Liên quan kiến thức dinh dưỡng, kiến thức và hành vi phòng chống thừa cân, béo phì của người chăm sóc với tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ .... Thay đổi kiến thức dinh dưỡng đúng của
Trang 1LÊ THỊ THU TRANG
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP
THỪA CÂN, BÉO PHÌ Ở TRẺ EM MẪU GIÁO TẠI THÀNH PHỐ VŨNG TÀU NĂM 2021-2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
LÊ THỊ THU TRANG
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP
THỪA CÂN, BÉO PHÌ Ở TRẺ EM MẪU GIÁO TẠI THÀNH PHỐ VŨNG TÀU NĂM 2021-2022
Trang 5Lời cam đoan
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm tăng trưởng và dinh dưỡng hợp lý trẻ em thời kỳ mẫu giáo
3
1.2 Tình trạng thừa cân, béo phì 7
1.3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng thừa cân béo phì 10
1.4 Các giải pháp can thiệp truyền thông để phòng chống thừa cân, béo
phì ở trẻ em 14
1.5 Các công trình nghiên cứu liên quan 16
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 32
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc tính chung của đối tượng nghiên cứu 33
3.2 Tỉ lệ thừa cân, béo phì của trẻ 3-5 tuổi 36
3.3 Liên quan giữa các yếu tố nguy cơ với tình trạng thừa cân, béo phì
của trẻ 37
Trang 6cân, béo phì ở trẻ 48
Chương 4: BÀN LUẬN 4.1 Đặc tính chung đối tượng nghiên cứu 52
4.2 Tỉ lệ thừa cân, béo phì 53
4.3 Các yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì của trẻ 55
4.4 Kết quả can thiệp 64
KẾT LUẬN
KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Từ nghĩa Tiếng Anh
Deoxyribonucleic acid Beta-3 adrenergic receptor
Quảng cáo
Docosa Hexaenoic Acid Fat mass and Obesity-Associated
Leptin Melanocortin 4 Receptor pro-hormone convertase-1 Pro-opiomelanocortin
TC
TG
TQ
Thừa cân Thời gian Thói quen WHO Tổ chức Y tế Thế giới World Health Organization
Trang 8Trang Bảng 3.1 Đặc tính nhóm tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn và BMI cha
mẹ 33
Bảng 3.2 Tần số và tỉ lệ phân bố theo giới, tuổi 34
Bảng 3.3 Chỉ số nhân trắc trẻ phân bố theo giới và tuổi 35
Bảng 3.4 Thời gian hoạt động và nghỉ ngơi của trẻ 35
Bảng 3.5 Tỉ lệ thừa cân, béo phì và suy dinh dưỡng của trẻ 36
Bảng 3.6 Tình hình thừa cân, béo phì của trẻ phân theo giới, nhóm tuổi 36
Bảng 3.7 Liên quan giới, tuổi với tình trạng thừa cân, béo phì 37
Bảng 3.8 Liên quan tần suất sử dụng thức ăn rau và trái cây với tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ 38
Bảng 3.9 Liên quan tần suất sử dụng thức ăn béo và thức ăn ngọt với tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ 39
Bảng 3.10 Liên quan tần suất sử dụng nước ngọt và thức ăn nhanh với tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ 40
Bảng 3.11 Liên quan thói quen vận động và nghỉ ngơi với tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ 41
Bảng 3.12 Liên quan thói quen ăn uống với tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ 42
Bảng 3.13 Liên quan tình trạng thừa cân, béo phì của cha mẹ với tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ 42
Bảng 3.14 Liên quan giữa sự quan tâm quảng cáo thực phẩm của cha mẹ với tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ 43
Trang 9tượng nghiên cứu kiểm soát bằng mô hình hồi quy đa biến 43 Bảng 3.16 Tỉ lệ người chăm sóc có kiến thức đúng về dinh dưỡng 45 Bảng 3.17 Tỉ lệ người chăm sóc có kiến thức đúng về phòng chống thừa
cân, béo phì 46 Bảng 3.18 Tỉ lệ người chăm sóc có hành vi đúng về phòng chống thừa
cân, béo phì 47 Bảng 3.19 Liên quan kiến thức dinh dưỡng, kiến thức và hành vi phòng
chống thừa cân, béo phì của người chăm sóc với tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ 47 Bảng 3.20 Thay đổi kiến thức dinh dưỡng đúng của người chăm sóc nhóm
trẻ thừa cân, béo phì trước và sau can thiệp 48 Bảng 3.21 Thay đổi kiến thức phòng chống thừa cân béo phì đúng của
người chăm sóc nhóm trẻ trước và sau can thiệp 49 Bảng 3.22 Thay đổi hành vi đúng phòng chống thừa cân béo phì của
người chăm sóc nhóm trẻ trước và sau can thiệp 50 Bảng 3.23 Kết quả can thiệp của nhóm trẻ thừa cân, béo phì 51
Trang 10Hình 2.1 Cách đo chiều cao đứng 30
Trang 11MỞ ĐẦU
Tình trạng thừa cân, béo phì đã trở thành một vấn đề khá phổ biến khắp thế giới, tỉ lệ ngày càng tăng, được Tổ chức Y tế thế giới xem như đại dịch toàn cầu với ít nhất 2,8 triệu người chết mỗi năm do thừa cân hoặc béo phì Tỉ lệ béo
phì trên toàn thế giới năm 2016 đã tăng gần gấp ba lần kể từ năm 1975 Vào
năm 1995, ước tính có khoảng 200 triệu người lớn béo phì trên toàn thế giới và
18 triệu trẻ em dưới 5 tuổi được phân loại là thừa cân Năm 2016 hơn 1,9 tỷ người lớn, từ 18 tuổi trở lên, bị thừa cân Trong số này có hơn 650 triệu người béo phì [62]
Năm 2019, ước tính có khoảng 38,2 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân hoặc béo phì Gần một nửa số trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân hoặc béo phì trong năm 2019 sống ở châu Á [63] Ở Việt Nam sau 10 năm (từ 2000 đến 2010), tỉ
lệ thừa cân, béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi ở khu vực thành thị tăng gấp 6 lần, khu vực nông thôn tăng gấp 4 lần, tỉ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi năm 2019
