia nghiên cứu.
Lập bảng ghi nhận các biến số cần thiết từ hệ thống.
Phân tích kết quả. Đồng nhiễm HCV, HIV.
Bệnh gan cấp tính và mạn tính do HAV, do rượu, do thuốc hay nguyên nhân khác. Đợt bùng phát viêm gan siêu vi B mạn.
Không phù hơp loại ra
Sơ đồ 2.1: Quy trình thu thập mẫu nghiên cứu.
Nhập và phân tích số liệu bằng phần mềm Stata 14, p < 0.05 được xem là có ý nghĩa thống kê. Các biến số liên tục định lượng được biểu diễn bằng giá trị trung bình ± SD hay trung vị (IQR)
Các giá trị liên tục có phân phối chuẩn được so sánh bằng phép kiểm T (2 phóm) hay phép kiểm ANNOVA (>=3 nhóm)
Các giá trị liên tục không có phân phối chuẩn được so sánh bằng phép kiểm Mann-Whitney U
(2 nhóm) hay phép kiểm Kruskal Wallis (23 nhóm)
Tìm sự tương quan giữa 2 biến số liên tục bằng phân tích hồi quy tuyến tính (Simple Linear Regression Analysis)
2.7.1 Các dấu ấn huyết thanh:
* qHBsAg: qHBsAg được đo lường bằng kỹ thuật miễn dịch điện hóa phát quang của Roche Elecsys HBsAg II Quant tại khoa xét nghiệm Bệnh viện Đại Học Y Dược TP.HCM
Giới hạn đo: được xác định theo tiêu chuẩn EP17-A của CLSI (Viện Tiêu Chuẩn Lâm Sàng Và Phòng Thí Nghiệm)
+ Giới hạn mẫu trắng = 0.03 IU/mL
+ Giới hạn phát hiện = 0.05 IU/mL
+ Khoảng đo cho mẫu không pha loãng: 0.05- 130 IU/mL Giá trị dưới giới hạn phát hiện được ghi nhận là 130 IU/mL + Khoảng đo cho mẫu pha loãng 400 lần (máy phân tích Cobas e 601, Cobas e 602) Giá trị dưới khoảng được ghi nhận là 52.000IU/mL.
*HBsAg định tính, HBeAg, Anti-HBe: Được thực hiện tại Khoa Xét nghiệm Bệnh viện Đại Học Y Dược TP.HCM bằng kỹ thuật miễn dịch vi hoạt hóa phát quang (Chemiluminescent Microparticle Immunoassay - CMIA) với bộ thuốc thử của Abbottt và đọc kết quả trên máy miễn dịch tự động Architecture i2000SR Kết quả thu được từ máy là chỉ số tính bằng tỉ lệ giữa hai giá trị đo được bằng quang học của mẫu thử (Sample Relative light units - RLU) và giá trị ngưỡng (Cut-off RLU)
Mật độ HBV DNA: tính bằng giá trị IU/mL (1 IU/mL tương đương 5 copy/mL) và Log10 copy/mL Đồng thời được phân loại thành 4 ngưỡng định lượng của HBV DNA gồm: