1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu tình hình và yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con từ 6 12 tháng tuổi tại huyện chợ mới, tỉnh an giang năm 2020 2021

125 9 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tình hình và yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con từ 6 – 12 tháng tuổi tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang năm 2020 - 2021
Tác giả Trần Võ Huỳnh Nghĩa Nhân
Người hướng dẫn PGS. TS. Võ Huỳnh Trang
Trường học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y học dự phòng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 24,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRẦN VÕ HUỲNH NGHĨA NHÂN NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ HOÀN TOÀN TRONG 6 THÁNG ĐẦU CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON TỪ 6 – 12 THÁNG TUỔI TẠI HUYỆN CHỢ MỚI... Tỷ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

TRẦN VÕ HUỲNH NGHĨA NHÂN

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ HOÀN TOÀN TRONG 6 THÁNG ĐẦU CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON

TỪ 6 – 12 THÁNG TUỔI TẠI HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG NĂM 2020 - 2021

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Cần Thơ, 2021

Trang 2

TRẦN VÕ HUỲNH NGHĨA NHÂN

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ HOÀN TOÀN TRONG 6 THÁNG ĐẦU CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON

TỪ 6 – 12 THÁNG TUỔI TẠI HUYỆN CHỢ MỚI

Trang 3

liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng công bố

Cần Thơ, ngày 06 tháng 12 năm 2021

Người thực hiện luận văn

Trần Võ Huỳnh Nghĩa Nhân

Trang 4

học Y Dược Cần Thơ đã dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt khoảng thời gian học tập tại trường

Tôi đặc biệt gửi lời cám ơn đến PGS TS Võ Huỳnh Trang, các thầy, cô khoa Y Tế Công Cộng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp sau đại học

Tôi xin gửi lời cám ơn đến các cán bộ tại các trạm y tế, các cộng tác viên của xã, toàn thể người dân đã tham gia vào đề tài nghiên cứu của tôi tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Luận văn chắc chắn còn nhiều điều thiếu sót, rất mong nhận được sự góp

ý của quý thầy, cô

Cần Thơ, ngày 06 tháng 12 năm 2021

Người thực hiện luận văn

Trần Võ Huỳnh Nghĩa Nhân

Trang 5

Lời cám ơn

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục bảng

Danh mục biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số thuật ngữ trong nuôi trẻ nhỏ 3

1.2 Tính chất sữa mẹ 3

1.3 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ 10

1.4 Những yếu tố liên quan đến quá trình nuôi con bằng sữa mẹ 14

1.5 Tình hình nghiên cứu về nuôi con bằng sữa mẹ 16

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.2 Phương pháp nghiên cứu 19

2.3 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 29

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 30

3.2 Tỷ lệ, đặc điểm và kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của bà mẹ 32

3.3 Một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn 39

Chương 4: BÀN LUẬN 46

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 46

Trang 6

KẾT LUẬN 63 KIẾN NGHỊ 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

Trang 7

Trạm Y tế THCS THPT

United Nations International Children's Emergency Fund (Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc)

World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)

Trang 8

Bảng 1.2 So sánh thành phần dinh dưỡng trong 100g sữa mẹ và sữa bò 6

Bảng 1.3 So sánh giữa sữa người, sữa động vật và sữa hộp 7

Bảng 3.1 Đặc điểm dân tộc của bà mẹ 30

Bảng 3.2 Đặc điểm nghề nghiệp và kinh tế gia đình của bà mẹ 31

Bảng 3.3 Đặc điểm bú sớm ngay sau sinh và thời gian trẻ bú thêm sữa ngoài 32

Bảng 3.4 Đặc điểm tình trạng hôn nhân và người quyết định NCBSM 34

Bảng 3.5 Đặc điểm phương pháp sinh, số con và số lần khám thai của bà mẹ 35

Bảng 3.6 Đặc điểm về sự tiếp cận thông tin NCBSM của bà mẹ 36

Bảng 3.7 Đặc điểm về cân nặng lúc sinh và bệnh lúc sinh của trẻ 37

Bảng 3.8 Kiến thức về NCBSM của bà mẹ 38

Bảng 3.9 Kiến thức của bà mẹ về lợi ích NCBSM và phương pháp có nhiều sữa 38

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa nhóm tuổi, học vấn với NCBSM hoàn toàn 39

Bảng 3.11 Mối liên quan phương pháp sinh, số con với NCBSM hoàn toàn 40

Bảng 3.12 Mối liên quan nghề nghiệp, kinh tế gia đình, quy mô gia đình với NCBSM hoàn toàn 40

Bảng 3.13 Mối liên quan số lần khám thai với NCBSM hoàn toàn 41

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân, thời gian đi làm lại và khó khăn của bà mẹ với NCBSM hoàn toàn 41

Bảng 3.15 Mối liên quan giữ địa điểm khám thai, tiếp cận thông tin và người quyết định việc NCBSM hoàn toàn 42

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa kiến thức chung với NCBSM hoàn toàn 43

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa đặc tính của trẻ với NCBSM hoàn toàn 43

Bảng 3.18 Phân tích hồi quy logistic đa biến liên quan đến NCBSM hoàn toàn 44

Trang 9

Biểu đồ 3.2 Trình độ học vấn của bà mẹ 31

Biểu đồ 3.3 Đặc điểm về giới tính của trẻ 32

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu 33

Biểu đồ 3.5 Đặc điểm về quy mô gia đình của bà mẹ 33

Biểu đồ 3.6 Thời gian bà mẹ đi làm lại sau khi sinh 34

Biểu đồ 3.7 Địa điểm khám thai của bà mẹ 35

Biểu đồ 3.8 Đặc điểm về khó khăn của bà mẹ khi nuôi con bằng sữa mẹ 36

Biểu đồ 3.9 Đặc điểm về tuổi thai lúc trẻ sinh ra 37

Biểu đồ 3.10 Kiến thức chung của bà mẹ 39

Trang 10

MỞ ĐẦU

Sữa mẹ là thức ăn hoàn hảo đối với các trẻ nhỏ Sữa mẹ chứa các nguồn dưỡng chất em bé cần đến và với đúng liều lượng cần có cho sự phát triển của trẻ [19] Theo hướng dẫn của Bộ Y tế (BYT), các bà mẹ cho trẻ bú sớm trong

1 giờ đầu sau sinh, bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, cho trẻ bú mẹ kéo dài đến 24 tháng tuổi hoặc lâu hơn [5] Lợi ích của trẻ bú mẹ hoàn toàn sẽ giúp trẻ

có thể ngăn ngừa tử vong do tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trong 3

tháng đầu Cho trẻ bú sớm còn làm kích thích tuyến yên tăng tiết oxytocin giúp

tử cung co tốt hơn để phòng ngừa chảy máu sau đẻ [4] Cho con bú đã được chứng minh là bảo vệ bà mẹ khỏi trầm cảm sau sinh, ung thư buồng trứng và ung thư vú… Ước tính cải thiện cho con bú có thể ngăn ngừa 20.000 trường hợp tử vong mẹ do ung thư vú [46] Vì vậy, cho trẻ bú sữa mẹ không chỉ mang lại lợi ích cho trẻ mà còn mang lại lợi ích không nhỏ cho cả bà mẹ

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo các bà mẹ cần nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Tuy nhiên, ở nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam, tỷ lệ trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu còn khá thấp Theo báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) vào năm 2018, ở các nước thu nhập thấp và trung bình, chỉ 4% hoặc 1 trong 25 trẻ không bao giờ được bú sữa mẹ Ở các nước thu nhập cao, 21% trẻ sơ sinh hoặc 1 trong 5 trẻ không bao giờ được bú sữa mẹ [46] Nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt là Canada đã có những chính sách khuyến kích tài chính cho các bà mẹ khoảng 55 đô la mỗi tháng cho nuôi con bằng sữa mẹ từ những năm 1990 [36] Nghiên cứu của Lê Thị Hoàng Uyên năm 2017 cho thấy tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là 27,3% [34] Theo nghiên cứu của Văn Hiển Tài năm 2012 tại huyện Phú Tân, tỉnh An Giang cho thấy tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 25,3% [26] Nghiên cứu của Ka Hoạ năm 2017 cho thấy có 7,4% bà mẹ cho trẻ bú hoàn