là 9,7%
Thừa cân, béo phì ở trẻ em thường đi đôi với các bệnh kèm theo và tiếp tục gây thừa cân, béo phì ở tuổi vị thành niên và người trưởng thành ảnh hưởng tới sức khỏe và làm tăng tỉ lệ mắc các bệnh mạn tính không lây nhiễm như tim mạch, đái tháo đường, tăng lipid máu, dẫn đến tăng tỉ lệ tử vong Có rất ít thuốc được sử dụng trong điều trị bệnh béo phì ở trẻ em vì tác dụng phụ, nguy cơ gây nghiện và các biến chứng khác nhưng đây là bệnh lý có thể phòng ngừa [32]
Do đó khi phòng ngừa được thừa cân, béo phì ở trẻ em sẽ góp phần làm giảm
tỉ lệ thừa cân, béo phì ở người lớn, giảm nguy cơ mắc các bệnh mạn tính không lây có liên quan đến thừa cân, béo phì và giảm chi phí y tế, cũng như gánh chịu những hậu quả về thể chất và tâm lý khi còn nhỏ
Thành phố Vũng Tàu là đô thị loại 1, phát triển mạnh về du lịch và công nghiệp dầu khí Với diện tích 141,1 km2 và dân số hơn 530.000 người, gồm 16
Trang 12phường và 1 xã đảo Long Sơn Hiện nay trên địa bàn thành phố có 42 trường mẫu giáo với số lượng khoảng 17.000 trẻ từ 3-5 tuổi Những năm gần đây tình hình kinh tế xã hội của thành phố phát triển nhanh tạo nên thay đổi về lối sống
và chế độ dinh dưỡng của các gia đình làm tăng nguy cơ thừa cân, béo phì ở trẻ
em
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu tình hình và đánh giá kết quả can thiệp thừa cân, béo phì ở trẻ em mẫu giáo tại thành phố Vũng Tàu năm 2021-2022” nhằm các mục tiêu sau:
1 Xác định tỉ lệ thừa cân, béo phì trẻ em mẫu giáo tại thành phố Vũng Tàu năm 2021-2022
2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ em mẫu giáo tại thành phố Vũng Tàu năm 2021-2022
3 Đánh giá kết quả can thiệp truyền thông lên kiến thức, hành vi của người chăm sóc trẻ và tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ em mẫu giáo tại thành phố Vũng Tàu năm 2021-2022
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm tăng trưởng và dinh dưỡng hợp lý trẻ em thời kỳ mẫu giáo 1.1.1 Đặc điểm tăng trưởng của trẻ em thời kỳ mẫu giáo
Không phải là cơ thể của một người lớn thu nhỏ, cơ thể trẻ em có những đặc điểm riêng về cấu tạo và sinh lý Từ lúc sinh ra đến tuổi trưởng thành, trẻ phải trải qua hai hiện tượng bao gồm: (1) sự tăng trưởng, một hiện tượng phát triển về số do tăng số lượng và kích thước của tế bào ở các mô: sau đó là (2) sự trưởng thành, một hiện tượng về chất do có sự thay đổi về cấu trúc của một số
bộ phận, dẫn đến những thay đổi về chức năng tế bào [1] Quá trình tăng trưởng
và phát triển của trẻ có tính chất toàn diện cả về thể chất, tâm thần và vận động Việc phân chia giai đoạn cho quá trình phát triển của trẻ là cần thiết, tuy nhiên những giai đoạn này cũng chỉ mang tính chất tương đối Giai đoạn trước sẽ chuẩn bị cho giai đoạn sau Cách chia được chấp nhận hiện nay bao gồm các thời kỳ sau: bào thai, sơ sinh, nhũ nhi, răng sữa, thiếu nhi, thiếu niên [22]
Thời kỳ răng sữa bắt đầu từ 1 đến 6 tuổi, bao gồm hai giai đoạn nhỏ với những đặc điểm riêng: lứa tuổi nhà trẻ (1-3 tuổi) và lứa tuổi mẫu giáo (3-4-5 tuổi) Ở lứa tuổi mẫu giáo trẻ có sự phát triển mạnh về ngôn ngữ cùng với việc được tiếp xúc nhiều hơn với môi trường xã hội bên ngoài Cũng trong lứa tuổi này, tốc độ lớn của trẻ chậm dần Trẻ mất dạng mập tròn, người trở lên thon gầy Mỗi năm chỉ tăng trung bình 2000gr Chiều dài tăng gấp đôi so với lúc sinh khi trẻ 4 tuổi (1m) [22]
1.1.2 Nhu cầu năng lượng và dinh dưỡng hợp lý cho học sinh mẫu giáo 1.1.2.1 Nhu cầu năng lượng
Năng lượng nhập được cơ thể tiêu thụ cho các thành phần: (1) chuyển hóa cơ bản, (2) tác dụng sinh nhiệt của thức ăn và (3) hoạt động thể chất Ở trẻ
em, năng lượng còn dùng cho thảnh phần (4) là tăng trưởng và phát triển [28]
Trang 14Nhu cầu năng lượng ước lượng là thu nhập năng lượng bình quân nhằm duy trì năng lượng cho một cá nhân, phụ thuộc vào tuổi, giới, cân nặng, chiều cao và mức hoạt động thể chất Số Kcal mỗi ngày trẻ cẩn được tính theo công thức:
Số Kcal/ ngày = 1000 Kcal + 100*tuổi (năm) Thiếu năng lượng ở trẻ em ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng, trẻ sẽ chậm phát triển về cân nặng và chiều cao so với quần thể chuẩn của WHO, đây là một trong các nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ
em Ngược lại, dư thừa năng lượng cũng gây nên ảnh hưởng xấu đối với sức khỏe và tăng trưởng ở trẻ, biểu hiện của dư thừa năng lượng là tình trạng thừa cân, béo phì (TC, BP) và các bệnh mạn tính liên quan đến TC, BP [28]
Protein:
Protein là thành phần dinh dưỡng quan trọng nhất, cấu tạo nên các bộ phận của cơ thể Nhu cầu khuyến nghị năng lượng từ protein cho học sinh mẫu giáo là 2-3 g/kg/ngày chiếm 10-14% so với tổng năng lượng khẩu phần, trong
đó đạm động vật chiếm 50% [36]
Thiếu protein gây ra biểu hiện lâm sàng bằng tình trạng chậm lớn Suy dinh dưỡng thể gầy còm là hậu quả của chế độ ăn thiếu protein Suy dinh dưỡng thể phù thường do chế độ ăn quá nghèo về protein mặc dù đủ carbohydrate Ngược lại, thừa protein sẽ gây dư thừa năng lượng và tích lũy trong cơ thể dưới dạng mỡ, khi tích lũy quá mức sẽ gây tình trạng TC, BP [28]
Lipid:
Lipid có nguồn gốc động vật được gọi là mỡ, lipid có nguồn gốc thực vật được gọi là dầu Lipid là dung môi hòa tan các vitamin tan trong chất béo,
tham gia cấu trúc cơ thể Nhu cầu khuyến nghị năng lượng từ lipid cho học
sinh mẫu giáo là 4g/kg/ngày, trong đó một phần ba chất béo từ thực vật [36]
Trang 15Khi không được cung cấp đầy đủ lipid, trẻ có nguy cơ thiếu hụt năng lượng Trẻ mẫu giáo đang trong quá trình tăng trưởng về thể chất, nếu thiếu năng lượng, quá trình này sẽ bị chậm lại Bên cạnh đó, thiếu lipid sẽ ảnh hưởng đến quá trình hấp thu vitamin A, D, E, là những vi chất quan trọng đối với quá trình tăng trưởng, đặc biệt của hệ xương Ngoài ra, các acid béo không no như linoleic, acid alpha-liolenic, tiền tố DHA và DHA có vai trò quan trọng đối với
sự phát triển của hệ thần kinh trung ương, chức năng nhìn của mắt Khi lượng lipid dư thừa là yếu tố nguy cơ gây TC, BP [36]
Glucid
Glucid là nguồn năng lượng chủ yếu của mọi tế bào, đặc biệt tế bào thần kinh và hồng cầu Nhu cầu khuyến nghị năng lượng glucid cho học sinh mẫu giáo chiếm 50-60% so với tổng năng lượng khẩu phần [36] và tổng hợp glucid
từ lipid và protein, nếu quá trình này thiếu kéo dài sẽ ảnh hưởng đến xây dựng
hệ cơ và mô của cơ thể do cạn kiệt protein, kết quả là trẻ bị hạn chế tăng trưởng
và có nguy cơ suy dinh dưỡng Bên cạnh đó, thiếu glucid sẽ ảnh hưởng tới kết quả học tập, nhận thức ở trẻ Tuy nhiên, nếu dư thừa khẩu phần glucid cũng sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ, biểu hiện rõ rệt nhất
Trang 16chuyển oxy cho cơ thể, các hoạt động chuyển hóa khác; vitamin A tham gia vào chức năng thị giác của mắt và quá trình miễn dịch… Thiếu các vi chất này, trẻ dễ bị còi xương, suy dinh dưỡng, thiếu máu, giảm miễn dịch, hay bị các bệnh nhiễm trùng… và hậu quả là trẻ có chiều cao hạn chế [17]
1.1.2.2 Dinh dưỡng hợp lý cho học sinh mẫu giáo
Ăn uống là một khoa học, ăn uống phải đảm bảo mục đích cuối cùng là làm cho con người khỏe mạnh, có đủ sức bền bỉ dẻo dai, nhanh nhẹn cần thiết
để lao động đạt năng suất cao và hạn chế được bệnh tật Trong giai đoạn 1000 ngày vàng (từ khi mang thai đến khi trẻ được 2 tuổi) là cơ hội vàng tác động lên sự tăng trưởng của trẻ đặc biệt sự phát triển chiều cao và cửa sồ cơ hội để phòng ngừa các bệnh mạn tính không lây như suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì, rối loạn chuyển hóa… Do vậy ở trẻ em, dinh dưỡng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển Dinh dưỡng hợp lý cho học sinh mẫu giáo phải dựa trên nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể trẻ về năng lượng, là chế
độ dinh dưỡng đầy đủ với bốn nhóm thực phẩm (protein, glucid, lipid, vitamin
và khoáng chất), ăn đa dạng các loại thực phẩm, các chất dinh dưỡng ở tỷ lệ cân đối và hợp lý trong từng bữa ăn, từng ngày Với một chế độ dinh dưỡng hợp lý thì trẻ mới có sức khỏe tốt, giúp trẻ phát triển toàn diện và phòng ngừa được bệnh tật [39] Nếu năng lượng đưa vào ít hơn nhu cầu của cơ thể thì cơ thể xảy ra quá trình dị hóa nhiều hơn, làm tiêu hao các tổ chức, các tế bào… làm cân nặng giảm, khi kéo dài dẫn tới hậu quả suy dinh dưỡng Tình trạng này rất dễ gặp ở trẻ tuổi mẫu giáo nếu không được chăm sóc tốt Ngược lại nếu đưa năng lượng vào vượt quá nhu cầu thì có sự tích lũy mỡ làm cân nặng tăng lên, kéo dài dẫn tới thừa cân, béo phì và ngày càng phổ biến với trẻ sống ở thành thị hiện nay [18]
Trang 171.2 Tình trạng thừa cân, béo phì
1.2.1 Khái niệm
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO):
Thừa cân là tình trạng cân nặng hiện tại vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao
Béo phì là tình trạng tích tụ mỡ bất thường và quá mức gây hậu quả xấu cho sức khoẻ [62]
1.2.2 Cách xác định tình trạng thừa cân, béo phì
Sự phát triển cơ thể thay đổi theo tuổi, vì vậy không thể áp dụng một chuẩn chung để đánh giá tình trạng thừa cân, béo phì cho mọi lứa tuổi Tổ chức
Y tế Thế giới (WHO) chia 3 nhóm tuổi để đánh giá tình trạng dinh dưỡng: dưới
5 tuổi, từ 5-19 tuổi, và người lớn [62]
Để chẩn đoán béo phì dựa vào đo lượng mỡ dư thừa trong cơ thể, nhưng không khả thi trên lâm sàng Chỉ số khối cơ thể (BMI) là phương tiện sàng lọc
có tương quan khá mạnh với khối lượng mỡ cơ thể Chỉ số khối cơ thể (BMI)
là một chỉ số đơn giản của cân nặng theo chiều cao, thường được sử dụng để phân loại thừa cân và béo phì ở người lớn Nó được định nghĩa là trọng lượng của một người tính bằng kilôgam chia cho bình phương chiều cao tính bằng mét (kg/m 2)
BMI được tính theo công thức sau:
Trang 181.2.2.1 Cách xác định béo phì ở người lớn
Đối với người lớn, WHO định nghĩa thừa cân và béo phì áp dụng cho người châu Á như sau:
- Thừa cân là chỉ số BMI lớn hơn hoặc bằng 23 (kg/m2); và
- Béo phì là chỉ số BMI lớn hơn hoặc bằng 25 (kg/m2)
BMI cung cấp thước đo mức độ dân số hữu ích nhất về thừa cân và béo phì vì nó là như nhau cho cả hai giới nam nữ và cho mọi lứa tuổi người lớn nhưng không áp dụng cho phụ nữ mang thai, vận động viên, người già Vì vậy
nó nên được coi là một hướng dẫn thô vì nó có thể không tương ứng với cùng một mức độ béo ở các cá nhân khác nhau [62]
1.2.2.2 Cách xác định béo phì ở trẻ em dưới 5 tuổi
