1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu nồng độ glucose huyết tương, fructosamin huyết tương và hba1c trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại bệnh viện trường đại học y dược cần thơ năm 2021 2022

121 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Nồng độ Glucose Huyết tương, Fructosamin Huyết tương và HbA1C Trên Bệnh Nhân Đái Tháo Đường Típ 2 Tại Bệnh Viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ Năm 2021-2022
Tác giả Trương Tuấn Khải
Người hướng dẫn TS.BS. Lê Thị Hoàng Mỹ
Trường học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Kỹ thuật xét nghiệm y học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 27,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nồng độ trung bình, tỷ lệ đạt mức nồng độ theo khuyến cáo các xét nghiệm glucose huyết tương lúc đói, fructosamin huyết tương, HbA1c của đối tượng nghiên cứu .... Mối liên quan giũa nồng

Trang 1

TRƯƠNG TUẤN KHẢI

NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ GLUCOSE HUYẾT TƯƠNG, FRUCTOSAMIN HUYẾT TƯƠNG VÀ HbA1C

TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2 TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

TRƯƠNG TUẤN KHẢI

NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ GLUCOSE HUYẾT TƯƠNG,

FRUCTOSAMIN HUYẾT TƯƠNG VÀ HbA1C

TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2

TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

NĂM 2021-2022

Chuyên ngành: Kỹ thuật xét nghiệm y học

Mã số: 8720601

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT XÉT NGHIỆM Y HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS.BS LÊ THỊ HOÀNG MỸ

Cần Thơ – 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố ở bất kỳ nơi nào

Cần Thơ, ngày 14 tháng 11 năm 2022

Tác giả luận văn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn và cảm ơn chân thành tới:

- Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

- Phòng Đào tạo sau đại học

- Phòng Khoa học công nghệ và quan hệ đối ngoại

- Khoa Điều dưỡng và Kỹ thuật y học

- Thư viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

- Phòng Kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Trường ĐHYD Cần Thơ

- Khoa Xét nghiệm Bệnh viện Trường ĐHYD Cần Thơ

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô TS.BS Lê Thị Hoàng Mỹ, Trưởng Khoa Xét nghiệm, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ đã truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm trong suốt thời gian làm nghiên cứu và góp ý sửa chữa giúp tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cám ơn sâu sắc tới bạn bè, các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên và ủng hộ tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn

Cần Thơ, ngày 14 tháng 11 năm 2022

Tác giả luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các sơ đồ, biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Bệnh đái tháo đường típ 2 3

1.2 Các chỉ số theo dõi nồng độ đường huyết 3

1.3 Một số đặc điểm của bệnh nhân đái tháo đường típ 2 14

1.4 Một số nghiên cứu liên quan đến các chỉ số theo dõi nồng độ đường huyết trên thế giới và tại Việt Nam 16

Chương II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng 19

2.2 Phương pháp nghiên cứu 19

2.3 Đạo đức trong nghiên cứu y học 31

Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 32

3.2 Nồng độ trung bình, tỷ lệ đạt mức nồng độ theo khuyến cáo các xét nghiệm glucose huyết tương lúc đói, fructosamin huyết tương, HbA1c của đối tượng nghiên cứu 35

3.3 Mối liên quan giũa nồng độ trung bình, tỷ lệ đạt mức nồng độ theo khuyến cáo các xét nghiệm glucose huyết tương lúc đói, fructosamin huyết tương, HbA1c với một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 36

Chương IV BÀN LUẬN 48

Trang 6

4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 48 4.2 Nồng độ trung bình, tỷ lệ đạt mức nồng độ theo khuyến cáo các xét nghiệm glucose huyết tương lúc đói, fructosamin huyết tương, HbA1c của đối tượng nghiên cứu 55 4.3 Mối liên quan giữa nồng độ trung bình, tỷ lệ đạt mức nồng độ theo khuyến cáo các xét nghiệm glucose huyết tương lúc đói, fructosamin huyết tương, HbA1c với một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 57

KẾT LUẬN 63 KIẾN NGHỊ 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADA American Diabetes

Association

Hội đái tháo đường Hoa Kỳ

BMI Body Mass Index Chỉ số khối cơ thể

DCCT Diabetes Control and

Complications Trial

Thử nghiệm kiểm soát bệnh đái tháo đường và biến chứng

GA Glycated Albumin Albumin glycat hóa

IDF International Diabetes

SGA Serum Glycated Albumin Albumin huyết thanh glycat hóa

SGP Serum Glycated Protein Protein huyết thanh glycat hóa

SMBG Self-monitoring of Blood

Glucose

Tự kiểm soát đường huyết

WHO World Health Organization Tổ chức Y tế thế giới

IEC Ion Exchange

Chromatography

Sắc ký trao đổi ion

HPLC High Pressure Liquid

Chromatography

Sắc ký lỏng hiệu năng cao

CE Cappillary Electrophoresis Điện di mao quản

AC Affinity Chromatography Sắc ký ái lực

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1: Đặc điểm phân bố về giới tính, nhóm tuổi, dân tộc của đối

tượng nghiên cứu 32

Bảng 3.2: Đặc điểm thời gian mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu 33

Bảng 3.3: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu tăng huyết áp 34

Bảng 3.4: Đặc điểm thói quen sinh hoạt của đối tượng nghiên cứu 34

Bảng 3.5: Nồng độ trung bình glucose huyết tương lúc đói, fructosamin huyết tương, HbA1c của đối tượng nghiên cứu 35

Bảng 3.6: Nồng độ glucose huyết tương lúc đói theo khuyến cáo 35

Bảng 3.7: Nồng độ fructosamin huyết tương theo khuyến cáo 35

Bảng 3.8: Nồng độ HbA1c theo khuyến cáo 36

Bảng 3.9: Liên quan giữa nồng độ glucose với giới tính, nhóm tuổi, dân tộc của đối tượng nghiên cứu 36

Bảng 3.10: Liên quan giữa nồng độ glucose và nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 3.11: Liên quan giữa nồng độ glucose và tiền sử bệnh THA-ĐTĐ của gia đình, thời gian mắc bệnh, tình trạng tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 3.12: Liên quan giữa nồng độ glucose và thói quen sinh hoạt của đối tượng nghiên cứu 38

Bảng 3.13: Liên quan giữa nồng độ fructosamin và đặc điểm giới tính, nhóm tuổi, dân tộc của đối tượng nghiên cứu 39

Bảng 3.14: Liên quan giữa nồng độ fructosamin với nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 39

Bảng 3.15: Liên quan giữa nồng độ fructosamin với tiền sử bệnh

THA-ĐTĐ của gia đình, thời gian mắc bệnh, tình trạng tăng huyết áp

Trang 9

của đối tượng nghiên cứu 40

Bảng 3.16: Liên quan giữa nồng độ fructosamin với thói quen sinh hoạt

của đối tượng nghiên cứu 41

Bảng 3.17: Liên quan giữa nồng độ HbA1c và đặc điểm giới tính, nhóm

tuổi, dân tộc của đối tượng nghiên cứu 42

Bảng 3.18: Liên quan giữa nồng độ HbA1c với nghề nghiệp của đối

tượng nghiên cứu 42

Bảng 3.19: Liên quan giữa nồng độ HbA1c với tiền sử bệnh THA-ĐTĐ

của gia đình, thời gian mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu 43

Bảng 3.20: Liên quan giữa nồng độ HbA1c với tình trạng tăng huyết áp

của đối tượng nghiên cứu 43

Bảng 3.21: Liên quan giữa nồng độ HbA1c với thói quen sinh hoạt của

đối tượng nghien cứu 44

Bảng 3.22: Liên quan giữa nồng độ glucose theo khuyến cáo với một số

đặc điểm cuả đối tượng nghiên cứu 45

Bảng 3.23: Liên quan giữa nồng độ fructosamin theo khuyến cáo và

một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 46

Bảng 3.24: Liên quan giữa nồng độ HbA1c theo khuyến cáo và một số

đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 47

Trang 10

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Trang 11

MỞ ĐẦU

Bệnh đái tháo đường là một vấn đề mang tính chất toàn cầu, ảnh hưởng đến sức khỏe của nhiều người, nhất là trong độ tuổi lao động trên toàn thế giới Chủ yếu là đái tháo đường típ 2, chiếm từ 85% đến 95% trường hợp, là một trong những bệnh không lây nhiễm có tốc độ gia tăng nhanh nhất thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển Hiện nay, bệnh đái tháo đường típ 2 được coi là một dịch bệnh ở nhiều nước đang phát triển và những nước mới công nghiệp hóa, vì tỷ lệ bệnh liên quan với mức độ phát triển của nền kinh tế

và xã hội Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 2010 có 221 triệu người mắc bệnh đái tháo đường và dự báo đến năm 2025 con số này sẽ là 335 triệu người chiếm 5,4% dân số thế giới Ở Việt Nam, điều tra của Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2012 ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường chiếm 5,7% dân số [20] Năm 2014 theo ước tính của Liên đoàn đái tháo đường quốc tế, Việt Nam là quốc gia có số người mắc đái tháo đường đứng nhiều nhất trong

số các quốc gia Đông Nam Á với 3299 triệu người mắc chiếm khoảng 5,8% người trưởng thành từ 20-79 tuổi [12] Điều này cũng đồng nghĩa với việc tăng gánh nặng không chỉ cho mỗi cá nhân, gia đình mà còn cho cả nền kinh

tế xã hội Hơn nữa, đây cũng là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư hoặc thứ năm ở các nước phát triển Do đó, việc phát hiện sớm và quản lý bệnh đái tháo đường trong cộng đồng là vô cùng cần thiết

Xét nghiệm glucose huyết tương lúc đói là một xét nghiệm thường quy được làm phổ biến trong quá trình điều trị bệnh nhân đái tháo đường Glucose huyết tương lúc đói phản ánh chính xác nồng độ đường huyết tại thời điểm lấy máu xét nghiệm

Fructosamin là sản phẩm đường hóa của protein albumin, globulin, lipoprotein nhưng do albumin chiếm phần lớn nên fructosamin phản ánh lượng đường chủ yếu trong phức hợp của glucose với albumin Thời gian tồn

