TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ HỒ THỊ THU TRANG NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN MỨC ĐỘ NẶNG CỦA RỐI LOẠN TỰ KỶ Ở TRẺ EM TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NINH KI
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Trẻ em rối loạn phổ tự kỷ đang can thiệp tại các trường mầm non, các trung tâm giáo dục đặc biệt thuộc Quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ năm 2020-
Trẻ em từ 18 đến 72 tháng tuổi bị rối loạn phổ tự kỷ đang được chăm sóc và can thiệp tại các trường mầm non và trung tâm giáo dục đặc biệt tại Quận Ninh Kiều Các trung tâm này cung cấp các phương pháp can thiệp phù hợp nhằm hỗ trợ sự phát triển toàn diện của trẻ tự kỷ trong môi trường giáo dục chuyên biệt Việc phát hiện sớm và can thiệp kịp thời đóng vai trò quan trọng giúp cải thiện khả năng giao tiếp và hành vi của trẻ tự kỷ, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của các em.
TP Cần Thơ năm 2020-2021 và người trực tiếp chăm sóc trẻ
- Đã được chẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ ở các cơ sở y tế trong hệ thống y tế trực thuộc Sở y tế, Bộ y tế cấp phép hoạt động
- Các trẻ rối loạn phổ tự kỷ có tổng điểm CARS < 30 và có biểu hiện đặc điểm các bệnh đồng nhiễm như tăng động, chậm phát triển trí tuệ, tâm thần phân liệt gây khó khăn trong quá trình thu mẫu
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 01/06/2020 đến hết ngày 30/03/2021
Phương pháp nghiên cứu
2.2 1 Thiết kế nghiên cứu: Cắt ngang mô tả có phân tích
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang
Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ:
Trong đó: n: là cỡ mẫu nghiên cứu cần có
: Mức ý nghĩa 0,05 ứng với KTC 95% d: là sai số cho phép, chọn d = 0,07
Z1-/2: là trị số tùy thuộc vào mức tin cậy mong muốn của ước lượng; mức tin cậy mong muốn là 95% thì Z1-/2 =1,96
Theo nghiên cứu của Nguyễn Tấn Đức (2018) trên 280 trẻ rối loạn phổ tự kỷ, tỷ lệ trẻ tự kỷ ở mức độ nặng là 0,6357 Dựa trên công thức tính cỡ mẫu, chúng tôi xác định cỡ mẫu là 182, nhưng để đảm bảo không bị thiếu hụt dữ liệu trong quá trình thu thập và xử lý, chúng tôi đã tăng thêm 10%, đưa cỡ mẫu nghiên cứu lên 200 Thực tế, chúng tôi đã thu thập được 217 mẫu phù hợp cho nghiên cứu.
Mẫu điều tra được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện qua 03 bước:
Để bắt đầu, cần lập danh sách các trường và trung tâm trên địa bàn quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ có trẻ em rối loạn phổ tự kỷ từ 18 đến 72 tháng tuổi đang theo học Hiện tại, quận Ninh Kiều có một trường mầm non (Trường mầm non Ngôi Sao) và hai trung tâm can thiệp giáo dục đặc biệt (Trung tâm VT-Care và Trung tâm Rồng Việt) đang tiếp nhận trẻ rối loạn phổ tự kỷ.
- Bước 2: Chọn ngẫu nhiên 01 trong 02 trung tâm giáo dục đặc biệt và
01 trường mầm non tiến hành nghiên cứu Kết quả chọn được Trung tâm VT- Care và Trường mầm non Ngôi Sao
Bước 3 trong quá trình nghiên cứu là tiến hành quan sát và phỏng vấn toàn bộ trẻ đã được chẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ tại trường mầm non Ngôi Sao và trung tâm VT-Care Quá trình này đảm bảo các tiêu chuẩn chọn mẫu và tập trung vào người trực tiếp chăm sóc trẻ, nhằm thu thập dữ liệu đầy đủ và chính xác Phương pháp này giúp nghiên cứu đạt đủ mẫu 200 trẻ, hỗ trợ đánh giá toàn diện về đặc điểm của trẻ tự kỷ trong môi trường giáo dục.
- Thực tế thu được 217 đối tượng thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu và được tiến hành đưa vào nghiên cứu
2.2.4.1 Đặc điểm chung của trẻ
- Giới: Có 2 giá trị là nam và nữ
- Tuổi tính tròn tháng theo dương lịch, bao gồm các nhóm:
2.2.4.2 Đặc điểm chung của người trực tiếp chăm sóc trẻ
Nghiên cứu người trực tiếp chăm sóc trẻ RLPTK nhằm xác định các yếu tố liên quan đến tiền sử sản khoa, chế độ dinh dưỡng và phương pháp chăm sóc hàng ngày ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ Các yếu tố này bao gồm cả mối quan hệ trong gia đình, vai trò của cha mẹ trong việc hỗ trợ và chăm sóc trẻ, cũng như tầm quan trọng của chế độ dinh dưỡng cân đối để đảm bảo sự phát triển toàn diện cho trẻ RLPTK Kết quả nghiên cứu giúp nâng cao nhận thức về những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ, từ đó đề xuất các giải pháp can thiệp phù hợp để hỗ trợ sự phát triển của trẻ trong giai đoạn quan trọng này.
