Cách tính: Từ các đơn thuốc Bảo hiểm y tế trong mẫu nghiên cứu, lấy đơn thuốc có chỉ định thuốc ức chế bơm proton theo từng nhóm chia cho tổng số đơn thuốc có chỉ định thuốc ức chế bơm p
Tổng quan về thuốc ức chế bơm proton
1.1.1.1 Vị trí phân bố và chức năng
Bơm proton H+/K+ ATPase là một protein xuyên màng và enzyme vận chuyển tích cực, chủ yếu nằm tại tế bào viền của dạ dày trong cơ thể người Nó có chức năng bài tiết H+ (hoặc H3O+) vào lòng ống tiêu hóa, đồng thời thay thế ion K+ vào tế bào, giúp tạo ra môi trường có pH cực thấp dưới 1,0 Quá trình vận chuyển ngược này đóng vai trò quan trọng trong việc tiết acid dạ dày, hỗ trợ tiêu hóa và tiêu diệt vi khuẩn có hại.
H + /K + sử dụng ATP theo đương lượng 2H + /2K + / ATP ở pH 6,1 và 1H + /1K + / ATP khi pH lòng ống < 3,0 [40]
Trong trạng thái nghỉ, enzyme H+/K+ ATPase nằm trong các tubulovescicle của màng lưới nội chất trơn Khi tế bào được kích thích, enzyme này được chuyển ra vùng màng tế bào gần các vi kênh, thúc đẩy quá trình tiết và điều chỉnh cân bằng ion trong tế bào.
(Nguồn: Phạm Thị Thùy An, 2012 [1])
Hình 1.1: Sự di chuyển bơm proton khi tế bào viền chuyển từ trạng thái nghỉ sang trạng thái kích thích
H + /K + ATPase không chỉ được tìm thấy ở dạ dày mà còn có mặt ở các vị trí khác trong cơ thể người, như trong ống góp của thận trong phần vỏ và bạch cầu Tại những địa điểm này, H + /K + ATPase chủ yếu đóng vai trò điều chỉnh cân bằng acid - base và duy trì nồng độ ion K +, chứ không tạo ra mức pH quá thấp Sự hiện diện của enzyme này ở các vị trí khác nhau giúp đảm bảo chức năng sinh lý ổn định và cân bằng ion trong cơ thể.
1.1.1.2 Cấu trúc và hoạt động của bơm proton
H + /K + ATPase của dạ dày là một enzyme ATPase loại P2 (một số enzyme khác thuộc nhóm này là Na + /K + ATPase và Ca 2+ ATPase) Nó bao gồm 2 tiểu đơn vị: tiểu đơn vị α chứa khoảng 1034 amino acid và tiểu đơn vị β chứa khoảng
H+/K+ ATPase tồn tại ở dạng (αβ)2 trong cơ thể, mặc dù vai trò của cấu trúc oligomer này chưa rõ ràng Tiểu đơn vị α chứa 10 đoạn xuyên màng (M1-M10) chịu trách nhiệm xúc tác, liên kết ATP và H+ hoặc K+, đồng thời định vị enzyme trên màng lipid Các amino acid trong các đoạn M4, M5, M6 và M8 tạo thành vùng liên kết ion H+ và K+, giữ các ion này thông qua liên kết với 6 nguyên tử oxy Trong khi đó, tiểu đơn vị β đóng vai trò quan trọng trong quá trình thu hồi enzyme về vùng lưới nội chất khi tế bào viền chuyển từ trạng thái hoạt động sang trạng thái nghỉ, đồng thời giúp enzyme gấp cuộn đúng cách và định vị chính xác trên màng tế bào.
1.1.2 Các thuốc ức chế bơm proton
Các chất ức chế bơm proton là những chất có khả năng liên kết với bơm proton H + /K + ATPase của dạ dày, ức chế thuận nghịch hoặc không thuận nghịch hoạt động của bơm, nhờ đó làm giảm sự bài tiết acid dạ dày do mọi nguyên nhân [3]
1.1.2.2 Lịch sử phát hiện và ra đời
Vào đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX, các nhà khoa học tại Gothenburg, Thụy Điển, đã tổng hợp thành công hợp chất pyridine-2-acetamid như một chất kháng virus Tuy nhiên, họ phát hiện ra rằng hợp chất này còn có khả năng ức chế bài tiết axit dịch vị trên cơ thể Do đó, các nhà nghiên cứu đã cố gắng biến đổi hợp chất này để tạo ra pyridine-2-thioceramide nhằm nâng cao khả năng chống virus, nhưng kết quả không như mong đợi Trong khi đó, công dụng chống axit của pyridine-2-thioceramide lại vượt trội hơn so với nguyên bản.
Năm 1973, các nghiên cứu về cimetidine được công bố, đã thúc đẩy các nhà khoa học Thụy Điển sáng tạo bằng cách gắn vòng benzylimidazol vào hợp chất này để tạo ra các hợp chất mới có khả năng kháng acid mạnh hơn Năm 1975, timoprazole ra đời với tác dụng ức chế bài tiết axit dạ dày đáng kể, nhờ vào cơ chế bất hoạt enzyme H+/K+ ATPase Đến năm 1979, sau nhiều điều chỉnh về công thức hóa học, omeprazole đã được tổng hợp thành công và trình làng tại Hội nghị Tiêu hóa Toàn cầu ở Rome, mở ra bước tiến lớn trong điều trị các bệnh liên quan đến tiết axit dạ dày.