Trang 12

tại của fructosamin trong máu tương đương với albumin, thời gian bán hủy của albumin là 14-20 ngày Do đó, xét nghiệm fructosamin huyết tương phản ánh nồng độ đường huyết 2-3 tuần trước đó [36]

HbA1c (Hemoglobin A1c) là một chỉ số được dùng phổ biến trong theo dõi bệnh nhân đái tháo đường HbA1c phản ánh đường huyết trung bình của bệnh nhân trong thời gian khoảng 3 tháng trước đó và có ý giá trị dự đoán các biến chứng của bệnh [46]

Việc duy trì nồng độ đường huyết ổn định theo mức khuyến cáo là cực

kỳ quan trọng nhằm ngăn ngừa và làm chậm tiến triển biến chứng của bệnh đái tháo đường Trong quá trình điều trị, các chỉ số glucose huyết tương lúc đói, fructosamin huyết tương, HbA1c có thể được sử dụng để theo dõi và đánh giá hiệu quả điều trị bệnh đái tháo đường

Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu nồng

độ glucose huyết tương, fructosamin huyết tương và HbA1c trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2021-2022” với các mục tiêu sau:

1 Xác định nồng độ trung bình và tỷ lệ đạt mức nồng độ theo khuyến cáo xét nghiệm glucose huyết tương, fructosamin huyết tương và HbA1c trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2021-2022

2 Tìm hiểu mối liên quan giữa nồng độ trung bình, tỷ lệ đạt mức nồng độ theo khuyến cáo xét nghiệm glucose huyết tương, fructosamin huyết tương và HbA1c trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2021-2022 với một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Trang 13

Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Bệnh đái tháo đường típ 2

Đái tháo đường (ĐTĐ) típ 2 là bệnh hình thành do tác động qua lại của các yếu tố di truyền và yếu tố môi trường (mắc phải) Vai trò của yếu tố di truyền đã được chứng minh trên nghiên cứu các trường hợp sinh đôi Vai trò của yếu tố môi trường cũng đã được chứng minh trong rất nhiều nghiên cứu gần đây Yếu tố di truyền và mắc phải có vai trò quyết định gây ra bệnh ĐTĐ típ 2 thông qua cơ chế gây kháng insulin ở tổ chức mỡ và cơ vân, sản xuất glucose quá mức ở gan và sự khiếm khuyết tế bào β

Mặc dù nguyên nhân gây bệnh chưa được biết một cách rõ ràng, nhưng

có nhiều yếu tố nguy cơ của bệnh đã được ghi nhận, bao gồm: béo phì, chế độ

ăn, uống thừa năng lượng, lối sống tĩnh tại, tuổi cao, tiền sử bệnh THA-ĐTĐ của gia đình liên quan đến ĐTĐ, dân tộc, tăng đường huyết trong thời kỳ mang thai [18]

Ngược với ĐTĐ típ 1, đa phần các bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có thể đạt mức nồng độ đường huyết theo khuyến cáo thông qua việc điều chỉnh chế độ ăn, uống, tăng cường hoạt động thể lực và sử dụng thuốc uống hạ đường huyết Khi không thể duy trì đường huyết như mong muốn bằng các biện pháp trên, insulin sẽ được bổ sung vào chế độ điều trị

1.2 Các chỉ số theo dõi nồng độ đường huyết

1.2.1 Glucose huyết tương lúc đói

Chỉ số glucose huyết tương lúc đói phản ánh chính xác nồng độ đường huyết tại thời điểm lấy máu làm xét nghiệm Bệnh nhân cần nhịn đói trước khi lấy máu xét nghiệm ít nhất 8-10 giờ, thời điểm lấy máu thường vào buổi sáng khi bệnh nhân đã nhịn đói qua đêm Định lượng glucose huyết tương lúc đói

Trang 14

là xét nghiệm phổ biến nhất và sớm nhất được sử dụng trong chẩn đoán và theo dõi điều trị bệnh đái tháo đường [47]

Xét nghiệm glucose được thực hiện bằng 2 phương pháp như hóa học

và enzym Tuy nhiên hiện nay phương pháp hóa học gần như không nơi nào thực hiện do không đặc hiệu và mất nhiều thời gian Phương pháp phổ biến hiện nay là dùng enzym Phương pháp enzym có độ đặc hiệu cao và thời gian nhanh nên rất hiệu quả Ba loại emzym phổ biến hiện nay thường dùng để định lượng glucose trong máu là hexokinase, glucose oxydase và glucose dehydrogenase

Phương pháp glucose oxidase [47]:

Đây là phương pháp phổ biến với các hóa chất cho máy hóa sinh bán tự động và một số máy hóa sinh tự động Phương pháp này kết hợp sử dụng enzym glucose oxydase và enzym peroxydase Nguyên lý của phương pháp như sau:

GOD (glucose oxydase) Glucose + H2O -> Acid gluconic + H2O2

POD (Peroxydase) 2H2O2 + Phenol + 4 amino-Antipyrin -> Quinonemin + 4H2O

Phương pháp trải qua 2 bước Đầu tiên glucose trong mẫu được oxy hóa bởi enzym glucose oxydase để tạo H2O2 Tuy nhiên glucose oxydase có đặc hiệu cao với β-glucose trong khi trong huyết thanh còn có cả α-glucose với tỉ lệ 2/3 β-glucose, 1/3 α-glucose, do vậy một số hóa chất còn có thêm cả mutarotase để chuyển α-glucose thành β-glucose H2O2 được tạo ra tỉ lệ thuận với nồng độ glucose Sau đó H2O2 tiếp tục tham gia phản ứng với phenol và 4 amino-antipyrin để tạo ra quinonemin Quinonemin có màu hồng cánh sen, đậm độ màu tỉ lệ thuận với nồng độ glucose Quinonemin được đo ở bước sóng 540nm

Phương pháp hexokinase [47]:

Trang 15

Đây là phương pháp phổ biến hiện nay trên các hệ thống máy tự động Phương pháp này là phương pháp chính xác nhất hiện nay Bằng việc sử dụng enzym hexokinase nên rất đặc hiệu với glucose mà không bị nhiễu bởi các carbonhydrat khác Phương pháp trải qua 2 gian đoạn theo sơ đồ sau:

Hexokinase Glucose + ATP -> Glucose-6-Phosphat + ADP

G6PD Glucose-6-Phosphat + NADP+ -> 6-Phosphogluconat + NADPH + H+

Giai đoạn 1: Hexokinase sẽ xúc tác phản ứng phosphoryl hóa glucose tạo Glucose-6-Phosphat

Giai đoạn 2: G6PD sẽ xúc tác phản ứng oxy hóa Glucose-6-Phosphat

để tạo NADPH Mật độ quang của NADPH tăng lên tỉ lệ thuận với nồng độ Glucose và được đo ở bước sóng 340 nm

Cần lưu ý ở đây là hexokinase xúc tác phản ứng phosphoryl cả fructose

và mannose, tuy nhiên nồng độ các loại đường này trong máu là quá nhỏ và không đủ để gây nhiễu cho phản ứng

Một lưu ý nữa là huyết thanh (huyết tương) vỡ hồng cầu có thể ảnh hưởng đến phương pháp này do trong hồng cầu có enzym G6PD và enzym 6-phosphogluconat dehydrogenase mà cả 2 enzym này cũng sử dụng NADP+ làm cơ chất Do vậy ngày nay để giảm sự ảnh hưởng này người ta thường sử dụng G6PD của vi khuẩn (thay vì của nấm) vì G6PD của vi khuẩn sẽ sử dụng NAD+ thay thế NADP+

Đồng thời thay vì đo sự thay đổi mật độ quang của NADPH, hiện nay một số hóa chất sử dụng thêm một chất chỉ thị như phenazin methosulphat (PMS) hoặc idonitrotetrazolium (INT) để tham gia phản ứng với NADPH tạo sản phẩm màu đo được ở bước sóng 520nm

Ưu điểm của phương pháp này là có độ đặc hiệu cao Kết quả ít bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác Nhưng nhược điểm là giá thành hóa chất còn cao

Trang 16

Phương pháp glucose dehydrogenase (GDH) [47]:

Đây là phương pháp được sử dụng nhiều trên các máy đo đường huyết

cá nhân Phương pháp chỉ xảy ra qua 1 phản ứng:

GDH β-D-Glucose + NAD+ ->D-Glucono-∆-lacton + NADH + H+

NADH tạo ra được đo ở bước sóng 340 nm dưới dạng động học hoặc điểm cuối Ngoài ra người ta còn cho thêm mutarotase để chuyển các α-glucose sang β-glucose giúp kết quả được chính xác hơn

Tuy nhiên men GDH lại cũng phản ứng với các đường khác như maltose, galactose hay xylose Vì vậy nếu vì một lý do nào đó bệnh nhân

có sử dụng các đường này trong điều trị sẽ làm kết quả tăng giả tạo Để tránh sai số này ngày nay người ta sử dụng loại GDH được phân lập từ chủng vi

khuẩn Bacillus cereus rất đặc hiệu với glucose nên sẽ cho kết quả chính xác

hơn và tương đương với phương pháp hexokinase

1.2.2 Fructosamin huyết tương

- Danh pháp:

Fructosamin là tên gọi thông thường của 1-amino 1-deoxy fructose, cũng được gọi là isoglucosamine, fructosamin là một ketoamin, sản phẩm của phản ứng không cần enzym giữa đường (chủ yếu là glucose) và protein (chủ yếu là albumin)

- Quá trình đường hóa:

Trong cơ thể quá trình đường hóa diễn ra như sau: nhóm carbonyl của glucose kết hợp với nhóm amino của protein tạo thành aldimine (Schiff base), những chất này tiến triển thành ketoamin bền vững, chính là fructosamin Phản ứng này chỉ diễn ra theo một chiều và không cần có sự tham gia của chất

Trang 17

xúc tác [36] Hàm lượng fructosamin ở người bình thường dưới 285 µmol/L, tăng cao ở bệnh nhân ĐTĐ mà glucose máu không được kiểm soát tốt [16]

- Các phương pháp định lượng fructosamin:

Phenylhydrazine:

Ghiggeri G M và cộng sự đã làm sạch “glycated albumin” từ huyết thanh của bệnh nhân đái tháo đường và phát hiện chất này phản ứng với phenylhydrazine để tạo thành sản phẩm phenylhydrazone hấp thụ bước sóng

350 nm [39] Tuy nhiên, phương pháp này không được triển khai ở các phòng xét nghiệm lâm sàng

Furosine:

Fructosamin bị thủy phân trong thời gian 18 giờ trong môi trường HCl

6 mmol/l ở 950C tạo thành 50% lysine, 30% furosine, 10% pyridosine và các sản phẩm khác Furosine được định lượng bằng phương pháp sắc ký lỏng (liquid chromatography) Mặc dù phương pháp này được khuyến cáo bởi độ đặc hiệu cao nhưng bước thủy phân kéo dài 18 giờ là một trở ngại lớn trong việc triển khai tại các phòng xét nghiệm [36]

Affinity chromatography:

Acid phenylboric trong dung dịch kiềm tạo phức hợp với nhóm cis-diol của đường Huyết thanh của bệnh nhân đái tháo đường được trộn với dung dịch N-3-aminobenzene boric acid Hỗn hợp này được khuấy lên ở bước sóng

330 nm ở 20 độ C chất fluorescence tỏa ra đo được ở bước sóng 490 nm.Từ

đó tính được nồng độ fructosamin Phương pháp này không được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng [36]

2-Thiobarbituric acid (TBA):

Đây là phương pháp đo màu TBA Xử lý fructosamin với acid tạo ra 5- hydroxymethylfurfuraldehyde (HMF) HMF được ước tính bằng cách đo sự hấp phụ ở bước sóng 284 nm

Trang 18

Nitroblue tetrazolium (NBT):

Phương pháp NBT dựa trên khả năng khử của fructosamin trong môi trường kiềm Mẫu huyết thanh của bệnh nhân được cho thêm chất đệm carbonate (pH 10,8 và 37 độ C có chứa NBT, chất này sau đó bị khử và hấp thụ bước sóng 530 nm) Phương pháp này có ưu điểm là nhanh, độ đặc hiệu cao, rẻ tiền và dễ tự động hóa [36]

Phương pháp ELISA (Enzyme-Linked Immunosorbent Assay):

Ngày nay, ELISA là phương pháp phổ biến để định lượng fructosamin

vì độ nhạy và độ đặc hiệu cao Nguyên lý của phương pháp này dựa trên kỹ thuật miễn dịch enzyme gắn cạnh tranh Kháng thể sử dụng trong phương pháp ELISA là kháng thể đơn dòng thu hoạch từ chuột được miễn dịch với albumin glycosyl hóa tinh khiết Kháng thể này chỉ nhận diện và gắn với các epitope trên phân tử albumin glycosyl hóa mà không gắn với các protein khác cũng như albumin không glycosyl hóa

- Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả định lượng fructosamin:

+ Hàm lượng albumin máu thấp ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị của xét nghiệm fructosamin, lúc này hàm lượng fructosamin không phản ánh đúng hàm lượng đường huyết trung bình của bệnh nhân Theo tác giả Van-DieijenVisser MP và cộng sự (2017), nồng độ albumin ở mức cao hơn hay thấp hơn 30 g/L sẽ ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm fructosamin [49]

+ Trong phương pháp nitro tetrazolium (NBT) có một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm fructosamin đã được chứng minh: superoxide dismutase (SOD) làm giảm quá trình khử của thuốc thử NBT Một số chất khi

có mặt ở nồng độ cao sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả như heparin, EDTA, bilirubin, triglyceride, acid ascorbic, acid uric và glutathione Các yếu

Trang 19

tố trên làm kết quả fructosamin tăng giả tạo Trong đó heparin, EDTA, Bilirubin phải đạt đến nồng độ rất cao trong mẫu máu mới có thể gây sai số rõ rệt Điều này ít gặp trên lâm sàng Riêng acid uric ở nồng độ 0,93 µmol/l đã gây sai số [32] Do đó, thuốc thử NBT dùng để định lượng fructosamin ngày nay đều được bổ sung uricase enzym thủy phân acid uric, loại bỏ ảnh hưởng của acid uric đến kết quả xét nghiệm

1.2.3 HbA1c

- Hemoglobin và quá trình tạo thành HbA1c:

Hemoglobin (Hb) là một protein màu (chromoprotein), gồm một phân

tử globin gắn với bốn nhân hem Sự tổng hợp Hb bắt đầu từ giai đoạn tiền nguyên hồng cầu đến giai đoạn hồng cầu lưới ở trong tủy xương Quá trình tạo thành Hb gồm có tổng hợp hem và tổng hợp globin

+ Hem: là một sắc tố có màu, chung cho tất cả các loài, gồm một vòng porphyrin, trung tâm chứa ion Fe2+ (quyết định màu đỏ của hồng cầu)

+ Globin: là protein đặc trưng cho từng loài, cấu tạo gồm bốn chuỗi polypeptide (α, β, δ, γ) giống nhau từng đôi một, mỗi chuỗi gắn với một hem

Bình thường ở người trưởng thành có các loại Hb sau:

+ HbA1: gồm 2 chuỗi α và 2 chuỗi β (α2β2), chiếm tỷ lệ 94-98% + HbA2: gồm 2 chuỗi α và 2 chuỗi δ (α2δ2), chiếm tỷ lệ 2-3,5%

+ HbF: gồm 2 chuỗi α và 2 chuỗi γ (α2γ2), chiếm tỷ lệ 0-1% (còn gọi là huyết sắc tố bào thai vì chiếm tỷ lệ rất cao ở giai đoạn cuối của thai nhi và thời kỳ sơ sinh)

Ngoài ra khi có đột biến các gen cấu trúc hay gen điều hòa sẽ tạo ra các

Hb bất thường như: HbS, HbE, HbC, HbJ, bệnh thalassemia

Sự kết hợp giữa glucose với một acid amin ở phần cuối của chuỗi β trong phân tử Hb tạo ra sản phẩm trung gian là aldimin, sau đó aldimin sẽ chuyển hóa thành HbA1 Tùy thuộc vào loại đường và vị trí gắn vào HbA, có

Trang 20

4 loại HbA1 là HbA1a1, HbA1a2, HbA1b và HbA1c Trong máu đường đơn chủ yếu là glucose nên thành phần chủ yếu của HbA1 là HbA1c, phản ứng này xảy ra theo một chiều và không cần chất xúc tác [26]

- Vai trò của HbA1c:

Vào tháng 3/2009, Tổ chức Y tế Thế giới tham khảo ý kiến của Ủy ban các chuyên gia đã đưa HbA1c là một trong các tiêu chí chẩn đoán ĐTĐ Chẩn đoán ĐTĐ khi HbA1c ≥ 6,5%, xét nghiệm phải được thực hiện ở cơ sở xét nghiệm đã được NGSP (National glycohemoglobin standardization programe) cấp giấy chứng nhận và chuẩn hóa trong theo kỹ thuật dùng trong nghiên cứu DCCT (Diabetes control and complications trial) [53] HbA1c tồn tại cùng với sự tồn tại của hồng cầu trong máu (120 ngày) do đó nồng độ HbA1c phản ánh mức dao động đường huyết trung bình trong vòng 8 - 12 tuần trước đó Xét nghiệm này có thể được thực hiện vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày

mà bệnh nhân không cần nhịn đói Các nghiên cứu gần đây đều nhấn mạnh vai trò của HbA1c trong việc theo dõi kiểm soát bệnh nhân ĐTĐ và việc đưa HbA1c về càng gần trị số bình thường càng làm giảm có ý nghĩa các biến chứng của bệnh

- Hạn chế của xét nghiệm HbA1c:

HbA1c phụ thuộc vào tuổi của hồng cầu, trong những trường hợp hồng cầu bị chậm thay đổi dẫn đến nhiều hồng cầu già, HbA1c đo được bị tăng giả tạo, không tương ứng với giá trị glucose máu trung bình Điều này thường gặp

ở những bệnh nhân thiếu máu thiếu sắt, thiếu vitamin B12, thiếu folate Ngược lại, trong những trường hợp hồng cầu bị thay đổi quá nhanh, tỷ lệ hồng cầu non tăng cao bất thường, giá trị HbA1c đo được bị giảm giả tạo, không tương ứng với giá trị glucose máu trung bình Trường hợp này thường gặp ở những bệnh nhân bị tan máu, thiếu máu, những bệnh nhân được điều trị thiếu sắt, thiếu vitamin B12, thiếu folate [14] Giá trị HbA1c có thể tăng cao

Trang 21

hoặc giảm giả tạo trong những trường hợp bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính [56], [57] Tăng giả tạo có thể do nhiễu phân tích bởi hemoglobin bị carbamyl hóa khi nồng độ ure máu cao, dẫn đến giá trị HbA1c tăng giả tạo trong một số xét nghiệm Giá trị HbA1c có thể giảm giả tạo trong trường hợp lọc máu ngoài thận, đặc biệt trong trường hợp điều trị với erythropoietin [40], [38], [41] Giá trị HbA1c còn bị ảnh hưởng bởi phương pháp xét nghiệm Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa kỳ (ADA), xét nghiệm HbA1c phải được tiến hành trong một cơ sở xét nghiệm sử dụng phương pháp xét nghiệm đã được NGSP (National Glycohemoglobin Standardization Program) cấp chứng nhận

và chuẩn hóa theo kỹ thuật xét nghiệm sử dụng trong nghiên cứu DCCT (Diabetes Control and Complications Trial) [55] Các bệnh HbF, HbE, methemoglobin, thalassemia hoặc các thay đổi hemoglobin do di truyền hoặc hóa chất có thể làm tăng hay giảm HbA1c [20], [55], [64] Đặc biệt, trong bệnh lý HbE phổ biến ở khu vực Đông Nam Á và đông bắc Ấn Độ, phương pháp xét nghiệm sắc ký lỏng ion không thể phát hiện HbA1c [64]

- Các phương pháp xét nghiệm HbA1c: [51]