Trang 11

toàn trong 6 tháng đầu [12] Ở Việt Nam, phần lớn các bà mẹ đều nuôi con bằng chính dòng sữa của mình Tuy nhiên do nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển, các bà mẹ ngày càng quan tâm đến vấn đề vóc dáng sau sinh Bên cạnh

đó, nhiều loại sữa tràn ngập thị trường với nhiều quảng cáo hấp dẫn Do vậy, hiện nay nhiều bà mẹ không cho con bú bằng sữa của mình mà thay vào đó là các loại sữa nhân tạo

Tại Việt Nam, Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến 2030, đã đề ra chỉ tiêu gia tăng tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong

6 tháng đầu nhằm đạt 27% vào năm 2015 và đạt 35% vào năm 2030 [3] Để đạt chỉ tiêu này, các chương trình can thiệp muốn đạt kết quả cần tập trung giải quyết các rào cản ảnh hưởng đến việc nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ Tại An Giang, những năm gần đây chưa có cái nhìn toàn diện về đánh giá tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong toàn tỉnh để xây dựng chiến lược lâu dài cho toàn tỉnh Tại sao cần xác định tầm quan trọng của xây dựng chiến lược nâng cao tỷ lệ NCBSM? Cần có chính sách giải quyết rào cản ảnh hưởng đến NCBSM như thế nào? Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành thực hiện

“Nghiên cứu tình hình và yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con từ 6 – 12 tháng tuổi tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang năm 2020 – 2021” với các mục tiêu cụ thể sau:

1 Xác định tỷ lệ, đặc điểm và kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con từ 6 – 12 tháng tuổi tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang năm 2020 – 2021

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con từ 6 – 12 tháng tuổi tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang năm 2020 – 2021

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số thuật ngữ trong nuôi trẻ nhỏ

Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) hoàn toàn: là trẻ chỉ bú sữa từ vú mẹ hoặc

vú nuôi hoặc từ vú mẹ vắt ra Ngoài ra không ăn bất kỳ một loại thức ăn dạng lỏng hay rắn khác trừ các dạng giọt, siro có chứa các vitamin, chất khoáng bổ sung, hoặc thuốc [48]

Bú mẹ chủ yếu: là cách nuôi dưỡng trong đó nguồn dinh dưỡng chính là sữa mẹ Tuy nhiên, trẻ có thể nhận được thêm nước uống đơn thuần hoặc một

số thức ăn, đồ uống dạng lỏng như nước hoa quả, Oresol, nước đường [48]

Ăn bổ sung: đứa trẻ vừa được bú mẹ vừa được ăn thức ăn ở dạng đặc hoặc nửa đặc [48] Cho trẻ bú sớm (theo quy định của UNICEF) là cho trẻ bú trong khoảng thời gian từ 30 phút đến 1 giờ sau sinh [26]

A, tác dụng làm giảm độ nặng của bệnh nhiễm trùng mà trẻ mắc phải [31] Trong sữa non tập trung cao các tế nào miễn dịch, trong đó thành phần hoà

tan bao gồm immunoglobulin (IgA-IgM-IgG) Nhiều kháng thể (IgA, IgG, IgM,

IgD) và bạch cầu (4.000 bạch cầu trong 1ml) nên trẻ được bú sữa non sẽ tránh

được dị ứng và một số bệnh nhiễm khuẩn Bên cạnh đó, do các yếu tố phát triển nên sữa non giúp cho bộ máy tiêu hoá của trẻ sớm trưởng thành [23]

Trang 13

Bảng 1.1 Bảng giá trị sữa non

Nhiều kháng thể - Bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật

Nhiều tế bào bạch cầu - Bảo vệ cơ thể chống lại nhiễm khuẩn

Kích thích nhu động ruột - Phân su được ra ngoài, hạn chế được vàng da

(Nguồn: "Nuôi con bằng sữa mẹ", Nhà xuất bản Y học Hà Nội [13])

Sữa non có hàm lượng cao các protein bao gồm các yếu tố tăng trưởng có

lợi (IgF), acid béo chuỗi dài không bão hoà, carbohydrates, vitamin A, vitamin

K và các kháng thể Có hàm lượng chất béo thấp do đó trẻ có thể dễ dàng hấp

thu Sự hiện diện của acid phytic, chất chống oxy hoá giúp chống lại căn bệnh

ung thư Sữa non có bạch cầu, một loại tế bào trắng với khối lượng lớn giúp bảo vệ cơ thể khỏi bệnh, vi rút và vi khuẩn Sữa non có tác dụng giống như thuốc kháng sinh nhưng không có tác dụng phụ, có thể được coi là một loại vắc xin tự nhiên tuyệt đối an toàn [23] Vì vậy sữa non đóng một vai trò rất quan trọng trong những ngày đầu sau sinh cho nên phải cho trẻ bú sớm và nhiều lần

để tận dụng những tác dụng tốt của sữa non

1.2.1.2 Sữa chuyển tiếp

Sữa chuyển tiếp được sản xuất từ ngày thứ 7 đến ngày thứ 14 Số lượng nhiều hơn, vú có cảm giác đầy, cứng và nặng [9]

1.2.1.3 Sữa thường

Sữa thường hay còn được gọi là sữa vĩnh viễn được tiết ra sau tuần lễ thứ hai sau sinh, có màu trắng lỏng [9]

Trang 14

1.2.1.4 Sữa đầu

Sữa đầu là sữa được sản xuất vào đầu một bữa bú, có màu trong xanh Nó được sản xuất với một khối lượng lớn Cung cấp nhiều protein, lactose và các chất dinh dưỡng khác Trẻ không cần nước hoặc thêm bất cứ loại dịch nào khác trước khi trẻ được 4 – 6 tháng tuổi vì trẻ đã nhận được toàn bộ lượng nước cần thiết từ sữa này [9]

1.2.1.5 Sữa cuối

Sữa cuối là sữa được sản xuất vào cuối một bữa bú, đục hơn vì nó chứa nhiều chất béo Chất béo này cung cấp nhiều năng lượng cho bữa bú [9] Sữa cuối có màu sáng đục hơn so với sữa đầu [13]

1.2.2 Chất dinh dưỡng

- Protein sữa mẹ dễ tiêu, dễ hấp thu; một phần có thể hấp thu ngay ở dạ dày; protein sữa mẹ chứa α lactalbumin, casein (35%) hình thành những cục mềm

lỏng dễ tiêu hoá Trong sữa non, protein chiếm 10%; trong sữa vĩnh viễn là 1%

Ngoài ra acid amine của sữa mẹ có cysteine và taurine cần thiết cho sự phát

triển của não bộ trẻ sơ sinh Ngoài ra sữa mẹ còn có protein kháng khuẩn Protein sữa bò là β lactalbumin, casein chiếm 80% không chứa các loại protein

kháng khuẩn để bảo vệ cơ thể trẻ [9]

- Lipid: Sữa mẹ chứa acid béo không no, đây là loại acid béo dễ tiêu, cần thiết cho sự phát triển của não, mắt và sự vững bền của mạch máu trẻ Sữa mẹ

còn chứa lipase, gọi là lipase kích thích muối mật vì nó khởi động các hoạt động trong ruột non với sự có mặt của muối mật Lipase không hoạt động trong

bầu vú hoặc trong dạ dày trước khi sữa trộn với mật [9]

Trang 15

Bảng 1.2 So sánh thành phần dinh dưỡng trong 100g sữa mẹ và sữa bò

(Nguồn: Bảng thành phần thực phẩm Việt Nam, NXB Y Học [2])

Trang 16

Bảng 1.3 So sánh giữa sữa người, sữa động vật và sữa hộp

Sữa bò có thể có

vi trùng lao của bò hoặc bị nhiễm khuẩn khi vắt sữa

Có thể bị nhiễm khuẩn khi pha sữa

Có một phần vừa phải

Chất mỡ

- Có acid béo cần thiết cho cơ thể

- Có men tiêu hoá

mỡ

- Thiếu acid béo cần thiết cho cơ thể

- Không có men tiêu hoá mỡ

- Thiếu acid béo cần thiết cho cơ thể

- Không có men tiêu hoá mỡ

vitamin A, C Bổ sung thêm

(Nguồn: "Nuôi con bằng sữa mẹ", Nhà xuất bản Y học Hà Nội [13])