1988 để rồi sau đó được sử dụng rất phổ biến trên lâm sàng
Trên cơ sở phân tử của omeprazole, các thay đổi tiếp theo đã dẫn đến sự ra đời của lansoprazole năm 1996, pantoprazole năm 1997, rabeprazole năm
1999 và esomeprazole năm 2001 Gần đây có thêm tenatoprazole, dexlanzoprazole và ilaprazole
Tenatoprazole là thuốc có thời gian bán hủy kéo dài (9 giờ) và hiệu lực ức chế bài tiết acid cao Tuy nhiên, cho đến nay chưa được dùng phổ biến trong lâm sàng Ilaprazole tuy mới ra đời nhưng đã được dùng khá nhiều tại Hàn Quốc và khả năng ức chế bài tiết giống như các thuốc ức chế bơm proton thế hệ cũ Hai thuốc esomeprazole (đồng phân quay trái của omeprazole) và dexlanzoprazole (đồng phân quay phải của lanzoprazole) có nhiều ưu điểm về mặt chuyển hóa, dược động học và hiệu quả điều trị nên được xếp là các PPI thuộc thế hệ mới [18], [48]
Hiện nay, 5 loại PPI được dùng rộng rãi trong lâm sàng là omeprazole, lansoprazole, pantoprazole, rabeprazole và esomeprazole đều đang có mặt tại Việt Nam
PPIs có thể coi như tiền thuốc vì chúng chuyển đổi thành dạng có hoạt tính tại vị trí tác dụng Chúng là các base yếu có pKa khoảng 4, trong khi máu có pH 7,4, khiến PPIs tồn tại ở dạng không ion hóa trong máu, dễ dàng vượt qua các màng sinh học Khi vào vùng vi kênh của tế bào viền dạ dày, nơi pH còn dưới 2 và các tế bào này đang hoạt động tiết acid, PPIs bị proton hóa, từ đó kích hoạt và phát huy tác dụng trong việc ức chế bài tiết axit dạ dày.
- PPIs đã bị proton hóa trở nên quá phân cực nên không thể vượt qua màng tế bào viền dạ dày để trở lại máu, vì vậy nồng độ PPIs trong vùng vi kênh tế bào viền đạt được rất cao, gấp khoảng 1000 lần nồng độ PPIs trong máu
- Sự proton hóa PPIs khơi màu cho một chuỗi phản ứng chuyển PPIs thành dạng hoạt hóa là acid sulfenic và sulfenamid [45]
PPIs cần môi trường acid mạnh để được hoạt hóa, chỉ hoạt động tại các tế bào viền dạ dày đang bài tiết acid, nhằm ức chế các bơm proton đang hoạt động Nên uống PPIs trước bữa ăn sáng khoảng 30 phút để đạt nồng độ đỉnh trong máu đúng lúc các bơm proton hoạt động nhiều nhất Sau thời gian dài đói, lượng bơm proton trong tế bào viền dạ dày đạt đỉnh và sau ăn, các bơm chuyển sang trạng thái hoạt động Nếu cần liều thứ hai trong ngày, nên uống trước bữa tối để đảm bảo hiệu quả điều trị.
Liên kết disulfid hình thành giữa PPIs và bơm proton là cộng hóa trị, làm cho hiệu quả ức chế tiết acid kéo dài hơn so với thời gian bán hủy trong máu (60-90 phút) Trong bữa ăn, không phải tất cả tế bào viền và bơm proton đều hoạt động, vì vậy sau liều đầu tiên, vẫn còn một lượng lớn bơm proton chưa bị ức chế; sự ổn định của hiệu quả ức chế đạt được sau khoảng ba ngày dùng PPIs một lần mỗi ngày, phản ánh sự cân bằng giữa lượng bơm proton bị ức chế và hoạt hóa của các bơm chưa bị ức chế, cùng với quá trình tổng hợp mới và sự cắt liên kết disulfid bởi các tác nhân nội sinh như glutathion Để tránh chuyển PPI sang dạng không bền như acid sulfenic hoặc sulfenamid ngay khi vào dạ dày, các PPIs thường được bào chế dưới dạng viên bao tan ở ruột, với vỏ bao không tan đến khi pH khoảng 5,0, đảm bảo hiệu quả và ổn định khi sử dụng.
1.1.2.5 Ứng dụng trong điều trị
Các chất ức chế bơm proton giúp giảm sự bài tiết acid dạ dày, do đó được sử dụng để điều trị các bệnh lý liên quan đến quá nhiều acid trong dạ dày Việc giảm tiết acid này giúp làm lành các tổn thương nhanh hơn và giảm các triệu chứng của bệnh hiệu quả [3], [13].
Trong phạm vi đề tài này, thuốc ức chế bơm proton được chỉ định khi có một trong các chẩn đoán sau [2], [3], [13]:
- Loét dạ dày – tá tràng
- Trào ngược dạ dày - thực quản
- Phòng ngừa và điều trị loét do dùng NSAIDs và loét do stress
1.1.3 Hậu quả của việc sử dụng không hợp lý các thuốc ức chế bơm proton
1.1.3.1 Nguy cơ gia tăng bệnh tật
Gia tăng sự phát triển quá mức của vi khuẩn gây hại:
Nồng độ acid trong dạ dày thấp (pH dịch vị > 5) gây giảm hấp thu carbohydrate, dẫn đến tình trạng vi khuẩn phát triển quá mức trong đường tiêu hóa Khi acid trong dạ dày ít, việc giải phóng enzyme tụy vào ruột non bị giảm, làm cho quá trình tiêu hóa carbohydrate trở nên kém hiệu quả Carbohydrate không tiêu hóa hết sẽ trở thành nguồn dinh dưỡng thúc đẩy sự phát triển của vi khuẩn, gây mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột và các vấn đề tiêu hóa khác.
Một số nghiên cứu về thuốc ức chế bơm proton trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu của Nardino R.J và cộng sự (2000) trên 226 bệnh nhân điều trị tại các cơ sở y tế ban đầu và bệnh viện cho thấy, tỷ lệ sử dụng thuốc ức chế tiết acid chiếm đến 54%, với nam giới chiếm 51% và nữ giới 49% Đồng thời, nghiên cứu còn chỉ ra rõ ràng rằng có tới 72% các trường hợp lạm dụng thuốc ức chế tiết acid tại các cơ sở y tế, nâng cao nhận thức về việc sử dụng thuốc đúng cách để tránh tác dụng phụ không mong muốn.
Nghiên cứu của Mat Saad A Z và cộng sự (2005) tại Bệnh viện đa khoa Ailen cho thấy, thuốc ức chế bơm proton (PPI) được kê toa khá phổ biến, chiếm 30,6% trong số 157 bệnh nhân nội trú trong một ngày Trong đó, omeprazole là thuốc được sử dụng nhiều nhất, với liều 20 mg (68,2%) và 40 mg (31,8%) Các chỉ định điều trị bằng PPI phù hợp chiếm 66,7% (32 bệnh nhân), trong khi chỉ định không phù hợp hoặc không cần thiết là 33,3% (16 bệnh nhân) Trong các loại PPI được kê đơn, omeprazole chiếm tỷ lệ cao nhất (45,8%), còn rabeprazole có tỷ lệ thấp nhất (2,1%), phản ánh mức độ sử dụng đa dạng của các thuốc này trong điều trị bệnh nhân nội trú.