Đối với trẻ em dưới 5 tuổi: tuổi cần được xem xét xác định thừa cân, béo phì khi:
- Thừa cân là cân nặng theo chiều cao lớn hơn 2 độ lệch chuẩn (SD) so với mức trung bình của Tiêu chuẩn tăng trưởng trẻ em của WHO; và
- Béo phì là cân nặng theo chiều cao lớn hơn 3 độ lệch chuẩn so với mức trung bình của Tiêu chuẩn tăng trưởng trẻ em của WHO
Phụ lục 3: Chuẩn tăng trưởng của WHO đối với trẻ trai dưới 5 tuổi [62]
Phụ lục 4: Chuẩn tăng trưởng của WHO đối với trẻ gái dưới 5 tuổi [62]
1.2.2.3 Cách xác định béo phì ở trẻ em từ 5-19 tuổi
Trẻ em từ 5-19 tuổi thừa cân, béo phì được định nghĩa như sau:
- Thừa cân là BMI theo tuổi lớn hơn 1 độ lệch chuẩn trên mức trung bình Tham chiếu tăng trưởng của WHO; và
- Béo phì là BMI theo tuổi lớn hơn 2 độ lệch chuẩn trên mức trung bình Tham chiếu tăng trưởng của WHO [62]
Phụ lục 5: Chuẩn tăng trưởng của WHO đối với trẻ trai từ 5-19 tuổi [62] Phụ lục 6: Chuẩn tăng trưởng của WHO đối với trẻ gái từ 5-19 tuổi [62]
Trang 191.2.3 Cơ chế bệnh sinh của thừa cân, béo phì
1.2.3.1 Nguyên lý điều hòa năng lượng
Cơ chế bệnh sinh của thừa cân, béo phì là do mất cân bằng năng lượng, khi quá nhiều lượng calo được hấp thu và quá ít calo được tiêu thụ
Khi có sự mất cân bằng năng lượng sẽ xảy ra một trong hai khuynh hướng: tăng cân (năng lượng hấp thụ lớn hơn năng lượng tiêu hao) hoặc sụt cân (năng lượng hấp thụ nhỏ hơn năng lượng tiêu hao) Theo Tổ chức Y tế Thế giới thừa cân béo phì trải qua 3 giai đoạn: tiền béo phì, tăng cân và duy trì cân nặng Trong giai đoạn tiền BP, do hấp thụ năng lượng cân bằng với năng lượng tiêu hao nên đối tượng không tăng cân Trong giai đoạn tăng cân, có sự mất cân bằng năng lượng trong một thời gian dài do năng lượng hấp thụ cao hơn năng lượng tiêu hao nên dẫn tới tăng cân Ở giai đoạn giữ và duy trì cân nặng, đối tượng lặp lại sự cân bằng năng lượng ở một mức mới cao hơn mức cũ Cơ thể đã quen với trọng lượng cơ thể gia tăng gồm cả mỡ và khối cơ nên sẽ có khuynh hướng duy trì cân nặng mới này [61]
1.2.3.2 Nguyên nhân gây tích mỡ
Có nhiều lý do khiến cho mô mỡ tích tụ trong cơ thể Thứ nhất là mỡ cung cấp năng lượng cao hơn so với các loại thực phẩm khác Khi cơ thể tiêu thụ 1g chất đạm hoặc 1g chất bột đường cung cấp 4 Kcal Trong khi đó tiêu thụ 1g chất béo cung cấp 9 Kcal Thứ hai là lượng dự trữ mỡ trong cơ thể là không giới hạn, lượng lipid ăn vào có thể được dự trữ trong các mô mỡ với tỉ lệ có thể lên đến 96% và việc ăn nhiều lipid không làm gia tăng oxy hóa lipid Thứ ba là
cơ chế điều hòa kiểm soát lượng lipid ăn vào: chuyển hóa lipid thường không tốt bằng glucid, protein và mỡ không chuyển hóa sang nhóm khác
Năng lượng dư thừa từ thức ăn dẫn đến sự tích tụ chất béo trong các tế bào mỡ, làm tăng kích thước tế bào (phì đại) và/hoặc tăng số lượng tế bào mỡ
Sự phì đại và/hoặc tăng số lượng tế bào mỡ để chứa chất béo này là những tổn
Trang 20thương bệnh lý của bệnh BP, do sự phân phối chất béo ở các vị trí bất thường như mỡ nội tạng, mỡ tim và mỡ trong cơ bắp có thể xảy ra khi các tế bào mỡ đạt đến khả năng lưu trữ tối đa của chúng
Trước kia, các mô mỡ được cho là để dự trữ năng lượng và giữ nhiệt, các nghiên cứu hiện nay cho thấy, chúng hoạt động như một cơ quan nội tiết, do chúng tiết ra một số loại hormone và các yếu tố báo hiệu bao gồm adipokines, hóa chất trung gian gây viêm và các axit béo tự do Não bộ điều khiển cảm giác thèm ăn, trung tâm điều hòa cảm giác thèm ăn nằm ở trên trục đường ruột-não
bộ, những yếu tố kích thích cảm giác thèm ăn là nguyên nhân gây TC, BP Ngoài ra, nồng độ cao hơn các apidokines lưu hành trong máu có thể gây nên những hậu quả xấu cho sức khỏe, trong đó có bệnh đái tháo đường type 2, xơ vữa động mạch, rối loạn chuyển hóa lipid máu, tăng huyết áp [17]
1.3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng thừa cân, béo phì
Có 2 nhóm nguyên nhân gây nên béo phì là béo phì nguyên phát và béo phì thứ phát Trong đó nhóm nguyên nhân nguyên phát thường gặp ở cộng đồng chiếm hơn 90% các trường hợp chủ yếu do tình trạng cung cấp năng lượng dư thừa so với nhu cầu Vì vậy đây là nhóm có thể phòng ngừa được Còn nhóm béo phì thứ phát chiếm nhỏ hơn 10% các trường hợp do các bệnh lý nội tiết hoặc di truyền [32] Ngày nay, khi nhận định tình hình gia tăng quá nhanh của dịch thừa cân, béo phì trên thế giới các nhà dịch tễ học cho rằng xu hướng gia tăng tỷ lệ thừa cân, béo phì ngoài cộng đồng chủ yếu là do chế độ ăn giàu năng lượng và giảm hoạt động thể chất [62]
1.3.1 Khẩu phần và thói quen ăn uống
Cùng với toàn cầu hóa, các sản phẩm thực phẩm không còn khu trú tại địa phương mà mang tính toàn cầu Các thực phẩm ăn nhanh được sử dụng trên khắp thế giới Các loại bữa ăn này cung cấp nhiều năng lượng nhưng không cân đối về thành phần bữa ăn Hiện nay, nước ta đang bước vào thời kỳ đô thị
Trang 21hóa và hội nhập nên cũng có những thay đổi về khẩu phần ăn và thói quen ăn uống Việc gia tăng chất béo và chất ngọt trong khẩu phần ăn cùng với giảm ăn rau, trái cây là đặc điểm của những người thừa cân, béo phì Không chỉ chất béo gây tăng cân mà ăn nhiều thức ăn ngọt, chất bột đường cũng gây béo Năm
