TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠLUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II Cần Thơ - 2021 TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NGUYỄN MINH HẢI NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH SƠ CỨU BAN ĐẦU VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Cần Thơ - 2021
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NGUYỄN MINH HẢI
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH SƠ CỨU BAN ĐẦU
VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ THƯƠNG TÍCH
DO TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM AN GIANG
NĂM 2020 - 2021
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Cần Thơ - 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NGUYỄN MINH HẢI
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH SƠ CỨU BAN ĐẦU
VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ THƯƠNG TÍCH
DO TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM AN GIANG
NĂM 2020-2021
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ Y TẾ
MÃ SỐ: 8720801.CK
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN TRUNG KIÊN
Cần Thơ, 2021
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cám ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Mở đầu 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình tai nạn giao thông 3
1.2 Các đặc điểm của tai nạn giao thông 7
1.3 Phân loại thương tích do tai nạn theo vị trí và mức độ 11
1.4 Nguyên tắc sơ cứu và điều trị bệnh nhân tai nạn giao thông 12
1.5 Các công trình nghiên cứu liên quan 17
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.1.Tiêu chuẩn chọn vào 20
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 20
2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 20
2.2.2 Cỡ mẫu 20
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu 21
2.2.4 Nội dung nghiên cứu 21
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu 31
Trang 62.2.6 Phương pháp hạn chế sai số 31
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu y học 32
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đặc điểm của bệnh nhân tai nạn giao thông 33
3.2 Đặc điểm, các phân loại theo vị trí và mức độ thương tích của bệnh nhân tai nạn giao thông 35
3.3 Tình hình sơ cứu ban đầu, vận chuyển bệnh nhân và kết quả điều trị thương tích do tai nạn giao thông đường bộ 42
Chương 4 BÀN LUẬN 54
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 54
4.2 Đặc điểm, các phân loại theo vị trí và mức độ thương tích của bệnh nhân tai nạn giao thông 56
4.3 Tình hình sơ cứu ban đầu, vận chuyển bệnh nhân và kết quả điều trị tai nạn thương tích 62
KẾT LUẬN 70
KIẾN NGHỊ 72 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Tiếng việt
GCS Glasgow Coma Scale
(Thang điểm hôn mê Glasgow)
RTS Reviced Trauma Score
(Điểm chấn thương sửa đổi)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Thang điểm RTS đánh giá mức độ nặng của bệnh nhân 23
Bảng 2.2 Thang điểm Glasgow 24
Bảng 3.1 Phân bố tuổi và giới tính của bệnh nhân chấn thương do TNGT 34
Bảng 3.2 Phân bố nghề nghiệp của bệnh nhân chấn thương do TNGT 34
Bảng 3.3 Phân bố trình độ học vấn của bệnh nhân chấn thương do TNGT 35
Bảng 3.4 Phương tiện sử dụng khi bị tai nạn 36
Bảng 3.5 Vùng xảy ra tai nạn 37
Bảng 3.6 Bệnh nhân được chỉ định xét nghiệm nồng độ cồn trong máu 37
Bảng 3.7 Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn 37
Bảng 3.8 Giá trị trung bình nồng độ cồn 37
Bảng 3.9 Phân loại theo vị trí chấn thương 38
Bảng 3.10 Phân loại mức độ nặng các thương tích 38
Bảng 3.11 Phân loại các dạng thương tích của chấn thương sọ não 39
Bảng 3.12 Phân loại mức độ nặng chấn thương sọ não theo điểm Glasgow 39 Bảng 3.13 Tỷ lệ các dạng thương tích của chấn thương đầu mặt cổ 39
Bảng 3.14 Tỷ lệ các dạng thương tích của chấn thương ngực 40
Bảng 3.15 Tỷ lệ các dạng thương tích của chấn thương bụng 40
Bảng 3.16 Tỷ lệ các dạng thương tích của chấn thương chi thể 41
Bảng 3.17 Tỷ lệ các dạng thương tích của chấn thương cột sống và đa chấn
thương 41
Bảng 3.18 Người đầu tiên sơ cứu tại hiện trường 42
Bảng 3.19 Thời gian từ khi tai nạn đến lúc được sơ cứu tại hiện trường 43
Bảng 3.20 Tỷ lệ bệnh nhân được xử lý các thương tích tại hiện trường 43
Bảng 3.21 Tỷ lệ bệnh nhân đến cấp cứu tại cơ sở y tế 43
Trang 9Bảng 3.22 Đánh giá kỹ thuật sơ cứu tại hiện trường 44
Bảng 3.23 Tỉ lệ bệnh nhân được sơ cứu đúng cách 44
Bảng 3.24 Cách sơ cứu vết thương phần mềm 45
Bảng 3.25 Cách sơ cứu chấn thương đầu mặt cổ 45
Bảng 3.26 Cách sơ cứu chấn thương sọ não 46
Bảng 3.27 Cách sơ cứu chấn thương ngực 46
Bảng 3.28 Cách sơ cứu chấn thương bụng 47
Bảng 3.29 Cách sơ cứu gãy xương 47
Bảng 3.30 Cách sơ cứu chấn thương cột sống 48
Bảng 3.31 Phương pháp di chuyển bệnh nhân lên phương tiện vận chuyển 48 Bảng 3.32 Đánh giá an toàn di chuyển bệnh nhân lên phương tiện vận chuyển 49
Bảng 3.33 Tư thế bệnh nhân trên phương tiện vận chuyển 49
Bảng 3.34 Phương tiện vận chuyển bệnh nhân từ hiện trường đến bệnh viện 49
Bảng 3.35 Khoảng cách từ hiện trường đến Bệnh viện ĐKTT An Giang 50
Bảng 3.36 Thời gian vận chuyển bệnh nhân từ hiện trường đến Bệnh viện ĐKTT An Giang 50
Bảng 3.37 Cơ sở y tế trước viện bệnh nhân được chuyển đến 51