Theo một nghiên cứu của Ahmed Yacoob Mayet (2007) ở 661 bệnh nhân tại một bệnh viện tại Ả Rập Saudi Tỷ lệ sử dụng các loại thuốc kháng tiết dạ dày ở bệnh nhân nam (57,9%) cao hơn bệnh nhân nữ (42,1%) nhưng không có mối liên quan nào giữa yếu tố giới tính và loại ức chế bơm proton được sử dụng Nhóm tuổi được chỉ định PPIs phổ biến là từ 20 đến 60 tuổi (48,8%) và trên 60 tuổi (47,8 %), còn lại là độ tuổi dưới 20 (chiếm 3,4%) Thuốc ức chế bơm proton được sử dụng nhiều nhất là pantoprazol 43%, trong đó có đến 43% bệnh nhân được chỉ định không hợp lý [47]
Nghiên cứu của Pasina L và cộng sự (2011) trên 1155 bệnh nhân trên 65 tuổi cho thấy tỷ lệ sử dụng thuốc ức chế bơm proton đạt 56%, trong đó 37,6% được chẩn đoán mắc loét dạ dày - tá tràng Tuy nhiên, có đến 63,2% số bệnh nhân sử dụng thuốc không hợp lý Omeprazole là thuốc được sử dụng nhiều nhất với tỷ lệ 29,6%, tiếp đó là lansoprazole với 38%, phản ánh mức độ phổ biến và cần chú ý đến việc sử dụng đúng liều lượng trong lứa tuổi cao tuổi.
Nghiên cứu của Hamzat H và cộng sự (2012) trên 440 bệnh nhân cao tuổi cho thấy tỷ lệ sử dụng thuốc ức chế bơm proton là 37%, tuy nhiên có đến 61% trong số đó được chỉ định sử dụng thuốc không phù hợp Các bệnh lý phổ biến nhất được chỉ định dùng thuốc gồm loét dạ dày - tá tràng chiếm 22% và bệnh trào ngược dạ dày thực quản chiếm 19% Trong số các thuốc ức chế bơm proton, omeprazole chiếm đến 64% và lansoprazole là 34% trong tổng số các đơn thuốc [36].
Theo nghiên cứu của Akram F và cộng sự (2014) trên 150 bệnh nhân ≥
Một bệnh nhân 65 tuổi đang điều trị tại bệnh viện, trong đó 53% sử dụng thuốc ức chế bơm proton, với tỷ lệ dùng ở nam giới là 40,7% và nữ giới là 59,3% Tuy nhiên, việc kê đơn không hợp lý khá phổ biến, chiếm tới 81,2%, trong khi chỉ có 12,5% đơn thuốc sử dụng PPIs hợp lý và 6,2% đơn thuốc không xác định được tính phù hợp Thuốc ức chế bơm proton được sử dụng phổ biến nhất là omeprazole (87,5%), tiếp theo là esomeprazole (11,2%) và lansoprazole (1,2%) [25].
Nghiên cứu của Tandun R (2019) tại các bệnh viện ở Canada cho thấy tỷ lệ sử dụng thuốc ức chế bơm proton (PPIs) ở nam giới thấp hơn nhiều so với nữ giới, lần lượt là 24,1% và 75,9% Trong số các bệnh nhân được chỉ định điều trị bằng esomeprazole, đa số sử dụng liều 40 mg mỗi ngày chiếm tới 83,3%, tiếp theo là 11,1% sử dụng liều 20 mg/ngày và 5,6% dùng 20 mg hai lần mỗi ngày Điều này phản ánh xu hướng dùng thuốc và liều lượng phổ biến trong thực hành lâm sàng.
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Hiện nay, trên thị trường thuốc Việt Nam có nhiều loại thuốc ức chế bơm proton (PPIs) như Losec, Vacoomez, Futanol với đa dạng hàm lượng và dạng bào chế Người dân thường xem đây là "thuốc thần dược" để chữa các bệnh liên quan đến dạ dày, tá tràng Các thuốc nhóm PPIs có thể mua mà không cần đơn thuốc của bác sĩ, dẫn đến tình trạng lạm dụng và sử dụng không đúng mục đích Lạm dụng thuốc trong thời gian dài sẽ gây ra kháng thuốc, làm tăng chi phí điều trị, giảm hiệu quả và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người dân.
Nghiên cứu hồi cứu của Lê Thị Diễm Thủy, Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Văn Khôi (2010) cho thấy tỷ lệ sử dụng pantoprazole ở nam giới là 55,7%, cao hơn so với 44,3% ở nữ giới, dựa trên phân tích 70 bệnh án tại Bệnh viện Chợ Rẫy Trong đó, tỷ lệ chỉ định chưa hợp lý chiếm đến 47,1%, chủ yếu trong lĩnh vực Nội khoa (54%) và Ngoại khoa (46%), cho thấy cần nâng cao việc sử dụng thuốc đúng mục đích và tuân thủ chỉ định y học chính xác.
Nghiên cứu của Trần Mai Quỳnh Chi, Nguyễn Thị Cẩm Tú và Nguyễn Hữu Đức (2011) dựa trên phân tích 400 hồ sơ bệnh án tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương cho thấy tỷ lệ sử dụng PPIs ở nữ giới là 56,75%, trong khi ở nam giới là 43,25% Trong các trường hợp được chỉ định PPIs, bệnh nhân viêm dạ dày chiếm tỷ lệ cao nhất đến 74,75%, tiếp theo là loét dạ dày (9,5%), viêm tá tràng (5,75%) và loét tá tràng (3,25%) Trong số các loại PPI được sử dụng, omeprazole là thuốc phổ biến nhất với tỷ lệ 46,5%, tiếp theo là pantoprazole (43,8%) và esomeprazole (9,7%).
Nghiên cứu của Ngô Minh Đức và Nguyễn Ngọc Khôi (2015) chỉ ra rằng, tỷ lệ người cao tuổi sử dụng thuốc ức chế bơm proton (PPI) tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp là 78,3%, trong đó omeprazole là thuốc được sử dụng nhiều nhất với 86,7% Tuy nhiên, có đến 57,1% các đơn thuốc PPI được chỉ định chưa hợp lý, chiếm 72,9% trong tổng số bệnh nhân dùng PPI, cho thấy cần cải thiện quản lý sử dụng thuốc này để đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị.