2005, Nguyễn Minh Tuấn và cộng sự nghiên cứu ở 2.014 người trưởng thành
từ 20 đến 59 tuổi tại Thái Nguyên thấy yếu tố nguy cơ chính là khẩu phần ăn giàu năng lượng (2539 kcal/ngày) của nhóm thừa cân, béo phì cao hơn so với
2433 kcal/ngày của nhóm chứng và cao hơn so với nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam trưởng thành trên 19 tuổi lao động nhẹ là 2200 kcal/ngày ở nữ và 2300 kcal/ngày ở nam [4], [35] [40]
Ở trẻ em cũng có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng mối liên quan giữa tình trạng béo phì với khẩu phần ăn của trẻ Phùng Đức Nhật năm 2014, khi nghiên cứu tỉ lệ TC, BP và các yếu tố liên quan của học sinh mẫu giáo từ 4-6 tuổi tại quận 5 thành phố Hồ Chí Minh cho thấy trẻ TC, BP có khuynh hướng thích sử dụng thực phẩm có chất béo hơn [27] Một số nghiên cứu khác cũng đã chỉ ra tổng năng lượng khẩu phần của trẻ vị thành niên bị TC, BP cao, có một số thực đơn cung cấp quá nhiều năng lượng, canxi thấp và lượng rau xanh thiếu so với nhu cầu khuyến nghị [21] Năm 2021 tác giả Nguyễn Tiến công bố kết quả nghiên cứu cắt dọc khi tìm hiểu các yếu tố liên quan đến béo phì trẻ em thời thơ ấu thấy rằng có liên quan đến thực hành dinh dưỡng sớm dưới 5 tuổi, bao gồm tiêu thụ thường xuyên sữa bột (OR = 2,8, KTC 95%: 1,6-4,6), mật ong, đường (OR = 2,7, KTC 95%: 1,8-4,1), được pha chế nhà hàng, thức ăn nhanh (OR = 4,6, KTC 95%: 2,6-8,2) và đồ ngọt đóng gói (OR = 3,4, KTC 95%: 2,3-4,9) [51]
Thói quen ăn uống được coi là một trong những yếu tố tác động trực tiếp đến khẩu phần và ảnh hưởng tới tình trạng TC, BP của trẻ Trên thực tế có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới quá trình thu nhận thức ăn như điều kiện kinh tế của từng gia đình, thói quen ăn uống của trẻ, tập quán ăn uống của từng địa phương và
Trang 22đặc biệt là quan điểm nuôi dưỡng trẻ của ông, bà, bố, mẹ Mặt khác việc tiếp thị thực phẩm hoặc đồ uống có nhiều chất béo và đường cũng được coi là yếu
tố gây BP vì nó ảnh hưởng đến thói quen ăn uống của trẻ em Một nghiên cứu của Phan Thị Ngọc Nhanh và cộng sự tại thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang trên 460 trẻ từ 5-6 tuổi năm 2014 cho thấy những trẻ TC, BP đều thích thức ăn nhanh, thích thức ăn béo, thức ăn ngọt và nước ngọt hơn trẻ bình thường [26]
1.3.2 Hoạt động thể lực
Lối sống tĩnh tại, ít hoạt động thể lực làm giảm tiêu hao năng lượng dẫn đến gia tăng TC, BP Cư dân thành thị dành nhiều thời gian cho làm việc và các hoạt động giải trí tĩnh tại như xem phim, xem truyền hình, làm việc với máy vi tính, chơi trò chơi điện tử, ít dành thời gian giải trí qua các hình thức vận động Mặt khác đô thị phát triển với nhiều nhà cao tầng, ngày càng ít công viên dành cho các hoạt động tập luyện thể lực, vận động cơ thể… cũng góp phần làm gia tăng lối sống tĩnh tại, ít hoạt động thể lực nên giảm tiêu hao năng lượng, năng lượng dần tích lũy gây nên dư thừa mỡ và tích mỡ trong cơ thể Theo khuyến cáo của WHO cần tham gia các hoạt động thể chất thường xuyên: 60 phút mỗi ngày cho trẻ em và 150 phút trải dài trong tuần cho người lớn [62]
Ngay từ khi trẻ học mẫu giáo đã bị ảnh hưởng bởi sự thiếu hoạt động thể lực, thời gian xem màn hình nhiều, xem các phương tiện truyền thông có chế
độ ăn uống không lành mạnh và kéo dài thời gian ngồi, đây được coi là các yếu
tố nguy cơ cho sự phát triển của TC, BP Như vậy việc can thiệp để tăng cường hoạt động thể lực và giảm hành vi ít vận động là cần thiết giảm nguy cơ TC,
BP ở trẻ em
Ngủ ít cũng được xem là một yếu tố nguy cơ cao dẫn đến béo phì ở trẻ
Cơ chế để giải thích điều này là trong khi ngủ là tăng tiết ra những hormon như
GH, Cortisol, Leptin là những hormon liên quan đến điều chỉnh cảm giác no
Trang 23của cơ thể Nếu thức dậy giữa chừng thì quá trình trên bị gián đoạn có thể làm tăng cảm giác đói và khó ngủ, đây là nguyên nhân gây ra tích mỡ [32]
1.3.3 Yếu tố di truyền
Từ khi có nghiên cứu về mối liên quan giữa gen và BP đến nay đã xác định được hơn 50 gen có liên quan mật thiết với béo phì Trong số các gen được xác định bởi nghiên cứu về gen mở rộng, gen FTO được cho là liên quan mật thiết nhất đối với bệnh BP [54] BP là bệnh đa yếu tố, là kết quả của sự tương tác giữa yếu tố môi trường và di truyền Các phương pháp di truyền phân tử đã
mở rộng hiểu biết của chúng ta về một số dạng di truyền BP ở người Di truyền
BP gồm 3 nhóm: BP hội chứng (syndromic forms of obesity), BP đa gen (polygenomic forms of obesity) và BP đơn gen (monogenic forms of obesity)
Béo phì hội chứng: hầu hết các trường hợp BP hội chứng đều đi kèm với
tình trạng chậm phát triển tâm thần và các bất thường về hình thái học
Béo phì đa gen: là dạng BP phổ biến Cơ chế của BP đa gen rất phức tạp,
là kết quả tác động của ít nhất hai gen với môi trường
Béo phì đơn gen: là trường hợp BP có nguyên nhân xuất phát từ một đột
biến đơn gen, gây ra các rối loạn chức năng vừa nghiêm trọng vừa hiếm gặp trong dân số, các gen đã được xác định gây BP đơn gen bao gồm leptin (LEP), pro-opiomelanocortin (POMC), melanocortin 4 receptor (MC4R), enzyme pro-hormone convertase-1 (PC1) [54]