Bảng 3.38 Phương pháp điều trị bệnh nhân TNGT 51
Bảng 3.39 Loại chấn thương được điều trị phẫu thuật cấp cứu 52
Bảng 3.40 Thời gian nhập viện đến khi phẫu thuật cấp cứu 52
Bảng 3.41 Ngày điều trị trung bình 52
Bảng 3.42 Số ngày nằm viện 53
Bảng 3.43 Kết quả điều trị 53
Bảng 3.44 Đánh giá kết quả điều trị 53
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1 Phân bố giới tính của bệnh nhân chấn thương do TNGT 33
Biểu đồ 3.2 Phân bố tuổi bệnh nhân chấn thương do TNGT 33
Biểu đồ 3.3 Mùa xảy ra tai nạn 35
Biểu đồ 3.4 Thời gian xảy ra tai nạn 36
Trang 112018, trung bình mỗi năm trên thế giới có đến 1,35 triệu người chết vì tai nạn giao thông và theo dự báo, con số này còn tiếp tục gia tăng và tăng cao nhất ở các nhóm nước thu nhập thấp [61],[65]
Tại Việt Nam, số lượng và mức độ nghiêm trọng của các vụ tại nạn giao thông đã giảm so với những năm trước nhờ những nỗ lực của Chính phủ thông qua Nghị định số 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt Dù vậy, trong năm
2019 trung bình mỗi ngày vẫn có 21 người chết do tại nạn giao thông [39] Chỉ trong 02 tháng đầu năm 2020, tính từ ngày 15/12/2019 đến ngày 14/02/2020 toàn quốc xảy ra 2.368 vụ tai nạn giao thông, làm chết 1.125 người, bị thương 1.781 người, trong đó đường bộ xảy ra 1.291 vụ, làm chết 1.099 người, bị thương 683 người [20]
Tại An Giang trong năm 2019, theo thống kê của Bộ Giao thông Vận tải, toàn tỉnh xảy ra 66 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 63 người và
bị thương 32 người [2] Mặc dù chính quyền địa phương đã có những biện pháp ngày càng quyết liệt và cứng rắn, bước đầu đạt được nhiều kết quả khả
Trang 12quan, kéo giảm đáng kể số vụ tai nạn giao thông, song mức độ nghiêm trọng
và thiệt hại về sức khỏe và tính mạng người dân vẫn chưa đạt được các kết quả như mong muốn Việc xử trí ban đầu các nạn nhân tai nạn giao thông tại hiện trường và ngay sau khi nhập viện đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả điều trị Tuy nhiên hiện nay công tác sơ cứu còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế và phụ thuộc chủ yếu vào người dân có mặt trực tiếp tại hiện trường Vì những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm, tình hình sơ cứu ban đầu và đánh giá kết quả điều trị thươngtích do tai nạn giao thông đường bộ tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang năm 2020-2021" với các mục tiêu như sau:
1 Xác định đặc điểm, tỷ lệ các phân loại thương tích theo vị trí và mức độ của bệnh nhân bị tai nạn giao thông đường bộ nhập viện tại Bệnh viện Đa khoaTrung tâm An Giang năm 2020-2021
2 Đánh giá tình hình sơ cứu ban đầu, vận chuyển bệnh nhân và kết quả điều trị thương tích do tai nạn giao thông đường bộ tại Bệnh viện Đa khoa Trungtâm An Giang năm 2020-2021
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình tai nạn giao thông
1.1.1 Tình hình tai nạn giao thông trên thế giới
Chấn thương giao thông đường bộ gây thiệt hại kinh tế đáng kể cho các
cá nhân, gia đình của họ và cho các quốc gia nói chung Những mất mát này phát sinh từ chi phí điều trị cũng như mất năng suất lao động cho những người thiệt mạng hoặc tàn tật vì thương tích của họ và cho các thành viên gia đình cần nghỉ làm hoặc đi học để chăm sóc người bị thương Các vụ va chạm giao thông đường bộ khiến hầu hết các quốc gia mất 3% tổng sản phẩm quốc nội
Thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới cho thấy, mỗi năm có khoảng 1,35 triệu người chết do tai nạn giao thông (TNGT) đường bộ và hơn một nửa trong số đó là những người đi đường dễ bị tổn thương: người đi bộ, người đi
xe đạp và người đi xe máy Chấn thương giao thông đường bộ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em và thanh niên từ 5-29 tuổi, trong đó 93%trường hợp tử vong trên thế giới trên đường xảy ra ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, mặc dù các quốc gia này có khoảng 60% phương tiện của thế giới Chương trình nghị sự “2030 vì sự phát triển bền vững” đã đặt ra mục tiêu đầy tham vọng là giảm một nửa số người chết và bị thương do TNGT đường bộ vào năm 2020 [61]
Chương trình Chỉ số Hiệu suất của Hội đồng An toàn Giao thông Châu
Âu cho phép so sánh độ an toàn đường bộ giữa các quốc gia Châu Âu Báo cáo mã PIN mới nhất được Hội đồng an toàn giao thông châu Âu công bố vào tháng 6 nhìn chung cho thấy, tổng số người chết trên đường vì TNGT trong
28 thành viên của Liên minh châu Âu trong năm 2018 là 25.173, so với
Trang 1425.328 năm 2017 (giảm 1%) Trong số 32 quốc gia tham gia, 17 quốc gia đãchứng kiến sự giảm số người tử vong trong khoảng thời gian từ năm 2017 và
2018, 13 nước có tỷ lệ tử vong tăng và hai nước không đổi [53]
Riêng tại Anh cho thấy chỉ trong năm 2018 đã có đến 25.511 người bị thương nghiên trọng và có đến 160.597 trường hợp tử vong trong các vụ TNGT đường bộ được báo cáo cho cảnh sát, tuy nhiên con số này thấp hơn6% so với năm 2017 và là mức thấp nhất trong hồ sơ [53]
