PHẠM THỊ CẨM TIÊN NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM VIRUS VIÊM GAN B VÀ KIẾN THỨC PHÒNG LÂY NHIỄM VIÊM GAN B Ở PHỤ NỮ MANG THAI TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN, NĂM 2021 CẦ
Trang 1
PHẠM THỊ CẨM TIÊN
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM VIRUS VIÊM GAN B VÀ KIẾN THỨC PHÒNG LÂY NHIỄM VIÊM GAN B Ở PHỤ NỮ MANG THAI TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN, NĂM 2021
CẦN THƠ - 2022
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
PHẠM THỊ CẨM TIÊN
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM VIRUS VIÊM GAN B, VÀ
KIẾN THỨC PHÒNG LÂY NHIỄM VIÊM GAN B Ở
PHỤ NỮ MANG THAI TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN, NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phạm Thị Cẩm Tiên
Trang 4Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc Trung tâm Y tế, Trưởng Trạm Y tế cùng các anh/chị điều dưỡng, y sỹ và hộ sinh tại quận Ô Môn, quận Thốt Nốt, huyện Thới Lai, huyện Vĩnh Thạnh đã nhiệt tình hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập thông tin đến khi hoàn thiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng ân tình tới gia đình, người thân, bạn bè của tôi là nguồn động viên lớn giúp tôi hoàn thành luận văn
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình Tuy nhiên, không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn
Tác giả luận văn
Phạm Thị Cẩm Tiên
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục đối chiếu các thuật ngữ Anh và Việt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình và đồ thị
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Sơ lược về viêm gan virus B 3
1.2 Tình hình nhiễm virus viêm gan B trong nhóm phụ nữ mang thai trên thế giới và Việt Nam 10
1.3 Một số yếu tố liên quan tới tình trạng nhiễm virus viêm gan B 12
1.4 Công trình nghiên cứu về tình hình nhiễm và kiến thức phòng lây nhiễm virus viêm gan B 16
1.5 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu 18
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Phương pháp nghiên cứu 19
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 30
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 32
Trang 63.2 Tỷ lệ HBsAg dương tính và kiến thức đúng phòng lây nhiễm viêm gan
B ở phụ nữ mang thai tại thành phố Cần Thơ 343.3 Một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ HBsAg dương tính và kiến thức chung đúng về phòng lây nhiễm viêm gan B ở phụ nữ mang thai tại thành phố Cần Thơ 36
Chương 4 BÀN LUẬN 47
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 474.2 Tỷ lệ HBsAg dương tính và kiến thức đúng phòng lây nhiễm viêm gan
B ở phụ nữ mang thai 494.3 Một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B và kiến thức đúng phòng lây nhiễm viêm gan B ở phụ nữ mang thai 56
KẾT LUẬN 65 KIẾN NGHỊ 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Bộ câu hỏi
Phụ lục 2: Danh sách nghiên cứu
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
HBeAg Hepatitis B e antigen
HBsAg Hepatitis B surface antigen
Trang 8DANH MỤC ĐỐI CHIẾU CÁC THUẬT NGỮ ANH VÀ VIỆT
Hepatitis B e antigen Kháng nguyên e virus viêm gan B
Hepatitis B surface antigen Kháng nguyên bề mặt của virus viêm gan B Hepatitis B vius Virus viêm gan B
World Health Organization Tổ chức Y tế thế giới
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Các xét nghiệm huyết thanh học trong chẩn đoán HBV 7
Bảng 3.1 Phân bố nhóm tuổi, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn (n=640) 32 Bảng 3.2 Phân bố nghề nghiệp, tình trạng kinh tế, số lần mang thai (n=640) 33
Bảng 3.3 Kiến thức của ĐTNC về bệnh VGB (n=640) 34
Bảng 3.4 Kiến thức của ĐTNC về phòng VGB cho trẻ (n=640) 35
Bảng 3.5 Liên quan giữa kết quả HBsAg với nhóm tuổi (n=640) 36
Bảng 3.6 Liên quan giữa kết quả HBsAg với trình độ học vấn (n=640) 36
Bảng 3.7 Liên quan giữa kết quả HBsAg với nghề nghiệp (n=640) 37
Bảng 3.8 Liên quan giữa kết quả HBsAg với số lần mang thai (n=640) 38
Bảng 3.9 Liên quan giữa kết quả HBsAg với tiền sử gia đình có người mắc bệnh VGB (n=640) 38
Bảng 3.10 Liên quan giữa kết quả HBsAg với tiền sử dùng chung các vật dụng như bàn chải đánh răng, đồ cắt móng tay, dao cạo từ người nhiễm VGB trong gia đình (n=640) 39
Bảng 3.11 Liên quan giữa kết quả HBsAg với tiền sử phẫu thuật, xăm trổ, truyền máu và tiêm vắc xin VGB (n=640) 39
Bảng 3.12 Liên quan giữa kết quả HBsAg với kiến thức chung đúng 40
Bảng 3.13 Hồi quy logistic đa biến các yếu tố liên quan với tình trạng nhiễm virus viêm gan B (n=640) 41
Bảng 3.14 Liên quan giữa kiến thức chung với nhóm tuổi (n=640) 42
Bảng 3.15 Liên quan giữa kiến thức chung với trình độ học vấn (n=640) 43
Bảng 3.16 Liên quan giữa kiến thức chung với nghề nghiệp (n=640) 43
Bảng 3.17 Liên quan giữa kiến thức chung với nguồn thông tin (n=640) 44
Trang 10Bảng 3.18 Liên quan giữa kiến thức chung với tiền sử gia đình có người mắc HBV (n=640) 44Bảng 3.19 Liên quan giữa kiến thức chung với số lần mang thai (n=640) 45Bảng 3.20 Hồi quy logistic đa biến các yếu tố liên quan với kiến thức chung đúng (n=640) 45
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Trang
Sơ đồ 1.1 Diễn tiến của nhiễm virus viêm gan B 4
Sơ đồ 1.2 Tiến triển tự nhiên của HBV 6
Hình 1.3 Sự phân bố HBV trên thế giới 10
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ HBsAg dương tính (n=640) 34
Biểu đồ 3.2 Kiến thức chung về phòng ngừa lây nhiễm HBV (n=640) 35
Trang 12MỞ ĐẦU
Viêm gan virus là một bệnh truyền nhiễm do nhiều loại virus có ái tính cao với tế bào gan gây ra, đây là một bệnh phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam và là một vấn đề lớn của sức khỏe cộng đồng Những người mang HBsAg tiềm ẩn có thể diễn tiến đến viêm gan cấp, viêm gan mạn, xơ gan hoặc ung thư gan nguyên phát có thể dẫn đến tử vong Theo