Trong nghiên cứu năm 2020 của tác giả Đỗ Nam Khánh trên trẻ mầm non tại Hà Nội tiến hành phân tích AND qua mẫu tế bào niêm mạc má với nhóm bệnh gồm 354 trẻ béo phì và nhóm chứng gồm 708 trẻ bình thường Kết quả cho thấy đa hình rs4994 của gen ADRB3 và đa hình rs9939609 gen FTO liên quan đến béo phì ở trẻ mầm non Hà Nội [19]
Trang 241.4 Các giải pháp can thiệp truyền thông để phòng chống thừa cân, béo phì ở trẻ em
Trong bệnh lý béo phì có rất ít thuốc được điều trị béo phì cho trẻ em vì những tác dụng phụ, nguy cơ gây nghiện và những biến chứng khác và chỉ dùng thuốc khi bệnh béo phì đã có biến chứng Còn đối với những trường hợp thừa cân hoặc béo phì không biến chứng mục tiêu điều trị chủ yếu là tạo và duy trì thói quen ăn uống và hoạt động thể chất lành mạnh Vì vậy mà các giải pháp can thiệp truyền thông về dinh dưỡng và hoạt động thể lực cho gia đình và nhà trường đóng vai trò rất quan trọng để phòng chống thừa cân, béo phì ở trẻ em [32]
1.4.1 Biện pháp thay đổi chế độ ăn
Hai yếu tố thiết yếu của một can thiệp dinh dưỡng bao gồm thay đổi chế
độ ăn uống và giáo dục dinh dưỡng nhằm thay đổi hành vi ăn uống của trẻ Prelip và cộng sự đã chứng minh rằng các can thiệp dinh dưỡng có áp dụng giáo dục dinh dưỡng như một chiến lược can thiệp có sự cải thiện đáng kể về kiến thức dinh dưỡng, thái độ và hành vi ăn uống của trẻ cũng như cha mẹ trẻ [53]
Tìm hiểu thói quen, tập quán ăn uống của trẻ giúp xác định nguyên nhân, đồng thời góp phần tạo ra hướng can thiệp hiệu quả Sự tham gia của cha mẹ là một phần quan trọng trong các can thiệp làm thay đổi hành vi ăn uống của trẻ theo hướng tích cực do đó sẽ giúp cho việc quản lý TC, BP ở trẻ em có hiệu quả hơn Can thiệp bằng biện pháp truyền thông giáo dục kết hợp gia đình và nhà trường phòng chống TC, BP ở học sinh tiểu học thành phố Huế do Phan Thị Bích Ngọc và cộng sự cho kết quả tại trường can thiệp tỉ lệ TC, BP giảm
từ 8% xuống còn 6,4% [23]
Theo khuyến cáo của WHO dinh dưỡng lành mạnh cho người thừa cân béo phì là hạn chế thu nạp năng lượng từ chất béo và đường Bên cạnh đó cần
Trang 25tăng tiêu thụ trái cây và rau quả cũng như các loại đậu ngũ cốc nguyên hạt và các loại hạt [57] Do vậy ngành công nghiệp thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy chế độ ăn uống lành mạnh như giảm lượng chất béo, đường
và muối trong thực phẩm chế biến sẵn và hạn chế tiếp thị những thực phẩm này hướng đến trẻ em và thanh thiếu niên
1.4.2 Biện pháp tăng cường hoạt động thể lực
Hoạt động thể lực được coi là một yếu tố bảo vệ cho sức khỏe của con người, thực hiện các hoạt động thể lực là cải thiện về sức khỏe thể chất, tâm lý
và tinh thần cho người tham gia Hoạt động thể lực có thể giúp tăng cường hoạt động của hệ tim mạch, thúc đẩy sự hoàn thiện và phát triển các chức năng của não bộ Hoạt động thể lực là một biện pháp quan trọng vì vừa giúp giảm cân vừa duy trì hiệu quả giảm cân lâu dài và có ảnh hưởng tích cực đến các nguy
cơ bệnh tật gắn liền với tình trạng TC, BP Các cách phổ biến để vận động bao gồm đi bộ, đạp xe, thể thao giải trí và vui chơi tích cực Theo hướng dẫn về hoạt động thể chất, hành vi tĩnh tại và giấc ngủ cho trẻ em dưới 5 tuổi được phát triển bởi Hội đồng chuyên gia WHO được đưa ra vào năm 2019, đối với trẻ 3-4 tuổi nên dành ít nhất 180 phút cho nhiều loại hoạt động thể chất ở bất
kỳ cường độ nào, trong đó ít nhất 60 phút là hoạt động thể chất cường độ trung bình đến mạnh, trải đều trong ngày, càng nhiều càng tốt Trẻ không bị gò bó quá 1 giờ, ví dụ như xe đẩy, xe kéo hoặc ngồi trong thời gian dài Thời gian tĩnh tại trên màn hình không quá 1 giờ, càng ít càng tốt Khi ít vận động, khuyến khích tham gia đọc và kể chuyện với người chăm sóc Mỗi ngày có 10-13 giờ ngủ chất lượng tốt, bao gồm cả giấc ngủ trưa, với thời gian ngủ và thức dậy đều đặn [60]
Còn theo khuyến cáo của Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ, trẻ em nên hoạt động thể chất ít nhất 1 giờ/ngày, với 30 phút hoạt động trong trường học
và giảm thời gian xem màn hình, ít hơn 2 giờ ngày [32]
Trang 261.5 Các công trình nghiên cứu liên quan
ở Châu Á bị TC, BP Ở Khu vực Châu Âu WHO báo cáo, cứ 3 trẻ thì có một trẻ bị thừa cân hoặc béo phì Trên 60% trẻ em thừa cân trước tuổi dậy thì sẽ bị thừa cân khi trưởng thành Trẻ em và thanh thiếu niên, từ 5-19 tuổi đã cho thấy
tỉ lệ béo phì gia tăng ở hầu hết các quốc gia, bao gồm cả những nơi mà tình trạng này đã không còn đáng báo động cách đây 40 năm Một số quốc gia đã chứng kiến tỉ lệ này tăng gần gấp đôi: Israel đã từ 5,8% năm 1975 lên 11,9% vào năm 2016, Andorra từ 6,2% lên 12,8% và Malta từ 7,4% lên 13,4% Phân tích tình trạng thừa cân và béo phì, chúng ta có thể thấy rằng chúng tuân theo các xu hướng và mô hình tương tự Năm 1975, phần lớn các nước Châu Âu có
tỉ lệ thừa cân dưới 10% và béo phì dưới 5%, trong khi không có nước Châu Âu nào có tỉ lệ thừa cân cao hơn 30% và béo phì cao hơn 10% Năm 2016, xu hướng này đã đảo ngược, cho thấy sự gia tăng đáng lo ngại về số lượng các quốc gia châu Âu có tỷ lệ thừa cân cao (trên 30%) và béo phì (trên 10%) [61]
Tại các nước trong khu vực châu Á: Tỉ lệ TC, BP tăng từ 13 triệu trẻ năm