- Glucid: Đường của sữa mẹ là β lactose rất dễ hấp thu, thích hợp cho sự phát triển của vi khuẩn Lactobacillus bifidus Vi khuẩn này biến β lactose thành

acid lactic, là loại acid ngăn cản sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh đồng thời

giúp hấp thu dễ dàng calcium và các muối khoáng khác Trái lại, đường của sữa bò là α lactose, thích hợp cho sự phát triển của vi khuẩn E coli [9]

Trang 17

- Khoáng chất: Calcium trong sữa mẹ ít hơn trong sữa bò nhưng dễ hấp thu Sắt vào khoảng 70% sắt trong sữa mẹ được hấp thu, sữa bò là 4 – 10% Natri, kali, phosphor, clor tuy ít hơn sữa bò nhưng cũng đủ cho nhu cầu sinh lý của trẻ Natri trong sữa mẹ phù hợp với chức năng của thận Trái lại, Natri trong sữa bò cao nên có thể gây phù cho trẻ [9]

- Vitamin: lượng vitamin C, B1, A thay đổi phụ thuộc vào chế độ ăn của

mẹ Nếu mẹ ăn uống đầy đủ, trẻ bú mẹ được cung cấp đầy đủ vitamin trong 4 – 6 tháng đầu Lượng vitamin D có rất ít trong sữa mẹ, khoảng 25UI/1 lít Vì vậy, trẻ sơ sinh vào mùa đông và bú mẹ hoàn toàn cần được bổ sung vitamin D3 200UI/ngày Vitamin K trong sữa mẹ cũng rất ít, khoảng 2 – 15 μg/lít Để đề phòng xuất huyết ở trẻ sơ sinh, khuyến nghị bổ sung vitamin K1 (tiêm hoặc uống) cho tất cả mọi trẻ sơ sinh ngay sau sinh: 1mg cho trẻ đủ tháng, 0,5mg cho trẻ thiếu tháng, có thể nhắc lại sau 1-2 tuần [9]

1.2.3 Yếu tố chống nhiễm khuẩn

Việc bú mẹ có khả năng bảo vệ trẻ chống lại các bệnh nhiễm trùng, đặc biệt

là tiêu chảy Ngoài sữa mẹ vô trùng, bú mẹ còn có tác dụng [9]:

- IgA có rất nhiều trong sữa non, ít hơn trong sữa thường Nó không hấp thu

nhưng có tác dụng chống lại một số vi khuẩn và virus tại ruột

- Lactoferin: là protein có ái lực với sắt Sự liên kết này làm cho vi khuẩn

không có sắt để phát triển và là yếu tố bảo vệ trẻ chống lại nhiễm trùng ruột

- Lysozyme: có nhiều trong sữa mẹ gấp 1000 lần so với sữa bò Nó có khả

năng diệt một số vi khuẩn và bảo vệ trẻ

- Interferon là chất có khả năng ngăn cản sự hoạt động của một vài vi rút

- Bạch cầu: trong hai tuần đầu, trong sữa mẹ có chứa 4000 bạch cầu/ml

Bạch cầu này tiết ra IgA, lactoferrin, lysozyme, interferon

- Yếu tố bifidus: là một carbonhydrate chứa nitơ, cần thiết cho sự phát triển

Lactobacillus bifidus, ngăn cản vi khuẩn gây bệnh phát triển

Trang 18

1.2.4 Yếu tố chống dị ứng

Trẻ bú mẹ thường không bị dị ứng, eczema như một số trẻ uống sữa nhân tạo IgA tiết cùng với đại thực bào có tác dụng chống dị ứng [10] Bú mẹ còn

có khả năng giúp trẻ tránh khỏi một số bệnh dị ứng như chàm, hen…[9]

1.2.5 Những yếu tố hỗ trợ cho sự tiết sữa

- Ăn uống [10]:

+ Phải ăn đầy đủ các chất đạm, đường, mỡ

+ Đảm bảo năng lượng (2700 – 2800 kcal/ngày), nhiều hơn phụ nữ lao động nặng cùng lứa tuổi (2600kcal/ngày)

+ Ăn bổ sung các loại rau quả giàu vitamin, muối khoáng, đặc biệt là sắt + Uống thêm nước, nước đường, sữa…

+ Dùng thức ăn dân tộc tác dụng kích thích bài tiết sữa như chân giò, gạo nếp… + Không dùng các loại gia vị như hành, tỏi, ớt, rau thơm… vì chúng gây cho sữa có mùi khó chịu, có thể làm cho trẻ không bú

- Lao động hợp lý: Khi cho con bú, làm việc nhiều sẽ phải tiêu hao nhiều năng lượng, làm giảm quá trình tạo sữa [10]

- Tinh thần thoải mái: những bà mẹ sống thoải mái, ít lo lắng, ngủ tốt, tin tưởng là mình đủ sữa thì vú sẽ tiết nhiều sữa [10]

- Đảm bảo hết sữa sau mỗi lần bú: trong sữa có chất ức chế tế bào bài tiết sữa Khi trẻ bú hết số lượng sữa trong vú thì chất ức chế tế bào bài tiết sữa cũng không còn, do đó quá trình tạo sữa không bị ức chế và sữa lại được tạo ra Do vậy, khi trẻ bú không hết lượng sữa mẹ trong vú, thì nên vắt kiệt sữa ra để kích thích quá trình tạo sữa Đây là một trong những nội dung cần được hướng dẫn cho những bà mẹ nuôi con nhỏ [10]

- Không nịt chặt tuyến vú: Khi bị nai nịt chặt sẽ ức chế quá trình tạo sữa

Do vậy, phải hướng dẫn, động viên để các bà mẹ chuẩn bị áo quần rộng rãi để mặc trong thời gian nuôi con [10]

Trang 19

- Sinh đẻ theo kế hoạch: Những bà mẹ đẻ dày, đẻ nhiều, sức khoẻ giảm sút, kinh tế khó khăn, làm lụng vất vả, lo nghĩ nhiều thường có ảnh hưởng xấu đến quá trình bài tiết sữa Do đó, sữa của các bà mẹ không những giảm về số lượng

mà còn giảm về chất lượng [10]

- Hạn chế dùng thuốc: một số thuốc có tác dụng làm giảm sự tạo sữa của

các thuốc lợi tiểu nhóm thiazid, thuốc tránh thai có Estrogen, một số kháng

sinh…; một số thuốc được bài tiết vào sữa dễ gây ngộ độc cho trẻ [10]

1.3 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ

1.3.1 Lợi ích đối với trẻ

Khi cho con bú mẹ hoàn toàn, sữa mẹ cung cấp 100% nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ giai đoạn 6 tháng đầu Về giá trị dinh dưỡng, sữa mẹ có đủ các chất dinh dưỡng bao gồm: đạm, đường, béo vitamin, khoáng chất với tỷ lệ cân đối, thích

hợp, dễ hấp thu, giúp trẻ phát triển tốt nhất Đường lactose có nồng độ cao gấp 1,5 lần sữa bò, cung cấp cho quá trình myelin hoá Lipid trong sữa chứa nhiều

acid béo không no rất cần thiết cho quá trình myelin hoá ở trẻ em Các acid béo

không no như acid linoleic và acid linolenic rất cần thiết cho sự phát triển của

não, mắt, vững bền mạch máu của trẻ, các chất béo DHA và ARA tham gia cấu trúc não bộ Tỷ lệ canxi/ photpho cân đối và thích hợp với trẻ nên trẻ bú mẹ ít

bị còi xương hơn bú sữa bò Các yếu tố vi lượng khác (sắt, kẽm, vitamin …) với tỷ lệ phù hợp cho sự hấp thu và nhu cầu của trẻ, đặc biệt là ở trẻ dưới 6 tháng tuổi: giàu sắt giúp trẻ tránh được nguy cơ thiếu máu, thiếu sắt, canxi trong sữa mẹ ít hơn trong sữa bò dễ tiêu hoá hấp thu tốt hơn [8]

Sữa mẹ có đầy đủ chất dinh dưỡng nên trẻ phát triển tốt, tránh suy dinh dưỡng cho trẻ Sữa mẹ dễ hấp thu qua đường ruột của trẻ nên hiệu quả sử dụng cao [13] Ngoài ra, NCBSM giúp hình thành mối quan hệ gần gũi yêu thương Trẻ thường

ít quấy khóc hơn và phát triển nhanh hơn nếu luôn được bên cạnh mẹ và được cho bú mẹ ngay từ sau sinh Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng trẻ được nuôi