Tổ chức Y tế thế giới, năm 2021, có khoảng 296 triệu người nhiễm virus viêm gan B mạn tính trên toàn cầu Ước tính mỗi năm có 3 triệu ca nhiễm mới viêm gan B, có khoảng 1,1 triệu trường hợp tử vong có liên quan đến bệnh viêm gan virus [8] Tại Việt Nam theo ước tính của Bộ Y tế, số trường hợp viêm gan B mạn tính năm 2020 và 2030 là 8,1 triệu người và 7,0 triệu người; số trường hợp tử vong liên quan đến gan năm 2020 và năm 2030 lần lượt là 48.000 và 95.000 trường hợp [3]
Tại các khu vực có tỷ lệ lưu hành virus viêm gan B cao, phần lớn nhiễm virus viêm gan B từ mẹ sang con Việt Nam là một trong các nước thuộc khu vực có tỷ lệ lưu hành virus viêm gan B cao nhất thế giới (10 - 20%) [3] Do đó tỷ lệ lưu hành virus viêm gan B trên phụ nữ mang thai cũng rất cao Mặc dù, tỷ lệ lưu hành HBsAg cộng đồng có giảm đi theo thời gian (năm
2008 - 2014: 10%, 2019: 9,4%), tuy nhiên tỷ lệ lưu hành HBsAg trong nhóm phụ nữ mang thai vẫn cao ở mức 9,5 - 13% Sự lưu hành virus viêm gan B cao trong nhóm phụ nữ mang thai sẽ ảnh hưởng đến sự lưu hành virus viêm gan B trong cộng đồng nói chung, đặc biệt trong nhóm trẻ em nói riêng Lây truyền từ mẹ nhiễm virus viêm gan B sang con là đường lây quan trọng của bệnh, đặc biệt là ở các nước Châu Á [3] Trẻ sơ sinh có nguy cơ lây nhiễm khi sinh từ 10 - 90% nếu mẹ bị nhiễm virus viêm gan B Nếu trẻ sơ sinh bị nhiễm virus viêm gan B từ mẹ thì 90% sẽ phát triển thành viêm gan B mạn tính -
Trang 13nguồn lây chủ yếu của cộng đồng - khoảng 25% trong số đó sẽ có nguy cơ bị ung thư gan và xơ gan [12], [33]
Một trong những biện pháp đem lại hiệu quả cao trong việc phòng ngừa lây nhiễm virus viêm gan B hiện nay là tiêm vắc xin phòng ngừa, chương trình đã được đưa vào trong chương trình tiêm chủng mở rộng trên thế giới và Việt Nam [39] Ngoài tiêm chủng vắc xin viêm gan B, việc phòng ngừa lây nhiễm bệnh viêm gan B còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, cụ thể thông qua kiến thức trong phòng ngừa lây nhiễm của người dân trong cộng đồng mà đặc biệt trên nhóm đối tượng phụ nữ mang thai nhằm giảm tỷ lệ lây truyền từ mẹ sang con [15], [16], [27]
Trên cả nước nói chung, ở Đồng bằng sông Cửu Long hay tại thành phố Cần Thơ nói riêng đã có các nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm viêm gan B trên các nhóm đối tượng khác nhau, tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về vấn
đề này trên nhóm phụ nữ mang thai, đặc biệt hơn là các nghiên cứu trên nhóm đối tượng này ở cộng đồng Câu hỏi đặt ra là tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B trên nhóm phụ nữ mang thai tại thành phố Cần Thơ như thế nào? Kiến thức của nhóm đối tượng này về phòng lây nhiễm viêm gan B ra sao? Những yếu
tố nào liên quan đến nhiễm virus viêm gan B và kiến thức phòng lây nhiễm viêm gan B của phụ nữ mang thai Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tình hình nhiễm virus viêm gan B , và
kiến thức phòng lây nhiễm viêm gan B ở phụ nữ mang thai tại thành phố Cần Thơ và một số yếu tố liên quan, năm 2021” với các mục tiêu cụ thể như sau:
1 Xác định tỷ lệ HBsAg dương tính và kiến thức đúng phòng lây nhiễm viêm gan B ở phụ nữ mang thai tại thành phố Cần Thơ, năm 2021
2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B
và kiến thức đúng phòng lây nhiễm viêm gan B ở phụ nữ mang thai tại thành phố Cần Thơ, năm 2021
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược về viêm gan virus B
1.1.1 Định nghĩa
Viêm gan virus B: là một bệnh truyền nhiễm do virus viêm gan B (Hepatitis B virus - HBV) gây ra
HBV thuộc họ Hepadnaviridae, có cấu trúc DNA HBV có khả năng
sinh sản nhanh Khi xâm nhập vào cơ thể, loại virus này tích tụ ở tế bào gan
và thường lưu lại ở cơ thể người bệnh suốt đời, tiếp tục sinh sôi nảy nở và có khả năng tiêu diệt tế bào gan [7]
1.1.2 Đường lây truyền
1.1.2.1 Lây truyền qua đường tình dục
Bệnh viêm gan B (VGB) có thể lây qua hoạt động tình dục cùng giới hoặc khác giới
Tại các khu vực có tỷ lệ nhiễm HBV thấp, lây truyền qua đường tình dục là phương thức chính Khoảng 40% các trường hợp nhiễm HBV mới ở Hoa Kỳ được cho là do quan hệ tình dục khác giới và 25% xảy ra ở nam giới
có quan hệ tình dục đồng giới Do vậy, các biện pháp dự phòng lây nhiễm HBV ở các khu vực này là tiêm phòng vắc xin viêm gan virus B và tình dục an toàn, ví như sử dụng bao cao su [3]
1.1.2.2 Lây truyền qua đường máu
Truyền nhiễm HBV chủ yếu là từ máu hoặc từ huyết thanh của những người nhiễm virus VGB Lây qua con đường này cụ thể là do tổn thương da, niêm mạc do tiếp xúc với vật nhọn xuyên da có dính máu nhiễm HBV hoặc qua đường truyền máu, sử dụng sinh phẩm y học từ máu mà không sàng lọc nhiễm HBV So với HIV, HBV lây qua đường máu mạnh hơn 100 lần Nồng
Trang 15độ virus thấp trong các dịch cơ thể cho thấy khả năng nhiễm bệnh theo con đường phơi nhiễm này thấp hơn, trừ khi tiếp xúc nhiều lần [12], [58]
1.1.2.3 Lây truyền từ mẹ sang con
Đây là đường lây truyền phổ biến và nguy hiểm nhất Nếu mẹ bị nhiễm
có HBsAg dương tính (+) và HBeAg (+) cùng lúc thì nguy cơ lây nhiễm sang con là 70 - 90% và 90% trẻ sẽ bị nhiễm HBV mạn tính, nếu mẹ chỉ mang HBsAg (+) còn HBeAg âm tính (-) thì nguy cơ lây sang con là 5 - 20% khoảng 40 - 70% trẻ sẽ bị HBV mạn tính [3], [59] Lây truyền mẹ con xảy ra vào lúc chu sinh khi trẻ tiếp xúc với máu mẹ Lây nhiễm thời kỳ bào thai rất ít gặp Bà mẹ mang HBeAg (+) 10 - 15% thất bại với phương thức phòng ngừa [9], [22]
Việc nắm rõ đường lây truyền có vai trò rất quan trọng trong công tác phòng chống các bệnh truyền nhiễm, Việt Nam ở vùng dịch lưu hành cao có đường lây truyền chủ yếu là từ mẹ sang con lúc sinh hoặc từ trẻ này sang trẻ khác trong thời niên thiếu Do đó, cần có những giải pháp phù hợp hướng đến đối tượng này
Sơ đồ 1.1 Diễn tiến của nhiễm virus viêm gan B
Nguồn: Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương 2019 [3]
Nhiễm trùng khi sinh
xơ gan, ung thư gan
Trang 161.1.3 Biểu hiện của bệnh viêm gan B
