1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá hiệu quả lành vết cắt tầng sinh môn trên sản phụ sinh thường của chế phẩm từ nghệ tại bệnh viện đa khoa tỉnh kiên giang

119 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Hiệu Quả Lành Vết Cắt Tầng Sinh Môn Trên Sản Phụ Sinh Thường Của Chế Phẩm Từ Nghệ Tại Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Kiên Giang
Tác giả Nguyễn Hoàng Nguyên
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Thị Bay
Trường học Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học cổ truyền
Thể loại Luận văn thạc sĩ y học cổ truyền
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I...............................................................................................................11 (13)
    • 1.1 Quan điểm của y học hiện đại về sinh sản và chăm sóc hậu sản (13)
      • 1.1.1 Sinh thường (13)
        • 1.1.1.1 Sinh lý chuyển dạ, sổ thai bình thường [3] (13)
      • 1.1.2 Kỹ thuật can thiệp khi chuyển dạ (14)
      • 1.1.3 Chăm sóc hậu sản (15)
        • 1.1.3.1 Khái niệm (15)
        • 1.1.3.2 Chăm sóc hậu sản: [9] (15)
        • 1.1.3.3 Sinh lý vết thương (16)
    • 1.2 Quan điểm của Y học cổ truyền về chăm sóc hậu sản và vết thương (16)
      • 1.2.1 Chăm sóc hậu sản (16)
      • 1.2.2 Chăm sóc vết thương [1] (17)
    • 1.3 Các nghiên cứu về Nghệ và hoạt chất Curcumin (18)
    • 1.4 Đánh giá vết thương và đau sau cắt may tầng sinh môn (28)
      • 1.4.1 Các công cụ giám sát và định lượng vết thương (28)
      • 1.4.2 Đánh giá đau sau cắt tầng sinh môn [34] (37)
    • CHƯƠNG 2.............................................................................................................38 (0)
      • 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU (41)
        • 2.1.1 Bệnh nhân (41)
        • 2.1.2 Vật liệu nghiên cứu (41)
          • 2.1.2.1 Thuốc nghiên cứu (41)
          • 2.1.2.2 Thuốc kháng sinh (41)
          • 2.1.2.3 Thuốc giảm đau (41)
          • 2.1.2.4 Phương tiện, dụng cụ (41)
      • 2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (42)
        • 2.2.1 Thiết kế nghiên cứu (42)
        • 2.2.2 Cỡ mẫu (42)
        • 2.2.3 Tiêu chuẩn chọn bệnh (42)
        • 2.2.4 Tiêu chuẩn loại trừ (43)
        • 2.2.5 Tiêu chuẩn ngưng điều trị (43)
        • 2.2.6 Các tiêu chuẩn đánh giá (43)
        • 2.2.7 Các biến số nghiên cứu (50)
        • 2.2.8 Phương pháp tiến hành (56)
          • 2.2.8.1 Phân nhóm ngẫu nhiên (56)
          • 2.2.8.2 Các bước tiến hành (58)
          • 2.2.8.3 Tổ chức thực hiện (59)
        • 2.2.9 Thống kê xử lý số liệu (0)
        • 2.2.10 Vấn đề y đức (61)
    • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ SỐ LIỆU (62)
      • 3.1 Đặt điểm chung của Sản phụ trước nghiên cứu (62)
      • 3.2 Kêt quả nghien cứu (71)
        • 3.2.1 Tác dụng lành vết thương (71)
        • 3.2.2 Mức dộ co hồi tử cung và lượng sản dịch (75)
    • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (0)
      • 4.1 Tác dụng điều trị lành vết CTSM trên sản phụ trong nghiên cứu (79)
        • 4.1.1 Đặc điểm sản phụ trong nghiên cứu (79)
        • 4.1.2 Đặc điểm về lành vết CTSM, sản dịch và độ cao tử cung trước nghiên cứu 78 (81)
        • 4.1.3 Tác dụng hỗ trợ lành vết CTSM, sản dịch và co hồi tử cung (0)
          • 4.2.1.1 Góp phần xây dựng nền dược liệu YHCT (86)
          • 4.2.1.2 Thiết kế nghiên cứu là cơ sở cho việc đánh gia độ tin cậy của kết quả nghiên cứu (87)
        • 4.2.2 Hạn chế của đề tài (88)
      • 4.3 Phát hiện mới của đề tài (88)
      • 4.4 Hướng mở rộng đề tài (88)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (90)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 Yếu tố trong quá trình lành vết thương Bảng 1.2 Thang điểm đánh giá hệ thống vết thương sau hậu phẫu Bảng 1.3 Thang đo lành vết thương do áp lực Bảng 1.4 Đánh giá

Quan điểm của y học hiện đại về sinh sản và chăm sóc hậu sản

1.1.1.1 Sinh lý chuyển dạ, sổ thai bình thường

Khái niệm: chuyển dạ sinh là một quá trình sinh lý làm cho thai và phần phụ của thai được đẩy ra khỏi tử cung và đường sinh dục của người mẹ

 Sinh thường là cuộc chuyển dạ diễn ra bình thường theo sinh lý, thai nhi được sinh qua đường âm đạo, không can thiệp gì

 Sinh đủ tháng là cuộc chuyển dạ từ đầu tuần thứ 38 (259 ngày) đến cuối tuần thứ 41 (287 ngày).