Trang 20

bằng sữa mẹ sẽ có chỉ số thông minh cao hơn so với trẻ được nuôi bằng sữa công thức Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ năm 1997 đã công nhận những lợi ích đối với trẻ được nuôi bằng sữa mẹ: “Nghiên cứu tại Hoa Kỳ, Canada, Châu Âu và các nước phát triển khác trên dân số ở tầng lớp trung lưu cho thấy việc nuôi con bằng sữa mẹ giúp giảm tần suất và/hoặc mức độ trầm trọng của bệnh tiêu chảy, viêm đường hô hấp dưới, viêm tai giữa, nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não do

vi khuẩn, nhiễm trùng niệu và viêm ruột hoại tử Một số nghiên cứu cho thấy nuôi con bằng sữa mẹ có thể có tác dụng bảo vệ đối với hội chứng đột tử ở trẻ

em, bệnh đái tháo đường phụ thuộc insulin, bệnh Crohn, viêm loét đại tràng, các

bệnh lý dị ứng và các bệnh lý mãn tính khác của đường tiêu hoá Nuôi con bằng sữa mẹ còn có thể cải thiện sự phát triển về nhận thức của trẻ” [31] Nghiên cứu của Trần Bảo Ngọc tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 cho thấy trẻ bú mẹ hoàn toàn trong thời điểm 1 tháng và 3 tháng tuổi có nguy cơ mắc nhiễm trung

hô hấp thấp hơn 0,67 lần và 0,61 lần so với những trẻ không bú mẹ hoàn toàn, trẻ được bú mẹ đến 6 tháng có nguy cơ mắc bệnh thấp hơn 0,47 lần so với trẻ không bú sữa mẹ [20] Theo khuyến cáo của UNICEF và WHO, cần bắt đầu cho con bú trong vòng một giờ đầu sau sinh, cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng tiếp

và tiếp tục cho con bú (với bổ sung thực phẩm đầy đủ, an toàn và phù hợp với từng lứa tuổi) trong hai năm hoặc hơn [45]

1.3.2 Lợi ích đối với mẹ

NCBSM có những lợi ích cho sự phát triển của trẻ, nhưng ít người biết rằng NCBSM cũng mang lại những lợi ích cho sức khỏe của bà mẹ:

- Khi cho con bú, oxytocin được tiết ra giúp tử cung co hồi tốt hơn, giúp giảm lượng máu mất trong thời kỳ hậu sản, phòng chống thiếu máu cho bà mẹ [31] Ngoài ra, NCBSM còn giúp giảm tăng huyết áp, trầm cảm sau sinh [44]

- NCBSM làm chậm có thai và có kinh trở lại sau sinh Lượng sắt mà bà

mẹ dùng để tạo sữa ít hơn so với lượng sắt mất đi do hành kinh [31]

Trang 21

- Cho con bú tiêu hao năng lượng từ 200 – 500 Kcal/ngày, tương đương với đạp xe đạp trong vòng 1 giờ, giúp bà mẹ giảm cân nhanh hơn sau sinh [31]

- Mặc dù cơ thể bà mẹ cần nhiều calcium cho việc tạo sữa, nhưng người ta nhận thấy rằng sau khi cai bú, mật độ xương trở về như lúc trước khi có thai, thậm chí còn cao hơn Vài nghiên cứu cho thấy các bà mẹ không cho con bú có nguy

cơ gãy xương chậu sau mãn kinh cao hơn so với các bà mẹ có NCBSM [31]

- NCBSM có thể làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng và ung thư vú ở phụ nữ tiền mãn kinh [9], [31]

- Ngoài ra, NCBSM còn có lợi ích thực tế về kinh tế Người ta ước tính nếu nuôi con hoàn toàn bằng sữa công thức, trong 6 tháng đầu cần 44 hộp sữa loại 500gr Nếu quy thành tiền thì chi phí nuôi trẻ bằng sữa công thức sẽ chiếm một

tỷ lệ không nhỏ so với thu nhập bình quân của người lao động [31]

1.3.3 Những nguy hiểm của việc nuôi con bằng sữa nhân tạo

Nếu vì một lý do nào đó bà mẹ không thể NCBSM mà phải tìm đến các loại sữa khác để thay thế (sữa bò, sữa công thức…) sẽ có thể có những bất lợi sau:

- Cản trở sự gắn bó tình cảm mẹ con [31]

- Trẻ có nhiều nguy có bị tiêu chảy, viêm tai và các bệnh nhiễm khuẩn khác [31]

- Trẻ dễ bị các bệnh dị ứng như chàm, hen suyễn [31]

- Trẻ có thể được cho ăn quá nhiều sữa nhân tạo dễ trở nên béo phì [31]

- Trẻ dễ bị suy dinh dưỡng, còi xương và chậm lớn Thiếu vitamin A gây bệnh khô mắt cho trẻ và tăng nguy cơ mắc một số bệnh mãn tính [13]

1.3.4 Những điều cần lưu ý khi cho bé bú

Cho bé bú ngay sau sinh: Sữa non đã có từ tháng thứ 4 của thai kỳ, trẻ cần bú sữa non đó, không nên vắt bỏ sữa non [21], [26] Bắt đầu cho trẻ bú ngay trong 1 giờ đầu sau sinh Việc cho trẻ bú ngay sau sinh giúp trẻ được cung cấp chất dinh dưỡng, giúp cho hồi tử cung, tránh mất máu mẹ và giúp mẹ bài tiết sữa sớm

Trang 22

Cho trẻ bú theo nhu cầu: thời gian cho bú tuỳ theo bé, cho bé bú đến khi nào no, tự rời vú mẹ Sau khi bú xong một bên, nếu bé chưa đủ no thì chuyển sang vú bên kia [21], [26]

Khi bé bị bệnh, ngay cả khi bé bị tiêu chảy, vẫn tiếp tục cho bé bú mẹ Trong trường hợp đẻ non, yếu, không mút được vú mẹ, hoặc trường hợp trẻ bị bệnh nặng không thể bú mẹ được thì cần phải vắt sữa mẹ vào ly và cho trẻ uống bằng muỗng [21], [26]

Dựa trên các báo cáo tư vấn và tổng kết các bằng chứng khoa học của WHO, Hội đồng Sức khoẻ Thế giới đã yêu cầu các quốc gia thành viên khuyến khích NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu và coi đó là một khuyến nghị về y tế công cộng toàn cầu vì nó mang lại những lợi ích quan trọng cho trẻ nhỏ và bà mẹ Trên cộng đồng, không thấy ảnh hưởng tiêu cực nào của NCBSM hoàn toàn đến sự tăng trưởng của trẻ Nhu cầu năng lượng của trẻ đủ tháng có cân nặng lúc sinh bình thường nhìn chung đáp ứng hoàn toàn bởi sữa mẹ trong 6 tháng đầu nếu bà mẹ có được tình trạng dinh dưỡng tốt

Theo thông tư 38 năm 2016 của BYT về việc quy định một số biện pháp thúc đẩy việc NCBSM, “mười điều kiện nuôi con bằng sữa mẹ” bao gồm: [5]:

- Có bản quy định về việc thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ;

- Tổ chức đào tạo CBYT kỹ năng cần thiết thực hiện quy định NCBSM;

- Thông tin cho phụ nữ có thai về lợi ích của việc NCBSM;

- Giúp các bà mẹ cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh, bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, cho trẻ bú mẹ kéo dài đến 24 tháng tuổi hoặc lâu hơn;

- Hướng dẫn cho các bà mẹ cách cho trẻ bú và duy trì nguồn sữa mẹ;

- Không nuôi dưỡng trẻ dưới 6 tháng tuổi bằng thức ăn, nước uống ngoài sữa mẹ, trừ khi có chỉ định của y tế;

- Thực hiện mẹ và con ở cùng nhau để con gần mẹ suốt 24 giờ trong ngày trong thời gian sau sinh;

Trang 23

- Khuyến khích cho trẻ được bú theo nhu cầu;

- Không cho trẻ nhỏ đang bú mẹ sử dụng bình bú hoặc vú ngậm nhân tạo;

- Khuyến khích thành lập nhóm hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ và giới thiệu

bà mẹ tham gia nhóm sau khi họ ra viện

Những yếu tố ảnh hưởng đến sự tiết sữa:

- Từ phía trẻ: cho trẻ bú không thường xuyên; bú không đúng cách, ngậm bắt vú sai; bú chai, ngậm vú giả; ăn bổ sung sớm; trẻ bị bệnh…