Nhiễm HBV cấp tính: Biểu hiện lâm sàng của VGB cấp có thể nhẹ,
không vàng da, vàng mắt, cũng có thể trầm trọng với vàng da, vàng mắt Điển hình là nhức đầu, mệt mỏi, ăn uống kém, nôn ói, sốt nhẹ (3705 - 390), đôi khi
có lạnh run vào thời gian đầu,…Các dấu hiệu này hiện diện khoảng 2 - 7 ngày trước khi vàng da, vàng mắt xuất hiện Tổn thương da là nổi mề đay và ở trẻ
em đôi khi thấy một viêm sần da đầu chi Bệnh khớp đối xứng và không di chuyển, tác động ở những khớp nhỏ Chán ăn được thể hiện ở dạng không thèm ăn hoặc không thích các thức ăn mình đã thích Mùi vị thức ăn có thể làm bệnh nhân nôn ói Đau bụng thường khu trú hạ sườn phải Nước tiểu đậm màu và phân lại nhạt màu
Nhiễm HBV mạn tính: VGB mạn thường là một bệnh im lặng Các
triệu chứng không tương quan với mức trầm trọng của tổn thương gan Theo dõi bệnh nhân nhập viện vì VGB cấp cho thấy 90% HBsAg trở thành âm tính, 10% là người mang HBsAg mạn tính Trong đa số bệnh nhân mạn tính không
có triệu chứng gì đặc hiệu, nếu có cũng chỉ là triệu chứng nhẹ như mệt mỏi,
ăn kém, đau hạ sườn phải, đau cơ, đau khớp, đôi khi tình cờ phát hiện aminotransferases tăng Khoảng phân nửa các trường hợp, bệnh nhân đến khám khi viêm gan đã được xác định là mạn tính có vàng da, báng bụng hoặc tăng áp tĩnh mạch cửa Bệnh não ít xảy ra Bệnh nhân thường không có bệnh
sử của một đợt tấn công của VGB cấp trước đó [7], [9], [12]
1.1.4 Hậu quả của nhiễm viêm gan B
Bệnh nhẹ: Khoảng 2/3 số người nhiễm virus VGB tiến triển thành
bệnh nhẹ do cơ thể phản ứng với việc bị nhiễm bằng cách tạo ra kháng thể VGB và bệnh được chữa trị hoàn toàn Kháng thể sinh ra sẽ bảo vệ cơ thể không bị nhiễm lại suốt đời [12], [56]
Trang 17Viêm gan cấp tính: khoảng 1/4 số người nhiễm virus VGB tiến triển
thành viêm gan cấp tính Những triệu chứng bắt đầu biểu hiện trong khoảng
từ 1- 6 tháng sau khi virus xâm nhập cơ thể [9], [52]
Người mang virus không có triệu chứng VGB: khoảng 10% người lớn
nhiễm VGB do virus không bị tiêu diệt hết trong cơ thể Tỷ lệ này cao hơn ở trẻ em Khoảng 90% số người có virus trong máu Mặc dù virus có trong máu nhưng chúng không gây ra bất cứ triệu chứng nào Khoảng 10% số người còn virus trong cơ thể thì virus sẽ sinh sôi và phát triển rất nhanh chóng sẽ chuyển bệnh nặng và chuyển thành viêm gan mạn tính, xơ gan hay thậm chí ung thư gan Viêm gan mạn tính xảy ra ở 90 - 95% số trẻ sơ sinh bị nhiễm và khoảng 30% số trẻ bị nhiễm sau khi sinh [3], [14]
Ung thư gan: viêm gan mạn tính do nhiễm HBV có thể dẫn đến ung
thư Điều này thường xảy ra hơn ở người châu Á và người bị nhiễm VGB khi
còn nhỏ hoặc rất nhỏ Trong những người bị ung thư gan, có 36% người bệnh
trước khi phát hiện bệnh chưa từng có bất kỳ khó chịu nào, cho đến khi ăn uống giảm, hông đau, bụng trướng, yếu sức, vàng da và cổ trướng…[9], [52]
Sơ đồ 1.2 Tiến triển tự nhiên của HBV
Nguồn: Nguyễn Hữu Chí 2016 [9]
Trang 18Ung thư gan là loại ung thư gây ra số ca tử vong cao thứ hai trong tất cả các loại ung thư VGB là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư gan, là nguyên nhân của 37% các trường hợp tử vong trên thế giới Ung thư gan là một trong các loại ung thư thường gặp và gây tử vong cao nhất Việt Nam Người mắc VGB mạn có nguy cơ bị ung thư gan cao gấp 100 lần so với người không mắc Qua quá trình thống kê trong 42.000 trường hợp xơ gan, thì có 89% xơ gan là do VGB chuyển hóa sang, 87% ung thư tính mới phát và xơ gan do VGB chuyển sang [52], [58]
1.1.5 Chẩn đoán và điều trị bệnh viêm gan B
Nhiễm HBV cấp được chẩn đoán đặc hiệu bằng việc xác định HBsAg trong huyết thanh, với sự có mặt hay không của anti-HBc Khi không có HBsAg, chẩn đoán nhiễm HBV không hoàn toàn bị loại trừ, vì kháng nguyên huyết có thể chỉ tạm thời Trong trường hợp này, sự hiện diện của IgM anti-HBc có thể giúp chẩn đoán VGB cấp
Nhiễm HBV mạn khi HBsAg (+) kéo dài quá 6 tháng, HBV DNA huyết thanh >100.000 bản sao/ml hoặc có HBcAg trong gan, ALT tăng kéo dài quá 6 tháng, sinh thiết gan có chỉ số HAI>4 [7], [9]
Bảng 1.1 Các xét nghiệm huyết thanh học trong chẩn đoán HBV
Xét nghiệm VGB cấp Miễn dịch sau
nhiễm trùng VGB mạn
Người mang HBV
Nguồn: Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương 2019 [3]
Trang 19Người mắc VGB do lây từ mẹ khi sinh hoặc ở lứa tuổi nhỏ có thể tiến triển thành ung thư rất sớm, thậm chí ở tuổi thành niên Nếu chẩn đoán muộn, ung thư gan là loại ung thư khó điều trị nhất, tỷ lệ sống sót sau 05 năm phát hiện ra bệnh chỉ khoảng 10% [5], [6]
VGB không có điều trị đặc hiệu Nhiễm VGB cấp chủ yếu là điều trị nâng đỡ, có thể dùng hoặc không dùng interferon, corticosteroids sử dụng khi VGB cấp nặng Trường hợp được xác định VGB mạn, sử dụng interferon nhằm ức chế lâu dài sự tăng sinh của HBV trước khi chúng gây ra tổn thương gan không hồi phục với liều 5 triệu đơn vị, 3 lần/tuần, kéo dài 4 - 6 tháng, chuyển huyết thanh anti-HBe trong khoảng 30 - 40% Gần đây, Lamivudine 100mg dùng đường uống, dùng kéo dài tăng tỷ lệ chuyển huyết thanh anti-HBe Lamivudine có đáp ứng như nhau trên mọi chủng tộc, giới tính, lứa tuổi nhiễm [3], [12]
Khuyên bệnh nhân nên nghỉ ngơi, dinh dưỡng đầy đủ, hạn chế uống rượu bia và các chất có hại cho gan Người mắc VGB có thể sống khỏe mạnh hoàn toàn bình thường nếu được khám theo dõi và đánh giá thường xuyên mức độ tổn thương gan Đa số người mắc VGB mạn không triệu chứng và cảm thấy hoàn toàn bình thường dù có thể đã có xơ gan hoặc ung thư gan giai đoạn đầu Do đó nên sàng lọc ung thư gan định kỳ và xét nghiệm men gan (ALT) mỗi 6 tháng một lần [9], [12]
1.1.6 Hành vi nguy cơ lây nhiễm nhiễm virus viêm gan B
Hành vi nguy cơ lây nhiễm nhiễm virus viêm gan B là các hành vi làm tăng khả lây nhiễm virus VGB ví dụ như việc quan hệ tình dục không an toàn, dùng chung dụng cụ lây truyền qua đường máu như bơm kim tiêm, dụng cụ phẫu thuật, dao cạo râu, bàn chải đánh răng, khuyên tai… hoặc không tiêm vắc xin phòng ngừa viêm gan B đầy đủ và đúng liều