1990 lên 18 triệu vào năm 2010, cao nhất trong 3 châu lục Hiện nay TC, BP ở trẻ em đã trở thành vấn đề sức khoẻ ưu tiên thứ hai trong phòng chống bệnh tật
ở các nước châu Á và được xem như là một trong những thách thức đối với
Trang 27ngành Dinh dưỡng và Y tế [61] Trong một nghiên cứu từ năm 2011 đến năm
2017 với trẻ từ 2 đến 7 tuổi ở Hạ Môn là một trong 5 đặc khu kinh tế của Trung Quốc với 56.738 trẻ tham gia (29.444 bé trai, 27.294 bé gái) được kiểm tra tại
ba thời điểm (15.757 năm 2011, 19.098 năm 2014 và 21.883 năm 2017), tỉ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em mẫu giáo từ 2 đến 7 tuổi lần lượt là 10,91% và 5,66% Tỉ lệ thừa cân béo phì ở trẻ trai (11,85 và 7,11%) cao hơn trẻ gái (9,90
và 4,09%) và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,01) [41]
Khu vực Đông Nam Á: Là một trong những khu vực phải đối mặt với gánh nặng kép về dinh dưỡng, trong khi tỉ lệ SDD vẫn còn cao thì tỉ lệ TC, BP tiếp tục gia tăng, đặc biệt trẻ em trong độ tuổi đi học ở các nước ASEAN (Brunei, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Thái Lan, Philippin, Việt Nam) thì tỉ lệ TC, BP là 9,9%; trong đó nam (11,5%) nhiều hơn nữ (8,3%), Brunei có tỉ lệ TC, BP cao nhất (36,1%), tiếp theo là Malaysia (23,7%), thấp nhất là Myanmar (3,4%) và Campuchia (3,7%) [63]
1.5.2 Tình hình ở Việt Nam
Việt Nam cũng như một số nước trên thế giới, đặc biệt là các nước khu vực Đông Nam Á đang trong thời kỳ chịu gánh nặng kép về dinh dưỡng, trong khi tình trạng SDD thấp còi vẫn còn cao, đang nằm trong số 20 nước có số lượng trẻ SDD thấp còi cao nhất thế giới, thì số người TC, BP đang gia tăng nhanh chóng, đặc biệt ở các đô thị Năm 2016 tác giả Đặng Văn Chức và cộng
sự nghiên cứu trên 327 trẻ từ 12-36 tháng tuổi tại huyện Kim Động thuộc tỉnh Hưng Yên thấy tỉ lệ trẻ nhẹ cân, thấp còi, gầy còm và thừa cân, béo phì lần lượt
là 7,6%, 23,5%, 6,7% và 1,2% [42] Theo Viện Dinh dưỡng, năm 1996 tỉ lệ trẻ
em thừa cân béo phì tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là 12% Sau 13 năm (năm 2009), tỉ lệ này 43% Kết quả gần nhất điều tra năm 2019-2020 của Viện Dinh dưỡng quốc gia, tỉ lệ trẻ béo phì ở thành phố Hồ Chí Minh trên 50%, còn khu vực nội thành Hà Nội trên 41% Tỉ lệ trẻ em thừa cân, béo phì tăng gấp 2,2
Trang 28lần từ 8,5% năm 2010 lên 19% năm 2020 và trẻ em tại thành thị mắc bệnh béo phì nhiều hơn so với nông thôn [5]
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi có tỉ lệ thừa cân, béo phì và tốc độ gia tăng thừa cân, béo phì cao nhất trong cả nước, sự gia tăng đáng báo động về tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ tiền học đường và học đường, đặc biệt ở trẻ lứa tuổi mầm non, tiểu học và ở khu vực nội thành (54,5% ở trường tiểu học nội thành Hồ Thị Kỷ và 31,2% ở trường tiểu học ngoại thành Phú Hòa Đông) [14] Sau 10 năm (2000-2010) tỉ lệ TC, BP ở học sinh tiền học đường và học đường tại thành phố Hồ Chí Minh đã tăng hơn 3 lần từ 3,7% lên 10,7% [13], [31]
Hà Nội cũng như các thành phố lớn khác tỉ lệ thừa cân, béo phì gia tăng nhanh ở tất cả các lứa tuổi Nghiên cứu theo dõi dọc trong 3 năm từ năm 2013 đến năm 2016 trên 2602 trẻ ở vùng nông thôn và nội thành Hà Nội từ 3-6 tuổi cho thấy tỉ lệ TC, BP tăng theo lứa tuổi, đặc biệt vùng nội thành tăng từ 14,2% lên 29,9% với trẻ nam và tăng từ 9,0%-21,6% với trẻ nữ Trong đó 41,4% trẻ thừa cân và 30,7% béo phì vẫn giữ nguyên tình trạng dinh dưỡng ở 2 thời điểm nghiên cứu năm 2013 và 2016, tỉ lệ mới mắc thừa cân và béo phì lần lượt là 12,4% và 2,7% và trẻ nam có xu hướng béo phì nhiều hơn trẻ nữ [43] Nghiên cứu khác của Nguyễn Thùy Linh và cộng sự tại Hà Nội tỉ lệ trẻ bị thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học năm 2017 là 41,7 % thì năm 2018 đã tăng lên 44,7% [21]
Trang 296 năm và xác định thêm kết quả can thiệp của biện pháp truyền thông lên kiến
thức, hành vi của người chăm sóc trẻ
Trang 30Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh mẫu giáo tại các trường mầm non thành phố Vũng Tàu đang theo học năm học 2021-2022
- Người chăm sóc trẻ tại nhà: cha, mẹ, ông, bà…
- Giáo viên, bảo mẫu
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Đối với trẻ: Chọn tất cả trẻ trong độ tuổi mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi đang theo học tại các trường mầm non thành phố Vũng Tàu
- Người chăm sóc trẻ tại nhà: cha, mẹ và người chăm sóc trẻ hàng ngày
đồng ý tham gia nghiên cứu
- Giáo viên, bảo mẫu: là người chăm sóc trẻ tại trường hàng ngày
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
2.1.3.2 Người chăm sóc trẻ tại nhà
- Không đồng ý tham gia phỏng vấn
2.1.3.3 Giáo viên, bảo mẫu
- Không đồng ý tham gia phỏng vấn
Trang 312.1.3.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Từ tháng 9/2021 đến tháng 6/2022 tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Vũng Tàu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có can thiệp không đối chứng
Thiết kế nghiên cứu sẽ được triển khai qua 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: là thiết kế điều tra mô tả cắt ngang nhằm xác định tỷ lệ TC, BP
và tìm ra một số yếu tố liên quan với tình trạng TC, BP Tiến hành can thiệp truyền thông trên những người chăm sóc trẻ nhóm TC, BP