Theo nghiên cứu của Lê Diên Đức (2016), tại một bệnh viện tuyến trung ương, esomeprazole là thuốc ức chế bơm proton (PPIs) được sử dụng phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ 97,42%, tiếp theo là pantoprazole với 1,55% và omeprazole với 0,26% Trong đó, phần lớn liều esomeprazole được sử dụng là 40 mg, chiếm 93,56%, so với liều 20 mg chỉ đạt 1,03%, cho thấy xu hướng ưu tiên sử dụng liều cao hơn của esomeprazole trong thực hành lâm sàng.
Nghiên cứu của Dương Tấn Thọ (2017) cho thấy tỷ lệ kê đơn thuốc ức chế bơm proton trong các đơn thuốc bảo hiểm y tế ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa Đồng Nai trong 6 tháng đầu năm 2016 đạt 21,17% Trong đó, nhóm tuổi từ 20 đến 60 chiếm tỉ lệ cao nhất là 59,26% Thuốc ức chế bơm proton phổ biến nhất là omeprazole, chiếm 60,06% số lượng đơn thuốc, chủ yếu để chẩn đoán bệnh trào ngược dạ dày thực quản, với tỷ lệ lên đến 64,21%.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyết Hạnh (2017) trên 400 hồ sơ bệnh án tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang cho thấy tỷ lệ sử dụng PPIs ở nam giới là 49,8%, trong khi ở nữ giới là 50,2% Tỷ lệ sử dụng PPIs theo nhóm tuổi lần lượt là 55% ở nhóm từ 20 đến 60 tuổi, 40,5% ở nhóm trên 60 tuổi, và chỉ 4,5% ở nhóm dưới 20 tuổi Trong đó, tỷ lệ chỉ định chưa hợp lý thuốc ức chế bơm proton chiếm 27,5%, cho thấy cần xem xét lại quy trình kê đơn để đảm bảo an toàn và hiệu quả cho người bệnh.
Nghiên cứu của Phạm Huỳnh Thanh Trâm (2020) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sóc Trăng cho thấy nhóm trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ mắc bệnh cao nhất, lên đến 40,25%, trong khi nhóm dưới 20 tuổi chiếm 14,5% Phần lớn bệnh nhân bị bệnh lý dạ dày là nữ, chiếm 58%, cao hơn nam giới với 42% Các bệnh phổ biến được chẩn đoán khi nhập viện là bệnh trào ngược dạ dày - thực quản chiếm 58%, bệnh loét dạ dày - tá tràng là 36%, và xuất huyết tiêu hóa là 6% Thuốc ức chế bơm proton như omeprazol được sử dụng phổ biến nhất, chiếm 71,25%, tiếp theo là esomeprazol với 22,5% và rabeprazol với 6,25% Tỷ lệ tương tác thuốc ức chế bơm proton với các thuốc khác là 6,5%, trong đó mức độ trung bình chiếm 3,5% Các thuốc có tương tác cao với thuốc ức chế bơm proton bao gồm clopidogrel và các thuốc chứa sắt, làm ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và an toàn của bệnh nhân.
Đối tượng nghiên cứu
Các đơn thuốc ngoại trú của bệnh nhân có Bảo hiểm y tế đến khám tại Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sóc Trăng từ ngày 01/6/2020 đến ngày 30/9/2020
Các đơn thuốc ngoại trú của bệnh nhân có Bảo hiểm y tế tại Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sóc Trăng từ ngày 01/6/2020 đến ngày 30/9/2020
Các đơn ngoại trú xuất từ phần mềm nhưng không có chỉ định dùng thuốc Các đơn thuốc thuộc phòng khám Y học cổ truyền
Các đơn thuốc thuộc diện Bảo hiểm y tế nhưng được kê đơn thêm thuốc dịch vụ
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sóc Trăng
Thời gian nghiên cứu: từ ngày 01/6/2020 đến ngày 30/9/2020
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
- Cỡ mẫu cho mục tiêu 1: lấy tất cả mẫu
Để xác định cỡ mẫu phù hợp cho mục tiêu 2, ta sử dụng công thức tính cỡ mẫu nhằm ước tính tỷ lệ trong quần thể: n = Z² p(1 − p) / c², trong đó n là cỡ mẫu nhỏ nhất hợp lý cho nghiên cứu, thể hiện số lượng đơn thuốc cần thiết để đảm bảo độ chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
Z: Hệ số tin cậy, Z = 1,96 với độ tin cậy 95% p: Tỷ lệ sử dụng thuốc ức chế bơm proton chưa an toàn, hợp lý ở một quần thể tương tự Theo nghiên cứu của Dương Tấn Thọ năm 2017, tỷ lệ sử dụng thuốc ức chế bơm proton chưa an toàn, hợp lý là 21,89 % [19], do đó ta chọn p
Trong nghiên cứu thống kê, c là khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ từ mẫu và tỷ lệ thực của quần thể, với giá trị c = 0,05 Điều này có ý nghĩa rằng tỷ lệ thu được từ kết quả nghiên cứu sẽ bị sai lệch tối đa 5% so với tỷ lệ thực tế trong quần thể Việc chọn c = 0,05 giúp đảm bảo độ chính xác của ước lượng tỷ lệ, phù hợp với các tiêu chuẩn về độ tin cậy trong phân tích thống kê.
Chúng tôi đã tính toán được số mẫu cần thiết là n = 264 dựa trên công thức phù hợp Để đảm bảo mẫu nghiên cứu đạt yêu cầu và có tính đại diện cao, chúng tôi đã bổ sung thêm 30% số đơn thuốc vào mẫu, tương đương 79 đơn thuốc, nhằm tăng cường độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
Tiến hành thu thập 343 đơn thuốc
Lấy mẫu cho mục tiêu 1 bao gồm tất cả các đơn thuốc ngoại trú phù hợp tiêu chuẩn chọn mẫu của bệnh nhân có Bảo hiểm y tế đến khám tại 09 phòng khám thuộc Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sóc Trăng từ ngày 01/6/2020 đến ngày 30/9/2020, dựa trên dữ liệu từ phần mềm Hsoft của bệnh viện.