Trang 20* Các yếu tố nguy cơ trong lây truyền HBV từ mẹ sang con
Phụ nữ mang thai (PNMT) nhiễm HBV có thể truyền HBV cho con khi mang thai, khi chuyển dạ và một thời gian ngắn sau đẻ Ước tính có 5 - 10% các trường hợp nhiễm HBV xảy ra cho thai nhi trong tử cung do xâm nhập qua gai rau bị tổn thương Trên thực tế vẫn có khoảng 10 - 20% trẻ sinh ra từ
mẹ có HBsAg (+) vẫn bị nhiễm HBV sau khi sinh mặc dù đã được tiêm phòng vắc xin viêm gan B và globulin miễn dịch kháng VGB [3], [5], [6]
Lây truyền HBV trong quá trình chuyển dạ và khi đẻ là nguyên nhân phổ biến trong cơ chế lây truyền HBV từ mẹ sang con Sự lây truyền HBV sau đẻ có thể liên quan đến các dịch tiết bị nhiễm HBV của người mẹ đi qua
da và niêm mạc xây xát của trẻ [3], [14]
Lây truyền HBV qua sữa mẹ cũng đã được nghiên cứu Mặc dù sữa mẹ
có chứa HBsAg, tuy nhiên, các nhà khoa học không chứng minh được sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm HBV ở hai nhóm trẻ cùng sinh ra từ mẹ có HBsAg dương tính bú sữa mẹ và uống sữa thay thế hoàn toàn Do đó, việc cho con bú vẫn được khuyến khích ở các bà mẹ bị viêm gan virus B mạn nếu em bé được tiêm phòng ngay sau sinh đầy đủ và thích hợp [3], [59]
Lây truyền HBV từ mẹ sang con có liên quan đến nồng độ HBV cũng như sự có mặt của HBeAg trong máu mẹ Có khoảng 70 - 90% trẻ sinh ra từ
mẹ có cả HBsAg và HBeAg dương tính bị nhiễm HBV Tuy nhiên, chỉ có khoảng 5% - 10% trẻ sinh ra từ mẹ có cả HBsAg và anti-HBe dương tính bị nhiễm HBV [3], [59]
1.1.7 Phương pháp phòng chống lây nhiễm virus viêm gan B
Các phương pháp phòng tránh lây nhiễm virus VGB được dựa trên cơ
sở khoa học về đường lây truyền của virus này Theo đó, để phòng tránh VGB, cần thực hiện tiêm vắc xin (nếu chưa bị nhiễm bệnh), quan hệ tình dục
an toàn (ví dụ như sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục), tránh tiếp xúc
Trang 21vết thương hở với máu hoặc dịch cơ thể của bệnh nhân VGB, không dùng chung các vật dụng có nguy cơ lây truyền qua đường máu: dao cạo râu, bàn chải đánh răng, dụng cụ chăm sóc móng tay, khuyên tai với người khác
1.2 Tình hình nhiễm virus viêm gan B trong nhóm phụ nữ mang thai trên thế giới và Việt Nam
Hình 1.3 Sự phân bố HBV trên thế giới
Nguồn: Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương 2019 [3]
Trang 22Tỷ lệ nhiễm HBV rất khác nhau giữa các nước trên thế giới và có thể được chia thành 3 mức cao, trung bình và thấp theo mức dịch lưu hành tại địa phương [3], [12]
Tại các khu vực có tỷ lệ lưu hành HBV cao, phần lớn nhiễm HBV là do lây truyền HBV từ mẹ sang con Tỷ lệ lưu hành HBV ở phụ nữ mang thai tương đương với tỷ lệ lưu hành trong cộng đồng dân cư chung Tỷ lệ lưu hành HBV thấp thuộc khu vực châu Âu, Bắc Mỹ Theo báo cáo của Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ, tỷ lệ HBsAg (+) trên phụ nữ mang thai ở Mỹ là 0,4%; ở Pháp là 2,3% Trong khi đó tại các nước châu Phi: như Nigeria, theo báo cáo năm 2011 thì tỷ lệ này là 12,5%, khu vực châu Á như Hồng Kông tỷ
lệ lưu hành trong nhóm phụ nữ mang thai là 7,5% Tỷ lệ lưu hành HBV trong nhóm dân cư nói chung và trong nhóm phụ nữ độ tuổi sinh đẻ tại nhiều quốc gia có xu hướng giảm ở các lứa tuổi trẻ hơn nhờ các chương trình can thiệp
dự phòng như tiêm phòng vắc xin viêm gan virus B [3]
1.2.2 Tại Việt Nam
Việt Nam là một trong các nước thuộc khu vực có tỷ lệ lưu hành HBV cao nhất thế giới (10 - 20%) Do đó tỷ lệ lưu hành HBV trên phụ nữ mang thai cũng rất cao Theo các báo cáo từ năm 1996 đến 2009, tỷ lệ HBsAg (+) trong nhóm phụ nữ mang thai từ 9,5% đến 13,03% [3] Sự lưu hành HBV cao trong nhóm phụ nữ mang thai sẽ ảnh hưởng đến sự lưu hành HBV trong cộng đồng nói chung, đặc biệt trong nhóm trẻ em nói riêng [3]
Kết quả các nghiên cứu tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2014 cho thấy tỷ lệ lưu hành HBsAg ở người lớn nói chung là 10% Tỷ lệ lưu hành HBsAg ở trẻ em giai đoạn những năm 90 là 19,5%, nhưng chỉ còn là 2,7% vào giai đoạn 2000 - 2008 trong khi tỷ lệ lưu hành HBsAg trong nhóm phụ nữ mang thai vẫn cao từ 9,5 - 13% Kết quả này có được nhờ việc đưa tiêm phòng vắc xin viêm gan B vào chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia [3]
Trang 231.3 Một số yếu tố liên quan tới tình trạng nhiễm virus viêm gan B
1.3.1 Một số yếu tố đặc điểm nhân khẩu học
Theo các tác giả khác nhau trên thế giới, các yếu tố của môi trường về đặc điểm cá nhân như lứa tuổi, dân tộc và một số các yếu tố như các điều kiện kinh tế xã hội, đói nghèo, trình độ học vấn…có ảnh hưởng đến nguy
cơ nhiễm virus VGB của cộng đồng
Mối liên quan giữa nhiễm virus viêm gan B với tuổi
Nghiên cứu của tác giả Baha và cộng sự trên những người khỏe mạnh
và những người đã từng truyền máu tại Ma rốc năm 2011 cho thấy những người trên 40 tuổi có nguy cơ nhiễm virus VGB cao gấp 2,5 lần so với những người dưới 40 tuổi [35] Tại Việt Nam, nghiên cứu về thực trạng nhiễm virus VGB trong cộng đồng cư dân tỉnh Quảng Bình năm 2017 còn cho thấy tỷ lệ nhiễm virus VGB cao nằm trong nhóm tuổi lao động chính là nhóm 20 - 50 tuổi, chiếm đến 65,42%, sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm virus VGB giữa các nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê (p<0,05) [11]
Mối liên quan giữa nhiễm virus viêm gan B với trình độ học vấn
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 65.761 người trưởng thành tại Libya năm 2008 về thực trạng lây nhiễm virus VGB đã chỉ ra mối liên hệ giữa việc đối tượng có trình độ học vấn càng thấp thì tỷ lệ mắc bệnh viêm gan càng cao [38] Tương tự nghiên cứu của Mohammad tại Iran năm 2012 trên 3690 người trưởng thành cũng chỉ ra mối liên quan giữa trình độ học vấn và tình trạng nhiễm virus VGB, cụ thể tỷ lệ nhiễm HBV ở những người mù chữ cao hơn những người khác, tỷ lệ nhiễm HBV cao nhất là ở những người có trình độ dưới cấp trung học phổ thông và tỷ lệ nhiễm HBV giảm khi trình độ học vấn tăng lên [43]