- Giới tính: Có 2 giá trị là nam và nữ
- Tuổi là biến thứ bậc, lấy năm phỏng vấn trừ năm sinh, tuổi được chia thành 3 nhóm: Dưới 20 tuổi, từ 20 – 35 tuổi và từ 35 tuổi trở lên
- Quan hệ với trẻ là biến định danh bao gồm các giá trị là ông/bà; cha/mẹ; anh/chị; khác
- Dân tộc là biến định danh gốm có 4 giá trị xác định là Kinh, Hoa, Khmer, khác
- Trình độ học vấn là biến thứ bậc và được chia làm các nhóm:
+ Cấp I: từ lớp 1 đến hết lớp 5
+ Cấp II: Từ lớp 6 đến hết lớp 9
+ Cấp III: Từ lớp 10 đến hết lớp 12
+ Trung cấp, cao đẳng, ĐH, sau ĐH
- Nghề nghiệp là biến định danh, là công việc mang lại thu nhập cho gia đình, bao gồm: Làm ruộng; cán bộ công nhân viên; buôn bán; làm mướn; nội trợ; nghề khác
Kinh tế gia đình được phân chia theo quy định mới nhất của chính phủ thành các nhóm chính, bao gồm hộ nghèo (có sổ hộ nghèo hoặc cận nghèo) và hộ không nghèo Việc xác định biến thứ bậc này giúp chính phủ có các chính sách phù hợp để hỗ trợ các hộ dân cư có thu nhập thấp Phân loại rõ ràng theo quy định mới là yếu tố quan trọng trong chiến lược nâng cao mức sống và giảm nghèo bền vững.
2.2.4.3 Đánh giá, phân loại mức độ và các biểu hiện đặc trưng của rối loạn phổ tự kỷ của trẻ
* Thang đánh giá mức độ tự kỷ ở trẻ em (CARS) gồm 15 lĩnh vực: Đối với trẻ từ >12 tháng trở lên bao gồm các nội dung sau:
1 Quan hệ với mọi người
6 Thích nghi với sự thay đổi
9 Phản ứng qua vị giác và khứu giác
10 Sự sợ hãi hay hồi hộp
15 Ấn tượng chung về tự kỷ
Cách cho điểm: Mỗi lĩnh vực cho từ 1 đến 4 điểm
Nhận định: Từ 15 điểm đến 30 điểm: không tự kỷ
Từ 30,5 điểm đến 36,5 điểm: tự kỷ nhẹ và vừa
Từ 37 điểm đến 60 điểm: tự kỷ nặng”
* Đánh giá lại loại rối loạn tự kỷ theo DSM – IV
- Tương tác xã hội: Suy giảm chất lượng trong tương tác xã hội thể hiện ít nhất hai trong số các biểu hiện sau:
Việc giảm rõ rệt trong việc sử dụng hành vi phi ngôn ngữ đa dạng như ánh mắt, nét mặt, cử chỉ và điệu bộ đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa mối quan hệ xã hội Các hành vi phi ngôn ngữ này giúp giao tiếp hiệu quả hơn, xây dựng sự hiểu biết và kết nối giữa các cá nhân trong các tình huống xã hội Việc kiểm soát và sử dụng phù hợp các biểu hiện phi ngôn ngữ như mắt, nét mặt và cử chỉ còn góp phần nâng cao kỹ năng giao tiếp và thể hiện cảm xúc một cách rõ ràng, giúp tạo dựng môi trường xã hội tích cực.
+ Không tạo ra được các mối quan hệ cùng lứa tuổi phù hợp mức độ phát triển
Thiếu sự tìm kiếm tự phát để chia sẻ niềm vui, sở thích hoặc những thành quả của công việc với người khác là điều cần cải thiện Điều này thể hiện qua việc thiếu sự thể hiện, mang đến hoặc chia sẻ những điều mình thích, dẫn đến hạn chế khả năng kết nối và tạo dựng mối quan hệ xã hội Việc chủ động chia sẻ không chỉ giúp lan tỏa niềm vui mà còn thúc đẩy sự phát triển cá nhân và mở rộng mạng lưới xã hội của bạn.
+ Thiếu đi sự trao đổi qua lại về tình cảm hoặc xã hội
- Ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp xã hội: Suy giảm chất lượng về giao tiếp thể hiện ở ít nhất một trong số các biểu hiện sau:
+ Chậm hoặc hoàn toàn không phát triển kỹ năng nói (không cố gắng bù đắp hạn chế này bằng giao tiếp cách khác như cử chỉ hoặc điệu bộ)
+ Với những trẻ nói được thì lại suy giảm rõ rệt khả năng khởi đầu hoặc duy trì hội thoại
Trẻ em cần được khích lệ tham gia vào các hoạt động đa dạng như đóng vai, chơi giả vờ và bắt chước các hành vi xã hội phù hợp với mức độ phát triển của bản thân Việc sử dụng ngôn ngữ rập khuôn hoặc lặp đi lặp lại sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng giao tiếp và phát triển ngôn ngữ của trẻ Đồng thời, thiếu các hoạt động phong phú và trò chơi đa dạng có thể làm giảm khả năng sáng tạo, kỹ năng xã hội và khả năng thích nghi của trẻ trong cuộc sống hàng ngày Vì vậy, việc khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động vận động, chơi xã hội và sáng tạo là điều cần thiết để hỗ trợ sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ.
Chơi mang tính biểu tượng hoặc tưởng tượng thể hiện qua các hành vi, hoạt động và sở thích bị thu hẹp, lặp lại, mang tính rập khuôn Những biểu hiện này bao gồm sự giới hạn trong cách chơi, ít sáng tạo và thiếu đa dạng trong hoạt động giải trí Trẻ thường thể hiện các hoạt động mang tính giả tưởng hoặc biểu tượng như đóng vai, mô phỏng theo các đối tượng, nhưng các hành vi này có thể trở nên cứng nhắc và thiếu linh hoạt nếu bị hạn chế Việc nhận biết các dấu hiệu này giúp cha mẹ và giáo viên có những phương pháp hỗ trợ phù hợp để khuyến khích sự phát triển toàn diện của trẻ.