Phù hợp với tình hình chung của thế giới, khu vực phía Đông và Namcủa Châu Á cũng chỉ ra rằng tỷ lệ tử vong do TNGT chủ yếu phân bố trong độ tuổi từ 15-29 tuổi Tỷ lệ tử vong dao động từ 18% ở Bangladesh đến 66,7% ở Maldives Tử vong do TNGT ở trẻ em (<15 tuổi) cao nhất ở Đông Timor(10,5%), tiếp theo là Bangladesh (9,3%), Indonesia (8,8%), Bhutan (7,6%), Myanmar (7,5%) và Thái Lan (6%) Tử vong của người cao tuổi (≥60 tuổi) là cao nhất ở Sri Lanka (21,5%), tiếp theo là Bhutan (16,5%) và Thái Lan (13,2%) Nepal và Timor-Leste không có số liệu về tử vong do giao thông đường bộ [60]
1.1.2 Tình hình tai nạn giao thông tại Việt Nam
Tại Việt Nam, trong năm 2021 cả nước ghi nhận 11.486 vụ TNGT, làm 5.788 người thiệt mạng, bị thương 8.018 người giảm so cùng kỳ năm
2020 Dù vậy tình hình TNGT vẫn còn diễn biến phức tạp, tình trạng lái xe sử dụng ma túy, chất kích thích, rượu bia và không chấp hành Luật Giao thông đường bộ vẫn còn, ứng dụng xử phạt nguội, giám sát điều hành giao thông còn kém [9]
Các nghiên cứu trong nước cũng cho thấy TNGT chiếm hàng đầu nguyên nhân gây tai nạn thương tích.Theo nghiên cứu của Phạm Việt Cường, TNGT chiếm 1,010/100.000 dân, trong đó tỷ suất mắc tuổi lứa tuổi từ 20 đến
59 là 1,286/100.000 dân; tỷ suất tử vong là 16,6/100.000 dân, chủ yếu ở lứa
Trang 15tuổi từ 15 đến 19 Trong giai đoạn từ năm 2002-2006, thống kê tại thành phố
Hồ Chí Minh cho thấy TNGT xảy ra chủ yếu do xe máy chiếm từ 78-86% và đối tượng hay gặp có độ tuổi từ 15 đến 60 tuổi, trong đó chấn thương phần mềm chi chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là chấn thương cột sống(CTSN) [14]
Nghiên cứu của Nguyễn Đức Chính cho thấy trong tất cả các trường hợp đến cấp cứu tại bệnh viện Việt Đức do trong năm 2014, tai nạn thươngtích chiếm 75% các trường hợp và TNGT đã chiếm đến 39% các trường hợp nhập viện cấp cứu [10]
Số liệu nghiên cứu so sánh qua các năm từ 2013 đến 2015 cho thấy số nạn nhân TNGT đã giảm đáng kể trong năm 2015, đặc biệt so sánh với những năm 2009 đến 2012 có thể thấy số lượng nạn nhân cấp cứu do TNGT giảm từ trên 18.000 trường hợp/năm uống còn trên 15.000 trường hợp/năm Tuy nhiên
so với các tai nạn thương tích khác thì TNGT vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất trong
số các trường hợp cấp cứu tại bệnh viện Những nguyên nhân ghi nhận được liên quan đến TNGT thường gặp được ghi nhận là không đội mũ bảo hiểm, sử dụng rượu bia khi lái xe, đặc biệt tỷ lệ lái xe là nữ có nguy cơ gặp TNGT cao hơn so với nam giới [11]
Theo Nguyễn Đức Chính và cộng sự thực hiện trong 4 tháng đầu năm
2008 sau khi Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP “Về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế TNGT và ùn tắc giao thông” có hiệu lực [12], bắt buộc đội
mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông cho thấy CTSN đã giảm 86 trường hợp
so với 4 tháng trước đó, số trường hợp CTSN nặng giảm gần một nửa so với trước đó
Thực tế có thể thấy việc lạm dụng đồ uống có cồn khó giải quyết cả trên thế giới cũng như ở Việt Nam Theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường
Y tế (2011) thực hiện tại 3 tỉnh Hà Nam – Ninh Bình – Bắc Giang cho thấy 42,5% số nạn nhân cấp cứu do TNGT tại các bệnh viện của tỉnh xét nghiệm
Trang 16có nồng độ cồn trong máu, cao nhất là các nhóm tuổi từ 20 đến 29 tuổi (44,7%) Tỷ lệ nam giới bị TNGT có sử dụng rượu bia cao gấp 12,9 lần so với
nữ giới, nồng độ cồn máu từ 50 đến 300mg/dL chiếm 45,8% ở nhóm tuổi từ
20 đến 29 tuổi [1], [34] Trước tình trạng đó, Thủ tướng Chính phủ đã banhành Nghị định số 100/2019/NĐ-CP về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt [13], theo đó Nghị định này quy định về xử phạt hành chính chỉ cần trong hơi thở phát hiện nồng độ cồn Theo số liệu từ Cục Cảnh sát giao thông (Bộ Công an) và Cục Hàng hải Việt Nam, trong tháng 1 năm 2020, cả nước xảy ra 726 vụ TNGT, làm chết 526 người, bị thương 450 người; so với 31 ngày bình quân của năm 2019, giảm
122 người chết Bình quân mỗi ngày xảy ra 24,9 vụ TNGT, làm chết 17 người, bị thương 14,5 người; so với bình quân mỗi ngày năm 2019 giảm 24,9
vụ (51,6%), giảm 3,9 người chết (18,7%), giảm 22,8 người bị thương (61,1%)[8]
Tại An Giang, trong năm 2019 toàn tỉnh xảy ra 66 vụ TNGT đường bộ, giảm 15 vụ (giảm 19%), làm chết 63 người, giảm 18 người (giảm 22%), bị thương 32 người, giảm 10 người (giảm 24%) so cùng kỳ năm 2018 Ngoài ra,thông qua gần 22.200 ca tuần tra, kiểm soát, lực lượng cảnh sát giao thông đường bộ toàn tỉnh dừng phương tiện kiểm tra, kiểm soát gần 81.000 trường hợp và phát hiện trên 52.400 trường hợp vi phạm (tạm đình chỉ trên 20.400 xe các loại, tước giấy phép lái xe có thời hạn trên 6.300 giấy, cảnh cáo hơn 1.700trường hợp), điều này cũng là một trong những nguyên nhân kéo giảm số trường hợp và mức độ nghiêm trọng của tình hình TNGT xảy ra tại An Giang [2]
Kết quả trên cho thấy tình hình trật tự an toàn giao thông có chuyển biến rất tích cực, TNGT do vi phạm quy định về nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông cũng giảm mạnh Dù vậy cần có nhiều biện
Trang 17pháp hơn nữa để kéo giảm số lượng và mức độ nghiêm trọng do TNGT trong thời gian tới, ngoài ra cũng nên tăng cường các biện pháp phòng tránh TNGT
có hiệu quả, tăng cường hệ thống y tế các tuyến và hệ thống cấp cứu 115 để giảm tỷ lệ mắc và tử vong liên quan đến tai nạn thương tích nói chung và do TNGT nói riêng