Mối liên quan giữa nhiễm virus viêm gan B với nghề nghiệp
Nghiên cứu của Phạm Ngọc Thanh trên 2.428 người trưởng thành tại
Trang 24khu vực Tây Nguyên năm 2021 cho thấy có sự khác biệt giữa các nhóm nghề nghiệp với việc nhiễm virus VGB Cụ thể đối tượng là nông dân nguy cơ lây nhiễm virus VGB cao hơn các nghề khác với p<0,05 do nhóm này thường hạn chế và khó khăn trong quá trình tiếp cận dịch vụ y tế liên quan đến phòng chống VGB và hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe [27]
1.3.2 Yếu tố về kiến thức
Vào năm 2017, WHO khu vực Tây Thái Bình Dương đã thiết lập mục tiêu loại trừ lây truyền HBV từ mẹ sang con vào năm 2030 bằng chiến lược giảm 90% các trường hợp nhiễm mới HBV mạn tính, tương đương với 0,1%
tỷ lệ lưu hành huyết thanh HBsAg ở trẻ em dưới 5 năm Các thành phần chính trong chiến lược này bao gồm: tỉ lệ bao phủ vắc xin VGB liều sơ sinh và loạt vắc xin VGB đạt ≥ 95%, sàng lọc ≥ 95% phụ nữ mang thai nhiễm HBV mạn tính, sử dụng HBIg cho trẻ sinh ra từ bà mẹ có HBsAg dương tính và điều trị cho những phụ nữ mang thai đủ điều kiện điều trị bằng thuốc kháng HBV Tính đến tháng 12 năm 2017, 19/36 (53%) quốc gia/khu vực đã xây dựng kế hoạch quốc gia về phòng chống viêm gan virus và 20 (56%) quốc gia/khu vực
đã có chính sách quốc gia về xét nghiệm HBsAg định kỳ trước sinh Tuy nhiên, chỉ có 02 (6%) quốc gia có ≥ 95% phụ nữ mang thai xét nghiệm HBsAg và 08 (22%) quốc gia báo cáo cung cấp thuốc kháng virus cho các bà
mẹ mang HBV Ngoài việc cung cấp vắc xin HepB-BD và HepB3 kịp thời cho trẻ sơ sinh phơi nhiễm với HBV, có 10 (28%) quốc gia/khu vực đã tiêm HBIg cho trẻ sinh ra từ bà mẹ có HBsAg dương tính và 07 (19%) quốc gia/khu vực cung cấp xét nghiệm huyết thanh sau tiêm chủng để xác định tình trạng nhiễm trùng của trẻ [57]
Các nghiên cứu trước đây cũng chỉ rằng việc ban hành chính sách, quy định, hướng dẫn về các biện pháp dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con thôi chưa đủ; việc phòng bệnh đòi hỏi các bà mẹ nhiễm HBV phải nhận thức
Trang 25được tình trạng bệnh của mình và hiểu được hậu quả của việc lây truyền HBV cho con mình Một nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện nhằm đánh giá kiến thức và thái độ về viêm gan virus B ở phụ nữ mang thai tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc tác giả Zhenyan Han đã cho thấy phụ nữ mang thai không
có đủ kiến thức về nhiễm HBV Mặc dù hầu hết những người được hỏi đều nhận thức được tầm quan trọng của việc sàng lọc trước sinh, tiêm phòng cho trẻ sơ sinh và theo dõi HBV sau sinh, nhưng rất ít người sẵn sàng điều trị bằng thuốc kháng HBV trong thai kỳ để ngăn ngừa lây truyền HBV từ mẹ sang con Sự thiếu hụt về kiến thức và thái độ này cho thấy cần tăng cường các chương trình giáo dục sức khỏe cộng đồng về HBV để đạt được mục tiêu loại trừ bệnh VGB [60]
Nghiên cứu của tác giả Bayuh được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 5/2014 trên 260 phụ nữ mang thai quản lý thai nghén tại Trung tâm Y tế Addis Ababa, Ethiopia Kết quả cho thấy đa số phụ nữ mang thai có kiến thức kém về căn nguyên, triệu chứng, lây truyền và cách phòng tránh bệnh VGB: 94,1% số thai phụ chưa bao giờ tham gia bất kỳ chương trình giáo dục sức khỏe nào về VGB Hầu hết những thai phụ này không được tiêm phòng
do thiếu kiến thức về sự hiện diện của vắc xin VGB Từ đó, nhóm tác giả cũng nhận định kiến thức không đầy đủ có thể là một yếu tố quan trọng trong việc lây truyền HBV [36]
Trong nghiên cứu đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành của phụ nữ mang thai và bà mẹ sau sinh ở phía Bắc Việt Nam về dự phòng lây truyền HBV của tác giả Phạm Thị Thanh Hằng năm 2019, kết quả cho thấy chỉ 10,8% số người tham gia trả lời đúng cho tất cả các câu hỏi liên quan đến lây truyền HBV; mặc dù có 86,1% người tham gia tin rằng tiêm phòng HBV là cần thiết đối với trẻ sơ sinh nhưng chỉ 66,1% trả lời rằng họ chắc chắn sẵn sàng tiêm vắc xin VGB liều sơ sinh cho con mình trong vòng 24 giờ; có mối
Trang 26liên quan đáng kể giữa kiến thức tốt với việc nhận được thông tin về bệnh VGB trong thai kỳ [51]
Như vậy, hầu hết phụ nữ mang thai có kiến thức kém về sự lây truyền
và phòng ngừa bệnh VGB Cần có chương trình giáo dục sức khỏe sâu rộng cho phụ nữ mang thai để nâng cao nhận thức của họ đối với việc lây nhiễm HBV Tất cả phụ nữ mang thai nên được sàng lọc VGB như một phần của quá trình khám thai, đặc biệt là tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu, để có kế hoạch quản lý ngăn ngừa lây truyền HBV từ mẹ sang con [36], [60]
1.3.3 Yếu tố về hành vi
Hành vi phòng chống lây nhiễm virus viêm gan B
Tại Việt Nam, nghiên cứu dịch tễ học tình hình nhiễm virus VGB của người dân tại hai huyện Sóc Sơn và Lạng Giang năm 2010 đã chỉ ra rằng, ba hành vi nguy cơ phổ biến có liên quan đến tình trạng nhiễm virus VGB bao gồm: dùng chung bơm kim tiêm, dùng chung kim châm cứu và dùng chung bàn chải đánh răng [4]
Mối liên quan giữa nhiễm virus viêm gan B với tiền sử khám chữa bệnh
Phẫu thuật và thủ thuật
Nghiên cứu của Jin Wang và cộng sự tại Trung Quốc cho thấy nguy cơ lây nhiễm VGB ở nhóm bệnh nhân phẫu thuật cao hơn với các nhóm bệnh nhân khác [55]
Truyền máu nhiều lần
Virus VGB là một trong các virus nguy hiểm nhất trong các nhiễm trùng qua đường truyền máu và là gánh nặng trong chăm sóc sức khoẻ toàn cầu [35] Vì nguy cơ lây truyền của mỗi đơn vị máu hiến tặng bằng với nguy
cơ mỗi đơn vị máu truyền nên nguy cơ nhiễm virus tăng lên với số lượng đơn
vị máu truyền Tuy nhiên, kỹ thuật sàng lọc cho phép nguy cơ nhiễm virus do
Trang 27nhận máu truyền thấp hơn nhiều lần Mặc dù kỹ thuật sàng lọc được cải thiện nhưng nhiễm virus VGB vẫn là nguy cơ cao lây nhiễm qua đường truyền máu Tuy nhiên, vắc xin VGB là phương tiện phòng, chống hữu hiệu cho những người có nguy cơ lây nhiễm [37]
1.4 Công trình nghiên cứu về tình hình nhiễm và kiến thức phòng lây nhiễm virus viêm gan B