+ Quá bận tâm tới một hoặc một số những mối quan hệ có tính rập khuôn và sự thu hẹp với sự tập trung hoặc cường độ bất thường
+ Gắn kết cứng nhắc với những thói quen hoặc nghi thức đặc biệt không mang tính chức năng
+ Có những vận động mang tính rập khuôn, lặp lại (ví dụ: vỗ tay, múa ngón tay hoặc lắc lư đung đưa toàn thân…)
+ Bận tâm dai dẳng với các chi tiết của đồ vật hơn là tổng thể
* Những biểu hiện đặc trưng của trẻ RLTK trong 03 lĩnh vực
- Khiếm khuyết về chất lượng quan hệ xã hội: có ít nhất 02 dấu hiệu + Khiếm khuyết hành vi không lời
Không giao tiếp bằng mắt khi được gọi hỏi
Không chỉ tay vào vật mà trẻ thích
Không kéo tay người khác để yêu cầu
Không biết xòe tay xin/ khoanh tay ạ
Không biết lắc đầu gật đầu khi đồng tình hoặc phản đối
Không biết biểu hiện nét mặt khi đồng ý/ không đồng ý
+ Kém phát triển mối quan hệ bạn hữu, tương tác với lứa tuổi
Không chơi khi trẻ khác rủ
Không chủ động rủ trẻ khác chơi
Không chơi cùng một nhóm trẻ
Không biết tuân theo luật chơi
+ Thiếu chia sẽ quan tâm thích thú
Không biết khoe khi được cho đồ vật đồ ăn
Không biết khoe đồ vật mình thích
Không biểu hiện nét mặt thích thú khi được cho
+ Thiếu quan hệ xã hội hoặc thể hiện tình cảm
Không thể hiện vui khi bố mẹ về
Không âu yếm với bố mẹ
Không nhận biết được sự có mặt của người khác
Không quay đầu lại khi được gọi tên
Không thể hiện vui buồn
Tình cảm bất thường khi không đồng ý
- Khiếm khuyết về chất lượng giao tiếp: có ít nhất 01 dấu hiệu
+ Chậm/ không phát triển kỹ năng nói so với tuổi
Không tự gọi đối tượng giao tiếp
Không tự thể hiện nội dung giao tiếp
Không duy trì hội thoại bằng lời
Không biết nhận xét, bình luận đẹp/ xấu
Không biết đặt câu hỏi
+ Sử dụng ngôn ngữ trùng lập, rập khuôn
Phát ra 01 chuổi âm thanh khác thường
Phát ra 01 số từ lặp đi lặp lại
Nói 01 câu cho mọi tình huống
Nhại lại lời nói người khác
+ Thiếu kỹ năng chơi đa dạng giả vờ, bắt chước
Không biết chơi với đồ chơi
Chơi với đồ chơi 01 cách bất thường: mút, ngửi, liếm, nhìn…
Ném, gặm, đập đồ chơi
Không biết chơi giả vờ
Không biết bắt chước hành động
Không biết bắt chước âm thanh
- Khiếm khuyết về các hành vi bất thường: có ít nhất 01 dấu hiệu
+ Bận tâm bao trùm, thích thú mang tính định hình bất thường cả về cường độ và độ tập trung
Thích duy nhất 01 đồ chơi/ đồ vật
Thích mùi vị thay vi tổng thể
Thích sờ vào bề mặt
+ Bị cuốn hút không cưởng lại được bằng các cử động, nghi thức
Bị hút vào 01 đồ chơi/ đồ vật
Mê mẫn với thao tác đồ dùng trong nhà/ trường học
Say sưa quay bánh ô tô, xe đạp, xe máy, đồ vật
+ Cử động chân tay lặp lại hoặc rập khuôn
Thích đung đưa thân mình, chân tay
Thích đi nhón trên mũi chân
Thích vê soắn vặn tay chân, đập tay…
Nghiện xoay tay, ngắm tay
+ Bận tâm dai dẳng với những chi tiết của vật
Mê mẫn 01 phần nào đó của đồ chơi thay vì tổng thể
2.2.4.4 Một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng rối loạn phổ tự kỷ của trẻ
* Yếu tố cá nhân liên quan đến rối loạn tự kỷ ở trẻ
- BMI của trẻ được tính dựa theo tuổi và giới ta có: chỉ số BMI = cân nặng/(chiều cao) 2 của Bộ y tế, chia làm 02 nhóm:
+ Bất thường (thừa cân béo phì và suy dinh dưỡng)
- Tần suất bệnh của trẻ trong thời gian khảo sát: gồm các giá trị
- Trẻ ngủ trung bình bao nhiêu giờ mỗi ngày
+ 10 – 12 giờ/ngày (theo khuyến cáo y tế)
- Tiền sử cân nặng lúc sanh của trẻ tính theo định nghĩa của Bộ y tế gồm: + Nhẹ cân (≤ 2500 gram)
* Yếu tố gia đình liên quan đến rối loạn tự kỷ ở trẻ
- Thời gian gia đình dành cho bé
- Số anh/chị/em trong gia đình của trẻ
+ Từ hai anh/chị/em trở lên
- Tiền sử sanh con của mẹ tính theo khuyến cáo Bộ y tế
- Tiền sử tiếp xúc thuốc lá trong quá trình mẹ mang thai: Có 2 giá trị có, không
- Mẹ có bệnh kèm theo hoặc điều trị bệnh trong thời gian thai sản: Có 2 giá trị có (ghi rõ), không
- Sống chung với người nghiện rượu, ma túy, chất kích thích khác: Có 2 giá trị có, không
* Yếu tố di truyền liên quan đến rối loạn tự kỷ ở trẻ
- Gia đình có người tâm thần phân liệt: Có 2 giá trị có, không