+ Phương pháp phân tách: hemoglobin được đường hóa (A1c, gắn

glucose) và hemoglobin không đường hóa (A0, không gắn glucose) có các đặc điểm khác nhau, điều này cho phép phân tách 2 loại và định lượng riêng A1c cũng như tổng A1c + A0 Các kỹ thuật áp dụng phương pháp này, bao gồm: sắc ký trao đổi ion (IEC- Ion Exchange Chromatography), điện di mao quản (CE - Cappillary Electrophoresis), sắc ký ái lực (AC - Affinity Chromatography)

Sắc ký trao đổi ion (IEC - Ion Exchange Chromatography) và sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC - High Pressure Liquid Chromatography): do

glucose gắn vào vị trí β-valine, nên điểm đẳng điện của A1c khác với A0 là 0.02 pI, sự khác biệt này cho phép phân tách bằng sắc ký trao đổi ion (IEC)

Trang 22

Tuy nhiên, sự khác biệt đẳng điện giữa A1c và A0 là rất nhỏ, chỉ thiết bị sắc

ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) mới có thể thực hiện phân tách chúng Khi phân tích HbA1c bằng thiết bị HPLC, từng mẫu sẽ được phân tích một, điều này buộc các nhà sản xuất phải cân bằng giữa hiệu suất máy và chất lượng phân tích Ngoài định lượng A1c và A0, các huyết sắc tố bất thường khác có thể được phát hiện trên biểu đồ sắc ký như: HbF (huyết sắc tố bào thai), HbA1a/b (huyết sắc tố phụ), CarHb (carbamylated Hb), HbS (hồng cầu hình liềm) Đây là một ưu điểm vượt trội của phân tích HbA1c bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), bởi khi có mặt các biến thể hemoglobin, kết quả HbA1c không phản ánh đúng mức đường huyết trung bình Năm 2010, Hiệp hội đái tháo đường Mỹ (ADA) đã công bố HbA1c xác định bằng HPLC được coi là tiêu chuẩn cho chẩn đoán đái tháo đường Do các phòng xét nghiệm phân tích HbA1c theo các phương pháp khác nhau (HPLC, AC, CE, IA, EA), nên kết quả thu được sẽ không giống nhau Vì vậy, việc chuẩn hóa phương pháp đo HbA1c là cực kỳ quan trọng Theo đó, HPLC được coi là tiêu chuẩn vàng, là phương pháp tham chiếu của các phương pháp khác, được sử dụng trong các nghiên cứu của Viện nghiên cứu đái tháo đường Anh (UKPDS) và Viện thử nghiệm các biến chứng và kiểm soát ĐTĐ (DCCT)

Điện di mao quản (CE - Cappilary Electrophoresis): điện di mao quản

là một kỹ thuật phân tách dựa trên sự di chuyển khác nhau của các hemoglobin mang điện tích khác nhau trong cột mao quản, dưới ảnh hưởng của điện trường tạo ra bởi điện áp cao thế 10kV

Sắc ký ái lực (AC - Affinity Chromatography): sắc ký ái lực phân tích

các hemoglobin được glycate hóa (GHb, không chỉ mỗi HbA1c) và hemoglobin không glycate hóa (NGHb, không chỉ mỗi HbA0) Glucose trong GHb có ái lực với acid boronic, trong khi NGHb thì không Do đó NGHb chạy tự do qua cột resin phủ acid boronic, trong khi đó GHb bị cản trở rồi sau

Trang 23

đó phân tách khỏi NGHb Điều này khiến sắc ký đồ của AC không giống như IEC và CE, NGHb xuất hiện trước, sau đó là GHb

+ Phương pháp hóa học: phương pháp hóa học đòi hỏi cần thực hiện

hai xét nghiệm độc lập về HbA1c và tổng số hemoglobin HbA1c được đo dựa trên cơ sở phản ứng hóa học đặc hiệu với phần glycate đầu tận cùng N-valine của chuỗi β, đồng thời đo hemoglobin theo phương pháp đo quang, kết hợp kết quả của 2 xét nghiệm sẽ cho phép tính ra HbA1c Trên thực tế, sự kết hợp kết quả của hai xét nghiệm có thể làm giảm độ chính xác của xét nghiệm

đo HbA1c Đây là nhược điểm của phương pháp này Tuy nhiên, ưu điểm là

có thể thực hiện trên đa số các máy sinh hóa tự động thông thường

Kỹ thuật phân tích miễn dịch (Immunoassays): trộn huyết tương bệnh

nhân với một lượng dư kháng thể kháng HbA1c HbA1c trong huyết tương bệnh nhân khi này đóng vai trò như một kháng nguyên, nó sẽ kết hợp với kháng thể thêm vào, tạo thành một phức hợp miễn dịch làm thay đổi độ đục của môi trường Dựa vào các phương pháp đo độ đục (turbidimetters, nephelometters) hoặc quang phổ kế để xác định Tổng số hemoglobin được đo

ở 2 bước sóng tại trước giai đoạn ủ, ở cùng cuvette Các biến thể hemoglobin

sẽ không được phát hiện và hầu như không làm ảnh hưởng tới phương pháp

đo, miễn là có kháng thể đặc hiệu phù hợp Chỉ khi bệnh nhân xuất hiện HbF, HbA2 (thiếu chuỗi β) sẽ làm kết quả đo HbA1c giảm giả tạo Giống như các

kỹ thuật miễn dịch khác, sẽ không có mối quan hệ tuyến tính giữa nồng độ và tín hiệu, việc hiệu chuẩn đa điểm (multipoint calibration) là một đòi hỏi, giúp kết quả đo HbA1c không bị chệch vượt quá dải thích hợp

Kỹ thuật phân tích bằng enzyme (Enzymatic assays): Trong kỹ thuật

enzyme, dùng enzyme fructosyl peptide protease để phân tách chuỗi β, giải phóng fructosyl peptide Chuỗi peptide sinh ra, phần lớn là các dipeptide có thể kết hợp với fructosyl peptide oxidase sinh ra hydro peroxide có màu đặc

Trang 24

trưng Đo nồng độ HbA1c thông qua xác định đậm độ màu tạo thành Song song đó, tổng số hemoglobin được xác định bằng phương pháp đo quang Xét nghiệm sẽ bị ảnh hưởng nếu bệnh nhân mang HbF hoặc HbA2 bởi vì thiếu chuỗi β Bilirubin nồng độ cao cũng ảnh hưởng tới kết quả xét nghiệm

1.3 Một số đặc điểm của bệnh nhân đái tháo đường típ 2:

Yếu tố tuổi, đặc biệt là tuổi từ 50 trở lên được xếp vào vị trí hàng đầu trong các yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ típ 2 Khi cơ thể già đi, chức năng tụy nội tiết cũng giảm theo và khả năng tiết insulin của tụy cũng giảm, nồng

độ glucose máu có xu hướng tăng, đồng thời giảm sự nhạy cảm của tế bào đích với các kích thích của insulin Khi tế bào tụy không còn khả năng tiết đủ insulin với nhu cầu cần thiết của cơ thể, glucose máu khi đó sẽ tăng và bệnh ĐTĐ thật sự xuất hiện [26] Nhiều nghiên cứu đã chứng minh tuổi là một trong những yếu tố liên quan đến sự xuất hiện của bệnh ĐTĐ típ 2

Những người có liên quan huyết thống với đối tượng nghiên cứu như cha mẹ, anh chị em ruột bị ĐTĐ có nguy cơ mắc ĐTĐ cao gấp 4-6 lần người bình thường (gia đình không có ai mắc ĐTĐ), đặc biệt những người cả bên nội và bên ngoại đều có người mắc ĐTĐ [59] Di truyền đóng vai trò quan trọng trong bệnh ĐTĐ típ 2 Khi cha hoặc mẹ bị ĐTĐ thì đứa trẻ có nguy cơ

bị ĐTĐ là 30% Khi cả cha và mẹ đều bị thì nguy cơ này tăng lên 50% Sự trùng hợp bệnh ở những người sinh đôi cùng trứng là 90% [45]

Tăng huyết áp (THA) cũng làm tăng nguy cơ của bệnh ĐTĐ Người bị THA có khả năng mắc ĐTĐ cao hơn người có huyết áp bình thường Tỷ lệ mắc THA ở bệnh nhân ĐTĐ cao gấp 1,5 đến 2 lần so với nhóm không mắc bệnh ĐTĐ [30] ĐTĐ típ 2 và THA thường đi kèm với tình trạng kháng insulin (hội chứng X), hội chứng này bao gồm: béo phì, rối loạn lipid máu và tăng nồng độ insulin huyết tương phối hợp với THA, bệnh mạch vành

Trang 25

Thừa cân béo phì là nguy cơ chính cho ĐTĐ thông qua nhiều cơ chế khác nhau Tỷ lệ béo phì và tỷ lệ mắc ĐTĐ típ 2 luôn song hành cùng nhau Bệnh nhân bị rối loạn chuyển hóa thường có mỡ nội tạng và đề kháng insulin

ở mức độ cao hơn so với những bệnh nhân không bị rối loạn chuyển hóa

Hút thuốc lá có liên quan đến sự đề kháng insulin, là yếu tố nguy cơ ĐTĐ típ 2 Nghiên cứu thuần tập tim mạch ở Anh cho rằng hút thuốc lá gia tăng 70% nguy cơ mắc ĐTĐ típ 2 và lợi ích của ngưng thuốc lá đối với ĐTĐ típ 2 chỉ có thể sau 5 năm, để đạt như người chưa từng hút thuốc lá thì phải đến 20 năm Hút thuốc lá lâu năm làm gia tăng đề kháng insulin ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2 Nguy cơ dẫn đến ĐTĐ típ 2 ở bệnh nhân hút thuốc lá liên quan đến mọi lứa tuổi và gia tăng theo số lượng thuốc lá đã hút [34]

Rượu có liên quan đến tình trạng tăng đường huyết và nhiều nghiên cứu đã chứng minh tác dụng bất lợi của rượu lên chuyển hóa chất béo [63] Rượu bia có ảnh hưởng đến sức khỏe đặc biệt thúc đẩy bệnh ĐTĐ tùy theo mức độ tiêu thụ Tiêu thụ một lượng lớn rượu làm giảm hấp thụ glucose qua trung gian insulin và giảm dung nạp glucose, do tác dụng độc trực tiếp của rượu lên tế bào đảo tụy hay ức chế tiết insulin và tăng đề kháng insulin Ngoài

ra, dùng nhiều rượu còn làm tăng chỉ số cơ thể (BMI) và nguy cơ khác của ĐTĐ trong khi uống ít hoặc vừa làm giảm nguy cơ này [63]