 Sinh non tháng khi tuổi thai từ 22 tuần (154 ngày) đến 37 tuần

 Thai già tháng khi tuổi thai quá 41 tuần (287 ngày).

 Sẩy thai là sự chấm dứt thai nghén trước khi thai có thể sống được, thai dưới 22 tuần, nặng dưới 500g.

Các đặc điểm chuyển dạ: chuyển dạ có 3 giai đoạn xóa mở cổ tử cung, sổ thai và sổ nhau Động lực của cuộc chuyển dạ: cơn co tử cung là động lực của cuộc chuyển dạ sinh Rối loạn co bóp của tử cung có thể làm cho cuộc chuyển dạ bị kéo dài hoặc gây các tai biến cho người mẹ và cho thai nhi.

Thời gian chuyển dạ : Ở người con so, thời gian chuyển dạ trung bình từ 16 -

20h Ở người con rạ, thời gian chuyển dạ sinh ngắn hơn, trung bình từ 8 - 12h Các cuộc chuyển dạ sinh quá 24h gọi là chuyển dạ kéo dài

Tổn thương trong sinh thường:

1.1.2 Kỹ thuật can thiệp khi chuyển dạ

Phẫu thuật cắt tầng sinh môn:

Mục đích cắt chủ động tầng sinh môn để thai sổ dễ dàng, không làm rách tầng sinh môn và vết khâu liền tốt chỉ định trong trường hợp sinh con so, con to, sinh non và sinh thủ thuật Thủ thuật cắt may tần sinh môn hạn chế tổn thương nặng tầng sinh môn trong quá trình sổ thai Vì vậy, cắt tầng sinh môn là lựa chọn ưu việt tại thời điểm này để hỗ trợ sinh thường tốt nhất.

Chỉ định trong trường hợp:

 Cắt tầng sinh môn vì lý do người mẹ có tầng sinh môn cứng, dày, hẹp, âm hộ và tầng sinh môn phù nề do chuyển dạ kéo dài, thăm khám nhiều Trong các bệnh lý của mẹ cần cho thai phải sổ nhanh để đảm bảo sức khỏe cho người mẹ: như suy tim, tiền sản giật, cao huyết áp

 Cắt tầng sinh môn vì lý do thai nhi: thai to toàn bộ hoặc đầu to, các kiểu sổ bất thường như sổ chẩm cùng, ngôi mặt, ngôi mông và thai non tháng, thai có nguy cơ bị ngạt

 Cắt tầng sinh môn khi làm các thủ thuật như foóc xép, giác hút, đỡ sinh ngôi mông…

Việc chăm sóc hậu sản còn cần chú trọng nhiều hơn vì các biến chứng sau khi thực hiện phẫu thuật như phẫu thuật cắt tầng sinh môn như vết khâu không liền do nhiễm khuẩn, chảy máu do có khoảng trống giữa các lớp khâu hay nhiễm khuẩn

Vì vậy theo dõi chăm sóc sau khi phẫu thuật cần được quan tâm nhiều hơn. Quy trình chăm sóc sau phẫu thuật cắt tầng sinh môn: được thực hiện

 Giữ vết khâu sạch và khô Cắt chỉ vào ngày thứ 5 nếu khâu da bằng chỉ không tiêu.

 Nếu vết khâu không liền do nhiễm khuẩn phải xử trí tại chỗ, không khâu lại ngay

 Chảy máu do có khoảng trống giữa các lớp khâu: khâu lại cho các lớp liền và ép vào nhau

 Nhiễm khuẩn: cắt chỉ tầng sinh môn cách quãng, rửa sạch, kháng sinh tại chỗ và toàn thân Vệ sinh, rửa bằng dung dịch sát trùng, sử dụng kháng sinh điều trị.

- Chăm sóc hậu sản thường

 Chăm sóc tầng sinh môn: làm thuốc âm hộ 2-3 lần/ ngày hay sau khi đi đại tiện Cắt chỉ tầng sinh môn sau 5 ngày Nếu phù nề máu tụ phải theo dõi.

 Sử dụng kháng sinh: chỉ cần thiết trong trường hợp nhiễm khuẩn tiềm tàng, có nguy cơ cao Kháng sinh dùng nhóm Beta-lactamin: Ampicillin 2g trong 5 – 10 ngày

Trong quy trình chăm sóc hậu sản có phẫu thuật thì lành vết thương được đưa ra đánh giá quan trọng cho thành công của chăm sóc hậu sản

Khoảng thời gian 06 tuần sau khi sinh Trong khoảng thời gian này, các cơ quan trong cơ thể người mẹ, nhất là cơ quan sinh dục sẽ dần trở về trạng thái bình thường như trước khi có thai, trừ tuyến vú vẫn phát triển để tiết sữa.