- Gia đình từng có trẻ (là anh/chị/em ruột với bé) bị tự kỷ: Có 2 giá trị có, không
* Yếu tố công nghệ liên quan đến mức độ rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ [100]
- Bé có/không có tiếp xúc trong đời sống
-Thời gian tiếp xúc công nghệ [33]
* Yếu tố xã hội liên quan đến rối loạn tự kỷ ở trẻ
- Bé có/không có tiếp xúc các bé khác xung quanh
- Thời gian bé tiếp xúc các bé khác xung quanh
2.2.5 Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu
2.2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn soạn sẵn
2.2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp quan sát trẻ
Phỏng vấn trực tiếp đối với người trực tiếp chăm sóc trẻ RLPTK theo bộ câu hỏi
2.2.6 Phương pháp hạn chế sai số, xử lý và phân tích số liệu
2.2.6.1 Phương pháp hạn chế sai số
- Thiết kế bộ câu hỏi đúng mục tiêu, rõ ràng dễ hiểu, phù hợp với nội dung nghiên cứu
- Tất cả các thành viên tham gia lấy số liệu đều được tập huấn trước và thống nhất cách thức phỏng vấn
Việc giám sát chặt chẽ quá trình thu thập thông tin từ thực địa là cực kỳ quan trọng để đảm bảo độ chính xác và đầy đủ của dữ liệu Cần thu thập thông tin một cách cẩn thận, kiểm tra ngay sau mỗi buổi phỏng vấn để xác nhận tính xác thực của dữ liệu Đồng thời, việc kiểm tra lại các phiếu đã thu thập hàng ngày giúp phát hiện kịp thời những sai sót hoặc thiếu sót, nâng cao chất lượng thông tin cho quá trình phân tích và đưa ra quyết định.
- Tiến hành phòng vấn thử và bổ sung nội dung nghiên cứu sau khi phát hiện thiếu sót nội dung trong bộ câu hỏi phỏng vấn mẫu
- Rà soát lại trẻ sau can thiệp không còn biểu hiện RLPTK nữa thì không đưa vào nghiên cứu
2.2.6.2 Hạn chế của đề tài
- Đây là một vấn đề nhậy cảm liên quan giữa gia đình và sức khỏe tâm thần của trẻ nên rất khó khai thác thông tin
- Ít trường mầm non và cơ sở giáo dục tư nhân có chương trình giáo dục đặc biệt nên số lượng mẫu có hạn
Việc thu thập thông tin y tế phụ thuộc vào các chẩn đoán của bác sĩ và cơ sở điều trị, do đó có thể xảy ra sai lệch do các bệnh đồng nhiễm gây nhiễu dữ liệu, ảnh hưởng đến độ chính xác của thông tin chẩn đoán và điều trị.
Các trẻ tham gia can thiệp đều gặp phải rối loạn phi tuyến tính của khả năng tư duy, do đó các yếu tố liên quan đến nhóm trẻ này tương đối giống nhau Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng cần được thực hiện thông qua các nghiên cứu chuyên sâu hơn, như nghiên cứu bệnh chứng, để đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy trong thống kê và phân tích dữ liệu.
2.2.6.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Trước khi nhập dữ liệu vào máy tính, cần làm sạch bộ số liệu bằng phương pháp thủ công bằng cách kiểm tra kỹ lưỡng tất cả các câu hỏi đã được phỏng vấn Dữ liệu sau đó được mã hóa chính xác và nhập vào phần mềm SPSS phiên bản 20.0 để phân tích, đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
Thông tin được trình bày dưới dạng bảng hoặc biểu đồ, thể hiện bằng tần số (n), tỷ lệ phần trăm (%), tỷ số chênh (OR), và khoảng tin cậy 95% của OR Để phân tích các yếu tố liên quan, sử dụng kiểm định chi bình phương (χ2), với mức ý nghĩa α=0,05 để xác định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.
2.3 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Đạo đức trong nghiên cứu
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm giới và tuổi của trẻ
Nhận xét: Giới tính nam chiếm tỷ lệ đa số với 67,3%, tỷ lệ trẻ nữ chiếm
32,7%; tỷ lệ trẻ 37-48 tháng tuổi chiếm cao nhất 31,8%, 49 – 60 tháng tuổi chiếm tỷ lệ 20,3%, ≤ 36 tháng tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất 18% và 61 – 72 tháng tuổi chiếm tỷ lệ 30,0%
Bảng 3.2 Đặc điểm BMI của trẻ
Tỷ lệ trẻ có chỉ số BMI bình thường chiếm đến 75,6%, là mức cao nhất trong các nhóm Trong khi đó, tỷ lệ trẻ bị thừa cân, béo phì và suy dinh dưỡng chiếm tổng cộng 23,4%, cho thấy còn một tỷ lệ đáng kể trẻ em gặp vấn đề về chiều cao và cân nặng Đặc điểm của trẻ được thống kê với tần số và tỷ lệ phần trăm rõ ràng, góp phần đánh giá tổng quan về tình hình dinh dưỡng trẻ trong cộng đồng.