1.2 Các đặc điểm của tai nạn giao thông
1.2.1 Đối tượng nguy cơ cao
Tình trạng kinh tế xã hội: hơn 90% trường hợp tử vong do giao thông đường bộ xảy ra ở các nước thu nhập thấp và trung bình Tỷ lệ tử vong do TNGT đường bộ là cao nhất ở khu vực châu Phi Ngay cả trong các quốc gia thu nhập cao, những người có nguồn gốc kinh tế xã hội thấp có nhiều khả năng liên quan đến các vụ va chạm giao thông đường bộ [62]
Tuổi tác: chấn thương giao thông đường bộ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em và thanh niên từ 5-29 tuổi [62] Nguy cơ tai nạn và rượu thay đổi theo tuổi và tiền sử sử dụng rượu Zador ước tính rằng tỷ lệ tai nạn của nam tài xế trong độ tuổi từ 16-20 cao gấp ba lần tỷ lệ tai nạn ước tính của tài xế nam từ 25 tuổi trở lên, cho mọi mức độ nặng [67] Một nghiên cứu khác về những người lái xe tử vong trong các vụ TNGT cho thấy rằng các tài
xế dưới 20 tuổi có nguy cơ cao hơn gấp năm lần so với các tài xế từ 30 tuổi trở lên và trong nhóm tuổi 20 tuổi 29 được ước tính có nguy cơ cao gấp ba lần
so với tài xế 30 tuổi trở lên [52]
Giới tính: ngay từ nhỏ, nam giới có nhiều khả năng tham gia vào các
vụ va chạm giao thông đường bộ hơn nữ giới Khoảng ba phần tư (73%) trongtất cả các trường hợp tử vong do giao thông đường bộ xảy ra ở nam thanh niên dưới 25 tuổi, có khả năng thiệt mạng gần gấp 3 lần trong một vụ va chạm giao thông đường bộ khi là nữ trẻ [62]
Trang 181.2.2 Các yếu tố nguy cơ của tai nạn giao thông đường bộ
1.2.2.1 Phương tiện giao thông
− Xe cơ giới: một trong những yếu tố chính đóng góp vào việc việc gia tăng chấn thương trong tai nạn đường bộ toàn cầu là số lượng ngày càng tăngcủa các phương tiện cơ giới Từ năm 1949, khi Smeed lần đầu tiên chứng minh một mối quan hệ giữa sự tăng trưởng của số lượng xe cơ giới và tỷ lệ TNGT và thương tích do TNGT Trong khi số lượng xe cơ giới tăng kéo theoviệc phát triển về cở sở hạ tầng giao thông, bên cạnh việc thuận lợi cho giao thông thì nó cũng làm tăng gánh nặng xã hội vì chi phí cho chấn thương bởi TNGT [57]
− Xe gắn máy 2-3 bánh: số lượng xe cơ giới được tiêu thụ lớn nhất ở các nước châu Á, tuy nhiên hầu hết sự gia tăng này là xe gắn máy hai bánh và ba bánh Ở nhiều quốc gia, người ta ước tính rằng xe gắn máy có thể chiếm từ 40% đến 70% tổng số phương tiện giao thông tại các quốc gia đó Một số quốc gia ở Đông Nam Á ghi nhận tỷ lệ lớn xe gắn máy hai bánh và ba bánh
có liên quan trực tiếp đến TNGT đường bộ, ví dụ Campuchia (nơi 75%phương tiện lưu thông đều là xe gắn máy hai bánh hoặc ba bánh), Lào (79%), Malaysia (51%) và Việt Nam (95%) Tại Việt Nam, số lượng xe máy tăng29% trong năm 2001; cùng lúc đó tỷ lệ tử vong do TNGT tăng 37% [58]
− Xe không có động cơ: Các phương tiện di chuyển không động cơ như
xe đạp và các loại xe có cấu tạo đơn giản khác thường không hoặc ít gây TNGT, nếu có thì các trường hợp này thường nhẹ và không ảnh hưởng nhiều đến người tham gia giao thông, dù vậy các vụ TNGT liên quan đến người sử dụng các phương tiện này thường do lỗi của các phương tiện khác ví dụ như
xe gắn máy
Trang 191.2.2.2 Tốc độ di chuyển
Tốc độ của xe cơ giới là cốt lõi của TNGT đường bộ Tốc độ ảnh hưởng đến cả hai nguy cơ tai nạn và mức độ nghiêm trọng của tai nạn Tốc độ cao được định nghĩa là tốc độ vượt quá giới hạn tốc độ cho phép
Có nhiều bằng chứng cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa tốc độ và TNGT Bằng chứng thực nghiệm từ các nghiên cứu tốc độ đã chỉ ra rằng sự gia tăng tốc độ giao thông trung bình là 1km/h làm tăng 3% tỷ lệ thương tật trong tai nạn (hoặc tăng 4-5% tỷ lệ tử vong) và trung bình giảm 1km/h tốc độ giao thông sẽ dẫn đến giảm 3% tỷ lệ tai nạn thương tích (hoặc giảm 4-5% cho các tai nạn nghiêm trọng) [50]
Phân tích tổng hợp 36 nghiên cứu về giới hạn tốc độ cho thấy, ở mức trên 50km/h, cứ giảm 1km/h ở tốc độ trung bình thì làm giảm 2% số vụ tai nạn Một nghiên cứu về các vụ tai nạn trong khu vực nông thôn cho thấy tốc
độ xe trên 60km/h liên quan đến thương tích cho người ngồi trong xe, nguy
cơ tương đối của sự cố liên quan tăng gấp đôi, hoặc nhiều hơn, cho mỗi lần tăng thêm 5km/h tốc độ cao hơn 60km/h [59]
1.2.2.3 Ảnh hưởng của rượu/bia
Ảnh hưởng của rượu đã được nhận định từ rất sớm, một nghiên cứu kiểm soát trường hợp được thực hiện ở Michigan, Hoa Kỳ, vào năm 1964 chothấy những người lái xe có nồng độ cồn trong máu có nguy cơ gặp phải các sự
cố giao thông cao hơn những người có nồng độ cồn trong máu bằng 0g/dL và rủi ro này tăng tỷ lệ thuận với nồng độ cồn trong máu Những kết quả khảo sát đã cung cấp cơ sở cho việc thiết lập giới hạn nồng độ cồn trong máu và trong hơi thở hợp pháp khi tham gia giao thông ở nhiều nước trên thế giới, điển hình là ở mức 0,08g/dL [42]
Người lái xe và người đi xe máy với bất kỳ nồng độ cồn nào lớn hơn0g/dL đều có nguy cơ gặp sự cố cao hơn so với những người có nồng độ bằng
Trang 200g/dL Đối với tài xế nói chung, nguy cơ bị tai nạn bắt đầu tăng đáng kể ở mức cồn trong máu là 0,04g/dL Thiếu niên thiếu kinh nghiệm lái xe với nồng
độ cồn trong máu là 0,05g/dL có nguy cơ gặp sự cố cao gấp 2,5 lần với các tài
xế nhiều kinh nghiệm hơn [25]
1.2.2.4 Thuốc và các chất gây nghiện