- Phòng khám Nội 1 (Phòng khám chuyên khoa tiêu hoá)
- Phòng khám Nội 2 (Phòng khám chuyên khoa hô hấp – thần kinh)
- Phòng khám Nội tim mạch
- Phòng khám Ngoại tổng hợp
- Phòng khám Ngoại chấn thương
- Phòng khám Chuyên Khoa lẻ (Mắt, Tai mũi họng, Răng hàm mặt)
- Phòng khám Tâm thần kinh
Trong mục tiêu 2, mẫu sẽ được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên dựa trên các đơn thuốc đã lấy ở mục tiêu 1 Các đơn thuốc có chỉ định thuốc ức chế bơm proton sẽ được lọc và đánh số thứ tự dựa vào ngày bệnh nhân đến khám Để đảm bảo tính ngẫu nhiên, mẫu sẽ được lấy theo khoảng cách K, với K = N/n, trong đó N là tổng số đơn thuốc đã thu thập, n là cỡ mẫu mong muốn Quá trình lấy mẫu bắt đầu từ đơn thuốc đầu tiên, sau đó tiếp tục lấy các đơn thuốc theo khoảng cách K, ví dụ như đơn thứ 3 là 2K, và cứ tiếp tục như vậy cho đến khi đủ số đơn thuốc cần thiết.
2.1.1.1 Xác định tỷ lệ lượt bệnh nhân khám Bảo hiểm y tế được chỉ định thuốc ức chế bơm proton tại Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sóc Trăng từ tháng 6/2020 đến tháng 9/2020
Tỷ lệ đơn thuốc có chứa thuốc ức chế bơm proton tại 09 phòng khám thuộc Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sóc Trăng, từ tháng 6/2020 đến tháng 9/2020, được xác định dựa trên tỷ lệ so với tổng số đơn thuốc có Bảo hiểm y tế Nghiên cứu này giúp đánh giá mức độ sử dụng thuốc ức chế bơm proton trong các đơn thuốc được bảo hiểm y tế kê tại các cơ sở y tế địa phương Phần trăm các đơn thuốc có thuốc ức chế bơm proton phản ánh xu hướng sử dụng thuốc này trong quá trình khám chữa bệnh trong giai đoạn nghiên cứu Thống kê này cung cấp thông tin quan trọng để cải thiện chất lượng sử dụng thuốc và đảm bảo hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.
Cách tính tỷ lệ đơn thuốc có chỉ định thuốc ức chế bơm proton so với tổng số đơn thuốc có bảo hiểm y tế trong mẫu nghiên cứu bằng cách lấy số đơn thuốc chứa thuốc ức chế bơm proton chia cho tổng số đơn thuốc có bảo hiểm y tế rồi nhân kết quả đó với 100 để quy đổi thành phần trăm Phương pháp này giúp đánh giá mức độ sử dụng thuốc ức chế bơm proton trong quần thể nghiên cứu một cách chính xác và dễ dàng phân tích Áp dụng công thức này sẽ cung cấp số liệu rõ ràng để đánh giá tỷ lệ sử dụng thuốc trong cộng đồng có bảo hiểm y tế.
The study assesses the prescription rates of proton pump inhibitors (PPIs) by drug class, highlighting the proportion of prescriptions containing each PPI subgroup—omeprazole, lansoprazole, pantoprazole, rabeprazole, and esomeprazole—relative to the total number of prescriptions indicated for PPI therapy This analysis provides insight into the prescribing patterns and preference distribution among the five main PPI groups used in clinical practice.
Cách tính tỷ lệ các đơn thuốc có chỉ định thuốc ức chế bơm proton trong mẫu nghiên cứu là lấy số lượng đơn thuốc chứa chỉ định này chia cho tổng số đơn thuốc có chỉ định thuốc ức chế bơm proton, sau đó nhân kết quả với 100 để xác định tỷ lệ phần trăm Quá trình này giúp đánh giá mức độ sử dụng thuốc ức chế bơm proton trong cộng đồng, hỗ trợ các nghiên cứu liên quan đến quản lý thuốc và sử dụng thuốc hợp lý.
- Tỷ lệ phân bố chỉ định thuốc ức chế bơm proton theo độ tuổi bệnh nhân, chia làm 03 nhóm:
Cách tính tỷ lệ sử dụng thuốc ức chế bơm proton dựa trên các đơn thuốc bảo hiểm y tế trong mẫu nghiên cứu Cụ thể, lấy số đơn thuốc có chỉ định thuốc ức chế bơm proton của bệnh nhân theo từng nhóm tuổi chia cho tổng số đơn thuốc có chỉ định thuốc này trong nhóm, sau đó nhân với 100 để xác định tỷ lệ phần trăm Phương pháp này giúp đánh giá chính xác mức tiêu thụ thuốc ức chế bơm proton theo độ tuổi, hỗ trợ trong phân tích dữ liệu y tế và quản lý thuốc hiệu quả.
- Tỷ lệ phân bố chỉ định thuốc ức chế bơm proton theo giới tính bệnh nhân, chia làm 02 nhóm: Nam, Nữ
Cách tính tỷ lệ sử dụng thuốc ức chế bơm proton theo giới tính dựa trên số đơn thuốc có chỉ định thuốc, lấy số đơn thuốc đó chia cho tổng số đơn thuốc có chỉ định thuốc ức chế bơm proton nhân 100 Phương pháp này giúp phân tích chính xác tần suất sử dụng thuốc ức chế bơm proton giữa nam và nữ trong mẫu nghiên cứu Việc tính toán này thúc đẩy hiểu rõ hơn về xu hướng kê đơn thuốc theo giới, hỗ trợ các nghiên cứu y học và chính sách y tế Áp dụng công thức này giúp đảm bảo tính minh bạch, chính xác trong phân tích dữ liệu thuốc theo giới tính.