Hoạt động thể lực giúp kiểm soát trọng lượng của cơ thể, sử dụng hết glucose và làm cho các tế bào nhạy cảm hơn với insulin, tăng tác dụng của insulin, do đó làm giảm nhu cầu về insulin Sự giảm nhạy cảm với insulin là nguyên nhân chính trong cơ chế bệnh sinh gây tăng đường huyết Luyện tập thể lực giúp giảm cân và duy trì cân nặng lý tưởng Nhiều nghiên cứu khác nhau đã cho thấy: luyện tập thể lực thường xuyên (30 phút/ ngày) có tác dụng làm giảm nhanh nồng độ glucose máu, cải thiện tình trạng kháng insulin, có tác dụng giảm khả năng tích trữ glucose ở cơ Hoạt động thể lực cải thiện độ

Trang 26

nhạy insulin do đó cải thiện kiểm soát đường huyết và có thể giảm được trọng lượng cơ thể Sự phối hợp hoạt động thể lực thường xuyên và điều chỉnh chế

độ ăn sẽ giúp làm giảm 58% tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ [42] Do đó tăng cường hoạt động thể lực góp phần làm giảm tỷ lệ ĐTĐ típ 2 [48]

1.4 Một số nghiên cứu liên quan đến các chỉ số theo dõi nồng độ đường huyết trên thế giới và tại Việt Nam

1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Wan C W , Wen Y M , Jung N W và cộng sự trong nghiên cứu sử dụng glycated albumin để hướng dẫn chẩn đoán ĐTĐ đã theo dõi 1559 đối tượng từ năm 2006 đến 2012 và kết luận rằng trong chẩn đoán ĐTĐ, định lượng SGA kèm theo tiêu chuẩn đường huyết lúc đói nhạy hơn sử dụng riêng chỉ số đường huyết lúc đói để đánh giá việc cần thực hiện nghiệm pháp dung nạp đường hay không Giá trị giới hạn tối ưu của SGA trong chẩn đoán ĐTĐ

là 15% Sử dụng tiêu chuẩn đường huyết lúc đói 5,6 mmol/L kết hợp với fructosamin < 15% để loại trừ và đường huyết lúc lúc đói 7,0 mmol/L hoặc SGA ≥ 17% để chẩn đoán ĐTĐ làm tăng độ nhạy trong chiến lược sàng lọc

và làm giảm tỷ lệ đối tượng cần thực hiện nghiệm pháp dung nạp đường SGA sử dụng như một xét nghiệm thay thế cho HbA1c trong trường hợp HbA1c không phản ánh đúng đường huyết trong chẩn đoán ĐTĐ [62]

Năm 2013, tác giả Dawlat S , Yasser E , Walid A và cộng sự khi so sánh 25 bệnh nhân lọc máu bị ĐTĐ típ 2, 25 bệnh nhân lọc máu không bị ĐTĐ, 25 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có bệnh thận mạn tính và 10 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 chức năng thận bình thường đưa ra kết luận rằng: GA (Glycated Albumin) có giá trị hơn HbA1c trong đánh giá kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân lọc máu và trong các trường hợp HbA1c thấp do dùng erythropoietin và thiếu máu [41]

Trang 27

Nghiên cứu của Akihiko U và cộng sự (2014) trên 47172 nam giới và

8280 nữ giới từ 20 đến 69 tuổi được khám sức khỏe định kỳ tại 9 công ty ở Nhật Bản thì tỷ lệ tiền ĐTĐ và ĐTĐ của nam cao hơn nữ Nghiên cứu cũng cho rằng tỷ lệ tiền ĐTĐ và ĐTĐ gia tăng theo tuổi, đặc biệt là ở nhóm từ 40 đến 50 tuổi; tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và đang hút thuốc lá đều có mối liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở cả nam và nữ [31]

Nghiên cứu của Sofia C năm 2019 trên 201.717 người lao động của 30 nghề nghiệp phổ biến tại Thụy Điển cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ típ 2 ở nam cao hơn nữ; tỷ lệ mắc ĐTĐ khác nhau đáng kể giữa các nhóm nghề nghiệp Ở nam giới, tỷ lệ này cao nhất ở công nhân sản xuất, lái xe chuyên nghiệp và thấp nhất ở giảng viên đại học Ở phụ nữ, tỷ lệ mắc ĐTĐ cao nhất ở công nhân sản xuất, người quét dọn và thấp nhất ở người làm vật lý trị liệu Nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt lớn về tỷ lệ thừa cân, hút thuốc và mức độ thể chất của các nhóm nghề nghiệp này ngay cả ở lứa tuổi trẻ Nghiên cứu đã kết luận người lái xe chuyên nghiệp, công nhân sản xuất và người dọn dẹp có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ cao gấp 3 lần so với giảng viên đại học và người làm nghề vật lý trị liệu Những khác biệt này rất có thể phản ánh sự khác biệt đáng

kể về tỷ lệ phổ biến của các yếu tố nguy cơ lối sống Nếu có các biện pháp can thiệp tại nơi làm việc thì có thể phòng được bệnh và nâng cao sức khỏe người lao động [58]

Nghiên cứu của Kim H N năm 2018 tìm hiểu mối liên quan giữa hút thuốc và tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, đo vòng eo và tiêu thụ thức

ăn trên 1075 nam giới và 697 phụ nữ tại Hàn Quốc cho thấy hút thuốc lá có liên quan đáng kể với việc tăng vòng eo, mức đường trong máu cao hơn và nhiều chất dinh dưỡng hơn (carbonhydrate, chất béo và protein) Nghiên cứu cũng đã kết luận số lượng thuốc lá hút tăng lên đã ảnh hưởng tiêu cực đến các yếu tố sức khỏe khác nhau, điều này có thể trở thành nguyên nhân gây bệnh

Trang 28

Do đó, phương pháp cải thiện các yếu tố sức khỏe phải được thông qua giáo dục và chiến dịch để kiểm soát lượng thuốc lá hút ở người lớn Hàn Quốc [43]

1.4.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Năm 2020, tác giả Phạm Thị Cà, Nguyễn Thanh Lâm, Trần Văn Lam tiến hành nghiên cứu trên 147 bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị ĐTĐ típ

2 tại Trung tâm y tế Thị xã Long Mỹ thấy rằng tuân thủ điều trị góp phần kiểm soát đường huyết và HbA1c, thời gian mắc bệnh và nghề nghiệp là yếu

tố nguy cơ của người bệnh ĐTĐ típ 2 [4]

Thạch Thị Phola tiến hành nghiên cứu trên 514 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị tại phòng khám Nội tiết, Bệnh viện Hoàn Mỹ Cửu Long năm 2021 nhận thấy HbA1c đạt mục tiêu sau 6 tháng điều trị chiếm tỷ lệ cao Bệnh nhân nhỏ tuổi, tuân thủ chế độ ăn tốt và mức HbA1c ban đầu là các yếu

tố liên quan độc lập đến kiểm soát HbA1c ≤ 7% sau 6 tháng điều trị [22]

Tác giả Lường Trọng Bách, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Thị Thanh Thủy nghiên cứu trên 50 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 trên 60 tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Hữu Nghị năm 2021 nhận thấy việc theo dõi giá trị fructosamin huyết thanh trong đợt bệnh nhân điều trị nội trú có thể đánh giá hiệu quả điều trị trong khi HbA1c không có giá trị trong đánh giá giai đoạn điều trị ngắn [1]

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Lành năm 2014 trên 1100 đối tượng tại Hậu Giang cho thấy tỷ lệ nam mắc ĐTĐ thấp hơn nữ; tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ cao nhất là ở nhóm nghề buôn bán rồi đến nhóm nghề nông; tỷ lệ mắc thấp nhất ở nhóm nghề làm thuê, làm mướn Người có chỉ số BMI ≥ 23 có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ gấp 2,3 lần so với người có chỉ số BMI < 23; người có THA có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ gấp 1,7 lần so với người có huyết áp bình thường; người không hoạt động thể lực có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ cao gấp 1,7 lần so với người có hoạt động thể lực Nghiên cứu cũng chỉ ra có mối liên quan giữa tình trạng mắc bệnh ĐTĐ và hút thuốc lá, uống rượu [19]

Trang 29

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân đã được chẩn đoán đái tháo đường típ 2 và đang điều trị tối thiểu trên 3 tháng đến khám bệnh tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu

- Bệnh nhân đã được chẩn đoán ĐTĐ típ 2 theo một số tiêu chuẩn của Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) năm 2021 [34]:

+ HbA1c ≥ 6,5% hoặc,

+ Glucose huyết tương lúc đói ≥ 7 mmol/L, bệnh nhân nhịn đói ít nhất

8 giờ trước khi lấy máu, lặp lại 2 lần vào thời điểm khác nhau hoặc,

+ Glucose huyết tương bất kỳ ≥ 11,1 mmol/L trên bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều)

- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân có thay đổi nồng độ albumin máu do các nguyên nhân khác nhau (xơ gan mất bù, viêm gan cấp, hội chứng thận hư, suy dinh dưỡng, các bệnh lý ác tính, …);

- Bệnh nhân đang trong tình trạng nhiễm trùng cấp tính;

- Bệnh nhân thiếu máu, bệnh lý hemoglobin

2.1.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: từ tháng 08/2021 đến tháng 08/2022

- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Trang 30

Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang phân tích

2

tương ứng là 1,96; thay thế vào công thức trên thì số mẫu cần thu thập là 148 mẫu

Theo nghiên cứu của Lường Trọng Bách và cộng sự năm 2021, độ lệch chuẩn của fructosamin huyết tương δ=62,2 µmol/L [1] Chúng tôi chọn mức ý nghĩa thống kê α=0,05 và sai số mong muốn d=10; giá trị 𝑍1− 𝛼

2

tương ứng là 1,96; thay thế vào công thức trên thì số mẫu cần thu thập là 149 mẫu