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu tại Ghana của Kwablah Kwadzokpui cho thấy có 7/213 phụ
nữ mang thai có HBsAg (+) chiếm 3,3% Chỉ có 6,57% đối tượng có kiến thức đúng về HBV Nghiên cứu cũng tìm thấy mối liên quan giữa kiến thức với nơi cư trú, trình độ học vấn và nghề nghiệp với p<0,001 [45]
Theo kết quả của Mustapha Bittaye tại Gambia cho thấy, tỷ lệ lưu hành HBsAg (+) trong số tất cả phụ nữ mang thai được nghiên cứu là 9,20% Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa những người đã được tiêm ngừa HBV và những người chưa được tiêm ngừa [49]
Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B và C ở phụ nữ mang thai của Ose Ugbebor tại Benin cho thấy tỷ lệ lưu hành virus HBV ở phụ nữ có thai trong khu vực nghiên cứu này là ở mức lưu hành trung bình 12,5% (720/5.760 người) Tỷ lệ HBsAg (+) tăng dần theo độ tuổi, cao nhất ở nhóm 32 - 36 tuổi 57,4% và nhóm 17 - 21 tuổi chỉ chiếm 2,6% [50]
Nghiên cứu của Zhenyan Han tại Trung Quốc cho thấy 53,3% phụ nữ mang thai không biết rằng HBV có thể lây truyền qua quan hệ tình dục không
an toàn và gần 20% không biết rằng HBV có thể lây truyền từ mẹ sang trẻ sơ sinh [60]
1.4.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Cần Thơ, tỷ lệ HBsAg (+) của người dân tại cộng đồng là 9,9% [17], [23] Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả Ngũ Quốc Vĩ tại Bệnh viện Phụ
Trang 28Sản Cần Thơ năm 2015 - 2016 cho thấy, tỷ lệ thai phụ có HBsAg (+) là 8,8%
Có sự liên quan giữa yếu tố trình độ học vấn, tiêm ngừa VGB, tiền sử có người trong gia đình mắc VGB và tiền sử xăm trổ liên quan với tình trạng nhiễm HBV ở thai phụ [34] Hay một nghiên cứu khác của Lưu Thị Trâm Anh cùng đối tượng và địa điểm này từ năm 2015 - 2017, chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm VGB của các sản phụ là 8,46% [2] và của Dương Bích Tuyền là 10,8%
[31]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Cường thì tỷ lệ nhiễm HBsAg (+) tại cộng đồng tại tỉnh Quảng Bình năm 2017 là 11,89% [11], tại cộng đồng tỉnh Tiền Giang là 9% [29] Tại Bình Thuận theo nghiên cứu của Trần Thị Hữu
An tỷ lệ PNMT dương tính với HBsAg là 10,8%, nghiên cứu tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa giữa HBsAg (+) với lần mang thai và tiền sử gia đình mắc bệnh VGB [1] Tại Hải Phòng tỷ lệ mang HBsAg (+) ở PNMT là 10,6% [16] Tại Gia Định tỷ lệ thai phụ có HBsAg (+) là 2,17% [19] Tại Bình Dương tỷ lệ nhiễm HBV là 10,5% [24] Tại Bắc Giang tỷ lệ HBsAg (+) ở mức 5,2% [20] Tại thành phố Hồ Chí Minh (Bệnh viện Hùng Vương) tỷ lệ thai phụ nhiễm HBV là 8,8% [28]
Nghiên cứu Kiến thức, thực hành phòng ngừa bệnh HBV của thai phụ tại ba bệnh viện lớn khu vực phía nam, Việt Nam, 2019 - 2020 của Phạm Quốc Huy cho thấy chỉ có 34% thai phụ từng nghe và biết bệnh VGB, 45,5% không biết số mũi vắc xin VGB cần tiêm ngừa cho con Hơn 85% chưa từng được điều trị VGB trước đây [15]
Tác giả Đinh Hồng Nhung nghiên cứu kiến thức về phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con của PNMT tại Bệnh viện Phụ Sản Nam Định: có 46,1% PNMT biết tất cả các con đường lây truyền của VGB 5,6% PNMT biết trong lúc chuyển dạ đẻ là nguy cơ lây truyền từ mẹ sang con cao nhất 2,8% có kiến
Trang 29thức đúng rằng khả năng trẻ bị nhiễm HBV trong khi bú mẹ là rất thấp Tỷ lệ PNMT có kiến thức đạt là 35% [21]
1.5 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu
Cần Thơ là thành phố trực thuộc Trung ương, nằm ở vị trí trung tâm của vùng đồng bằng sông Cửu Long, phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long, phía tây giáp tỉnh Kiên Giang, phía nam giáp tỉnh Hậu Giang và phía bắc giáp tỉnh An Giang Thành phố Cần Thơ được chia làm 9 đơn vị hành chính, gồm 5 quận (Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt) và 4 huyện: Phong Điền, Cờ Đỏ, Thới Lai, Vĩnh Thạnh với 83 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 5 thị trấn, 42 phường và 36 xã (chia thành 630 khu vực, khóm, ấp) [25]
Theo Cục thống kê thành phố Cần Thơ năm 2021, Cần Thơ có diện tích 1.439,2 km², dân số là 1.246.993 người Tỷ lệ nữ giới từ 15 tuổi trở lên chiếm 41,09% [10] Tổng số phụ nữ đang mang thai trên địa bàn thành phố năm
2021 theo báo cáo của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Cần Thơ là 14.113 người, trung bình mỗi quận, huyện có khoảng 1.200 đến 1.900 phụ nữ mang thai [30]
Trang 30Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Phụ nữ mang thai có hộ khẩu thường trú từ 6 tháng trở lên trên địa bàn thành phố Cần Thơ
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Phụ nữ mang thai ≥8 tuần tuổi, đang sinh sống tại địa bàn nghiên cứu,
có khả năng giao tiếp tốt, không mắc các vấn đề tâm thần và đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
Phụ nữ mang thai không đồng ý làm xét nghiệm HBsAg
Phụ nữ mang thai có ý định chấm dứt thai kỳ vì bệnh lý, thai chết lưu,
dị dạng thai nhi
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: nghiên cứu được tiến hành tại thành phố Cần Thơ
Thời gian thu thập số liệu: từ tháng 4/2021 - 12/2021
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang có phân tích
d p
Trang 31Trong đó:
n: là cỡ mẫu tối thiểu cần thiết cho nghiên cứu
Z1-α/2: là giá trị từ phân bố chuẩn, với độ tin cậy 95%, ta có Z1-α/2= 1,96
d: là mức sai số tuyệt đối chấp nhận, chọn d=5% (d=0,05)
p: tỷ lệ PNMT nhiễm HBsAg (+) hoặc tỷ lệ PNMT có kiến thức đúng
về phòng ngừa lây nhiễm VGB
- Theo nghiên cứu của Lưu Thị Trâm Anh năm 2017 tại Cần Thơ, tỷ lệ PNMT nhiễm HBsAg (+) là 8,46% (p=0,0846) [2]
- Theo nghiên cứu của Dương Bích Tuyền năm 2018 tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ, tỷ lệ PNMT có kiến thức đúng là 26,9% (p=0,269) [31]
Để đạt cỡ mẫu lớn nhất chúng tôi chọn p=0,269
Nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai
đoạn, với hiệu lực thiết kế D = 2 Thay vào công thức, tính được n = 604 người Thực tế, cỡ mẫu trong nghiên cứu của chúng tôi là n=640 người
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn
- Giai đoạn 1: Chọn quận, huyện nghiên cứu bằng phương pháp ngẫu nhiên đơn Lập danh sách 5 quận và 4 huyện của thành phố Cần Thơ, tiến hành chọn ngẫu nhiên 2 quận (quận Ô Môn, quận Thốt Nốt) và 2 huyện (huyện Vĩnh Thạnh, huyện Thới Lai)
- Giai đoạn 2: Chọn xã, phường Tại mỗi quận, huyện, lập danh sách các xã, phường trên địa bàn, chọn ngẫu nhiên 4 xã/huyện (Huyện Vĩnh Thạnh: xã Vĩnh Trinh, xã Thạnh Lộc, xã Thạnh Mỹ, xã Thạnh Quới; Huyện Thới Lai: Thị trấn Thới Lai, xã Định Môn, xã Trường Xuân B, xã Đông Bình), 4 phường/quận (Quận Thốt Nốt: phường Tân Hưng, phường Thốt Nốt,
Trang 32phường Thuận An, phường Thới Thuận; Quận Ô Môn: phường Châu Văn Liêm, phường Phước Thới, phường Thới An, phường Thới Long)
- Giai đoạn 3: Chọn đối tượng nghiên cứu Tại mỗi xã, phường (tổng 16
xã, phường), lập danh sách toàn bộ PNMT trên địa bàn, bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, chọn 40 PNMT thỏa điều kiện đưa vào nghiên cứu, cụ thể:
Tính khoảng cách k=N/n (trong đó: N là số PNMT tại mỗi xã/phường, n=cỡ mẫu cần chọn= 40 PNMT tại mỗi xã/phường)
Chọn ngẫu nhiên một số r, 1≤ r ≤ k
Chọn một nhóm gồm các đơn vị lấy mẫu r, r+k, r+2k… cho đến khi đủ
số đơn vị của mẫu
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Tuổi thai phụ: Biến định lượng, Tuổi = (năm dương lịch của thời điểm
nghiên cứu) - (năm sinh), được chia thành 3 nhóm tuổi sau:
- Nhóm <25 tuổi
- Nhóm 25 - 35 tuổi
- Nhóm >35 tuổi
Dân tộc: Biến danh mục, Dân tộc của bà mẹ được dựa theo giấy chứng
minh nhân dân/căn cước công dân hoặc hỏi đối tượng được phỏng vấn, chia làm 3 giá trị:
- Kinh;
- Khmer;
- Hoa
Tôn giáo: Biến danh mục, Tôn giáo của bà mẹ được dựa theo chứng
minh nhân dân/căn cước công dân, chia làm 3 giá trị:
- Phật giáo;
Trang 33- Thiên chúa;
- Khác
Trình độ học vấn: là biến thứ tự, thể hiện cấp học mà đối tượng
nghiên cứu đã hoàn thành, gồm 4 giá trị:
- Biết đọc, biết viết - Tiểu học: Tốt nghiệp tiểu học trở xuống
- Trung học cơ sở (THCS): Tốt nghiệp trung học cơ sở
- Trung học phổ thông (THPT): Tốt nghiệp trung học phổ thông
- Trung cấp - Cao đẳng - Đại học (TC-CĐ-ĐH) trở lên: Tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên
Khi phân tích yếu tố liên quan với kiến thức chung, biến trình độ học vấn được chia thành 3 giá trị:
- Biết đọc, biết viết - Tiểu học;
- Trung học cơ sở;
- Trung học phổ thông trở lên
Nghề nghiệp: Biến danh mục, là công việc thu nhập chính của đối
tượng nghiên cứu, có các giá trị:
- Cán bộ viên chức (CBVC): những người làm các công việc liên quan đến hành chính, văn bản, sổ sách bao gồm nhân viên văn phòng, kế toán, thư
kí, giúp việc văn thư, làm việc văn phòng tại các Ủy ban nhân dân phường/xã, quận/huyện hoặc tỉnh/thành phố, giáo viên và trưởng/phó phòng/ban hay cơ quan/đơn vị
- Nông dân: là những người lao động trồng trọt, cày cấy
- Công nhân: Là người nhờ vào sức lao động của mình làm việc cho người khác để nhận được tiền công
- Nội trợ: Những người ở nhà làm các công việc trong nhà
- Buôn bán: Trực tiếp buôn bán trong tất cả các ngành bao gồm: bán đồ
ăn, đồ uống, quà vặt, buôn bán trên sông, buôn bán nhỏ tại nhà…
Trang 34- Làm mướn: Những người được thuê làm việc theo yêu cầu
- Nghề khác: là những người có nghề không thuộc các nghề trên
Tình trạng kinh tế: là kinh tế thu nhập bình quân của gia đình Tình
trạng kinh tế là biến định danh có 3 giá trị:
Sinh sống với người nhiễm VGB: Biến danh mục, ghi nhận các
trường hợp là người thân trong gia đình có tiếp xúc thường xuyên Loại trừ các trường hợp ở trọ, cho thuê mặt bằng, kinh doanh
Hành vi nguy cơ cao khi có người trong gia đình mắc VGB: sử dụng
chung các vật dụng như bàn chải đánh răng, đồ dùng đồ cắt móng tay, dao cạo biến nhị phân gồm các giá trị:
Tiền sử bị vật nhọn đâm: kim tiêm, rác thải sinh hoạt, rác thải y tế,
rác thải không rõ nguồn gốc gây trầy xước hoặc chảy máu, biến nhị phân gồm các giá trị:
- Có;
- Không
Trang 35Tiền sử xăm thêu môi, xăm thêu mắt, xăm mình: Biến nhị phân,
gồm các giá trị:
- Có;
- Không
Tiền sử truyền máu: đã được truyền máu ít nhất 1 lần từ lúc sinh đến
nay, biến nhị phân gồm các giá trị:
Biết về bệnh VGB: Biến nhị phân, từng nghe về nhiễm hay mắc bệnh
viêm gan vi rút B, có 2 giá trị:
- Có;
- Không
Nguồn thông tin về VGB: Biến danh mục, có các giá trị: tivi, radio;
loa phát thanh; báo chí; nhân viên y tế; tờ rơi, áp phích; người thân Khi phân tích biến nguồn thông tin được gom thành 2 nhóm: ≥3 nguồn và <3 nguồn
2.2.4.2 Tỷ lệ nhiễm HBsAg dương tính và kiến thức về phòng lây nhiễm VGB ở PNMT
Tỷ lệ nhiễm HBsAg dương tính
Tỷ lệ nhiễm VGB: Biến định lượng, xét nghiệm HBsAg (+), được tính
bằng: số PNMT có kết quả HBsAg (+) chia tổng số PNMT trong nghiên cứu
Kiến thức về phòng lây nhiễm VGB ở PNMT
Kiến thức: Biến nhị phân, có 2 giá trị đúng và không đúng Mỗi kiến thức đúng được 1 điểm Kiến thức đúng về phòng lây nhiễm VGB được định nghĩa như sau:
Trang 36(1) Kiến thức về nguyên nhân gây bệnh VGB Kiến thức đúng khi ĐTNC trả lời là virus
(2) Kiến thức làm thế nào để biết một người có bị nhiễm VGB: khám bệnh, xét nghiệm máu, kiểm tra sức khỏe Kiến thức đúng khi trả lời 2/3 đáp
án trên
(3) Biết bệnh VGB có lây truyền: kiến thức đúng khi trả lời có
(4) Kiến thức về đường lây: mẹ truyền sang con, quan hệ tình dục, máu Kiến thức đúng khi trả lời 2/3 đáp án
(5) Hậu quả khi mắc bệnh VGB: xơ gan, ung thư, tử vong Kiến thức đúng khi trả lời 1/3 đáp án trên
(6) Biết nhiễm VGB có thể phòng ngừa được hay không: kiến thức đúng khi trả lời có
(7) Cách phòng ngừa lây truyền VGB: tiêm ngừa, không dùng chung bơm kim tiêm, quan hệ tình dục an toàn, truyền máu an toàn Kiến thức đúng khi trả lời 2/4 đáp án trên
(8) Biết mẹ bị nhiễm VGB thì con sinh ra không chắc chắn bị nhiễm Kiến thức đúng khi trả lời không