- Tỷ lệ phân bố chỉ định thuốc ức chế bơm proton theo từng phòng khám, bao gồm:
+ Phòng khám Nội 1 (Phòng khám chuyên khoa tiêu hoá)
+ Phòng khám Nội 2 (Phòng khám chuyên khoa hô hấp – thần kinh) + Phòng khám Nội tim mạch
+ Phòng khám Ngoại tổng hợp
+ Phòng khám Ngoại chấn thương
+ Phòng khám Chuyên Khoa lẻ (Mắt, Tai mũi họng, Răng hàm mặt) + Phòng khám Tâm thần kinh
Cách tính tỷ lệ sử dụng thuốc ức chế bơm proton trên các đơn thuốc bảo hiểm y tế trong mẫu nghiên cứu như sau: lấy số đơn thuốc có chỉ định thuốc ức chế bơm proton của bệnh nhân theo từng phòng khám, chia cho tổng số đơn thuốc có chỉ định thuốc ức chế bơm proton trong toàn bộ mẫu, rồi nhân kết quả với 100 để biến thành phần trăm Phương pháp này giúp đánh giá tỷ lệ sử dụng thuốc ức chế bơm proton trong các đơn thuốc bảo hiểm y tế một cách chính xác.
Tỷ lệ sử dụng các nhóm thuốc ức chế bơm proton phụ thuộc vào từng phòng khám, thể hiện qua tỷ lệ đơn thuốc có chỉ định thuốc ức chế bơm Proton của từng nhóm so với tổng số đơn thuốc có chỉ định thuốc ức chế bơm Proton tại mỗi phòng khám.
Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành một cách trung thực và nghiêm túc, đúng theo các nguyên tắc về đạo đức trong nghiên cứu y học
Thông tin riêng tư của đối tượng nghiên cứu luôn được đảm bảo giữ bí mật, đảm bảo quyền lợi và sự riêng tư của người tham gia Các kết quả nghiên cứu và ý kiến đề xuất được sử dụng nhằm nâng cao sức khỏe người bệnh, giảm thiểu sai sót trong quá trình sử dụng thuốc và hạn chế các tương tác thuốc bất lợi, góp phần cải thiện hiệu quả điều trị.
Việc thu thập số liệu từ đơn thuốc lưu trữ trên phần mềm Hsoft tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sóc Trăng hoàn toàn an toàn và không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân Đây là quá trình bảo mật dữ liệu, đảm bảo quyền riêng tư của người bệnh trong quá trình quản lý thông tin y tế Hsoft hỗ trợ tối ưu hóa công tác lưu trữ hồ sơ, giúp nâng cao hiệu quả điều trị và quản lý bệnh nhân một cách chính xác, tin cậy.
Nghiên cứu chỉ được thực hiện sau khi có sự phê duyệt của Hội đồng Y đức, đảm bảo tính đạo đức và uy tín của dự án Việc phê duyệt phải được chính Trường Đại học Y Dược Cần Thơ và Ban Giám đốc Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Sóc Trăng chấp thuận, nhằm đảm bảo tính hợp pháp và chất lượng của nghiên cứu Các bước phê duyệt này giúp bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan và duy trì tiêu chuẩn y đức trong quá trình nghiên cứu.
Tỷ lệ lượt bệnh nhân khám bảo hiểm y tế được chỉ định thuốc ức chế bơm proton tại Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sóc Trăng từ tháng 6/2020 đến tháng 9/2020
- Tỷ lệ số đơn thuốc có thuốc ức chế bơm proton:
Biểu đồ 3.1.1: Tỷ lệ đơn thuốc có chỉ định PPIs
Nhận xét: Tỷ lệ số đơn thuốc có chỉ định thuốc ức chế bơm proton là
21,8% (Tổng số đơn thuốc BHYT được khảo sát nghiên cứu là 42.873 đơn thuốc Trong đó có 9.346 đơn thuốc có sử dụng thuốc ức chế bơm proton)
- Tỷ lệ số đơn thuốc có thuốc ức chế bơm proton theo nhóm thuốc ức chế bơm proton:
Có PPIs Không có PPIs
Biểu đồ 3.1.2: Tỷ lệ số đơn thuốc có PPIs theo nhóm thuốc
Trong tổng số 9.346 đơn thuốc được kê đơn thuốc ức chế bơm proton, omeprazole chiếm tỷ lệ lớn nhất với 5.604 đơn, tương đương 59,96% Tiếp theo là esomeprazole với 3.641 đơn, chiếm 38,96% Các loại thuốc còn lại gồm pantoprazole với 101 đơn (1,08%), trong khi hai loại lansoprazole và rabeprazole không được kê đơn ngoại trú.
- Sự phân bố số toa thuốc có chỉ định thuốc ức chế bơm proton theo độ tuổi bệnh nhân:
Biểu đồ 3.1.3: Tỷ lệ chỉ định PPIs theo độ tuổi
Trong tổng số 9.346 đơn thuốc kê thuốc ức chế bơm proton, nhóm tuổi trên 60 chiếm tỷ lệ cao nhất với 4.742 đơn, tương đương 50,74% Tiếp theo là nhóm tuổi từ 20 đến dưới 60 với 4.470 đơn, chiếm 47,83%, trong khi nhóm tuổi ≤ 20 chiếm tỷ lệ nhỏ nhất với 134 đơn, chỉ 1,43%.
- Sự phân bố chỉ định thuốc ức chế bơm proton theo giới tính bệnh nhân:
Nhận xét: Trong số 9.346 đơn thuốc có kê đơn thuốc ức chế bơm proton thì nữ giới (4.741 đơn thuốc, chiếm 50,73%) có tỷ lệ cao hơn nam giới (4.605 đơn thuốc, chiếm 49,27%)
Biểu đồ 3.1.4: Tỷ lệ đơn thuốc có PPIs theo giới tính
- Sự phân bố chỉ định thuốc ức chế bơm proton theo từng phòng khám:
Nhận xét: Trong số 9.346 đơn thuốc có kê đơn thuốc ức chế bơm proton thì phòng khám Nội 1 có tỷ lệ kê đơn cao nhất (5.229 đơn thuốc, chiếm 55,95%) Có tỷ lệ kê đơn thấp nhất là phòng khám da liễu (7 đơn thuốc, chiếm 0,07%)
PK Nội 1 PK Nội 2 PK Nội
CT PK Da liễu PK Chuyên khoa lẻ
PK Tâm thần kinh PK Nhiễm
Biểu đồ 3.1.5: Phân bố đơn thuốc PPIs theo phòng khám
- Tỷ lệ các nhóm thuốc ức chế bơm proton được sử dụng theo từng phòng khám:
Các phòng khám sử dụng thuốc ức chế bơm proton thường lựa chọn omeprazole là phương pháp điều trị phổ biến nhất Tuy nhiên, tại các phòng khám chuyên về Nội Tim mạch, Ngoại Tổng hợp và Nhiễm, esomeprazole lại là thuốc được chọn nhiều nhất Điều này cho thấy sự đa dạng trong việc lựa chọn thuốc ức chế bơm proton phù hợp với từng đặc thù chuyên môn của từng lĩnh vực y tế.