BMI Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Suy dinh dưỡng và thừa cân béo phì 53 24,4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm giới và tuổi của trẻ
Nhận xét: Giới tính nam chiếm tỷ lệ đa số với 67,3%, tỷ lệ trẻ nữ chiếm
32,7%; tỷ lệ trẻ 37-48 tháng tuổi chiếm cao nhất 31,8%, 49 – 60 tháng tuổi chiếm tỷ lệ 20,3%, ≤ 36 tháng tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất 18% và 61 – 72 tháng tuổi chiếm tỷ lệ 30,0%
Bảng 3.2 Đặc điểm BMI của trẻ
Tỷ lệ trẻ có BMI bình thường chiếm tới 75,6%, là mức cao nhất trong các nhóm, phản ánh sức khỏe dinh dưỡng ổn định của trẻ Trong khi đó, tỷ lệ trẻ bị thừa cân béo phì và suy dinh dưỡng chiếm 23,4%, cho thấy vẫn còn tồn tại các vấn đề về dinh dưỡng ở một số trẻ em Các đặc điểm của trẻ được phân tích dựa trên tần số và tỷ lệ phần trăm, giúp đánh giá rõ hơn về tình hình dinh dưỡng của nhóm trẻ trong cộng đồng.
BMI Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Suy dinh dưỡng và thừa cân béo phì 53 24,4
Bảng 3.3 Đặc điểm về tần suất bệnh, thời gian ngủ của trẻ
Nhận xét: Với tỷ lệ 65,4% cao nhất trẻ bệnh ≤ 3 lần/năm, thời gian ngủ
< 10 giờ/ngày chiếm tỷ lệ 74,7%
Bảng 3.4 Đặc điểm tiền sử cân nặng sơ sinh, thứ tự của trẻ trong gia đình
Tỷ lệ trẻ em trong cộng đồng đạt tiêu chuẩn là 81,1%, cho thấy mức độ phát triển bình thường của trẻ Trong các gia đình, có 38,7% chỉ có một con nhỏ, trong khi đó, 51,6% gia đình có hai con, phản ánh tỷ lệ gia đình đa dạng về số lượng trẻ Các đặc điểm của trẻ em, bao gồm tần số các yếu tố liên quan, đều góp phần làm rõ cấu trúc dân số và ảnh hưởng tới các chính sách phát triển trẻ em trong cộng đồng.
Tần suất bệnh của trẻ
Thời gian ngủ của trẻ
> 12 giờ/ngày 12 5,5 Đặc điểm của trẻ Tần số
Số con trong gia đình
Thứ tự bé trong gia đình
3.1.2 Đặc điểm người chăm sóc
Bảng 3.5 Đặc điểm chung của người trực tiếp chăm sóc trẻ
Phần lớn người chăm sóc là nữ, chiếm tỷ lệ 70%, với độ tuổi từ 20 đến 35 chiếm 54,8% Không có đối tượng nào trong nhóm dưới 20 tuổi, và dân tộc Kinh chiếm đa số với tỷ lệ 92,2% Người chăm sóc có trình độ cao đẳng, đại học chiếm 66,4%, trong khi tỷ lệ người có trình độ dưới Cấp 1 là 2,7% Các đối tượng chủ yếu gồm CBCCVC chiếm 34,1% và buôn bán chiếm 31,8% Hơn 94% người chăm sóc thuộc nhóm có kinh tế không nghèo, cho thấy mức độ kinh tế ổn định của họ.
Kinh tế gia đình Nghèo 13 6,0
Mức độ và các biểu hiện đặc trưng của trẻ rối loạn phổ tự kỷ
3.2.1 Mức độ rối loạn phổ tự kỷ
Bảng 3.6: Mức độ các lĩnh vực của thang đo CARS
STT Nội dung Điểm trung bình
1 Quan hệ với mọi người 2,8±0,71
6 Thích nghi với sự thay đổi 2,7±0,70
9 Phản ứng qua vị giác và khứu giác 2,6±0,76
10 Sự sợ hãi hay hồi hộp 2,8±0,68
15 Ấn tượng chung về tự kỷ 3,0±0,70
Nhận xét: Điểm trung bình tổng 15 lĩnh vực của thang đo CARS đạt
Điểm trung bình chung của trẻ là 42,4 điểm, với điểm số dao động từ 2,6 đến 3,1 trong các lĩnh vực khác nhau Trẻ hạn chế mức độ nặng trong giao tiếp bằng lời và không lời khi có điểm trên 3,1 Các lĩnh vực bắt chước, đáp ứng tình cảm, mức độ hoạt động và trí tuệ đều đạt mức trung bình khoảng 2,9 điểm Tổng thể, lĩnh vực ấn tượng chung về tự kỷ của trẻ đạt 3.0 điểm, phản ánh các đặc điểm nổi bật của trẻ trong phạm vi các kỹ năng xã hội và nhận thức.