Mặc dù rượu là tác nhân gây ra các vụ tai nạn giao thông đường bộ lớn hơn nhiều so với bất kỳ nguyên nhân nào khác, nhưng thuốc và các chất gây nghiện cũng được xem là những yếu tố rất đáng chú ý và đang có chiều hướng gia tăng Bất kỳ thuốc hoặc chất kích thích nào ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ương đều có khả năng làm hạn chế khả năng lái xe [54] Hiện tại, chưa có bằng chứng mạnh mẽ nào cho thấy sử dụng ma túy là yếu tố nguy cơ có ý nghĩa gây tai nạn giao thông đường bộ khi lái xe Tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy tăng cường sử dụng các chất hướng thần bao gồm cả thuốc và chất kích thích đều có liên quan đến thói quen uống nhiều rượu, đây
là vấn đề nghiêm trọng cần có hướng giải quyết sớm [59]
1.2.2.5 Tình trạng mệt mỏi khi lái xe
Mệt mỏi hoặc buồn ngủ có liên quan đến một loạt các yếu tố bao gồm
cả khoảng cách xa khi lái xe, thiếu ngủ và gián đoạn nhịp sinh học Ba nhóm nguy cơ cao đã được xác định bao gồm [45]:
− Những người trẻ tuổi, đặc biệt là nam giới, ở độ tuổi 16-29 tuổi;
− Nhân viên làm việc theo ca mà giấc ngủ bị gián đoạn, làm việc vào ban đêm, làm việc lâu dài hoặc giờ giấc không cố định;
− Những người mắc chứng ngưng thở khi ngủ không được điều trị hoặc chứng ngủ rũ
Nghiên cứu kiểm soát trường hợp tại New Zealand tìm thấy những yếu
tố làm tăng đáng kể nguy cơ của một tai nạn chết người hoặc một vụ tai nạn với thương tích nghiêm trọng là:
Trang 21− Lái xe trong khi cảm thấy buồn ngủ;
− Lái xe sau khi ngủ ít hơn năm giờ trong 24 giờ trước đó;
1.3 Phân loại thương tích do tai nạn theo vị trí và mức độ
1.3.1 Phân loại thương tích do tai nạn
Phân loại thương tích do tai nạn theo bảng phân loại quốc tế về bệnh tật
và các vấn đề sức khỏe phiên bản sửa đổi lần thứ 10 (International Statistical Classification of Diseases and Related Health Problems 10th Revition) bao gồm các nhóm thương tích sau[63]:
1.3.2 Một số thang điểm đánh giá chấn thương
Bảng điểm chấn thương (TS:Trauma score) được Champion H R
và cộng sự đưa ra năm 1981 đánh giá mức độ chấn thương dựa trên 5 thông số: điểm Glassgow, tần số thở, độ sâu của nhip thở, tình trạng tưới máu mao mạch và huyết áp động mạch Tổng điểm có giá trị từ 1-16, tình trạng bệnh nhân càng nặng điểm càng thấp [32]
Trang 22Bảng điểm chấn thương sửa đổi (RTS: Reviced Trauma Score): năm 1989, Champion H R và cộng sự đưa ra bảng điểm chấn thương sửa đổi (RTS) gồm ba 3 thông số: tần số thở, huyết áp tâm thu và điểm Glassgow Mỗi thông số cho từ 0-4 điểm, tổng điểm từ 0-12 Rối loạn chức năng càngnặng điểm càng thấp [32] Trong nghiên cứu của Lê Hữu Quý cho thấy khi điểm RTS: ≤ 6, RTS: 7-9 và RTS: 10-12 thì tỷ lệ tử vong tương ứng là 94,4%, 68,4% và 0,2% [32 ]
Thang điểm Glassgow (Glassgow coma score) được biết đến bởi Teasdale G., Jannett B., Lancet (1974), đưa ra tiêu chuẩn để đánh giá tìnhtrạng rối loạn ý thức hoặc khi có chấn thương đầu [32]
1.4 Nguyên tắc sơ cứu và điều trị bệnh nhân tai nạn giao thông
1.4.1 Sơ cứu tai nạn giao thông đường bộ
Sơ cứu nạn nhân TNGT là bước tiếp cận y tế đầu tiên sau khi tai nạn xảy ra nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất các tổn thương và ảnh hưởng của tổn thương đó lên nạn nhân tại thời điểm tại nạn và quá trình điều trị sau đó
Kỹ thuật cấp cứu ban đầu theo “hướng dẫn cấp cứu cơ bản tai nạn giao thông đường bộ” của Bộ Y tế (2013) [3]
1.4.1.1 Nguyên tắc sơ cứu
Sơ cứu cần ưu tiên thực hiện theo các bước:
A − Airway (đường thở)
B − Breathing (hô hấp)
C − Circulation (tuần hoàn)
D − Disability (thần kinh)
E − Exposure (bộc lộ toàn thân)
1.4.1.2 Phương pháp sơ cứu
A Đường thở
− Xem bệnh nhân thở bình thường hay không
Trang 23− Đường thở có tắc nghẽn không: Có nói được không, có tụt lưỡi không,
có đờm dãi, gẫy răng, máu cục cùng các dị vật khác không? Nếu có phải lấy tay móc họng để lấy hết các dị vật ra
− Dùng Canuyn đặt vào miệng chống tụt lưỡi
− Giữ đầu ở tư thế trung gian, không ngửa quá và cũng không gập quá
− Cần chú ý khi chấn thương vùng đầu hay phối hợp với các chấn thươngcột sống
− Để bệnh nhân nằm ở tư thế Fowler chống khó thở
− Tìm nguyên nhân khó thở: Chấn thương ngực kín (do gẫy xương phải tìm mảng sườn di động, gẫy xương ức phải cố định xương ức), Chấn thương ngực hở (vết thương ngực hở có phì phò phải bịt lại lỗ phì phò, nếu vết thương do dị vật đâm vào thì không được rút ra tại hiện trường, phải băng quanh chân dị vật và chuyển về tuyến sau, thở oxy nếu cần,
hô hấp nhân tạo khi thở chậm hoặc ngừng thở)
Trang 24− Cho bệnh nhân nằm ngửa, đầu thấp
− Nằm nơi thoáng mát khi mùa hè và ấm áp khi mùa đông
− Tìm nhanh các nguyên nhân để xử trí kịp thời:
− Có dấu hiệu chảy máu ra ngoài: Đứt các mạch máu ở chi hoặc chỗ nào chảy máu thành tia phải làm ngay lập tức bằng băng ép hoặc garo khi ở các chi hay mỏm cụt
− Nếu không thấy dấu hiệu chảy máu ra ngoài phải xem ngay: Có mất máu do chảy máu vào bên trong (ổ bụng do vỡ tạng hoặc gan, lách, tụy, thận; Trong khoang ngực; gẫy kín các xương lớn: gẫy xương đùi, cẳng chân, xương chậu v.v)
D Thần kinh
− Đánh giá tình trạng tỉnh táo của nạn nhân
− Đánh giá thần kinh cảm giác của nạn nhân qua cảm giác đau
− Khám xem có CTSN không?