(9) Cách biết chắc chắn trẻ có bị nhiễm VGB Kiến thức đúng khi trả lời là xét nghiệm
(10) Dự phòng nhiễm VGB cho trẻ Kiến thức đúng khi trả lời có
(11) Cách dự phòng nhiễm VGB cho trẻ Kiến thức đúng khi trả lời là tiêm ngừa
(12) Thời điểm tiêm ngừa VGB mũi sơ sinh Kiến thức đúng khi trả lời
là 24 giờ sau sinh
(13) Trẻ dưới 01 tuổi phải được tiêm bao nhiêu mũi vắc xin VGB là đủ liều Kiến thức đúng khi trả lời là 03 mũi
Trang 37(14) Khi mẹ bị nhiễm VGB, có nên cho trẻ bú sữa mẹ không khi trẻ đã được tiêm vắc xin VGB sơ sinh Kiến thức đúng khi trả lời là có
* Kiến thức chung về phòng lây nhiễm VGB
Kiến thức chung: Biến nhị phân, về phòng, ngừa lây nhiễm VGB: dựa trên % số điểm đạt được Tổng số điểm tối đa là 14 điểm Kiến thức chung có
2 giá trị:
- Kiến thức chung đúng: Trả lời đúng ≥75% nội dung (đạt ≥11 điểm)
- Kiến thức chung chưa đúng: Trả lời đúng <75% nội dung (đạt <11 điểm)
2.2.4.3 Một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ nhiễm HBsAg (+) và kiến thức đúng về phòng lây nhiễm VGB ở PNMT
Một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ nhiễm HBsAg (+)
- Liên quan giữa tỷ lệ HBsAg (+) và đặc điểm chung của ĐTNC: tuổi,
trình độ học vấn, nghề nghiệp, số lần mang thai, tiêm vắc xin VGB
- Liên quan giữa tỷ lệ HBsAg (+) và một số yếu tố nguy cơ: tiếp xúc
người mắc VGB; dùng chung dụng cụ cá nhân; tiền sử phẫu thuật; tiền sử từng bị vật nhọn: kim tiêm, rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, rác thải không rõ nguồn gốc gây trầy xước hoặc chảy máu; tiền sử xăm thêu môi, xăm thêu mắt, xăm mình; tiền sử truyền máu; kiến thức chung đúng
Một số yếu tố liên quan đến kiến thức chung đúng về phòng lây nhiễm VGB ở PNMT
- Liên quan giữa kiến thức chung đúng và đặc điểm chung của ĐTNC: tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, số lần mang thai
- Liên quan giữa kiến thức chung đúng và nguồn thông tin; gia đình có người nhiễm VGB
Trang 382.2.5 Phương pháp và kỹ thuật thu thập số liệu
2.2.5.1 Các phương tiện được sử dụng trong nghiên cứu
Sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn (Phụ lục 1)
Trang thiết bị, dụng cụ: pipet, đầu côn, đồng hồ, găng tay, mũ áo bảo
hộ, bút
Test xét nghiệm nhanh VGB Alere Determine HBsAg của hãng Alere Nhật Bản với độ đặc hiệu: 99,95%, độ nhạy: 95,16%
2.5.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Tất cả PNMT phù hợp với tiêu chuẩn chọn mẫu sẽ được mời đến trạm
y tế phỏng vấn và ghi nhận thông tin chung, kiến thức về phòng lây nhiễm VGB và được lấy máu làm xét nghiệm để xác định tỷ lệ nhiễm VGB thông qua kết quả HBsAg (+)
Kỹ thuật làm xét nghiệm HBsAg được thực hiện tại Phòng xét nghiệm của Trung tâm Y tế các quận, huyện trên địa bàn thành phố Cần Thơ
- Đảm bảo nguyên tắc vô trùng, ống tiêm và lọ đựng máu chỉ sử dụng một lần
- Người lấy máu: điều dưỡng, y sĩ tại các trạm y tế xã/phường
- Thể tích máu cần lấy: 2ml máu tĩnh mạch ngoại vi
- Mẫu máu sẽ được tập hợp trong ngày, mã hóa và được gửi đến phòng xét nghiệm Trung tâm Y tế các quận/huyện tìm HBsAg
- Xét nghiệm nhanh Determine HBsAg dựa trên nguyên lý sắc ký miễn dịch in vitro để xác định định tính kháng nguyên của virus VGB
- Sinh phẩm: Trước khi xét nghiệm để sinh phẩm ổn định ở nhiệt độ phòng (18 - 30°C) khoảng 15 - 30 phút
- Các bước tiến hành:
+ Lấy que thử phù hợp với số lượng mẫu cần xét nghiệm
+ Ghi tên hoặc mã ĐTNC vào vùng viết mã
Trang 39+ Bóc bỏ tấm vỏ bọc bảo vệ
+ Để que thử trên mặt phẳng khô sạch
+ Nhỏ mẫu thử: Cho 50 µl mẫu bệnh phẩm vào vị trí đặt mẫu
Sau 15’ đọc kết quả và không đọc kết quả quá 30 phút
2.2.5.3 Người thu thập dữ liệu
Nhóm tác giả và điều dưỡng, y sĩ, nữ hộ sinh tại trạm y tế các xã/phường
2.2.6 Phương pháp hạn chế sai số
Để kiểm soát những sai số trong nghiên cứu, tôi đã thực hiện một số phương pháp như sau:
Sai số do thiết kế bộ câu hỏi: Khắc phục bằng cách câu hỏi được thiết
kế rõ ràng, logic dễ hiểu theo mục tiêu nghiên cứu, được điều tra thử nghiệm
30 đối tượng và được sự góp ý của đối tượng nghiên cứu và của điều tra viên
để hoàn thiện trước khi đi thu thập số liệu
Trong quá trình nghiên cứu có thể xảy ra sai số không đáp ứng trong lúc chọn mẫu: Các cá thể từ chối tham gia nghiên cứu làm cho mẫu nghiên cứu thiếu tính đại diện, chúng tôi đã khắc phục bằng cách giải thích rõ ràng
Trang 40các đối tượng phỏng vấn, đối tượng không chấp nhận thì phải tìm hiểu vì sao,
có thể chọn thêm đối tượng để thay thế cho người không tham gia
Sai số do thu thập thông tin: Trước khi thực hiện thu thập số liệu, điều tra viên được tập huấn về kỹ năng thu thập thông tin, thống nhất về cách hiểu
và xử lý thông tin
Sai số do nhập dữ liệu: Tiến hành kiểm tra ngẫu nhiên các thông tin từ một số phiếu thu thập với số liệu thô đã được nhập vào file dữ liệu trước khi phân tích bằng thống kê Làm sạch số liệu trước khi tiến hành phân tích
Sai số do test xét nghiệm Alere Determine HBsAg: không sử dụng sinh phẩm hết hạn hoặc bảo quản không đúng nhiệt độ
2.2.7 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0 Đối với các biến định tính: biến số định tính được trình bày dưới dạng bảng tần suất (n), tỷ lệ phần trăm (%)
Đối với các biến định lượng: Biến số được mô tả bằng trung bình, độ lệch chuẩn
Thống kê mô tả: tính tần suất và tỷ lệ của các đặc điểm chung, yếu tố nguy cơ, kiến thức
Thống kê phân tích: Phân tích các yếu tố liên quan đến tỷ lệ HBsAg (+) và kiến thức về phòng lây nhiễm VGB của PNMT Dùng phép kiểm χ2 để
so sánh các tỷ lệ, mức độ kết hợp được đo bằng OR và khoảng tin cậy 95% với mức ý nghĩa thống kê ở mức p≤0,05 Các yếu tố kiểm định Khi bình phương có p<0,1 tiếp tục được đưa vào mô hình hồi quy đa biến để loại nhiễu bằng phương pháp Enter, mô hình được giữ lại dựa trên hệ số xác định R bình phương, xác định các yếu tố thật sự liên quan đến tỷ lệ nhiễm virus VGB và kiến thức chung đúng của đối tượng nghiên cứu