Chăm sóc cẩn thận đề phòng các biến chứng chảy máu và nhiễm trùng Bên cạnh đó theo dõi và chăm sóc các vấn đề sau:

 Theo dõi mạch, huyết áp, nhiệt độ

 Theo dõi co hồi tử cung và sản dịch

 Chăm sóc tầng sinh môn

 Theo dõi đại tiểu tiện

Trong chăm sóc hậu sản, chăm sóc vết thương được quan tâm hàng đầu

Quy trình lành vết thương thường đặc trưng với bốn giai đoạn liên tiếp nhưng lại trùng lấp với nhau, các giai đoạn:

Giai đoạn đông máu (Haemostasis): bắt đầu và có thể kéo dài vài giờ sau khi xuất hiện vết thương.

- Giai đoạn viêm ( Inflammation): từ 1 đến 3 ngày sau khi xuất hiện vết thương Giai đoạn này các tế bào sừng (keratinocyte) kích hoạt các yếu tố interleukin-1 (IL-1), tumor necrosis factor-a (TNF-a) bên cạnh đó tiểu cầu kích hoạt các yếu tố: epidermal growth factor (EGF), platelet-derived growth factor (PDGF), transforming growth factor-b (TGF-b), and several chemokines và đại thực bào: giải phóng một số cytokine tiền viêm (IL-1 và IL-6) và các yếu tố tăng trưởng (FGF), EGF, TGF-b và PDGF).

- Giai đoạn tái tạo (Proliferation): từ 4 đến 21 ngày sau khi xuất hiện vết thương Giai đoạn này các EGF, TGF-a, và FGF kích thích sự di chuyển và tăng sinh tế bào biểu mô, dẫn đến sự khởi đầu tái tổ hợp vết thương.

- Giai đoạn liền sẹo (Remodeling): từ 21 ngày đến 1 năm sau khi xuất hiện vết thương.

Quan điểm của Y học cổ truyền về chăm sóc hậu sản và vết thương

Tuệ Tĩnh: (TK XIV) Trong thư tịch y học cổ truyền dân tộc việt nam, bộ sách Nam dược thần hiệu do hòa thượng Bản Lai bổ sung và in ấn lại năm 1761 theo bản khắc cũ của Vương Thiên Trí với nguồn tư liệu gốc của Tuệ Tĩnh được coi là xưa nhất hiện nay Phần Sản hậu trong “ Nam dược thần hiệu” có ghi chép lại: “ đàn bà sau khi sinh nở, tinh thần hao tổn, khí huyết kém hư, sinh lạc rời rạc, gân xương yếu đuối, toàn thân như cành liễu trước gió, như cá ngược dòng, lúc này nên chăm chú bồ dưỡng, buồng the khép kín, tính tình phải ôn hòa, tay chân thoải mái, nói năng nhỏ nhẹ, ăn uống điều độ kiên khem, quần áo ấm mát vừa phải, cẩn thận như thế thì bệnh sẽ tiêu tan, nếu sai phạm đôi chút thì nguy hại không nhỏ” đây là cách chăm sóc hướng dẫn cổ xưa được ghi nhận trong y thư cổ.

Bênh cạnh việc hướng dẫn chăm sóc vệ sinh sau sinh y sư Tuệ Tĩnh còn hướng dẫn chăm sóc sản phụ và sửa dụng các vị thuốc để phòng bệnh: “ khi sinh ra rồi dù có bệnh hay không bệnh, nên cho uống phòng trước thì các bệnh không sinh” Trong đó y sư Tuệ Tĩnh sử dụng một số vị thuốc như Nghệ, kinh giới, lá quan âm để phòng bệnh hay điều trị một số triệu chứng sản hậu như chóang đầu mờ mắt: Khương hoàng (Nghệ), Lá sen, Hồng hoa Bụng đau do khí huyết xung lên: Gừng, Nghệ,…

Hải thượng lãn ông (thế kỷ XVII) phần Vệ sinh yếu quyết diễn ca (thượng) – phần Phụ nữ và Phần lĩnh nam bản thảo (thượng) ghi nhận: Uất kim có tác dụng

"Khai kết thông kinh chữa bụng đau, lên da, hành huyết và thông khí”

Thấy được ứng dụng về chữa đau bụng và “lên da non” cách chế biến là tẩm giấm thanh sấy khô và dùng

Dân gian sau khi sinh sẽ có nhiều kiêng kỵ và hạn chế trong việc ăn uống sinh hoạt sản phụ Tuy nhiên, Nghệ được dân gian xem như loại gia vị thường dùng mỗi ngày và sử dụng trong quá trình sau sinh hậu sản: bên cạnh đó về kiến thức dân gian còn ứng dụng để giúp cho sản phụ sau sinh dùng để đẹp da, lành thương, giảm đau, … và được sử dụng bằng bột Nghệ trong các món ăn hàng ngày hay ngâm rượu để uống hay thoa ngoài da.

Cách đây 770 năm trước Công nguyên, do y học cổ truyền đã phát triển cho nên đã biết phân loại trong chấn thương, hơn nữa con người đã biết sử dụng kim khí cho nên khi các loại kim khí này gây rách da – cơ thì gọi là kim thương.