− Vết thương sọ não hở: thấy não lòi ra thường bệnh nhân tỉnh, nếu mê thì rất nặng Nếu vết thương do dị vật đâm vào thì không được rút ra tại hiện trường, phải băng quanh chân dị vật và chuyển về tuyến sau
− Chấn thương sọ não kín: hỏi người đi cùng xem bệnh nhân có khoảng tỉnh hay không và thăm khám tìm các dấu hiệu thần kinh khu trú
E Bộc lộ toàn thân để thăm khám tránh bỏ sót tổn thương phối hợp
− Trong quá trình sơ cứu, cần lưu ý đối với trường hợp có mũ bảo hiểm
mà ghi tổn thương đốt sống cổ thì đừng bỏ mũ bảo hiểm vội
− Nới quần áo, khám toàn trạng một cách hệ thống để thống kê đầy đủ các thương tổn tránh bỏ xót các thương tổn phối hợp Nếu trên người có xây xước hoặc bầm tím thì tương xứng với tạng phía dưới hay bị tổn thương
− Một số dạng chấn thương cần lưu ý:
Trang 25+ Chấn thương bụng kín: theo dõi để phát hiện kịp thời hai hội chứng điển hình thường gặp, cụ thể: hội chứng chảy máu trong do vỡ tạng đặc như gan, lách, tụy Hội chứng viêm phúc mạc do vỡ các tạng rỗng: dạ dày, ruột non, đại tràng, bàng quang
+ Vết thương bụng: khi có thấu bụng thì thấy ruột non hoặc ruột già lòi ra, hay mặc nối hoặc dịch ruột và giun cùng nước phân chảy ra qua vết thương Khi ruột lòi ra phải dùng bát úp ngay lại chống lòi
1.4.2 Điều trị bệnh nhân tai nạn giao thông
1.4.2.1 Điều trị chấn thương sọ não
Điều trị dựa trên mức độ nghiêm trọng của chấn thương
Chấn thương nhẹ
Chấn thương sọ não nhẹ thường không cần điều trị ngoài việc nghỉ ngơi
và giảm đau không kê đơn để điều trị đau đầu Tuy nhiên, CTSN nhẹ thường cần được theo dõi chặt chẽ tại nhà cho bất kỳ triệu chứng nào diễn ra một cách dai dẳng, xấu đi hoặc triệu chứng mới xuất hiện
Trang 26Chấn thương trung bình và nặng
Chăm sóc khẩn cấp cho các CTSN từ trung bình đến nặng tập trung vào việc đảm bảo người bệnh có đủ oxy và cung cấp đủ máu, duy trì huyết áp và ngăn ngừa thêm bất kỳ tổn thương nào ở đầu hoặc cổ Ngoài ra các CTSN từ trung bình đến nặng thường kèm theo các chấn thương kết hợp khác, do đócác biện pháp điều trị bổ sung cần được cân nhắc trong trường hợp này
Thuốc
Các loại thuốc để hạn chế tổn thương thứ phát lên não ngay sau khi bị chấn thương có thể bao gồm: thuốc lợi tiểu, thuốc chống động kinh, thuốc gây hôn mê, …
Phẫu thuật
Phẫu thuật khẩn cấp có thể cần thiết để giảm thiểu tổn thương cho các
mô não Phẫu thuật có thể được sử dụng để: mở sọ, loại bỏ khối máu tụ [46] 1.4.2.2 Điều trị chấn thương bụng
Xử trí chung:
− Chống sốc tích cực với truyền máu là chính để bồi phụ lượng máu mất
− Nhanh chóng phẫu thuật để cầm máu khi có chảy máu trong
− Xử trí viêm phúc mạc khi thủng tạng rỗng
− Xử lý các tổn thương ngoài ổ bụng
Đây là những vấn đề lớn liên quan trực tiếp đến tính mạng nạn nhân, cần được tiến hành khẩn trương nhưng lựa chọn thứ tự ưu tiên thì phải căn cứ trên từng nạn nhân để quyết định Ở đây cần lưu ý:
− Nếu nạn nhân đang sốc do mất máu: phải vừa truyền máu vừa phẫu thuật để cầm máu, có như vậy chống shock mới hiệu quả
− Khi có shock trên bệnh nhân có viêm phúc mạc do vỡ tạng rỗng: cần phải tích cực chống sốc Phẫu thuật được tiến hành sau khi sốc tạm ổn định Dĩ nhiên mổ càng muộn, hậu quả viêm phúc mạc càng tăng, do
Trang 27vậy chống sốc có hiệu quả và chọn thời điểm phẫu thuật hợp lý là việc làm rất có ý nghĩa.[41]
1.4.2.3 Điều trị chấn thương ngực
Gãy xương sườn: tổn thương không đặt ra vấn đề điều trị đặc hiệu trừ mảng sườn di động cần cố định nhằm giảm đau và cải thiện tình trạng hô hấp Trong trường hợp vỡ cơ hoành, cần lựa chọn đường mổ tối ưu hoặc mổ nội soi để khâu cơ hoành
Tràn dịch và tràn khí màng phổi: dẫn lưu ngực là thao tác cơ bản trong chấn thương ngực Theo dõi dẫn lưu nếu khí ra nhiều và hút không hiệu quả cần nọi soi ngực để chẩn đoán và điều trị Trong tràn máu màng phổi lượng trung bình và lượng nhiều cần đặt dẫn lưu màng phổi, cần theo dõi sát lượng máu hút dẫn lưu để quyết định các điều trị tiếp theo
Giập phổi: liệu pháp oxi được ưu tiên hàng đầu thông qua masque Nếu không hiệu quả cần điều trị bằng áp lực dương liên tục
Vỡ phế quản: chẩn đoán thông qua nội soi khí phế quản, điều trị bằng cách dẫn lưu và đặt nội khí quản vượt qua đoạn tổn thương Khâu khí quản đối với rách bên, khâu tận – tận với đứt toàn bộ hoặc cắt bỏ thùy hoặc phân thùy tổn thương được cân nhắc trong chỉ định [46]
1.4.2.4 Điều trị chấn thương xương, khớp
Nguyên tắc điều trị gãy xương: Đưa các mảnh xương vỡ về đúng vị trí
và ngăn di lệch ra khỏi chỗ cho đến khi lành Các biện pháp sử dụng bao gồm:
− Bó bột cố định, nẹp cố định: Giúp cho xương gãy ở vị trí thích hợp trong khi vết thương tự lành
- Phẫu thuật: tùy theo mức độ xương di lệch
1.5 Các công trình nghiên cứu liên quan
Theo Nguyễn Hữu Thuấn, “nghiên cứu tình hình thương tích do tai nạn giao thông đến khám và điều trị tại Bệnh viện đa khoa Sóc Trăng năm 2010”,
Trang 28nạn nhân được cấp cứu ban đầu chiếm 24,9%; cấp cứu ban đầu đúng là45,8%; tỷ lệ cán bộ y tế tham gia cấp cứu ban đầu là 16,8% Điều trị khỏi là 76,8%; tử vong là 1,4% [35]
Huỳnh Văn Hùng qua nghiên cứu 650 bệnh nhân tai nạn giao thông đường bộ đến khám và điều trị tại Bệnh viện đa khoa Cà Mau từ 6/2011 dến 5/2012 nhận thấy phân bố vị trí thương tích theo vị trí: chấn thương sọ não chiếm 11,8%; đầu mặt cổ là 84,3%; chấn thương ngực là 34,0%; chấn thươngcột sống là 1,2%; chấn thương bụng là 19,1%; chấn thương chi là 98,0% Trong đó mức độ nhẹ chiếm 66,0%, mức độ vừa chiếm 26,0%, mức độ nặng chiếm 7,2% [ 25]