- Từ phía mẹ: yếu tố tâm lý, lo lắng, stress; thiếu dinh dưỡng nặng; sử dụng một số thuốc làm giảm tạo sữa [16]

1.4 Những yếu tố liên quan đến quá trình nuôi con bằng sữa mẹ

- Dân tộc: lý do bà mẹ không cho trẻ bú trong 1 giờ đầu sau sinh hay vắt bỏ sữa đầu tiên là do phong tục tập quán của địa phương

- Trình độ học vấn: các bà mẹ có trình độ học vấn cao giữ vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khoẻ bản thân và trẻ nhỏ một cách khoa học Ngược lại có học vấn thấp thì không thể nhận thức được một cách đúng đắn về những kiến thức dinh dưỡng khoa học, từ đó dẫn đến những hành động sai lầm, nhất là trong lĩnh vực chăm sóc nuôi dưỡng trẻ [23], [32], [33]

- Nơi sinh sống gia đình: những bà mẹ sống ở thành thị có nguy cơ cho trẻ dùng sữa công thức nhiều hơn so với nông thôn Bởi vì ở thành thị, các bà mẹ

bị ảnh hưởng bởi các tiếp thị của nhà sản xuất sữa bột Nếu các bà mẹ không biết về lời ích toàn diện của sữa mẹ thì các bà mẹ sẽ bị ảnh hưởng bởi các lời

có cánh của các quảng cáo về sữa công thức mang lại [43]

- Nghề nghiệp: nghề nghiệp của mẹ cũng ảnh hưởng đến quá trình NCBSM Nếu các bà mẹ làm công việc nội trợ là chủ yếu thì sẽ có nhiều thời gian để cho trẻ bú hơn so với những công việc khác Những bà mẹ làm công việc bên ngoài rất khó NCBSM đủ 6 tháng Các bà mẹ đi làm có xu hướng cho con của họ ăn bổ sung thực phẩm khi họ kết thúc thời gian nghỉ thai sản, thường là 4 tháng [43]

Trang 24

- Thu nhập gia đình: Khi có thu nhập cao, các gia đình luôn muốn tìm những sản phẩm dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ Hiện nay dễ thấy nghịch lý là những trẻ con nhà nghèo được bú sữa mẹ, trong khi những trẻ nhà giàu bú sữa bò dù đã được chế biến thành những sản phẩm cao cấp [32] Theo nghiên cứu của Trung Quốc cũng cho thấy những bà mẹ có học vấn cao sẽ có thu nhập cao Khi đó, họ có đủ khả năng mua sữa bột cho trẻ Sử dụng sữa công thức cho trẻ đôi khi được xem là cho trẻ khoẻ mạnh hơn và cũng là biểu tượng của sự giàu có ở Trung Quốc [40]

- Tuổi mẹ: những bà mẹ dưới 18 tuổi, tuyến vú chưa trưởng thành kém tiết sữa, kinh nghiệm làm mẹ chưa có sẽ ảnh hưởng đến việc NCBSM [32], [33]

- Phương pháp sinh: bà mẹ sinh thường có thể cho con bú ngay trong vòng

30 phút đến 1 giờ sau sinh Những bà mẹ sinh mổ phải đến 6 giờ sau mổ mới cho con bú được Sinh mổ là một trong những rào cản ảnh hưởng đến việc cho con bú sữa mẹ sớm sau sinh [32], [33]

- Giới tính của trẻ: Đặc điểm xã hội Việt Nam có thể ảnh hưởng đến NCBSM Đặc biệt là ở nông thôn, việc phân biệt giữa nam và nữ sâu sắc hơn Những trẻ trai thường nhận được sự chăm sóc và dinh dưỡng tốt hơn [32]

- Tuổi thai: Trẻ sinh đủ tháng có khả năng bú tốt, ngay sau khi lọt lòng là

bé có thể tìm bầu vú mẹ để bú sữa, nhưng trẻ sinh thiếu tháng có thể chưa phát triển tốt về mặt phản xạ, việc trị liệu cho mẹ và trẻ có thể làm chậm trễ thời gian bắt đầu việc cho con bú sữa mẹ [32], [33]

- Cân nặng lúc sinh: Một bà mẹ sinh con nhẹ cân thường sợ con bú sữa mẹ không đủ dinh dưỡng nên thường cho trẻ bú thêm sữa ngoài [32], [33]

- Nguồn hướng dẫn NCBSM: Nhân viên y tế (NVYT), cộng tác viên (CTV), gia đình, bạn bè, tivi, sách báo, đài là những nguồn hướng dẫn việc NCBSM cho

bà mẹ Trong đó vai trò của NVYT, CTV là rất quan trọng, những lời khuyên, hướng dẫn của người thân trong gia đình hay kinh nghiệm thực hành nuôi con của bạn bè cũng tác động đến bà mẹ trong việc NCBSM hoàn toàn [32], [33]

Trang 25

1.5 Tình hình nghiên cứu về nuôi con bằng sữa mẹ

1.5.1 Trên thế giới

Theo nghiên cứu của Heymann và cộng sự năm 2013 cho thấy rằng cho con

bú làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy từ 4 đến 14 lần và nguy cơ mắc bệnh hô hấp gấp 5 lần Sữa mẹ cũng cải thiện rõ rệt tình trạng dinh dưỡng trong trẻ sơ sinh

vì suy dinh dưỡng chiếm một nửa số trẻ sơ sinh tử vong, cho con bú sữa mẹ giúp giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh Các nghiên cứu trên khắp thế giới ở các quốc gia giàu

và nghèo đều cho thấy tỷ lệ tử vong giảm từ 1,5 lần đến 5 lần ở những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ [38] Các báo cáo gần đây của UNICEF cho thấy rằng trong năm 2012 có 6,6 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết Nguyên nhân gây tử vong phổ biến nhất là viêm phổi (17%), tiêu chảy (9%) và sốt rét (7%) Số trẻ bú mẹ dưới 6 tháng tuổi trên toàn thế giới còn ít, năm 2012 chỉ có khoảng 39% trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời, trẻ được bú mẹ trong 1 giờ sau sinh là 42% [42]

Ở Nigeria, nghiên cứu được thực hiện trên 220 phụ nữ vào năm 2016 cho thấy hầu hết đối tượng phỏng vấn (97,3%) đã từng cho con bú sữa mẹ, 56,5% trong số

họ bắt đầu cho con bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh, 74,1% thực hành cho con bú hoàn toàn trong thời gian trung bình 4,98 tháng và có 30,7% trẻ bú bằng bình [41] Trong các quốc gia thu nhập cao, có sự khác biệt lớn về tỷ lệ của trẻ sơ sinh

bú sữa mẹ Ở một số quốc gia như Oman, Thuỵ Điển và Uruguay, hầu hết tất

cả trẻ em đều được bú sữa mẹ nhưng ở những nước khác nhau thì khác nhau nhưng tỷ lệ thấp hơn nhiều Ở Hoa Kỳ, 74% trẻ sơ sinh đã từng bú sữa mẹ; ở Ireland, chỉ 55% trẻ được cho bú [46] Theo nghiên cứu về các yếu tốt liên quan đến nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ tại Hoa Kỳ của Jesssica R Jones cho thấy trong số gần 75% trẻ em trong nghiên cứu đã từng bú sữa mẹ, 16,8% được bú

mẹ hoàn toàn trong 6 tháng [39] Ngoài ra, tại Mỹ chính quyền còn ủng hộ việc hút sữa mẹ như một cách để các bà mẹ tiếp tục cho trẻ uống sữa mẹ bởi vì ở đây bà mẹ phải đi làm lại sớm [37]

Trang 26

1.5.2 Tại Việt Nam

Kiến thức của bà mẹ là yếu tố quyết định việc NCBSM Theo nghiên cứu Hà Thị Lý năm 2016 tại Khoa sản Bệnh viện C Thái Nguyên trên 300 bà mẹ thì kiến thức của các bà mẹ sau sinh: sự hiểu biết lợi ích NCBSM của các bà mẹ còn rất hạn chế, trong đó có 25% bà mẹ cho rằng nuôi con bằng sữa ngoài tốn kém hơn sữa mẹ, có 49% bà mẹ biết thời gian cai sữa tốt nhất là 19 – 24 tháng tuổi [18] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bạch Nhung năm 2013 tại thành phố Cần Thơ cho thấy tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú ngay trong 30 phút đến 1 giờ đầu sau sinh đạt 88%, tỷ

lệ bà mẹ có kiến thức đúng về NCBMS là 50,84% [23] Nghiên cứu của Nguyễn Kim Nhang tại thành phố Bạc Liêu năm 2013 cho thấy tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng NCBSM trong 6 tháng đầu là 18,2% [21] Qua các nghiên cứu, chúng tôi thấy tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về NCBSM trong 6 tháng đầu khá thấp