Sự liên quan giữa vết thương với tạng phủ, khí huyết

Theo quan điểm của y học cổ truyền: vết thương mau lành hay không còn tuỳ thuộc chính khí của cơ thể cụ thể là

Khí: biểu hiện về đau, thoát mủ, vết thương sạch Do vậy, nếu khí hư thì vết thương đau liên tục âm ỉ, không thoát mủ, bẩn; nếu khí chưa hư thì vết thương đau ít, mủ thoát dễ dàng, vết thương tươi sạch.

Huyết: biểu hiện về sưng nóng, đỏ và liền vết thương Nếu huyết ứ, huyết hư đều gây chảy máu, chảy nước vàng ở vùng tổn thương; nếu huyết không hư thì nơi tổn thương được nuôi dưỡng tốt cho nên vết thương chóng liền.

Tỳ: tỳ liên quan tới cơ nhục, nhiếp huyết và sinh khí huyết của hậu thiên. Trăm bệnh đều do tỳ gây nên và ngược lại tỳ ảnh hưởng trở lại tới trăm bệnh Do vậy, nếu tỳ tốt thì vết thương chóng lành, ít chảy máu, dễ thoát mủ.

Can: can tàng huyết, can chủ cân; nếu can tốt thì vết thương lành không ảnh hưởng tới vận động.

Tâm: chủ thần minh, tâm tốt thì huyết đầy đủ, giấc ngủ lành, người bệnh có nghị lực chịu khó tập luyện không để lại di chứng.

Thận: chủ cốt tuỷ, thận tốt thì vết thương không ảnh hưởng tới xương.

Như vậy vết thương phần mềm không những cần chú ý tới tổn thương tại chỗ mà phải chú ý tới toàn thân, phải biện chứng chính xác giữa triệu chứng tại chỗ và toàn thân mới có pháp điều trị tốt, bệnh sẽ chóng khỏi. Đối với phụ nữ sau sinh khí huyết hư nhược kèm theo có vết thương tầng sinh môn nên phải bồi bổ khí huyết sinh cơ thì có thể dùng thêm bài thuốc chữa khí huyết hư Sắc uống ngày 1 thang.

Các nghiên cứu về Nghệ và hoạt chất Curcumin

Việc sử dụng Nghệ đã có gần 4.000 năm từ văn hoá Vedic ở Ấn Độ, nơi đây Nghệ đã được sử dụng như là một gia vị trong ẩm thực và có một số ý nghĩa tôn giáo Nghệ có thể đến Trung Quốc khoảng 700 sau công nguyên, Đông Phi bằng

800 sau công nguyên, Tây Phi năm 1200 sau công nguyên Năm 1280, Marco Polo miêu tả gia vị này, kinh ngạc trước một loại rau có những phẩm chất tương tự với Nghệ tây Đến năm 1815, Vogel & Pelletier đã phân lập được hoạt chất của Nghệ và đặt tên là Curcumin, chiếm 2-5% trong Nghệ Gần 100 năm sau, năm 1910, Milobedzka và cs mới xác định được Curcumin là polyphenol kỵ nước có cấu trúc diferuloylmethan Curcumin thương phẩm là một hỗn hợp gồm 77% diferuloylmethan, 18% demethoxyCurcumin và 5% bisdemethoxyCurcumin.

Theo xu hướng phát triển của khoa học kỹ thuật, Châu Á bắt đầu nghiên cứu sau hơn về Nghệ

Tại viêt nam GS TS Phạm Hoàng Hộ : đã thống kê gồm 16 loại Nghệ trải dài từ Bắc đến Nam Trong đó Nghệ với tên khoa học Curcuma longa L (Curcuma domestica Lour) Thuộc họ gừng (zingiberaceae) đã đi đầu trong việc tổng hợp và phân tích tác dụng của Nghệ dựa trên hoạt chất của Nghệ Trong đó chỉ có Nghệ vàng (Curcuma longa L) chứa hoạt chất Curcumin.

Cây Nghệ là một thành viên của họ gừng, phát triển mạnh ở vùng khí hậu nhiệt đới Củ Nghệ được sử dụng rộng rãi như một gia vị và để phát triển các chế phẩm thực phẩm chức năng, đặc biệt là ở Châu Á Curcumin (1,7 bis(4-hydroxy-3- methoxyphenyl)-1,6 heptadiene-3,5-dione) (Hình 1.5) là một chất có tác dụng sinh học chính của củ Nghệ

Về cấu trúc hóa học, Curcumin là diferuloylmethan có hai vòng aryl với một nhóm methoxy và một nhóm hydroxyl trên mỗi vòng Tương tự khung cấu trúc này, có một số thay đổi của nhóm methoxy hoặc hydroxyl trên một hoặc cả hai vòng thơm được gọi là Curcuminoid Curcumin (77%), demethoxyCurcumin (17%) và

11 bis-demethoxyCurcumin (3%) là các Curcuminoid chính có trong củ Nghệ (Hình 1.5)

Curcumin có khả năng hòa tan tốt trong aceton, ethanol và dimethyl sulfoxid, nhưng thực tế không tan trong nước Curcumin (77%) DemethoxyCurcumin (17%) bis- DemethoxyCurcumin (3%) Curcumin và các dẫn chất chính trong củ Nghệ.