Biểu đồ 3.1 Mức độ rối loạn phổ tự kỷ của trẻ theo CARS
Nhận xét: trẻ rối loạn phổ tự kỷ mức độ nặng chiếm 74,7%
Biểu đồ 3.2 Mức độ khiếm khuyết về quan hệ tương tác với mọi người Nhận xét: Trẻ giảm giao tiếp bằng cử chỉ, điệu bộ chiếm tỷ lệ 81,6% cao nhất, kế đến là 75,1% trẻ không chia sẽ đồ chơi, thấp nhất là 74,2% gồm biểu hiện chơi một mình và không biết khoe vật mình thích
RLPTK nhẹ và vừa RLPTK nặng
Giảm giao tiếp cử chỉ điệu bộ
Chơi một mình Không biết khoe vật mình thích
Không chia sẽ đồ chơi
Biểu đồ 3.3 cho thấy mức độ khiếm khuyết về khả năng ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ em Theo đó, có đến 71,4% trẻ không biết chơi giả vờ, phản ánh hạn chế trong khả năng sáng tạo và tương tác xã hội Ngoài ra, 36,9% trẻ không có khả năng giao tiếp với mọi người, cho thấy cần thiết phải thúc đẩy các hoạt động phát triển ngôn ngữ và kỹ năng xã hội để nâng cao khả năng giao tiếp của trẻ.
Biểu đồ 3.4 Mức độ biểu hiện các hành vi, các mối quan tâm bất thường Nhận xét: Tỷ lệ 60,4% trẻ có biểu hiện hành vi bất thường lặp đi, lặp lại chiếm đa số
Trẻ không giao tiếp với mọi người
Trẻ không bắt chuyện với mọi người
Trẻ không đáp lại câu hỏi của mọi người
Trẻ lặp lại một số từ bất thường
Trẻ không biết chơi giả vờ
Trẻ cứng nhắc một món đồ, một người ưa thích
Trẻ biểu hiện hành vi bất thường lặp đi, lặp lại
Trẻ nhắc đến 01 điều bất thường trong thời gian dài
3.2.2 Những biểu hiện đặc trưng của trẻ rối loạn phổ tự kỷ
3.2.2.1 Khiếm khuyết về chất lượng quan hệ xã hội
Bảng 3.7 Khiếm khuyết hành vi không lời
Khiếm khuyết hành vi không lời Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Không giao tiếp bằng mắt khi được gọi hỏi 151 69,6
Không chỉ tay vào vật mà trẻ thích 119 54,8
Không kéo tay người khác để yêu cầu 88 40,6
Không biết xòe tay xin/ khoanh tay ạ 117 53,9
Không biết lắc đầu, gật đầu khi đồng tình hoặc phản đối 144 66,4
Không biết biểu hiện nét mặt khi đồng ý/ không đồng ý 133 61,3
Không chào hỏi bằng điệu bộ 120 55,3
Kết quả cho thấy có tỷ lệ cao đến 69,6% không thực hiện giao tiếp bằng mắt khi được hỏi, cho thấy hạn chế trong kỹ năng giao tiếp mắt của người được khảo sát Ngoài ra, 66,4% không biết lắc đầu hoặc gật đầu để thể hiện đồng tình hoặc phản đối, phản ánh nhu cầu nâng cao khả năng giao tiếp phi verbal Trong khi đó, tỷ lệ không kéo tay người khác để yêu cầu chỉ chiếm 40,6%, cho thấy đây là kỹ năng ít phổ biến hơn trong cộng đồng.
Bảng 3.8 Kém phát triển mối quan hệ bạn hữu, tương tác với lứa tuổi Kém phát triển mối quan hệ bạn bè Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Không chơi khi trẻ khác rủ 132 60,8
Không chủ động rủ trẻ khác chơi 148 68,2
Không chơi cùng một nhóm trẻ 127 58,5
Không biết tuân theo luật chơi 148 68,2
Theo nhận xét, tỷ lệ trẻ không chủ động rủ chơi cùng bạn bè chiếm đến 68,2%, cho thấy trẻ còn thụ động trong các hoạt động vui chơi Ngoài ra, có đến 60,8% trẻ không tham gia chơi khi được mời, phản ánh khả năng hạn chế trong việc hòa nhập và hợp tác Trong khi đó, tỷ lệ trẻ không chơi cùng một nhóm bạn chiếm 58,5%, cho thấy sự thiếu gắn kết và phối hợp nhóm trong quá trình vui chơi của trẻ.
Bảng 3.9 Thiếu chia sẽ quan tâm thích thú
Thiếu chia sẽ quan tâm thích thú Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Không biết khoe khi được cho đồ vật 142 65,4
Không biết khoe đồ vật mình thích 138 63,6
Không biểu hiện nét mặt thích thú 116 53,5
Nhận xét: Không biết khoe khi được cho đồ vật chiếm tỷ lệ cao nhất
65,4%; thấp nhất là không biểu hiện nét mặt thích thú với 53,5%
Bảng 3.10 Thiếu quan hệ xã hội hoặc thể hiện tình cảm
Thiếu quan hệ xã hội/ thể hiện tình cảm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Không thể hiện vui khi bố mẹ về 89 41,0
Không âu yếm với bố mẹ 80 36,9
Không nhận biết được sự có mặt của người khác 115 53,0
Không quay đầu lại khi được gọi tên 110 50,7
Không thể hiện vui buồn 118 54,4
Tình cảm bất thường khi không đồng ý 149 68,7
Nhận xét: Trẻ có tình cảm bất thường khi không đồng ý chiếm cao nhất với 68,7%, thấp nhất là không âu yếm với bố mẹ với 36,9%
Bảng 3.11 Khiếm khuyết về chất lượng quan hệ xã hội
Khiếm khuyết về chất lượng quan hệ xã hội
Có biểu hiện khiếm khuyết 215 99,1
Không biểu hiện khiếm khuyết 2 0,9
Nhận xét: Trẻ khiếm khuyết chất lượng quan hệ xã hội chiếm 99,1%
3.2.2.2 Khiếm khuyết về chất lượng giao tiếp
Bảng 3.12 Chậm/ không phát triển kỹ năng nói so với tuổi
Chậm/ không phát triển kỹ năng nói so với tuổi
Không tự gọi đối tượng giao tiếp 142 65,4
Không tự thể hiện nội dung giao tiếp 156 71,9
Không duy trì hội thoại bằng lời 152 70,0
Không biết nhận xét, bình luận đẹp/ xấu 158 72,8
Không biết đặt câu hỏi 149 68,7
Trẻ em thường gặp khó khăn trong việc nhận xét và bình luận về nội dung giao tiếp, với tỷ lệ không biết nhận xét đạt 72,8% Ngoài ra, phần lớn trẻ không tự thể hiện nội dung giao tiếp cá nhân, chiếm đến 71,9% Trong khi đó, tỷ lệ trẻ không tự gọi đối tượng giao tiếp thấp hơn, chỉ đạt 65,4%, cho thấy mức độ chủ động trong giao tiếp của trẻ còn nhiều hạn chế.