Theo Phạm Thị Mỹ Ngọc, nghiên cứu 364 bệnh nhân bị tai nạn giao thông được điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ năm4/2011 dến 5/2012 nhận thấy 1,37% gọi cấp cứu 115; 54,4% trường hợp tai nạn xảy ra ở đường nông thôn; 56,32% trường hợp xảy ra vào ban đêm;47,8% bệnh nhân có sử dụng rượu bia trước khi TNGT và 1,92% trường hợp
có sử dụng chất kích thích [31]
Nghiên cứu của Nguyễn Trung Kiên trên 950 bệnh nhân chấn thương
do tai nạn giao thông được điều trị tại Bệnh viện 121 năm 2019 – 2020 cho thấy phương tiện sử dụng khi bị tai nạn giao thông chủ yếu là xe mô tô (94,52%) Bệnh nhân có sử dụng cồn chiếm 53,36% trong số 26,63% bệnh nhân được chỉ định xét nghiệm; đồng thời các yếu tố: tốc độ điều khiển xe máy, sơ cứu và vận chuyển đúng cách có liên quan đến kết quả xử trí cấp cứu tại bệnh viện [27]
Tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp, Phạm Minh khuê, Vũ Hải Vinh nghiên cứu đặc điểm tai nạn giao thông đường bộ được chuyển đến cấp cứu năm 2018 cho thấy TNGT vào ban ngày nhiều hơn ban đêm và cao điểm từ
13 giờ đến 17 giờ (38,6%) [26]
Trang 29Năm 2019, Enoch F Sam và cộng sự nghiên cứu kiến thức chăm sóctrước viện bệnh nhân TNGT của 80 người dân sống dọc các đường cao tốc ở Gana cho thấy phần lớn những người được hỏi có rất ít kiến thức hoặc không được đào tạo về kỹ năng sơ cấp cứu tai nạn giao thông [59]
Trang 30Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các bệnh nhân bị TNGT đường bộ có thương tích vào Bệnh viện
Đa khoa Trung tâm An Giang
2.1.1.Tiêu chuẩn chọn vào
Tất cả các bệnh nhân bị thương tích do TNGT đường bộ vào cấp cứu tại bệnh viện đa khoa Trung tâm An Giang trong thời gian nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
− Bệnh nhân tử vong trước khi vào viện
− Bệnh nhân hoặc người nhà không hợp tác
2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ tháng 06 năm 2020 đến tháng 5 năm 2021, tại Bệnh viện đa khoaTrung tâm An Giang
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
n = cỡ mẫu nghiên cứu
p: tỷ lệ người bị TNGT được sơ cứu ban đầu đúng, ước tính từ mẫu nghiên cứu.Theo Nguyễn Trung Kiên, nghiên cứu 950 bệnh nhân TNGT đến khám
và điều trị tại Bệnh viện 121 năm 2019 - 2020, tỷ lệ bệnh nhân được sơ cứu đúng cách là 45,58% [27] Chúng tôi chọn p= 0,45 ; z1− /2 = 1,96 là ước
Trang 31lượng khoảng tin cậy dùng trong nghiên cứu, độ tin cậy 95% với mức ý nghĩathống kê α = 0,05; d = sai số cho phép, chọn d = 0,05
Thay vào công thức chung, tính được cỡ mẫu là 381, dự kiến hao hụt 10% trong quá trình thu mẫu, nên cỡ mẫu tổng cộng có 419 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu Trong thực tế chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 420 bệnh nhân
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu toàn bộ: tất cả bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn đều được đưavào nghiên cứu cho đến khi đủ mẫu
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Giới tính: nam, nữ
- Tuổi: tính bằng hiệu số năm giữa năm nghiên cứu và năm sinh theoChứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân Tuổi được chia thành các nhóm 15-29 tuổi, 30-45 tuổi, 46-60 tuổi và >60 tuổi
- Nghề nghiệp:
+ Công nhân: người lao động trong xí nghiệp, nhà máy, công ty
+ Nông dân: những nạn nhân sống bằng nghề nông
+Công chức, viên chức: những nạn nhân làm việc trong cơ quan hànhchính nhà nước, khối doanh nghiệp nhà nước
+ Học sinh, sinh viên: bao gồm học sinh trung học cơ sở, trung học phổ, trung học chuyên nghiệp, sinh viên cao đẳng- đại học…
Trang 32+ Trung học cơ sở
+ Trung học phổ thông
+ Cao đẳng, đại học
+ Sau đại học: Thạc sĩ, tiến sĩ…
2.2.4.2 Đặc điểm, tỷ lệ các phân loại thương tích theo vị trí và mức độ của
bệnh nhân bị tai nạn giao thông
Một số đặc điểm tai nạn giao thông đường bộ gây thương tích
+ Nông thôn: được xác định là vùng lãnh thổ không thuộc nội thành,
nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn và được quản lý bởi cấp hành chính cơ
sở là ủy ban nhân dân xã
+ Thành thị: được xác định là vùng lãnh thổ bao gồm thị trấn, thị xã,
thành phố [40]
* Đặc điểm liên quan nạn nhân:
- Phương thức tham gia giao thông của nạn nhân: sử dụng ô tô; mô tô;
xe đạp điện; xe đạp; đi bộ, khác (ngoài các phương thức trên)
- Tình trạng sử dụng rượu/bia khi tham gia giao thông của nạn nhân:
+ Chỉ định xét nghiệm cồn trong máu: có hoặc không.Có chỉ định xét
nghiệm là khi nạn nhân là người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
có liên quan đến vụ tai nạn giao thông và có dấu hiệu sử dụng rượu/bia (hơi thở
có mùi, biểu hiện say rượu) Từ ngày 9/11/2020, xét nghiệm nồng độ cồn cho
tất cả các trường hợp nạn nhân bị tai nạn giao thông đến cấp cứu tại các cơ sở y
Trang 33tế trên địa bàn tỉnh An Giang căn cứ theo quy chế phối hợp số SYT ngày 9/11/2020 của Công an Tỉnh và Sở Y tế An Giang [37]
3720/QC-CAT-+ Sử dụng rượu/bia: có hoặc không Có là khi nạn nhân đã sử dụng rượu, bia hoặc các thức uống có cồn khác ngay trước khi tham gia giao thông, xét nghiệm thấy có cồn trong máu
+ Nồng độ cồn trung bình trong máu ở các nạn nhân có sử dụng rượu/bia
Tỷ lệ các phân loại theo vị trí và mức độ thương tích
* Phân loại chung:
- Phân loại theo vị trí:
Trang 34Tổng cộng: điểm RTS = 0-12, điểm càng thấp tiên lượng càng nặng + Nhẹ: 10 – 12 điểm
+ Trung bình: 7 – 9 điểm
+ Nặng: 0 -6 điểm
* Phân loại chấn thương sọ não:
- Phân loại các dạng thương tích của chấn thương sọ não:
+ Vết thương sọ não: là vết thương rách da đầu, vỡ xương sọ, rách màng cứng làm cho khoang dưới nhện thông với môi trường bên ngoài