Curcumin là một chất tạo điều kiện cho quá trình lành vết thương và tác nhân bảo vệ các mô vết thương từ nhiễm trùng do vi khuẩn, làm giảm viêm và kích thích sự gia tăng tế bào để hỗ trợ tái tạo mô bị tổn thương

Curcumin cũng sẽ hoạt động như một chất chống oxy hóa vì các gốc tự do là nguyên nhân chính gây viêm trong quá trình điều trị vết thương

Khả năng chữa lành vết thương của Curcumin là do các hiệu ứng sinh hóa như chống viêm , chống nhiễm trùng và chất chống oxy hóa

Curcumin cũng đã được tìm thấy để tăng cường chữa lành vết thương bằng da thông qua sự tham gia trong tái cấu trúc mô, lên mô hạt, mô hình thành và collagen lắng đọng

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng ứng dụng Curcumin trên vết thương cũng giúp tăng cường tái tạo biểu mô và tăng sự tăng sinh bào nguyên và mật độ mạch máu Ảnh hưởng của Curcumin lên quá trình viêm và giảm đau

Viêm là giai đoạn quan trọng thứ hai của quá trình điều trị vết thương, thường được mô tả như là bước đầu tiên để tái tạo vết thương tối ưu Các phản ứng viêm không được kiểm soát có thể dẫn đến các phản ứng không mong muốn và tổn thương mô.

Khi mô bị tổn thương gần như ngay lập tức xuất hiện viêm cấp tính, do đó kiểm soát viêm cần thiết và có thể tối ưu hóa quá trình sửa chữa vết thương Đáng chú ý nhất là Curcumin đã cho thấy ức chế sự sản sinh yếu tố hoại tử khối u alpha(TNF-α) và interleukin-1 (IL-1), hai cytokine chính được giải phóng từ các monocytes và đại thực bào đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa các đáp ứng viêm Curcumin có tầm quan trọng là khả năng của trong việc ức chế hoạt động củaNF- (κ) B (nhân tố kappa-tăng cường chuỗi hạt nhân của tế bào B kích hoạt), một yếu tố phiên mã điều chỉnh nhiều gen liên quan đến việc khởi động các phản ứng viêm NF- (κ) B thường được kích hoạt bởi các loại kinaza khác nhau (AKT, PI3K,IKK) và Curcumin ảnh hưởng đến nhiều đường đi liên quan đến sự kích hoạt này(Hình 1.7)

Hình 1.6 Cơ chế tác dụng NF- (κ) B

Trong một thời gian, NF- (κ) B đã được xem là phản ứng oxy hóa làm nổi bật sự tương quan giữa oxy hóa và viêm trong chữa lành vết thương

Mohanty và cộng sự dùng tấm phủ Curcumin-loaded oleic acid based polymeric (COP) trên lưng chuột và tìm thấy sự sụ giảm sự xuất hiện của các kinase khác nhau trong con đường PI3K / AKT / NF- (k) B

Việc áp dụng băng gạc chứa COP cũng dẫn đến việc giảm sự biểu hiện của p13K và kinase pAKT, do đó dẫn đến sự kích hoạt ít hơn gen NF- (κ) B và giảm viêm Một sự tăng lên trong protein I- (κ) B- (α) có liên quan đến sự ức chế con đường NF- (κ) B cũng được quan sát Do đó, Mohanty et al Đã chứng minh rằng Curcumin làm giảm viêm ở những nơi bị thương do sự kích hoạt của con đường NF- (κ) B.

Trái ngược với hầu hết các nghiên cứu cho thấy Curcumin tăng cường chữa lành vết thương bằng cách ức chế đáp ứng viêm; Bằng cách sử dụng một mô hình chuột kết luận rằng sự gia tăng NO trong một phần là do việc cải thiện việc chữa lành vết thương bằng cách sử dụng Curcumin.

Mặc dù nghiên cứu này gợi ý rằng tăng cường đáp ứng viêm tự nhiên do điều trị Curcumin cải thiện sẽ làm lành vết thương, phần lớn các bài báo cung cấp bằng chứng rằng Curcumin thực sự làm giảm viêm

Đánh giá vết thương và đau sau cắt may tầng sinh môn

1.4.1 Các công cụ giám sát và định lượng vết thương

Thang điểm đánh giá hệ thống vết thương sau hậu phẫu (Scoring system of Postoperative wound condition) Đây là thang điểm đánh giá tiến độ vết thương lành và có nhiễm khuẩn. Thang điểm đánh giá hệ thống vết thương sau hậu phẫu (Scoring system of Postoperative wound condition)

Bảng 1.2 Thang điểm đánh giá hệ thống vết thương sau hậu phẫu Điểm Điều kiện Đánh giá