Bảng 3.13 Sử dụng ngôn ngữ trùng lập, rập khuôn
Sử dụng ngôn ngữ trùng lập, rập khuôn Tần số
Phát ra 01 chuổi âm thanh khác thường 135 62,2
Phát ra 01 số từ lặp đi lặp lại 123 56,7
Nói 01 câu cho mọi tình huống 66 30,4
Nhại lại lời nói người khác 94 43,3
Nhại lại lời người khác khi vừa nghe thấy 91 41,9
Nhận xét: Trẻ phát ra 01 chuổi âm thanh khác thường chiếm tỷ lệ 62,2% cao nhất; kế đến là tỷ lệ tẻ Phát ra 01 số từ lặp đi lặp lại chiếm 56,7%; Nhại lại lời nói người khác chiếm 43,3%; thấp nhất là tỷ lệ trẻ nói 01 câu cho mọi tình huống chiếm 30,4%
Bảng 3.14 Thiếu kỹ năng chơi đa dạng giả vờ, bắt chước
Thiếu kỹ năng chơi đa dạng giả vờ, bắt chước
Không biết chơi với đồ chơi 89 41,0
Chơi với đồ chơi 01 cách bất thường 94 43,3
Ném, gặm, đập đồ chơi 99 45,6
Không biết chơi giả vờ 106 48,8
Không biết bắt chước hành động 111 51,2
Không biết bắt chước âm thanh 112 51,6
Nhận xét: Trẻ không biết bắt chước âm thanh chiếm 51,6%; Không biết bắt chước hành động chiếm 51,2%
Bảng 3.15 Khiếm khuyết về chất lượng giao tiếp
Khiếm khuyết về chất lượng giao tiếp Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Có biểu hiện khiếm khuyết 216 99,5
Không biểu hiện khiếm khuyết 1 0,5
Nhận xét: Tỷ lệ khiếm khuyết về chất lượng giao tiếp là 99,5%
3.2.2.3 Khiếm khuyết về các hành vi bất thường
Bảng 3.16 Bận tâm bao trùm, thích thú mang tính định hình bất thường cả về cường độ và độ tập trung
Bận tâm bao trùm, thích thú mang tính định hình bất thường cả về cường độ và độ tập trung
Thích duy nhất 01 đồ chơi/ đồ vật 84 38,7
Thích mùi vị thay vì tổng thể 80 36,9
Thích sờ vào bề mặt 100 46,1
Nhận xét: Đa số trẻ thích sờ vào bề mặt tỷ lệ 46,1%
Bảng 3.17 Bị cuốn hút không cưởng lại được bằng các cử động, nghi thức
Bị cuốn hút không cưởng lại được bằng các cử động, nghi thức
Bị hút vào 01 đồ chơi/ đồ vật 103 47,5
Mê mẫn với thao tác đồ dùng trong nhà/ trường học 98 45,2
Say sưa quay bánh ô tô, xe đạp, đồ vật… 78 35,9
Nhận xét: Với tỷ lệ 47,5% trẻ bị hút vào 01 đồ chơi/ đồ vật chiếm cao nhất; Say sưa quay bánh ô tô, xe đạp, đồ vật… chiếm thấp nhất vơi 35,9%
Bảng 3.18 Cử động chân tay lặp lại hoặc rập khuôn
Cử động chân tay lặp lại hoặc rập khuôn Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Thích đung đưa thân mình, chân tay 90 41,5
Thích đi nhón trên mũi chân 76 35,0
Thích vê soắn vặn tay chân, đập tay… 66 30,4
Nghiện soi tay, ngắm tay 57 26,3
Nhận xét: Trẻ Tthích đung đưa thân mình, chân tay chiếm tỷ lệ cao nhất với 41,5%; thấp nhất là nghiện soi tay, ngắm tay chiếm 26,3%
Bảng 3.19 Bận tâm dai dẳng với những chi tiết của vật
Bận tâm dai dẳng với những chi tiết của vật
Mê mẫn 01 phần nào đó của đồ chơi thay vì tổng thể 78 35,9
Nhận xét: Trẻ nghiên cứu đồ chơi chiếm tỷ lệ 41,0%; trẻ mê mẫn 01 phần nào đó của đồ chơi thay vì tổng thể chiếm 35,9%
Bảng 3.20 Khiếm khuyết về các hành vi bất thường
Khiếm khuyết về các hành vi bất thường Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Có biểu hiện khiếm khuyết 208 95,9
Không biểu hiện khiếm khuyết 9 4,1
Nhận xét: Khuyết về các hành vi bất thường chiếm tỷ lệ 95,9%
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng mức độ rối loạn phổ tự kỷ nặng của trẻ 3.3.1 Yếu tố cá nhân của trẻ
Bảng 3.21 Liên quan giữa giới tính, BMI, thời gian ngủ của trẻ và rối loạn phổ tự kỷ
Yếu tố cá nhân trẻ
RLPTK nhẹ và vừa OR
Thời gian ngủ của trẻ/ngày
Trẻ nam có mức độ biểu hiện RLPTK nặng cao gấp 1,244 lần so với trẻ nữ, cho thấy sự khác biệt đáng chú ý về giới tính trong biểu hiện của vấn đề này Các trẻ có BMI bất thường chiếm tỷ lệ 92,9% trong số những trẻ biểu hiện RLPTK nặng, cao hơn đáng kể so với nhóm trẻ có BMI bình thường, cho thấy mối liên hệ giữa tình trạng BMI và mức độ nặng của RLPTK Trẻ ngủ ít hơn 10 giờ mỗi ngày có biểu hiện RLPTK nặng cao hơn 1,294 lần so với những trẻ ngủ đủ giấc, tuy nhiên, các yếu tố này chưa đạt ý nghĩa thống kê với p>0,05.