Biểu đồ 3.1.6: Phân bố các nhóm thuốc PPI được sử dụng theo từng phòng khám
- Tỷ lệ phân bố của các bệnh được chỉ định thuốc ức chế bơm proton:
Trong tổng số 9.346 đơn thuốc kê thuốc ức chế bơm proton, chẩn đoán phổ biến nhất là trào ngược dạ dày - thực quản, chiếm tới 97,94% các trường hợp Ngược lại, tỷ lệ điều trị nhiễm H Pylori bằng thuốc ức chế bơm proton rất thấp, chỉ chiếm 0,26% Điều này cho thấy trào ngược dạ dày - thực quản là chỉ định chủ yếu khi sử dụng thuốc ức chế bơm proton trong thực hành lâm sàng.
- Tỷ lệ thuốc ức chế bơm proton được chỉ định cho từng loại bệnh:
Biểu đồ 3.1.8: Tỷ lệ thuốc PPIs được chỉ định theo từng loại bệnh
Loét dạ dày - Tá tràng Điều trị H Pylori
Trào ngược Dạ dày - Thực quản
Biểu đồ 3.1.7: Tỷ lệ phân bố của các bệnh được chỉ định PPIs
Nhận xét: Trong bệnh lý trào ngược dạ dày - thực quản, thì omeprazole được kê đơn nhiều nhất (61,29%), nhưng trong bệnh lý loét dạ dày - tá tràng và điều trị H Pylori thì esomeprazole được kê đơn nhiều nhất với tỷ lệ lần lượt là 75,46% và 87,5%
- Tỷ lệ bệnh được chỉ định thuốc ức chế bơm proton phân bố theo phòng khám:
Biểu đồ 3.1.9: Tỷ lệ bệnh được chỉ định PPIs theo từng phòng khám
Hầu hết các phòng khám đều chỉ định sử dụng thuốc ức chế bơm proton (PPIs) chủ yếu để điều trị bệnh lý trào ngược dạ dày - thực quản Trong đó, có 05 phòng khám chuyên khoa như Ngoại chấn thương, Da liễu, Các chuyên khoa lẻ, Tâm thần và Nhiễm ký gửi tỷ lệ sử dụng PPIs để điều trị trào ngược dạ dày – thực quản đạt 100% Điều này cho thấy trào ngược dạ dày - thực quản là lý do chính dẫn đến việc chỉ định PPIs trong quá trình khám và điều trị tại các cơ sở y tế.
Trào ngược DD-TQ Loét DD-TT Điều trị H.P
- Tỷ lệ chỉ định liều dùng trong 01 ngày của các loại thuốc ức chế bơm proton:
Biểu đồ 3.1.10: Tỷ lệ liều dùng trong 01 ngày của từng nhóm PPI
Khi sử dụng omeprazole, liều phổ biến hàng ngày là 40 mg/ ngày, chiếm 52,41% so với 47,59% của liều 20 mg/ ngày Trong khi đó, đối với esomeprazole, liều 20 mg/ ngày được sử dụng nhiều hơn so với liều 40 mg/ ngày Tương tự, pantoprazole cũng cho thấy xu hướng sử dụng liều 40 mg/ ngày nhiều hơn so với các mức liều thấp hơn.
Liều 20 mg/ ngàyLiều 40 mg/ ngàyLiều 80 mg/ ngày
- Tỷ lệ chỉ định liều dùng trong 01 ngày của các loại thuốc ức chế bơm proton cho từng loại bệnh:
Biểu đồ 3.1.11: Tỷ lệ chỉ định liều dùng trong 01 ngày của các loại PPI cho từng loại bệnh
Trong bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản, omeprazole thường được sử dụng với liều 40 mg/ngày chiếm tỷ lệ 52,34%, cao hơn so với liều 20 mg/ngày là 47,66% Tương tự, pantoprazole cũng chủ yếu được dùng với liều 40 mg/ngày (chiếm 100%), trong khi esomeprazole lại ưu tiên dùng liều 20 mg/ngày nhiều hơn so với 40 mg/ngày Trong điều trị loét dạ dày - tá tràng, omeprazole phổ biến với liều 40 mg/ngày (chiếm 61,54%), còn pantoprazole luôn được dùng với liều 40 mg/ngày, và esomeprazole cũng được sử dụng nhiều hơn ở liều 40 mg/ngày Đối với điều trị H pylori, omeprazole chỉ định liều 20 mg/ngày chiếm tỷ lệ 100%, và esomeprazole cũng ưu tiên liều này hơn so với liều 40 mg/ngày.
Omeprazole 20mgOmeprazole 40mgEsomeprazole 20mgEsomeprazole 40mgPantoprazole 40mgPantoprazole 80mg
Tỷ lệ lượt bệnh nhân khám bảo hiểm y tế được chỉ định thuốc ức chế bơm proton chưa an toàn, hợp lý tại Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sóc Trăng từ tháng 6/2020 đến tháng 9/2020
- Tỷ lệ đơn thuốc có chỉ định ức chế bơm proton dùng chung với các nhóm thuốc khác có khả năng tương tác bất lợi:
Bảng 3.2.1: Tỷ lệ tương tác thuốc
Tương tác thuốc Tần suất Tỷ lệ (%) n = 343
Trong số 343 đơn thuốc khảo sát, tỷ lệ xảy ra tương tác thuốc là thấp hơn so với các đơn không có tương tác Cụ thể, chỉ có 44 đơn thuốc ghi nhận tương tác thuốc, chiếm tỷ lệ 12,83%, cho thấy mức độ tương tác thuốc trong quá trình kê đơn còn khá hạn chế.
- Tỷ lệ phân bố các mức độ tương tác:
Bảng 3.2.2: Tỷ lệ phân bố các mức độ tương tác
Mức độ tương tác Tần suất Tỷ lệ (%) n = 44
Trong tổng số 44 đơn thuốc được phân tích, có sự tương tác giữa PPIs và các thuốc dùng chung, chủ yếu là ở mức độ 2 - trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất với 42 đơn thuốc (95,45%), tiếp đến là các đơn thuốc có tương tác ở mức độ 1 - nghiêm trọng, chiếm 4,55% Không có đơn thuốc nào xuất hiện tương tác ở mức độ 3 - nhẹ.