0 Lành bình thường Đánh giá lành vết thương bình thường

1 Lành bình thường nhưng có 1 dấu hiệu nhiễm trùng: phù, đỏ hoặc đau tăng

2 Lành bình thường nhưng có 2 dấu hiệu nhiễm trùng: phù, đỏ hoặc đau tăng

3 Lành bình thường nhưng có tất cả 3 dấu hiệu nhiễm trùng: phù, đỏ hoặc đau tăng

4 Có mủ hoắc chảy dịch kết hợp với 2 dấu hiệu : phù, đỏ hoặc đau tăng Đánh giá vết thương nhiễm trùng

5 Có mủ kết hợp với 1 dấu hiệu kèm theo: phù, đỏ hoặc đau tăng hoặc chảy dịch kết hợp phù, đỏ hoặc đau tăng

6 Có mủ kết hợp với 2 dấu hiệu kèm theo: phù, đỏ hoặc đau tăng

7 Có mủ kết hợp với 3 dấu hiệu kèm theo: phù, đỏ hoặc đau tăng

Thang đo lành vết thương đo áp lực - Pressure Ulcer Scale for Healing (PUSH)

PUSH được thiết kế để trở thành dụng cụ khoa học chính xác, dễ sử dụng, có ích trên lâm sàng để theo dõi thời gian và thiết lập chăm sóc PUSH đã được đánh giá và chấp thuận để sử dụng lành vết thương loét chân và đái tháo đường ở chân.

PUSH xem xét ba yếu tố liên quan đến tình trạng vết thương: Kích thước bình quân, hình thái mô có trong vết thương và số lượng dịch Loại mô và lượng dịch được cho điểm từ 0 đến 4

Kích thước bao gồm mười loại, với kích thước lớn nhất (> 24 cm2) có điểm số cao nhất

Lượng dịch tiết được đánh giá từ 0 đến 3 tương úng với từ không có dịch tiết, dịch tiết ít, dịch tiết trung bình, dịch tiết nhiều.

Loại mô tại vết thương:

4 – Mô hoại tử (eschar): mô đen, nâu hoặc tan, dính chặt vào vết thương hoặc các vết loét và có thể cứng hơn hoặc mềm hơn làn da xung quanh.

3 – Lõm : mô vàng hoặc trắng dính vào lớp loét trong các cụm dày, hoặc là (bao phủ bởi chất nhầy).

2 – Mô hạt : mô hồng hoặc màu đỏ đậm với dạng bóng, ẩm ướt.

1 – Biểu mô: loét bề mặt, mô hồng hoặc bóng sáng mới (da) phát triển từ các cạnh hoặc các vùng gồ trên bề mặt loét.

0 – Liền mô: vết thương hoàn toàn được bao phủ bởi biểu mô (da mới).

Sau đó, các ba yếu tố được cộng lại với nhau để đạt được tổng số điểm và điểm theo dõi để đánh giá tình trạng vết thương và hướng phát triển vết thương

Bảng 1.3 Thang đo lành vết thương do áp lực

Công cụ đánh giá vết thương Bates-Jensen (BWAT)

Công cụ Đánh giá Vết thương Bates-Jensen (BWAT) là một công cụ hợp lệ và đáng tin cậy được phát triển bởi Bates-Jensen được sử dụng để đánh giá và theo dõi việc chữa trị tất cả các loại vết thương Công cụ này toàn diện hơn công cụ PUSH Bates-Jensen bao gồm 15 mục Các mục được ghi nhận là:

Mỗi mục có thể được ghi từ 1 đến 5, với 1 là tốt nhất cho thuộc tính đó Sau mỗi hạng mục được đánh giá và ghi, 13 mục được tổng kết để có được một điểm tổng số

Bates-Jensen đã tính rằng điểm BWAT có thể được chuyển thành điểm PUSH vì hai công cụ có mối tương quan cao BWAT sử dụng số điểm để đánh giá mức độ nghiêm trọng của vết thương Điều này rất quan trọng, vì mục tiêu chăm sóc vết thương là giảm mức độ vết thương Tổng số điểm của BWAT được chia thành bốn loại mức độ nghiêm trọng:

13 - 20 = mức độ nghiêm trọng tối thiểu

21 - 30 = mức độ nghiêm trọng nhẹ

31 - 40 = mức độ nghiêm trọng vừa phải

Bảng 1.4 Đánh giá vết thương Bates-Jensen (BWAT)

1 Kích cỡ 1 = Dài x Rộng < 4 cm 2

2 Chiều sâu 1 = đỏ da không nảy nở trên da còn nguyên vẹn

2 = Mất một phần da liên quan đến biểu bì và / hoặc lớp hạ bì

3 = Độ dày da bị mất liên quan đến tổn thương hoặc hoại tử mô dưới da; Có thể kéo dài xuống nhưng không không tới cơ ; Và / hoặc bề dày hỗn hợp một phần và toàn bộ và / hoặc lớp mô bị che khuất bởi mô hạt

Tổn thương cơ, xương hoặc các cấu trúc hỗ trợ

3 Bờ 1 = Không rõ ràng, lẫn với nhau , không nhìn thấy rõ

2 = rõ ràng, có thể phát thảo rõ bờ vết thương, kèm theo, thậm chí với vết thương cơ bản