Bảng 3.22 Liên quan giữa yếu tố cá nhân của trẻ và rối loạn phổ tự kỷ
Yếu tố cá nhân trẻ
RLPTK nhẹ và vừa OR
Tần suất bệnh của trẻ/năm
Cân nặng lúc sinh của trẻ
Bé là con duy nhất trong gia đình
Bé là con duy nhất 66 78,6 18 21,4
≥ 2 con 96 72,2 37 27,8 Độ tuổi bé biết nói
Trẻ mắc bệnh ≤ 5 lần/năm có nguy cơ RLPTK nặng thấp hơn so với trẻ mắc bệnh > 5 lần/năm, cho thấy tần suất mắc bệnh ảnh hưởng đến mức độ nặng của RLPTK Trẻ có CNSS bất thường có khả năng biểu hiện RLPTK nặng cao gấp 1,056 lần so với trẻ có CNSS bình thường, trong khi trẻ là con duy nhất có biểu hiện RLPTK nặng cao gấp 1,413 lần so với các trẻ khác Ngoài ra, trẻ biết nói trước 2 tuổi giảm khả năng biểu hiện RLPTK nặng đến 91,5% so với những trẻ biết nói sau 24 tháng Tuy nhiên, các yếu tố này đều không có ý nghĩa thống kê với p>0,05, cho thấy chưa xác lập được mối liên hệ rõ ràng giữa các yếu tố này và mức độ nặng của RLPTK.
Bảng 3.23 Yếu tố gia đình ảnh hưởng rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ
RLPTK nhẹ và vừa OR
Thời gian gia đình dành cho bé
Tiền sử sanh con của mẹ Đủ tháng 144 74,0 40 26,0
Mẹ tiếp xúc thuốc lá trong quá trình mang thai
Mẹ có bệnh kèm theo hoặc điều trị bệnh trong thời gian thai sản
Sống chung với người nghiện rượu, ma túy, chất kích thích
Nhận xét: Các yếu tố gia đình chưa có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ RLPTK nặng của trẻ vì p0,05
Bảng 3.26 Yếu tố xã hội ảnh hưởng rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ
RLPTK nhẹ và vừa OR
Tiếp xúc các bé khác xung quanh
Thời gian tiếp xúc các bé khác xung quanh/ngày
Nhận xét: Trẻ không tiếp xúc với trẻ khác xung quanh sẽ có biểu hiện
Trẻ có mức RLPTK nặng cao gấp 2,024 lần so với trẻ khác, điều này đạt ý nghĩa thống kê với p0,05.
Bảng 3.27 Các yếu tố bất thường đầu tiên ảnh hưởng RLPTK ở trẻ
RLPTK nhẹ và vừa OR
Tuổi xuất hiện các dấu hiệu bất thường đầu tiên
Dấu hiệu bất thường đầu tiên gia đình nhận thấy
Nhận xét: Trẻ có các dấu hiệu bất thường xuất hiện 0,05 Ngoài ra, nghiên cứu không phát hiện ra mối liên quan có ý nghĩa giữa chậm nói và mức độ RLPTk nặng, khi giá trị p cũng vượt ngưỡng 0,05.
Bảng 3.28 Các yếu tố khác tác động lên mức độ biểu hiện RLPTK
RLPTK nhẹ và vừa OR
Gia đình có nghi ngờ trẻ mắc RLTK trước khi đi khám
Gia đình có biết về RLTK ở trẻ em
Tình trạng kinh tế của gia đình
Nhóm người chăm sóc là cha mẹ trẻ
Gia đình không nghi ngờ trẻ mắc RLPTK trước khi đi khám có nguy cơ mắc RLPTK nặng cao gấp 1,972 lần so với trẻ khác, đây là kết quả có ý nghĩa thống kê với p0,05.
Bảng 3.29 Các yếu tố liên quan với mức độ rối loạn phổ tự kỷ sau phân tích hồi quy đa biến
Tiếp xúc các bé khác xung quanh
Thời gian tiếp xúc các bé khác xung quanh/ngày
Gia đình có nghi ngờ trẻ mắc RLTK trước khi đi khám
Mô hình phân tích hồi quy đa biến cho thấy yếu tố gia đình có nghi ngờ trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ trước khi đi khám là yếu tố có ý nghĩa thống kê quan trọng trong nghiên cứu, với giá trị p