+ Chấn thương sọ não kín: là các tổn thương sọ não nhưng chưa gâyrách màng cứng [19]
- Phân loại mức độ nặng chấn thương sọ não theo tri giác: dựa vào thang điểm Glasgow [46]
Bảng 2.2 Thang điểm Glasgow
Mở mắt tự nhiên (4) Trả lời chính xác (5) Thực hiện yêu cầu (6)
Mở mắt khi gọi (3) Trả lời nhầm lẫn (4) Cấu véo đáp ứng chính
xác (5)
Mở mắt khi gây đau (2) Phát ngôn vô nghĩa (3) Cấu véo đáp ứng không
chính xác (4) Không mở mắt (1) Ú ớ hoặc kêu rên (2) Co cứng chi trên (3)
Hoàn toàn im lặng (1) Duỗi cứng tay chân (2)
Không đáp ứng đau (1) Mức độ hôn mê:
+ Nhẹ: 13 – 15 điểm
+ Trung bình: 9 – 12 điểm
+ Nặng: 3 – 8 điểm
Trang 35* phân loại các dạng thương tích của các chấn thương khác:
+ Chấn thương đầu mặt cổ: gồm chấn thương da đầu, mắt, mũi, hàmmặt, cổ
+ Chấn thương cột sống: gồm chấn thương cột sống cổ, chấn thươngcột sống ngực, chấn thương cột sống thắt lưng
+ Chấn thương ngực: gồm chấn thương ngực kín hoặc vết thương ngực
hở, Có hay không có gãy xương sườn, tràn khí màng phổi, tràn máu màng phổi, dập phổi, gãy xương sườn, gãy xương đòn
+ Chấn thương bụng: gồm vỡ tạng đặc, vỡ tạng rỗng, chấn thương bàngquang, chấn thương niệu-dục
+ Chấn thương chi thể: gồm vết thương phần mềm, vết thương mạch máu, gãy xương hở, gãy xương kín, trật khớp
+ Đa chấn thương: gồm các dạng kết hợp chấn thương hai cơ quan;chấn thương ba cơ quan; chấn thương bốn cơ quan, chấn thương ≥ năm cơquan
2.2.4.3 Đánh giá tình hình sơ cứu ban đầu, vận chuyển bệnh nhân và kết quả điều trị thương tích do tai nạn giao thông đường bộ tại Bệnh viện Đakhoa Trung tâm An Giang
Sơ đồ: sơ cứu, vận chuyển bệnh nhân TNGT
* Sơ cứu tại hiện trường:
- Người đầu tiên sơ cứu:
Trang 36+ Người đi cùng
+ Người gây tai nạn
+ Người xung quanh
+ Cảnh sát giao thông
+ Cán bộ y tế gần hiện trường
+ Khác: Đội cấp cứu ngoại viện, nhân viên y tế tổ y tế khóm ấp
- Thời gian từ lúc bị tai nạn đến khi được sơ cứu:
- Bệnh nhân được xử lý các thương tích tại hiện trường: có hoặc không được
xử lý các thương tích tại hiện trường
- Bệnh nhân đến cấp cứu tại cơ sở y tế tuyến dưới: có hoặc không đến cấp cứutại cơ sở y tế tuyến dưới
- Cách sơ cứu vết thương phần mềm [3]
Trang 37+ Băng cầm máu vết thương đầu
- Cách sơ cứu vết thương sọ não:
+ Không xử lý
+ Lấy dị vật trên bề mặt vết thương
+ Đặt gạc sạch lên bề mặt vết thương + Băng nhẹ vết thương
- Cách sơ cứu chấn thương ngực:
+ Không xử lý
+ Băng vết thương
+ Để nguyên dị vật đâm xuyên
+ Cố định xương gãy bằng băng
- Cách sơ cứu chấn thương bụng:
+ Không xử lý
+ Băng vết thương
+ Dùng chén, tô úp tạng phòi ra
+ Để nguyên dị vật đâm xuyên
- Cách sơ cứu gãy xương:
- Kỹ thuật sơ cứu:
+ Không tốt: không xử lý thương tích
Trang 38+ Tạm được: Băng tạm bằng bất kỳ vật dụng gì, có cố định tạm thời xương gãy
+ Tốt: rửa băng vết thương bằng vật dụng sạch, cố định tương đối vững xương gãy
+ Rất tốt: rửa băng vết thương bằng vật tư y tế, cố định xương vững, đúng
- Đánh giá kỹ thuật sơ cứu
+ Đúng cách: kỹ thuật sơ tốt hoặc rất tốt
+ Không đúng cách: kỹ thuật không tốt hoặc tạm được
* Vận chuyển bệnh nhân tai nạn giao thông
- Phương pháp di chuyển bệnh nhân lên phương tiện vận chuyển: tự đi, dìu,cõng, ẵm, khiêng tay hay khiêng cáng
- Đánh giá an toàn di chuyển bệnh nhân lên phương tiện vận chuyển [3], (phụ lục 2)
+ Không an toàn: không thực hiện đúng phương pháp di chuyển bệnh nhân theo loại chấn thương
+ An toàn: thực hiện đúng phương pháp di chuyển bệnh nhân
- Tư thế bệnh nhân trên phương tiện vận chuyển: ngồi, Fowler, nằm
- Phương tiện vận chuyển nạn nhân từ hiện trường đến Bệnh viện ĐKTT An Giang:
+ Xe cứu thương
+Taxi
+ Ô tô
+ Mô tô
+ Khác: ngoài các phương tiện trên
- Khoảng cách từ hiện trường đến Bệnh viện ĐKTT An Giang: < 2km; 2 - < 4km; 4 - < 6km; 6 - < 8km; 8 - < 10km; 10 - < 20km; 20 - < 30km; ≥ 30km
Trang 39- Thời gian vận chuyển bệnh nhân từ hiện trường đến Bệnh viện ĐKTT AnGiang
* Điều trị bệnh nhân tai nạn giao thông tại bệnh viện ĐKTT An Giang:
- Phương pháp điều trị bệnh nhân:
+ Phẫu thuật cấp cứu: Thời gian được mổ cấp cứu tính bằng hiệu số giữa giờ bắt đầu phẫu thuật và giờ nhập viện Gồm những nạn nhân được mổ trước 6 giờ, từ 6 giờ đến 12 giờ, trên 12 giờ
+ Phẫu thuật theo kế hoạch: Những nạn nhân được mổ theo lịch mổ chương trình
+ Điều trị nội khoa: điều trị không mổ các CTSN, các chấn thương nội tạng có chỉ định điều trị bảo tồn
+ Điều trị bảo tồn: điều trị không mổ các CTSN, các chấn thương nội tạng có chỉ định bảo tồn
+ Bố bột, cố định các kiểu
+ Khâu vết thương
- Loại chấn thương được điều trị phẫu thuật cấp cứu: chấn thương sọ não, chấn thương ngực, chấn thương bụng, chấn thương chi thể, chấn thương đầu mặt cổ, đa chấn thương
- Thời gian nhập viện đến khi phẫu thuật cấp cứu: < 6 giờ; 6 – 12 giờ; > 12 giờ
- Số ngày điều trị trung bình và phân nhóm nhóm theo ngày điều trị:
Trang 40+ Nặng hơn: những bệnh nhân điều trị không kết quả và thân nhân xin đưa bệnh nhân về
+ Tử vong: bệnh nhân chết trong thời gian điều trị
+ Chuyển viện: Những bệnh nhân quá khả năng điều trị của bệnh viện
- Đánh giá kết quả điều trị
+ Thành công: điều trị khỏi, đỡ giảm
+ Không thành công: không thay đổi, nặng hơn, tử vong, chuyển viện
* Thời gian điều trị
- Phân theo nhóm ngày điều trị
+ Dưới 7 ngày
+Từ 8 - 15 ngày
+ Trên 15 ngày
* Ngày điều trị trung bình theo loại tổn thương
Gồm: CTSN, chấn thương ngực, chấn thương bụng, chấn thương chi thể, chấn thương đầu mặt cổ, chấn thương cột sống, đa chấn thương, chấn thương khác