3 = có thể xác định, không liền mạch với vết thương nề

4 = có thể xác định, không liền mạch với vết thương nề, cuộn bờ và dày lên

5 = có thể xác định, gây xơ, sẹo hoặc tăng keratin (chai xơ)

2 = Hủy hoại dưới 2 cm ở bất kỳ khu vực nào

3 = Hủy hoại 2-4 cm liên quan đến < 50% mép vết thương

4 = Hủy hoại 2-4 cm liên quan đến > 50% mép vết thương

5 = Hủy hoại > 4 cm hoặc đường hầm trong bất kỳ khu vực nào

2 = Màu trắng / xám không hoạt động được và / hoặc không dính vẩy vàng

4 = Kết dính, mềm, vảy màu đen

5 = Chắc chắn, cứng, vảy màu đen

6 Số lượng mô hoại tử

3 = 25% đến 50% vết thương được bảo vệ

4 => 50% và

Ngày đăng: 16/03/2023, 08:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Lê Hữu Trác (2005), Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh, Vol. Tập, Nhà Xuất Bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh
Tác giả: Lê Hữu Trác
Nhà XB: Nhà Xuất BảnY học
Năm: 2005
9. Nguyễn Đức Vy (2006), Bài Gỉang Sản Phụ Khoa (dùng cho đào tạo sau đại học), Vol. 1, Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài Gỉang Sản Phụ Khoa (dùng cho đào tạo sau đạihọc)
Tác giả: Nguyễn Đức Vy
Năm: 2006
10. Kanai, M., Imaizumi, A., Otsuka, Y., Sasaki, H., Hashiguchi, M., Tsujiko, K., . . . Chiba, T. (2012), "Dose-escalation and pharmacokinetic study of nanoparticle Curcumin, a potential anticancer agent with improved bioavailability, in healthy human volunteers", Cancer Chemother Pharmacol. 69(1), pp. 65-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dose-escalation and pharmacokinetic study ofnanoparticle Curcumin, a potential anticancer agent with improvedbioavailability, in healthy human volunteers
Tác giả: Kanai, M., Imaizumi, A., Otsuka, Y., Sasaki, H., Hashiguchi, M., Tsujiko, K., . . . Chiba, T
Năm: 2012
11. DiSilvestro, R. A., Joseph, E., Zhao, S., Bomser, J. (2012), "Diverse effects of a low dose supplement of lipidated Curcumin in healthy middle aged people", Nutr J. 11, p. 79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diverse effectsof a low dose supplement of lipidated Curcumin in healthy middle agedpeople
Tác giả: DiSilvestro, R. A., Joseph, E., Zhao, S., Bomser, J
Năm: 2012
13. Mohanty, C., Das, M., Sahoo, S. K. (2012), "Sustained wound healing activity of Curcumin loaded oleic acid based polymeric bandage in a rat model", Mol Pharm. 9(10), pp. 2801-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sustained wound healingactivity of Curcumin loaded oleic acid based polymeric bandage in a ratmodel
Tác giả: Mohanty, C., Das, M., Sahoo, S. K
Năm: 2012
14. Kulac, M., Aktas, C., Tulubas, F., Uygur, R., Kanter, M., Erboga, M., . . . Ozen, O. A. (2013), "The effects of topical treatment with Curcumin on burn wound healing in rats", J Mol Histol. 44(1), pp. 83-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effects of topical treatment with Curcumin on burnwound healing in rats
Tác giả: Kulac, M., Aktas, C., Tulubas, F., Uygur, R., Kanter, M., Erboga, M., . . . Ozen, O. A
Năm: 2013
15. Lopez-Lazaro, M. (2008), "Anticancer and carcinogenic properties of Curcumin: considerations for its clinical development as a cancer chemopreventive and chemotherapeutic agent", Mol Nutr Food Res. 52 Suppl 1, pp. S103-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anticancer and carcinogenic properties ofCurcumin: considerations for its clinical development as a cancerchemopreventive and chemotherapeutic agent
Tác giả: Lopez-Lazaro, M
Năm: 2008
17. Jagetia, G. C., Rajanikant, G. K. (2012), "Acceleration of wound repair by Curcumin in the excision wound of mice exposed to different doses of fractionated gamma radiation", Int Wound J. 9(1), pp. 76-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acceleration of wound repair byCurcumin in the excision wound of mice exposed to different doses offractionated gamma radiation
Tác giả: Jagetia, G. C., Rajanikant, G. K
Năm: 2012
(2010), "Synthesis, antibacterial and antiviral properties of Curcumin bioconjugates bearing dipeptide, fatty acids and folic acid", Eur J Med Chem. 45(3), pp. 1078-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Synthesis, antibacterial and antiviral properties of Curcuminbioconjugates bearing dipeptide, fatty acids and folic acid
20. Thangapazham, R. L., Sharad, S., Maheshwari, R. K. (2013), "Skin regenerative potentials of Curcumin", Biofactors. 39(1), pp. 141-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Skinregenerative potentials of Curcumin