Nghiên cứu của Cao Thị Thu Hương tại Quảng Ngãi và Phú Thọ cho thấy tỷ

lệ bà mẹ cho trẻ bú sớm trong giờ đầu là 58,4% (Quảng Ngãi) và 31% (Phú Thọ),

tỷ lệ trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú mẹ hoàn toàn trong 24 giờ đầu là 23% ở Quãng Ngãi và 31% ở Phú Thọ [15] Nghiên cứu của Hạc Văn Vinh năm 2018 tại Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ bú mẹ trong 1 giờ đầu là 51,99%, bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 60,27% Có 45,54% trẻ uống sữa và thức uống khác ngay sau sinh, trong đó chủ yếu là uống sữa chiếm 84,08% [35]

Yếu tố độ tuổi cũng ảnh hưởng một phần đến việc NCBSM Theo nghiên cứu của Đặng Cẩm Tú năm 2017 trên 282 đối tượng ở thành phố Phú Lý – Hà Nam, Bảo Thắng – Lào Cai, Bố Trạch - Quảng Bình cho thấy phụ nữ dưới 25 tuổi có xu hướng cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu gấp 1,751 lần so với những

bà mẹ có độ tuổi từ 30 – 34 tuổi và 4,435 lần so với bà mẹ ở nhóm tuổi 40 – 45 tuổi [29] Về kiến thức của bà mẹ về việc cai sữa cho con thì cho thấy thời gian cai sữa mẹ sớm (từ 12 tháng trở xuống) có kiến thức chỉ bằng 0,446 lần bà mẹ cai sữa cho con từ 18 – 23 tháng tuổi [28] Một nghiên cứu khác về kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của tác giả Nguyễn Trần Ngọc Minh Thư năm

Trang 27

2016 tại xã Tân Thới, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ cho thấy tỷ lệ bà mẹ

có kiến thức đúng về NCBSM là 19%, có thái độ đúng là 85,1% nhưng thực hành đúng là 36,2% [30] Qua đó, có thể thấy yếu tố về tuổi và kiến thức sẽ ảnh hưởng khá quan trọng đến việc NCBSM hoàn toàn Do đó cần tác động đến kiến thức nhằm nâng cao kiến thức của bà mẹ về việc NCBSM

Qua các nghiên cứu về NCBSM ở các quốc gia trên thế giới thì cho chúng tôi thấy được lợi ích mang lại từ việc NCBSM đặc biệt cho sức khoẻ của bà mẹ và trẻ nhỏ Tuy nhiên tỷ lệ NCBSM hoàn toàn vẫn còn khá thấp, nên có nhiều quốc gia đặc biệt là Hoa Kỳ có những chính sách khuyến khích bà mẹ NCBSM hoàn toàn nhằm nâng cao tỷ lệ NCBSM và cải thiện tình trạng sức khoẻ cho mẹ và trẻ

Ở Việt Nam, tỷ lệ NCBSM hoàn toàn có sự chênh lệch giữa các dân tộc và vùng miền, nguyên nhân thường do yếu tố công việc và kiến thức của bà mẹ về NCBSM chưa được cao Vì vậy, cần phải xác định những yếu tố ảnh hưởng đến NCBSM nhằm can thiệp sớm và kịp thời góp phần nâng cao tỷ lệ NCBSM tại An Giang nói riêng và cả nước nói chung

* Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Huyện Chợ Mới thuộc tỉnh An Giang có diện tích 355,71km2, dân số 307.981 người, được bao bọc bởi sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Nao và rạch Cái Tàu Thượng và cù lao Giêng Chợ Mới có mật độ dân số 834 người/km2 đứng thứ 3 trong tỉnh sau thành phố Long Xuyên và thành phố Châu Đốc

Về địa giới hành chính: phía đông giáp với thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp; phía tây giáp với huyện Châu Thành, Châu Phú; phía tây bắc giáp với huyện Phú Tân; phía nam giới thành phố Long Xuyên; phía đông nam giáp với huyện Lấp

Vò, Đồng Tháp; phía bắc giáp với huyện Thanh Bình, Đồng Tháp Huyện Chợ Mới có 18 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc trong đó có 2 thị trấn: Chợ Mới,

Mỹ Luông và 16 xã: Kiến An, Kiến Thành, Long Giang, Mỹ Hội Đông, Nhơn

Mỹ, Long Điền A, Long Điền B, Long Kiến, An Thạnh Trung, Hòa Bình, Hòa

An, Mỹ An, Hội An, Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp, Bình Phước Xuân

Trang 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các bà mẹ và con từ 6 – 12 tháng tuổi sống tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang trong thời gian nghiên cứu từ tháng 5/2020 - 04/2021

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn mẫu

- Các bà mẹ có con từ 6 – 12 tháng tuổi thường trú tại huyện Chợ Mới hoặc tạm trú tại huyện Chợ Mới từ 6 tháng trở lên

- Con từ 6 – 12 tháng tuổi của các bà mẹ

- Bà mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Các bà mẹ của trẻ bị nhiễm HIV/AIDS, suy tim, lao phổi nặng hoặc bệnh gan đang tiến triển Các bà mẹ đang phải điều trị các thuốc chống ung thư, thuốc điều trị động kinh, tâm thần, thuốc gây nghiện [1]

- Các bà mẹ không trực tiếp nuôi con Các bà mẹ có con bị tật hở hàm ếch Các bà mẹ không thể trả lời phỏng vấn (câm điếc, bệnh tâm thần, loạn trí nhớ)

- Đến nhà 3 lần nhưng đều vắng mặt trong khoảng thời gian nghiên cứu

2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Thời gian thực hiện nghiên cứu từ tháng 5/2020 đến tháng 4/2021

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích

2.2.2 Cỡ mẫu

Công thức tính cỡ mẫu ước lượng tỷ lệ trong quần thể:

Trang 29

2 ) 1 (

)1

(

p p

Trong đó: n là cỡ mẫu nghiên cứu

Z là hệ số tin cậy với α = 0.05, suy ra Z=1,96

d là sai số cho phép, chọn d = 0,07

p là tỷ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Kim Nhang năm 2013 với tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 43,63% [21], nên chọn p = 0,44

Thay vào công thức tính được n = 193,18

Với hiệu lực thiết kế là 1,5 và trừ hao 10% do mất mẫu, cỡ mẫu nghiên cứu làm tròn là n = 309 bà mẹ Thực tế thu được 315 bà mẹ

Giai đoạn 3: Mỗi ấp chọn ngẫu nhiên 21 bà mẹ có con từ 6 tháng đến 12

tháng tuổi bằng cách lập danh sách các bà mẹ có con từ 6 tháng đến 12 tháng tuổi của mỗi ấp, sau đó chọn ngẫu nhiên bằng cách bốc thăm Trường hợp bà

mẹ được chọn không có mặt trong thời gian nghiên cứu thì chọn bà mẹ liền kề trong danh sách

2.2.4 Nội dung nghiên cứu

2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

* Thông tin chung của mẹ:

- Tuổi: là tuổi tròn của bà mẹ, được tính bằng cách lấy năm hiện tại trừ đi năm sinh (tính theo dương lịch) của đối tượng Được chia làm 3 nhóm:

n

Trang 30

+ Nhóm 20 tuổi trở xuống;

+ Nhóm 21 – 35 tuổi;

+ Nhóm từ 36 tuổi trở lên

- Dân tộc: có các giá trị gồm: Kinh, khác

- Trình độ học vấn: học vấn cao nhất của đối tượng cho đến thời điểm nghiên cứu, gồm 5 giá trị:

+ Không biết chữ;

+ Tiểu học: là từ lớp 1 đến lớp 5;

+ Trung học cơ sở: là từ lớp 6 đến lớp 9;

+ Trung học phổ thông: từ lớp 10 đến 12;

+ Trên trung học phổ thông

- Nghề nghiệp: là nghề tạo ra thu nhập chính trong vòng 1 năm qua hoặc công việc chiếm phần lớn thời gian trong ngày, có 3 nhóm:

+ Nhóm lao động chân tay: là những công việc con người sử dụng chân tay, cơ bắp là chủ yếu như nông dân, công nhân, nội trợ, làm thuê…

+ Nhóm lao động trí óc: là những công việc sử dụng trí óc là chủ yếu như: công nhân viên chức, công việc văn phòng

+ Nhóm khác bao gồm: Không có khả năng lao động (những người không thể lao động như người tàn tật) và thất nghiệp (những người không có công việc làm)

- Kinh tế gia đình: dựa theo mức thu nhập bình quân của gia đình Dựa theo xếp loại của địa phương dựa trên quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 [25], kinh tế gia đình có 2 giá trị với các giá trị:

+ Nghèo: có sổ hộ nghèo theo chuẩn nghèo được quy định giai đoạn 2016- 2020, nông thôn có mức thu nhập từ 700.000 đồng/người/tháng trở xuống hoặc ở thành thị có mức thu nhập từ 900.000 đồng/người/tháng trở xuống

Trang 31

+ Không nghèo: không thuộc các diện trên

* Thông tin chung của trẻ:

- Giới tính của trẻ: có hai giá trị: trai và gái

2.2.4.2 Xác định tỷ lệ, đặc điểm, và kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu

* Tỷ lệ, đặc điểm về nuôi con bằng sữa mẹ

- Cho trẻ bú sớm trong 1 giờ đầu là bà mẹ cho trẻ bú sữa của mẹ càng sớm càng tốt trong 1 giờ đầu sau khi sinh, với 2 giá trị:

+ Có cho trẻ bú mẹ sớm trong 1 giờ đầu;

+ Không cho trẻ bú mẹ sớm trong 1 giờ đầu

- Thời gian bà mẹ cho trẻ bú thêm sữa ngoài/thực phẩm có 3 giá trị: <4 tháng, 4 – 6 tháng, >6 tháng

- Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là việc bà mẹ có cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn, không cho ăn thêm bất cứ loại sữa gì, ngay cả nước cũng không cần cho uống khi trẻ dưới 6 tháng tuổi, với 2 giá trị:

+ Có cho trẻ bú mẹ hoàn toàn (trẻ không có uống sữa công thức, cháo, bột… trong 6 tháng đầu đời)

+ Không cho trẻ bú mẹ hoàn toàn (có sử dụng thêm các loại khác ngoài sữa mẹ như sữa công thức, cháo, bột… trong 6 tháng đầu đời)

Ghi chú: đối với trường hợp bà mẹ hút/vắt sữa của chính bà mẹ để cho trẻ uống mà không bổ sung thêm bất cứ loại sữa nào khác thì vẫn xem là trẻ được

bú sữa mẹ hoàn toàn

* Đặc điểm về nuôi con bằng sữa mẹ

• Mẹ

- Quy mô gia đình: là số thế hệ thành viên sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và hoặc quan hệ giáo dục, được chia làm hai giá trị:

Trang 32

+ Gia đình hạt nhân: chỉ có hai thế hệ sống trong cùng một mái nhà (bố

+ Không sống cùng chồng (độc thân, ly dị chồng, goá chồng…)

- Người quyết định việc NCBSM: là người có vai trò quyết định việc mẹ của trẻ có NCBSM hay bằng phương pháp khác, được chia làm ba giá trị:

- Phương pháp sinh: là cách mà bà mẹ sinh ra trẻ, có hai giá trị:

+ Sinh thường: là quá trình đẩy thai và các phần phụ của thai ra khỏi đường sinh dục của người mẹ bằng ngã âm đạo Có 2 hình thức là sinh tự nhiên

và sinh giúp (sử dụng kỹ thuật hỗ trợ: kẹp forcep, bầu giác)

+ Sinh mổ: là một phẫu thuật nhằm lấy thai nhi, nhau, màng ối bằng một vết mổ qua thành bụng và thành tử cung còn nguyên vẹn

- Số con: có các giá trị

+ Một con

+ Từ hai con trở lên

Trang 33

- Sự tiếp cận thông tin và các dịch vụ y tế của các bà mẹ:

+ Số lần đã khám thai: gồm các giá trị < 3 lần/thai kỳ, ≥ 3 lần/thai kỳ + Địa điểm khám thai: là địa điểm chính mà người phụ nữ khám thai chăm sóc sức khỏe trong quá trình mang thai của thai phụ, là biến định tính, với các giá trị: trạm y tế xã; bệnh viện; phòng khám tư nhân; khác (ngoài các địa điểm trên)

+ Nguồn thông tin về NCBSM là cách thức bà mẹ bổ sung kiến thức của mình về NCBSM, là biến định tính, với các giá trị: Cán bộ y tế, cộng tác viên dinh dưỡng; Bạn bè, người thân; Sách, báo, tài liệu truyền thông; Tivi; Loa truyền thanh của phường xã

- Những khó khăn bà mẹ gặp phải khi NCBSM: gồm các giá trị:

+ Đủ tháng: được tính khi thai tròn 37 tuần tuổi đến dưới 42 tuần tuổi + Thiếu tháng: được tính khi thai tròn 28 tuần tuổi đến dưới 37 tuần tuổi

Trang 34

- Cân nặng lúc sinh: số gram cân nặng của trẻ được nhân viên y tế cân lúc trẻ mới sinh ra, sau khi thu thập số liệu được chia làm hai nhóm:

+ Nhẹ cân: nếu trẻ sinh ra dưới 2500gram;

+ Đủ cân: trẻ sinh ra có cân nặng ≥2500gram

- Bệnh lúc sinh của trẻ: những dị tật bẩm sinh, bệnh của trẻ làm trẻ không

bú được sữa mẹ Trẻ sẽ được gửi đến phòng chăm sóc sơ sinh và có thể không

bú được sữa mẹ, gồm 2 giá trị:

+ Chưa đúng (0 điểm): khi trả lời sữa bò, sữa bột,…hoặc không biết

- Lợi ích của việc NCBSM: người được phỏng vấn đưa ra các lợi ích của việc cho trẻ bú mang lại, mỗi ý trả lời đúng là 1 điểm, bao gồm các ý sau:

+ Giúp tiết kiệm chi phí, thời gian (1 điểm);

+ Giúp bảo vệ sức khỏe bà mẹ (1 điểm);

+ Giúp trẻ chóng lớn, phát triển đầy đủ về thể lực và trí tuệ (1 điểm); + Gắn bó tình cảm mẹ con (1 điểm)

- Thời gian cho trẻ bú sau sinh là có lợi đối với trẻ:

+ Đúng (1 điểm) khi câu trả lời là trong vòng 1 giờ đầu sau sinh;

+ Chưa đúng (0 điểm): khi câu trả lời sau 1 giờ đầu sau sinh hoặc không biết

- Hiểu biết về NCBSM hoàn toàn:

+ Đúng (1 điểm) khi trả NCBSM hoàn toàn là chỉ cho trẻ bú sữa mẹ, không uống thêm bất cứ loại sữa gì khác, cũng như bất cứ thức ăn nào khác kể cả nước hoa quả, nước cháo, nước cơm…ngay cả nước cũng không cần cho uống;

+ Không đúng (0 điểm): khi trả lời cho trẻ bú thêm sữa ngoài hoặc không biết

Trang 35

- Biết về thời gian cần NCBSM hoàn toàn là số tháng mà trẻ cần được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ, không ăn hay uống thêm bất cứ gì khác:

+ Đúng (1 điểm) khi trả lời trong 6 tháng đầu;

+ Không đúng (0 điểm): khi trả lời khác hoặc không biết

- Biết về số lần cho trẻ bú trong ngày là số lần mà mẹ cho bé bú trong một ngày để đảm bảo đủ nhu cầu phát triển của bé:

+ Đúng (1 điểm): khi trả lời cho trẻ bú theo nhu cầu, khi trẻ đói, đòi bú; + Không đúng (0 điểm): khi trả lời khác hoặc không biết

- Phương pháp để có nhiều sữa cho con là đối tượng được phỏng vấn nêu các phương pháp để mẹ tăng cường nguồn sữa mẹ, đảm bảo nhu cầu của trẻ, mỗi ý đúng được 1 điểm, bao gồm các ý sau:

+ Ăn uống đầy đủ (mẹ không ăn kiêng, ăn đủ thức ăn cung cấp nhiều protein, đảm bảo đủ rau xanh và hoa quả và tránh các chất kích thích (1 điểm);