Cũng theo nghiên cứu của Phạm Thị Cà và cộng sự năm 2020, độ lệch chuẩn của HbA1c δ=1,75% [4] Chúng tôi chọn mức ý nghĩa thống kê α=0,05

và sai số mong muốn d=0,3; giá trị 𝑍1− 𝛼

2.2.4 Nội dung nghiên cứu

2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Trang 31

Các đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: giới tính, tuổi, dân tộc, nghề nghiệp, thời gian mắc bệnh, tiền sử bệnh THA-ĐTĐ của gia đình, huyết

áp, thừa cân – béo phì, hút thuốc lá, uống rượu bia, hoạt động thể lực, chế độ

ăn được thu thập bằng bộ câu hỏi do người nghiên cứu phỏng vấn

- Giới tính: là biến định tính Có 2 giá trị là nam hoặc nữ

- Tuổi: là biến liên tục, được tính bằng năm hiện tại trừ đi năm sinh của đối tượng

- Dân tộc: là biến định tính, chia làm 3 nhóm: Kinh, Khmer, Hoa

- Nghề nghiệp: là nghề nghiệp có tổng thời gian lao động nhiều nhất so với các nghề còn lại, được tính trong vòng 6 tháng gần nhất chia làm 5 nhóm: nông dân, văn phòng, tự do, nội trợ, già/hưu trí

- Thời gian mắc bệnh ĐTĐ: là thời gian được tính từ khi được phát hiện bệnh ĐTĐ cho đến hiện tại Chia thành 3 nhóm: <5 năm, 5-9 năm, ≥10 năm

- Tiền sử mắc bệnh THA-ĐTĐ của gia đình: có 4 giá trị là THA, ĐTĐ, THA-ĐTĐ, không THA-ĐTĐ Xác định THA và/hoặc ĐTĐ khi ông, bà, cha,

mẹ, anh chị, em ruột, cô, dì, chú, bác ruột có THA và/hoặc ĐTĐ

- Tăng huyết áp: có 2 giá trị là có và không Có tăng huyết áp khi huyết

áp tâm thu ≥140 mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥90 mmHg hoặc hiện đang điều trị THA [33]

- Thừa cân – béo phì: có 2 giá trị là có và không Đánh giá tình trạng thừa cân – béo phì theo đánh giá phân độ chỉ số khối cơ thể (BMI) được tính theo công thức: BMI = cân nặng (kg) / (chiều cao)2 (m)

+ BMI <23 Kg/m2: không thừa cân – béo phì [61]

+ BMI ≥23 Kg/m2: có thừa cân – béo phì [61]

- Hút thuốc lá: theo tiêu chuẩn của nghiên cứu COMMIT (Community

Intervention Trial) phân làm 2 nhóm: [60]

Trang 32

+ Có hút thuốc lá: bệnh nhân hiện là người đang hút thuốc lá và đã hút

- Hoạt động thể lực: có 2 giá trị là có và không Được xem là có khi hoạt động thể lực ≥30 phút/ngày hoặc ≥150 phút/tuần và không có hai ngày ngưng tập liên tục [52], [54]

- Chế độ ăn: có 2 giá trị là lành mạnh và không lành mạnh Thói quen

ăn uống lành mạnh khi khẩu phần ăn hạn chế carbonhydrat, chất béo, tăng cường rau xanh, uống đủ nước: [50]

+ Tinh bột: 1 lát bánh mỳ, 1/3 chén cơm, ½ chén mỳ ống

+ Chất xơ: ½ chén rau quả nấu chín, 1 chén rau quả sống, ½ chén nước

ép rau quả

+ Chất béo: 1 thìa cà phê dầu thực vật hoặc bơ

+ Chất đạm: 60 - 90g thịt gà không da, nạc cá, thịt lợn thăng (đã nấu chín), con cá cỡ trung bình, 1 quả trứng, 120g đậu hũ

+ Trái cây: 1 trái táo, trái chuối hay cam nhỏ, ½ trái bưởi, ½ trái xoài, 1 chén dâu tươi

Thói quen ăn uống không lành mạnh: không thỏa các yêu cầu trên

2.2.4.2 Các xét nghiệm theo dõi đường huyết

- Xét nghiệm glucose trong huyết tương, HbA1c trong máu toàn phần được thực hiện trên máy sinh hóa Architect C4000 hãng Abbott do Mỹ

Trang 33

sản xuất Xét nghiệm fructosamin trong huyết tương được thực hiện trên máy Cobas C311 hãng Roche do Nhật Bản sản xuất

- Tính giá trị trung bình theo công thức:

+ Nồng độ glucose huyết tương lúc đói: đạt khi ≤7,0 mmol/L; không đạt khi >7,0 mmol/L [34]

+ Nồng độ fructosamin huyết tương: đạt khi ≤285 µmol/L; không đạt khi >285 µmol/L [34]

+ Nồng độ HbA1c: đạt khi ≤7,5%; không đạt khi >7,5% [34]

2.2.4.3 Mối liên quan với các xét nghiệm theo dõi đường huyết:

- Mối liên quan giữa nồng độ trung bình các xét nghiệm theo dõi đường huyết với một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu: giới tính, nhóm tuổi, dân tộc, nghề nghiệp, thời gian mắc bệnh, tiền sử bệnh THA-ĐTĐ của gia đình, tăng huyết áp, thừa cân – béo phì, hút thuốc lá, uống rượu bia, hoạt động thể lực, chế độ ăn

- Mối liên quan giữa tỷ lệ đạt và không đạt nồng độ các xét nghiệm theo mức khuyến cáo với một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu: thừa cân – béo phì, hút thuốc lá, uống rượu bia, chế độ ăn

2.2.5 Phương pháp và kỹ thuật thu thập số liệu

2.2.5.1 Phương tiện nghiên cứu

Trang 34

- Bộ câu hỏi được thiết kế sẵn theo mục tiêu nghiên cứu

- Trang thiết bị sử dụng trong nghiên cứu:

+ Xét nghiệm glucose, HbA1c thực hiện trên máy xét nghiệm sinh hóa Architect C4000 hãng Abbott do Mỹ sản xuất Xét nghiệm fructosamin thực hiện trên máy sinh hóa Cobas C311 hãng Roche do Nhật Bản sản xuất Thuốc thử chính hãng, thực hiện tại Khoa xét nghiệm, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

+ Máy đo huyết áp đồng hồ hiệu ALPK2 mode 500 do Nhật Bản sản xuất và cân bàn có kèm thước đo chiều cao do Trung Quốc sản xuất được chuẩn hóa tại Khoa Khám bệnh Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

2.2.5.2 Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu

- Đo huyết áp: do điều dưỡng viên thực hiện tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Chuẩn bị đối tượng: đối tượng được đo huyết áp vào buổi sáng, sau khi

đã nghỉ ngơi ít nhất 15 phút, không dùng các chất kích thích như cafein, thuốc

lá trước khi đo huyết áp ít nhất 30 phút

Kỹ thuật đo: đo 2 lần cách nhau 3-5 phút ở hai cánh tay trong tư thế ngồi và lấy trung bình cộng Bơm hơi vào túi hơi đến khi không còn nghe tiếng mạch đập thì tiếp tục bơm thêm 20 mmHg nữa, sau đó mở van để xả hơi

từ từ Tiếng đập đầu tiên tương ứng với huyết áp tâm thu, tiếng đập bắt đầu thay đổi âm sắc tương ứng với huyết áp tâm trương

- Tính chỉ số khối cơ thể (BMI): do nghiên cứu viên thực hiện tại Khoa xét nghiệm, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Chuẩn bị đối tượng: đo chiều cao và cân nặng vào buổi sáng, đối tượng nhịn ăn sáng, bỏ giầy, mũ, áo khoác và vật nặng trong túi

Trang 35

Kỹ thuật cân: đặt cân lên mặt phẳng chắc chắn, điều chỉnh cân về 0 Đối tượng đứng lên cân, nhìn về phía trước, hai tay để dọc thân mình Nghiên cứu viên đọc kết quả, ghi số đo, chính xác đến 1Kg

Kỹ thuật đo chiều cao: đối tượng đứng thẳng, mắt nhìn thẳng, 2 gót chân sát vào nhau cho 4 điểm chẩm, vai, mông, gót chân chạm vào thước đo

Hạ thanh chắn vừa chạm đầu đối tượng, đọc kết quả với số cm và 2 số lẻ

- Lấy máu tĩnh mạch và thực hiện các xét nghiệm:

+ Người thực hiện: nghiên cứu viên trực tiếp tham gia thực hiện cùng với nhân viên Khoa Xét nghiệm Bệnh viện Trường ĐHYD Cần Thơ

+ Nơi thực hiện xét nghiệm: Khoa Xét nghiệm Bệnh viện Trường Đại

học Y Dược Cần Thơ

Chuẩn bị đối tượng: đối tượng nghiên cứu cần nhịn ăn ít nhất 8h trước

khi lấy máu xét nghiệm, bệnh nhân được người nghiên cứu tư vấn và hiểu rõ

về nội dung nghiên cứu, tự nguyện tham gia

Chuẩn bị hóa chất và phương tiện:

+ Hóa chất, vật tư: cồn 70 độ, gòn viên, bơm tiêm 5ml, dây garo, băng

cá nhân, găng tay, gối kê tay, ống đựng mẫu máu có chất chống đông EDTA (Ethylene diamin tetraacetic acid) và heparin, mâm để dụng cụ, bình chứa vật sắc nhọn, thùng rác y tế, thùng rác thông thường, micro pipette 300µl đã được hiệu chuẩn, khẩu trang, bút lông, xà phòng

Quy trình lấy máu tĩnh mạch:

+ Đối chiếu thông tin về người bệnh với giấy chỉ định xét nghiệm: họ

tên, tuổi, địa chỉ, tên xét nghiệm, chẩn đoán Nếu đúng thông tin dán barcode lên ống đựng mẫu và tiến hành lấy mẫu

+ Kiểm soát pit-tông có xê dịch thong thả trong lòng bơm tiêm không + Bệnh nhân ngồi ngay ngắn, tay duỗi thẳng trên bàn Nếu lấy máu trên giường thì tay duỗi thẳng trên giường