Tác giả: Thangapazham, R. L., Sharad, S., Maheshwari, R. K
Năm: 2013
21. Meng, B., Li, J., Cao, H. (2013), "Antioxidant and antiinflammatory activities of Curcumin on diabetes mellitus and its complications", Curr Pharm Des. 19(11), pp. 2101-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Antioxidant and antiinflammatoryactivities of Curcumin on diabetes mellitus and its complications
Tác giả: Meng, B., Li, J., Cao, H
Năm: 2013
22. Antony, B., Merina, B., Iyer, V. S., Judy, N., Lennertz, K., Joyal, S. (2008),"A Pilot Cross-Over Study to Evaluate Human Oral Bioavailability of BCM- 95CG (Biocurcumax), A Novel Bioenhanced Preparation of Curcumin", Indian J Pharm Sci. 70(4), pp. 445-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Pilot Cross-Over Study to Evaluate Human Oral Bioavailability of BCM-95CG (Biocurcumax), A Novel Bioenhanced Preparation of Curcumin
Tác giả: Antony, B., Merina, B., Iyer, V. S., Judy, N., Lennertz, K., Joyal, S
Năm: 2008
23. Dhillon, N., Aggarwal, B. B, Newman, R. A., Wolff, R. A., Kunnumakkara, A. B., Abbruzzese, J. L., . . . Kurzrock, R. (2008), "Phase II trial of Curcumin in patients with advanced pancreatic cancer", Clin Cancer Res.14(14), pp. 4491-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phase II trial ofCurcumin in patients with advanced pancreatic cancer
Tác giả: Dhillon, N., Aggarwal, B. B, Newman, R. A., Wolff, R. A., Kunnumakkara, A. B., Abbruzzese, J. L., . . . Kurzrock, R
Năm: 2008
24. Ak, T., Gulcin, I. (2008), "Antioxidant and radical scavenging properties of Curcumin", Chem Biol Interact. 174(1), pp. 27-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Antioxidant and radical scavenging properties ofCurcumin
Tác giả: Ak, T., Gulcin, I
Năm: 2008
25. Bharat B. Aggarwal, Chitra Sundaram, Nikita Malani, Haruyo Ichikawa (2007), "Curcumin: The Indian solid gold", Advances in Experimental Medicine and Biology. 595, pp. p1 -p75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Curcumin: The Indian solid gold
Tác giả: Bharat B. Aggarwal, Chitra Sundaram, Nikita Malani, Haruyo Ichikawa
Năm: 2007
26. Cheng, A. L., Hsu, C. H., Lin, J. K., Hsu, M. M., Ho, Y. F., Shen, T. S., . . . Hsieh, C. Y. (2001), "Phase I clinical trial of Curcumin, a chemopreventive agent, in patients with high-risk or pre-malignant lesions", Anticancer Res.21(4b), pp. 2895-900 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phase I clinical trial of Curcumin, a chemopreventiveagent, in patients with high-risk or pre-malignant lesions
Tác giả: Cheng, A. L., Hsu, C. H., Lin, J. K., Hsu, M. M., Ho, Y. F., Shen, T. S., . . . Hsieh, C. Y
Năm: 2001
27. Chutima Jantarat (2013), "Bioavailability Enhancement Techniques Of Herbal Medicine: A Case Example Of Curcumin", International Journal of Pharmacy and Pharmaceutical Sciences. 5, pp. p493 - p500 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bioavailability Enhancement Techniques OfHerbal Medicine: A Case Example Of Curcumin
Tác giả: Chutima Jantarat
Năm: 2013
28. Esatbeyoglu, T., Huebbe, P., Ernst, I. M., Chin, D., Wagner, A. E., Rimbach, G. (2012), "Curcumin--from molecule to biological function", Angew Chem Int Ed Engl. 51(22), pp. 5308-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Curcumin--from molecule to biological function
Tác giả: Esatbeyoglu, T., Huebbe, P., Ernst, I. M., Chin, D., Wagner, A. E., Rimbach, G
Năm: 2012
31. Gopinath, D., Ahmed, M. R., Gomathi, K., Chitra, K., Sehgal, P. K., Jayakumar, R. (2004), "Dermal wound healing processes with Curcumin incorporated collagen films", Biomaterials. 25(10), pp. 1911-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dermal wound healing processes with Curcuminincorporated collagen films
Tác giả: Gopinath, D., Ahmed, M. R., Gomathi, K., Chitra, K., Sehgal, P. K., Jayakumar, R
Năm: 2004
32. Hamdan, S., Pastar, I., Drakulich, S., Dikici, E., Tomic-Canic, M., Deo, S., Daunert, S. (2017), "Nanotechnology-Driven Therapeutic Interventions in Wound Healing: Potential Uses and Applications", ACS Cent Sci. 3(3), pp.163-175 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nanotechnology-Driven Therapeutic Interventions inWound Healing: Potential Uses and Applications
Tác giả: Hamdan, S., Pastar, I., Drakulich, S., Dikici, E., Tomic-Canic, M., Deo, S., Daunert, S
Năm: 2017

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w