+ Mẹ ngủ đủ giấc (8h/ngày), vui vẻ tránh lo âu (1 điểm);

+ Hạn chế dùng thuốc (1 điểm)

- Đánh giá kiến thức chung về NCBSM bao gồm 2 giá trị đúng và không

đúng Kiến chung được đánh giá dựa theo tổng số điểm đạt được Tổng số điểm đánh giá về phần kiến thức cao nhất là 12 điểm, thấp nhất là 0 điểm

+ Kiến thức chung đúng: trả lời đúng 2/3 nội dung trở lên, tổng điểm đạt được ≥ 8 điểm

+ Kiến thức chung chưa đúng: trả lời đúng dưới 2/3 nội dung, tổng điểm đạt được < 8 điểm

2.2.4.3 Một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

* Yếu tố liên quan của bà mẹ

- Tuổi: < 21 tuổi; 21-35 tuổi; > 35 tuổi

- Trình độ học vấn: < THPT; ≥ THPT

- Dân tộc: Kinh; khác

Trang 36

- Nghề nghiệp: lao động trí óc; lao động chân tay; khác

- Kinh tế gia đình: Nghèo; không nghèo

- Tình trạng hôn nhân: sống cùng chồng, không sống cùng chồng

- Thời gian bà mẹ đi làm lại: < 6 tháng, ≥ 6 tháng trở lên

- Nơi sinh: cơ sở y tế công (TYT, bệnh viện), cơ sở y tế tư nhân (phòng khám tư); khác

- Khó khăn trong nuôi con bằng sữa mẹ: có; không

- Quy mô gia đình: gia đình hạt nhân; gia đình truyền thống

- Phương pháp sinh: sinh thường; sinh mổ

- Lý do không bú sữa mẹ: gồm các giá trị:

* Yếu tố liên quan của trẻ

- Giới tính trẻ: trai; gái

- Tuổi thai: đủ tháng; thiếu tháng

- Cân nặng lúc sinh: nhẹ cân, đủ cân

Trang 37

- Bệnh lúc sinh trẻ: có bệnh; không bệnh

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

- Bộ câu hỏi phỏng vấn soạn sẵn

2.2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu

- Liên hệ trạm y tế

- Chuẩn bị bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn

- Tổ chức hướng dẫn điều tra viên cách tiến hành điều tra, phương pháp phỏng vấn, thu thập thông tin, nội dung và yêu cầu của cuộc điều tra…

- Trước khi tiến hành thu thập thông tin, phỏng vấn viên giới thiệu về nghiên cứu cho đối tượng hiểu và chấp nhận tham gia nghiên cứu

- Tiến hành thu thập thông tin tại thực địa

2.2.6 Kỹ thuật hạn chế sai số

- Thiết kế bộ câu hỏi đúng mục tiêu, rõ ràng, dễ hiểu

- Tất cả các thành viên tham gia lấy số liệu đều được tập huấn trước và thống nhất cách phỏng vấn, cách ghi thông tin vào bộ câu hỏi Phiếu thu thập

số liệu đã được hiệu chỉnh qua 10 đối tượng nghiên cứu thử tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Giám sát chặt chẽ việc thu thập thông tin từ địa phương, thu thập thông tin đầy đủ, kiểm tra thông tin ngay sau khi phỏng vấn xong một đối tượng, kiểm tra lại các phiếu đã thu thập mỗi ngày

2.2.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

- Kiểm tra tính đầy đủ và chính xác các thông tin thu thập trong bộ câu hỏi

- Mã hóa bằng các thông tin thu thập được, nhập vào máy tính và phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 22.0 và phần mềm Microsoft Excel 2013

- Mô tả tần số, tỷ lệ các biến số

Trang 38

- Tính tỷ lệ NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu và tính các mối liên quan đến tình hình NCBSM Kết quả được thể hiện dưới dạng tần số, tỷ lệ phần trăm (%), tỷ số chênh (OR), khoảng tin cậy 95% (KTC 95%) của OR; hồi quy logistic đơn biến; kiểm định χ2 với mức ý nghĩa α=0,05 được lấy để xem xét

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p<0,05 Với các trường hợp số ô có giá trị

kỳ vọng nhỏ hơn 5 vượt quá 20%, kết quả được tiến hành hiệu chỉnh theo Fisher’s Exact Test Hồi quy logistic đa biến được sử dụng để loại bỏ các biến nhiễu không tham gia vào mô hình giải thích cho biến phụ thuộc, chọn những biến độc lập có liên quan đến biến phụ thuộc với p<0,1 để đưa vào mô hình và

sử dụng phương pháp Enter

2.3 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được Hội đồng Y đức Trường Đại học Y Dược Cần Thơ xét duyệt và thông qua, chịu sự giám sát, theo dõi trực tiếp của cán bộ hướng dẫn và tiến độ được báo cáo theo đúng định kỳ

Tất cả các đối tượng nghiên cứu sẽ được giải thích cụ thể về mục đích, nội dung của nghiên cứu để tự nguyện tham gia và hợp tác trong quá trình nghiên cứu Các đối tượng có quyền từ chối tham gia nghiên cứu hoặc có thể chấm dứt cuộc phỏng vấn bất cứ lúc nào Mọi thông tin của đối tượng đều được giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu không có bất cứ ảnh hưởng nào tới phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa, sức khỏe của địa phương

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Thông tin chung của bà mẹ

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm nhóm tuổi của bà mẹ Nhận xét: Có 81,3% bà mẹ có độ tuổi từ 21 – 35 tuổi, 11,7% bà mẹ có

độ tuổi >35 tuổi và 7% bà mẹ <21 tuổi

Bảng 3.1 Đặc điểm dân tộc của bà mẹ

256 (81,3)

37 (11,7)

Trang 40

Biểu đồ 3.2 Trình độ học vấn của bà mẹ Nhận xét: Qua nghiên cứu trên 315 bà mẹ có con từ 6 – 12 tháng tuổi

cho thấy có 35,9% bà mẹ có trình độ THCS, 25,7% bà mẹ có trình độ tiểu học

Nhận xét: Qua khảo sát trên 315 đối tượng nghiên cứu, nghề nghiệp chủ

yếu của các bà mẹ là lao động chân tay là 81,9% và mức sống hầu hết các bà

mẹ đều không nghèo là 94%

Ngày đăng: 15/03/2023, 22:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn An &amp; Nguyễn Thị Anh Phương (2008), Điều dưỡng nhi khoa - Sách đào tạo cử nhân điều dưỡng, NXB Y học, Trang 109-117 Khác
2. Bộ Y tế &amp; Viện dinh dưỡng (2012), Quyết định phê duyệt chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến 2030, Số 226/QĐ-TTg, Ngày 22/2/2012 Khác
3. Bộ Y tế (2016), Thông tư quy định một số biện pháp thúc đẩy việc nuôi con bằng sữa mẹ tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Số 38/2016/TT-BYT, ngày 31/10/2016 Khác
5. Trương Thị Phương Duyên (2017), Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và các yếu tố liên quan ở bà mẹ có con từ 6 tháng đến dưới 1 tuổi tại huyện Đông Hoà, tỉnh Phú Yên, Khoá luận tốt nghiệp Bác sĩ Y học dự phòng, Đại học Y dược TP.HCM Khác
6. Ka Hoạ (2017), Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu ở người Kơ-Ho và các yếu tố liên quan tại xã Đinh Lạc, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, Khoá luận tốt nghiệp cử nhân y tế công cộng, Đại học Y dược TP.HCM Khác
7. Phạm Văn Hưng (2018), Tỉ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và các yếu tố liên quan ở bà mẹ dân tộc Chăm tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận năm 2018, Khoá luận tốt nghiệp bác sĩ Y học dự phòng, Trường ĐHYD TP.HCM Khác
8. Nguyễn Kim Nhang (2013), Nghiên cứu tình hình nuôi con bằng sữa mẹ 6 tháng đầu của các bà mẹ có con từ 7-12 tháng tuổi và các yếu tố liên quan tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, Luận văn chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y dược Cần Thơ Khác
9. Cil SRưn (2018), Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và các yếu tố liên quan ở bà mẹ có con dưới 2 tuổi tại xã Tà Nung, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Khoá luận tốt nghiệp bác sĩ Y học dự phòng, Trường ĐHYD TP.HCM Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w