Trang 36

+ Chọn vị trí lấy máu: thường lấy ở tĩnh mạch khuỷu tay, 1 trong 2 nhánh của chữ Y

+ Buộc dây garo ở cánh tay, cách 10cm trên khuỷu tay, bệnh nhân nắm chặt và mở ra nhiều lần để tăng sự luân chuyển máu ở cánh tay Tránh cột quá chặt hay quá lỏng, không nên cột quá 2 phút trước khi lấy máu

+ Dùng ngón tay trỏ sờ và ấn nhẹ vào tĩnh mạch để nhận rõ vị trí hướng

đi, bề sâu, kích thước, tình trạng mềm, cứng, chai, cố định hay không cố định

+ Sát khuẩn vùng lấy máu từ trong ra ngoài

+ Dùng ngón tay trỏ của bàn tay trái căng da nơi tĩnh mạch được chọn

để lấy máu Đầu ngón tay này cách nơi đâm mũi kim vào da 3cm ở phía trước

và bên trái mũi kim Tay phải cầm bơm tiêm nghiêng 30 độ so với cánh tay duỗi thẳng của bệnh nhân, đầu ngón trỏ của ngón tay phải giữ đốc kim và bơm tiêm Hạ mũi kim xuống và đâm đầu kim vào da ngay trên tĩnh mạch, đẩy kim đi tới theo chiều song song với tĩnh mạch độ chừng 1cm, xong hướng đầu kim vào tĩnh mạch bằng một động tác nhẹ nhàng ấn đầu kim vào lòng tĩnh mạch, chú ý đầu vát của kim hướng lên trên

+ Đối với trường hợp của tĩnh mạch lớn máu chảy vào bơm tiêm ngay khi đầu kim lọt vào tĩnh mạch Nếu không thấy máu chảy vào, ta kéo lui pit-tông để biết chắc mũi kim đã lọt vào lòng tĩnh mạch hay chưa Khi thấy máu chảy vào lòng bơm tiêm, hãy đẩy đầu kim tới một khoảng ngắn để tránh mũi kim có thể ra ngoài trong lúc kéo pit-tông để rút máu vì mũi kim quá cạn Tránh đâm kim quá sâu làm xuyên mạch

+ Kéo lui pit-tông nhẹ nhàng và liên tục để lấy đủ lượng máu cần thiết, trong lúc tay vẫn giữ chặt bơm tiêm Tháo dây garo ngay khi máu chảy vào lòng bơm tiêm, không để quá một phút

+ Lấy máu xong bệnh nhân mở nắm tay ra, dùng gòn viên đè lên vết kim tiêm và rút nhanh kim ra khỏi tĩnh mạch

Trang 37

+ Chỉ dẫn bệnh nhân duỗi thẳng tay và dùng tay còn lại đè mạnh vào miếng gòn ở vết kim tiêm 3 đến 5 phút Không bảo bệnh nhân gập cánh tay vì

có thể làm tổn thương tĩnh mạch

+ Lấy đầu kim ra khỏi bơm tiêm, rồi bơm máu nhẹ nhàng vào thành ống đựng mẫu để tránh bọt và vỡ hồng cầu Lắc trộn ống đựng mẫu máu với chất chống đông nhẹ nhàng nhiều lần

+ Sau khi cho máu vào ống đựng mẫu, cho đầu kim vào hộp đựng đồ sắc nhọn và bơm tiêm vào thùng rác y tế

+ Kiểm tra lại mẫu máu để đảm bảo đúng yêu cầu xét nghiệm

+ Mẫu máu: máu tĩnh mạch dùng để thực hiện các xét nghiệm và phải không bị tán huyết, đủ thể tích (2ml cho vào ống đựng mẫu có chất chống đông Heparin, 2ml cho vào ống đựng mẫu có chất chống đông EDTA)

Tiến hành ly tâm mẫu máu đựng trong ống Heparin 3000 vòng/phút trong 10 phút để tách huyết tương, nếu mẫu máu bị tán huyết thì lấy máu lại ở

vị trí khác Chú ý phải tách huyết tương ngay vì glucose trong máu toàn phần giảm 5% mỗi 1 giờ Tách huyết tương cho vào 2 cốc đựng mẫu, mỗi cốc 300µl để chạy xét nghiệm glucose và fructosamin Còn ống EDTA để chạy xét nghiệm HbA1c

- Xét nghiệm glucose huyết tương lúc đói:

+ Nguyên lý: định lượng glucose theo phương pháp hexokinase

Glucose huyết tương được định lượng động học có sự tham gia của enzym hexokinase Đo tốc độ tăng mật độ quang của NADPH ở bước sóng 340nm

+ Thiết bị: máy ly tâm PCL 012E, hệ thống máy Architect C4000 của

hãng Abbott và các rack chuyên dụng theo máy, bộ máy tính, máy in và phần mềm sao chép kết quả tự động kết nối vào hệ thống xét nghiệm

+ Vật tư: đã được chuẩn bị sẵn

Trang 38

+ Hóa chất: hãng Abbott: thuốc thử R1, mẫu chuẩn, mẫu nội kiểm

mức 1, mẫu nội kiểm mức 2, mẫu ngoại kiểm Nước muối NaCl 0,85-0,9% để pha loãng mẫu khi có yêu cầu

+ Bệnh phẩm: mẫu huyết tương đã được chuẩn bị từ trước, mẫu được

đưa vào hệ thống máy phân tích theo quy trình chuẩn định lượng glucose của Khoa Xét nghiệm

+ Hiệu chuẩn: ổn định trong 30 ngày và cần thực hiện chạy hiệu chuẩn

mỗi khi thay đổi lô thuốc thử, thay thế phụ tùng hoặc bảo dưỡng máy Chạy nội kiểm 2 mức nồng độ hàng ngày, nếu đạt thì tiến hành phân tích mẫu, nếu không đạt phải tìm nguyên nhân và có hướng khắc phục Chạy ngoại kiểm hàng tháng, kết quả ngoại kiểm được Trung tâm kiểm chuẩn thành phố Hồ Chí Minh báo cáo đạt hàng năm

+ Kết quả: trích xuất từ hệ thống phần mềm và in kết quả

+ Chỉ số bình thường: 3,9-6,4 mmol/L

+ Độ tuyến tính: 44,4 mmol/L Giới hạn phát hiện 0,139 mmol/L Giới

hạn định lượng 0,278 mmol/L

- Xét nghiệm fructosamin huyết tương:

+ Nguyên lý: fructosamin được định lượng bằng phương pháp so màu

bởi phản ứng với tetrazolium nitroblue (TNB) Bệnh phẩm và thuốc thử có xanh nitrotetrazolium cho tiếp xúc với nhau, formazan được tạo thành Lượng formazan tạo thành tỷ lệ thuận với nồng độ của fructosamin trong mẫu thử được đo ở bước sóng 546nm

+ Thiết bị: máy ly tâm PCL 012E, hệ thống máy Cobas C311 của hãng

Roche và các rack chuyên dụng theo máy, bộ máy tính, máy in và phần mềm sao chép kết quả tự động được kết nối vào hệ thống xét nghiệm

+ Vật tư: đã được chuẩn bị sẵn

Trang 39

+ Hóa chất: hãng Roche: hóa chất gồm có 2 loại R1 và R2; mẫu nội

kiểm mức 1, mức 2; mẫu ngoại kiểm; nước muối NaCl 0,85-0,9% để pha loãng mẫu khi có yêu cầu

+ Bệnh phẩm: mẫu huyết tương đã chuẩn bị từ trước, đưa mẫu vào hệ

thống máy phân tích theo quy trình vận hành thiết bị của nhà sản xuất

+ Hiệu chuẩn: ổn định khoảng 14 ngày và cần thực hiện chạy hiệu

chuẩn mỗi khi thay lô thuốc thử, thay thế phụ tùng hoặc bảo dưỡng máy Kiểm tra hiệu chuẩn với tất cả nồng độ mẫu chứng Chạy nội kiểm 2 mức nồng độ mỗi 24 giờ Chạy ngoại kiểm hàng tháng

+ Pha loãng mẫu: khi nồng độ fructosamin lớn hơn độ tuyến tính hoặc

+ Nguyên lý: định lượng HbA1c theo phương pháp enzym Ly giải

hồng cầu bằng dung dịch pha loãng, thêm thuốc thử R1 (protease), hemoglobin bị oxy hóa thành methemoglobin azide dạng bền vững qua hoạt động của natri nitrite và natri azide, nồng độ của hemoglobin được xác định bằng cách đo độ hấp thu bước sóng 660nm Thêm thuốc thử R2 (peroxidase), nồng độ HbA1c được tính bằng cách xác định H2O2 tổng hợp Tính % HbA1c theo công thức: HbA1c (%) = (HbA1c/Hb) x 1000 x 0,09148 + 2,152

+ Thiết bị: hệ thống máy Architect C4000 (Abbott) và các rack chuyên

dụng theo máy, bộ máy tính, máy in và phần mềm sao chép kết quả tự động được kết nối vào hệ thống xét nghiệm

+ Vật tư: đã được chuẩn bị sẵn

Trang 40

+ Hóa chất: hãng Abbott: thuốc thử R1, R2, dung dịch ly giải hồng cầu,

chuẩn máy, mẫu nội kiểm mức 1, mức 2; mẫu ngoại kiểm

+ Pha loãng mẫu: không áp dụng pha loãng mẫu vì kết quả là tỷ lệ đã

được tính toán

+ Bệnh phẩm: mẫu máu toàn phần chống đông bằng EDTA đã chuẩn bị

từ trước, đưa mẫu vào hệ thống máy phân tích theo quy trình chuẩn định lượng HbA1c của Khoa Xét nghiệm

+ Hiệu chuẩn: ổn định khoảng 50 ngày và cần thực hiện chạy hiệu

chuẩn mỗi khi thay lô thuốc thử, thay thế phụ tùng hoặc bảo dưỡng máy Chạy nội kiểm 2 mức nồng độ mỗi 24 giờ Chạy ngoại kiểm hàng tháng