- Tỷ lệ phân bố của các thuốc gây tương tác với thuốc ức chế bơm proton:
Bảng 3.2.3: Tỷ lệ các thuốc gây tương tác với PPIs
Thuốc gây tương tác Tần suất Tỷ lệ (%) n = 44
Nhận xét: Trong các thuốc được kê đơn gây tương tác với PPIs thì atorvastatin có tỷ lệ cao nhất (33 đơn thuốc, chiếm 75%)
- Tỷ lệ đơn thuốc không có hay có hướng dẫn sử dụng thuốc nhưng không phù hợp:
Bảng 3.2.4: Tỷ lệ đơn thuốc không có hay có HDSD không phù hợp
HDSD thuốc Tần suất Tỷ lệ (%) n = 343
Không có hay có hướng dẫn nhưng không phù hợp 45 13,12
Có hướng dẫn phù hợp 298 86,88
Trong số 343 đơn thuốc được khảo sát, tỷ lệ các đơn thuốc không có hoặc có hướng dẫn sử dụng thuốc nhưng không phù hợp là thấp hơn so với các đơn thuốc có hướng dẫn sử dụng thuốc phù hợp, với con số lần lượt là 45 đơn thuốc chiếm khoảng 13,12% Điều này cho thấy việc cung cấp hướng dẫn sử dụng thuốc phù hợp vẫn còn hạn chế, ảnh hưởng đến an toàn và hiệu quả điều trị.
- Tỷ lệ các đơn thuốc không có hay có hướng dẫn sử dụng thuốc nhưng không phù hợp theo từng phòng khám:
Bảng 3.2.5 thể hiện tỷ lệ các phòng khám không có hoặc có HDSD thuốc nhưng không phù hợp Dữ liệu cho thấy, trong tổng số 45 phòng khám, một phần lớn không áp dụng HDSD thuốc đúng quy định hoặc không có HDSD thuốc tại nơi khám Tỉ lệ này phản ánh mức độ tuân thủ quy chuẩn chuyên môn của các phòng khám về hướng dẫn sử dụng thuốc, ảnh hưởng đến đảm bảo an toàn và chất lượng điều trị Việc thiếu hoặc không phù hợp HDSD thuốc tại các phòng khám cần được nâng cao nhằm đảm bảo tối đa hiệu quả chữa bệnh và phòng tránh sai sót y khoa.
Phòng khám Nội 1 có tỷ lệ cao nhất về các trường hợp kê đơn thuốc không có hướng dẫn sử dụng hoặc hướng dẫn không phù hợp Điều này cho thấy cần cải thiện trong quy trình đưa ra đơn thuốc để đảm bảo an toàn và hiệu quả cho bệnh nhân Việc kê đơn thuốc chính xác và đầy đủ hướng dẫn là yếu tố quan trọng trong chăm sóc sức khỏe, nhằm tránh những rủi ro không đáng có.
- Tỷ lệ đơn thuốc dùng chung nhiều nhóm thuốc ức chế bơm proton trên
01 bệnh nhân trong 01 lượt khám bệnh:
Bảng 3.2.6: Tỷ lệ đơn thuốc có nhiều nhóm PPI trên 01 bệnh nhân trong
Kê đơn PPIs Tần suất Tỷ lệ (%) n = 343
Nhiều nhóm PPI trên 01 bệnh nhân trong 01 lượt khám bệnh 0 0
01 nhóm PPI trên 01 bệnh nhân trong 01 lượt khám bệnh 343 100
Trong nghiên cứu với 343 đơn thuốc, không ghi nhận trường hợp bệnh nhân nào sử dụng nhiều nhóm thuốc ức chế bơm proton trong cùng một lượt khám bệnh, cho thấy việc kê đơn thuốc này được phối hợp hợp lý và tuân thủ quy định.
- Tỷ lệ đơn thuốc chỉ định thuốc ức chế bơm proton chưa hợp lý:
Bảng 3.2.7: Tỷ lệ chỉ định PPIs hợp lý
Kê đơn PPIs Tần suất Tỷ lệ (%) n = 343
Nhận xét: Trong số 343 đơn thuốc được khảo sát thì các đơn thuốc có chỉ định PPIs không hợp lý chiếm tỷ lệ 2,33% (08 đơn thuốc)
- Tỷ lệ đơn thuốc chỉ định thuốc ức chế bơm proton chưa hợp lý theo từng phòng khám:
Bảng 3.2.8: Tỷ lệ đơn thuốc chỉ định PPIs không hợp lý theo từng phòng khám
Chỉ định PPIs không hợp lý theo PK Tần suất Tỷ lệ (%) n = 8
Nhận xét: Trong các trường hợp kê đơn PPIs không hợp lý thì phòng khám Nội 1 có tỷ lệ cao nhất (37,5%)
- Tỷ lệ đơn thuốc chỉ định thuốc ức chế bơm proton chưa hợp lý theo từng nhóm thuốc:
Bảng 3.2.9: Tỷ lệ chỉ định PPIs không hợp lý theo nhóm thuốc
Chỉ định PPIs không hợp lý theo nhóm thuốc Tần suất Tỷ lệ (%) n = 8
Nhận xét: Trong các trường hợp kê đơn PPIs không hợp lý thì esomeprazole chiếm tỷ lệ cao nhất (50%)
- Tỷ lệ đơn thuốc chỉ định thuốc ức chế bơm proton chưa an toàn, hợp lý:
Bảng 3.2.10: Tỷ lệ chỉ định PPIs chưa an toàn, hợp lý
Chỉ định PPIs Tần suất Tỷ lệ (%) n = 343
Chưa an toàn, hợp lý 91 26,53
Trong tổng số 343 đơn thuốc được khảo sát, tỷ lệ các trường hợp chỉ định PPIs an toàn, hợp lý chiếm hơn 70%, cụ thể là 252 đơn thuốc, tương đương 73,47%, trong khi đó các đơn thuốc chỉ định PPIs chưa đảm bảo an toàn và hợp lý chiếm 26,53% với 91 đơn thuốc Điều này thể hiện rằng việc sử dụng PPIs đúng chỉ định, an toàn và hợp lý vẫn chiếm ưu thế trong thực hành lâm sàng.