+ Kết quả: trích xuất từ hệ thống phần mềm và in kết quả

+ Giá trị bình thường: 4,0-6,5%

+ Giới hạn phát hiện: 2,52% Độ tuyến tính 4-14%

2.2.6 Sơ đồ nghiên cứu

Hình 2.1: Sơ đồ thiết kế nghiên cứu

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU THU THẬP THÔNG TIN

XÉT NGHIỆM

Tiến hành định lượng Glucose, fructosamin, HbA1c

MỨC ĐỘ KIỂM SOÁT

Glucose, fructosamin, HbA1c

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 15/03/2023, 22:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lường Trọng Bách, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Thị Thanh Thủy (2021), “Khảo sát giá trị của fructosamin huyết thanh trong theo dõi điều trị bệnh nhân đái tháo đường típ 2 cao tuổi tại Bệnh viện Hữu Nghị”, Tạp chí Y học Việt Nam, 507(2), tr. 69-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát giá trị của fructosamin huyết thanh trong theo dõi điều trị bệnh nhân đái tháo đường típ 2 cao tuổi tại Bệnh viện Hữu Nghị
Tác giả: Lường Trọng Bách, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Thị Thanh Thủy
Nhà XB: Tạp chí Y học Việt Nam
Năm: 2021
3. Bộ môn Nội, Trường Đại học Y Hà Nội (2005), “Bệnh đái tháo đường”, Bệnh học Nội khoa sau đại học, tr. 214-229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học Nội khoa sau đại học
Tác giả: Bộ môn Nội, Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2005
4. Phạm Thị Cà, Nguyễn Thanh Lâm, Trần Văn Lam (2020), “Quản lý, điều trị ngoại trú người bệnh đái tháo đường típ 2 tại trung tâm y tế thị xã Long Mỹ, Hậu Giang”, Tạp chí Nội tiết và đái tháo đường, 39, tr. 50-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý, điều trị ngoại trú người bệnh đái tháo đường típ 2 tại trung tâm y tế thị xã Long Mỹ, Hậu Giang
Tác giả: Phạm Thị Cà, Nguyễn Thanh Lâm, Trần Văn Lam
Nhà XB: Tạp chí Nội tiết và đái tháo đường
Năm: 2020
5. Dương Vỹ Duyên, Nguyễn Thị Bích Đào (2013), “Kiến thức, thái độ về nguy cơ hạ đường huyết của người bệnh đang điều trị đái tháo đường típ 2”, Tạp chí Điều dưỡng, 21, tr.31-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ về nguy cơ hạ đường huyết của người bệnh đang điều trị đái tháo đường típ 2
Tác giả: Dương Vỹ Duyên, Nguyễn Thị Bích Đào
Nhà XB: Tạp chí Điều dưỡng
Năm: 2013
6. Đặng Hải Đăng và Nguyễn Văn Lành (2016), “Nghiên cứu tỷ lệ bệnh đái tháo đường típ 2 và các yếu tố nguy cơ tại tỉnh Cà Mau, đề xuất biện pháp quản lý và phòng chống”, Tạp chí Y học cộng đồng, 32, tr.30-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tỷ lệ bệnh đái tháo đường típ 2 và các yếu tố nguy cơ tại tỉnh Cà Mau, đề xuất biện pháp quản lý và phòng chống
Tác giả: Đặng Hải Đăng, Nguyễn Văn Lành
Nhà XB: Tạp chí Y học cộng đồng
Năm: 2016
7. Nguyễn Thị Anh Đào, Tạ Thị Hòa, Nguyễn Thị Bảo Châu, Nguyễn Thị Mai Hồng (2014), “Khảo sát về sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường tại Khoa Nội tiết Bệnh viện Thống Nhất”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(3), tr.81.84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát về sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường tại Khoa Nội tiết Bệnh viện Thống Nhất
Tác giả: Nguyễn Thị Anh Đào, Tạ Thị Hòa, Nguyễn Thị Bảo Châu, Nguyễn Thị Mai Hồng
Nhà XB: Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
9. Lê Thị Hương Giang, Hà Văn Như (2013), “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị bệnh đái tháo đường típ 2 của người bệnh đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện 198 năm 2013”, Tạp chí Y học thực hành, 893(1), tr.93-97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị bệnh đái tháo đường típ 2 của người bệnh đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện 198 năm 2013
Tác giả: Lê Thị Hương Giang, Hà Văn Như
Nhà XB: Tạp chí Y học thực hành
Năm: 2013
11. Nguyễn Thị Thu Hà, Trần Thị Tuyết Nga, Đỗ Viết Hải (2018), “Tình hình kiểm soát HbA1c và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Lagi, Bình Thuận năm 2017”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(1), tr.45-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình kiểm soát HbA1c và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Lagi, Bình Thuận năm 2017
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà, Trần Thị Tuyết Nga, Đỗ Viết Hải
Nhà XB: Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2018
12. Phạm Thị Thu Hiền, Lê Đình Thanh, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Đức Công (2013), “Khảo sát việc sử dụng thuốc giảm đường huyết trong điều trị đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Thống Nhất năm 2013”, Tạp chí Y học Tp. Hồ Chí Minh, 17(3), tr.305-310 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát việc sử dụng thuốc giảm đường huyết trong điều trị đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Thống Nhất năm 2013
Tác giả: Phạm Thị Thu Hiền, Lê Đình Thanh, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Đức Công
Nhà XB: Tạp chí Y học Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2013
13. Đặng Văn Hòa, Nguyễn Kim Lương (2007), “Đánh giá tổn thương mắt ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên”, Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành nội tiết và chuyển hóa, tr. 888-895 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tổn thương mắt ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên
Tác giả: Đặng Văn Hòa, Nguyễn Kim Lương
Năm: 2007
14. Trần Quang Khánh (2014), “Sử dụng HbA1c trong chẩn đoán đái tháo đường”, Kỷ yếu hội nghị khoa học về nội tiết và chuyền hóa toàn quốc lần thứ VII, tr. 20-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng HbA1c trong chẩn đoán đái tháo đường
Tác giả: Trần Quang Khánh
Nhà XB: Kỷ yếu hội nghị khoa học về nội tiết và chuyền hóa toàn quốc lần thứ VII
Năm: 2014
15. Đinh Quốc Khánh, Khương Văn Duy, Nguyễn Ngọc Anh (2019), “Thực trạng mắc đái tháo đường ở các cơ sở làm việc hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng mắc đái tháo đường ở các cơ sở làm việc hành chính
Tác giả: Đinh Quốc Khánh, Khương Văn Duy, Nguyễn Ngọc Anh
Năm: 2019
16. Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương (2005), Xét nghiệm sử dụng trong lâm sàng, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.736 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xét nghiệm sử dụng trong lâm sàng
Tác giả: Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2005
17. Võ Tuấn Khoa, Trần Quang Nam, Chu Thị Thanh Phương, Bùi Thị Mỹ Hạnh, Nguyễn Thị Dần (2018), “Tỷ lệ tiền đái tháo đường và đái tháo đường chưa chẩn đoán ở người có yếu tố nguy cơ tại Bệnh viện Nhân dân 115”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(1), tr.297-308 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ tiền đái tháo đường và đái tháo đường chưa chẩn đoán ở người có yếu tố nguy cơ tại Bệnh viện Nhân dân 115
Tác giả: Võ Tuấn Khoa, Trần Quang Nam, Chu Thị Thanh Phương, Bùi Thị Mỹ Hạnh, Nguyễn Thị Dần
Nhà XB: Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2018
18. Phạm Khuê (2013), Bệnh học lão khoa: từ đại cương đến thực hành lâm sàng, Nhà xuất bản Khoa Học Kỹ Thuật, Hà Nội, tr.216-223 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học lão khoa: từ đại cương đến thực hành lâm sàng
Tác giả: Phạm Khuê
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa Học Kỹ Thuật
Năm: 2013
19. Nguyễn Văn Lành (2014), Thực trạng bệnh đái tháo đường, tiền đái tháo đường ở người Khmer tỉnh Hậu Giang và đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp, Luận án Tiến sĩ y học, Viện vệ sinh dịch tễ Trung Ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng bệnh đái tháo đường, tiền đái tháo đường ở người Khmer tỉnh Hậu Giang và đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Lành
Nhà XB: Viện vệ sinh dịch tễ Trung Ương, Hà Nội
Năm: 2014
20. Trần Quốc Luận, Trần Đỗ Hùng, Phạm Đức Thọ (2012), “Nghiên cứu tỷ lệ đái tháo đường típ 2 ở nhóm công chức – viên chức các trường tiểu học, trung học quận Ô môn, TPCT”, Tạp chí Y học thực hành, 807(2), tr.35-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tỷ lệ đái tháo đường típ 2 ở nhóm công chức – viên chức các trường tiểu học, trung học quận Ô môn, TPCT
Tác giả: Trần Quốc Luận, Trần Đỗ Hùng, Phạm Đức Thọ
Nhà XB: Tạp chí Y học thực hành
Năm: 2012
21. Trần Thừa Nguyên, Trần Hữu Dàng (2006), “Nghiên cứu hội chứng chuyển hóa ở người béo phì với BMI ≥23”, Tạp chí Y học thực hành, 548(1), tr. 412-413 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hội chứng chuyển hóa ở người béo phì với BMI ≥23
Tác giả: Trần Thừa Nguyên, Trần Hữu Dàng
Nhà XB: Tạp chí Y học thực hành
Năm: 2006
22. Thạch Thị Phola (2021), “Tỷ lệ mục tiêu kiểm soát đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại phòng khám nội tiết Bệnh viện đa khoa Hoàn Mỹ Cửu Long”, Tạp chí Nội tiết và Đái tháo đường, 45(1), tr. 24-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ mục tiêu kiểm soát đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại phòng khám nội tiết Bệnh viện đa khoa Hoàn Mỹ Cửu Long
Tác giả: Thạch Thị Phola
Nhà XB: Tạp chí Nội tiết và Đái tháo đường
Năm: 2021
23. Thái Hồng Quang và cộng sự (2018), Hướng dẫn quốc gia dự phòng và kiểm soát đái tháo đường thai kỳ, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quốc gia dự phòng và kiểm soát đái tháo đường thai kỳ
Tác giả: Thái Hồng Quang và cộng sự
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2018

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w