Giai đoạn 2: đánh giá kết quả can thiệp không nhóm chứng của người chăm
sóc và trẻ trong nhóm TC, BP
2.2.2 Cỡ mẫu
2.2.2.1 Cỡ mẫu chọn cho điều tra cắt ngang
Công thức tính cỡ mẫu nghiên cứu: theo công thức ước lượng một tỷ lệ
n = Z
2 (1 - α/2) * p * (1 - p)
d2
n = số đối tượng cần điều tra
α = 0,05 (độ tin cậy 95%), Z(1 - α/2) = 1,96, tra bảng phân phối chuẩn
p = tỉ lệ thừa cân, béo phì của trẻ theo báo cáo của Bùi Xuân Thy nghiên cứu
Trang 322.2.2.2 Cỡ mẫu chọn cho nghiên cứu can thiệp cộng đồng
Chọn toàn bộ những trẻ thừa cân, béo phì được xác định trong giai đoạn 1 vào nhóm can thiệp Tổng số là 125 trẻ thừa cân, béo phì
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Theo 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Chọn trường
- Lập danh sách các trường mầm non tại thành phố Vũng Tàu gồm 42 trường Chọn 3 trường có chủ đích đại diện cho 3 khu vực khác nhau trong thành phố:
+ Trường Mầm non Hương Sen: Là trường nằm ngay trong trung tâm thành phố
+ Trường Mầm non Phường 10: Là trường có vị trí xa trung tâm thành phố nhất, có địa giới hành chính giáp với huyện ngoại thành
+ Trường Mầm non Sao Mai: là trường vùng ven có vị trí nằm giữa trường Hương Sen và trường Phường 10
Giai đoạn 2: Chọn đối tượng nghiên cứu
- Lập danh sách các lớp 3 tuổi, 4 tuổi, 5 tuổi trong các trường được chọn
- Chọn 180 học sinh từ mỗi trường và chia đều cho mỗi nhóm tuổi, chọn
60 học sinh cho mỗi nhóm 3, 4, 5 tuổi ở mỗi trường theo phương pháp ngẫu nhiên đơn dưới hình thức bốc thăm theo danh sách Tổng số điều tra 540 học sinh
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Giới của trẻ: nam, nữ
- Lứa tuổi của trẻ: tuổi được tính theo tuổi đi học 3 tuổi, 4 tuổi, 5 tuổi
Trang 33- Chỉ số nhân trắc của trẻ: cân nặng (kg) đo trọng lượng trẻ thực hiện bằng cân
có độ chính xác đến 100g, chiều cao (cm) đo chiều cao đứng của trẻ bằng thước
có độ chính xác đến 0,1cm
- Chỉ số BMI của cha/mẹ: được tính bằng cân nặng (kg) chia cho chiều cao bình phương (m) của cha/mẹ gồm 3 giá trị: dưới 23, từ 23 đến 24,9, trên hoặc bằng 25
- Tuổi của cha/mẹ: số tuổi của cha/mẹ trẻ tính theo năm sinh (lấy năm thực hiện nghiên cứu trừ đi năm sinh) gồm 3 giá trị: dưới hoặc bằng 30 tuổi, từ
31 đến 40 tuổi, trên hoặc bằng 41 tuổi
- Nghề nghiệp của cha/mẹ: là nghề tạo thu nhập chính của cha/mẹ gồm các giá trị buôn bán, lao động phổ thông, công nhân, cán bộ viên chức
- Trình độ học vấn của cha/mẹ: lớp mà cha/mẹ đã hoàn tất: gồm các giá trị: cấp 2 trở xuống (dưới lớp 9), cấp 3 (lớp 10 đến lớp 12), trung cấp/cao đẳng, đại học và sau đại học
- Kinh tế gia đình kết hợp tiêu giữa tiêu chí tự đánh giá của phụ huynh và theo quyết định 59/2015 QĐ/TTg: có ba giá trị khá, trung bình, nghèo [10]
2.2.4.2 Tỉ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em mẫu giáo
- Tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ có hai giá trị: có/không Có: khi trẻ
có thừa cân, béo phì Không: khi trẻ không thừa cân, béo phì
• Thừa cân là cân nặng theo chiều cao lớn hơn 2 độ lệch chuẩn (SD)
so với mức trung bình của Tiêu chuẩn tăng trưởng trẻ em của WHO
• Béo phì là cân nặng theo chiều cao lớn hơn 3 độ lệch chuẩn so với mức trung bình của Tiêu chuẩn tăng trưởng trẻ em của WHO
Phụ lục 3: Chuẩn tăng trưởng của WHO đối với trẻ trai dưới 5 tuổi [62] Phụ lục 4: Chuẩn tăng trưởng của WHO đối với trẻ gái dưới 5 tuổi [62] Phụ lục 5: Chuẩn tăng trưởng của WHO đối với trẻ trai từ 5-19 tuổi [62] Phụ lục 6: Chuẩn tăng trưởng của WHO đối với trẻ gái từ 5-19 tuổi [62]
Trang 342.2.4.3 Các yếu tố liên quan với tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em
- Thói quen ăn uống của trẻ tại nhà: háu ăn khi người chăm sóc thấy trẻ
dễ dàng trong sự lựa chọn thức ăn và trẻ ăn nhanh khi ăn hết bữa ăn trong khoảng thời gian < 30 phút, gồm 2 giá trị: không và có
- Tần suất ăn các loại thực phẩm: Theo nhận định của phụ huynh, đánh giá tần suất trẻ sử dụng trong 1 tuần các loại thực phẩm sau: rau, trái cây, thức
ăn béo, thức ăn ngọt, nước ngọt, thức ăn nhanh Có 5 giá trị: không ngày nào,
từ 1 đến 2 ngày, từ 3 đến 4 ngày, từ 5 đến 6 ngày và mỗi ngày
- Thời gian hoạt động ngoài trời: là thời gian tính bằng phút trẻ dành cho các hoạt động vận động như đạp xe, đá banh, đi bộ, tập thể dục…
- Thời gian hoạt động trong nhà: là thời gian tính bằng phút trẻ dành cho các hoạt động tĩnh tại như thời gian như tô màu, vẽ tranh, học đàn…
- Thời gian ngồi trước màn hình: là thời gian tính bằng phút khi trẻ chơi hoặc xem trên các thiết bị điện tử như điện thoại, ipad, xem tivi…
- Thời gian ngủ của trẻ với số thời gian được tính bằng giờ ngủ từ tối đến sáng
- Kiến thức của người chăm sóc về dinh dưỡng: có hai giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời đúng ≥ 6/8 câu (khoảng 75% tổng số câu trở lên) về dinh dưỡng chung Sai khi trả lời đúng <6/8 câu về dinh dưỡng chung Với các câu hỏi như sau người chăm sóc cho ý kiến Đúng, Sai hoặc Không biết: + Cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời đúng Sai khi người chăm sóc trả lời sai hoặc không biết
+ Sữa bột có thành phần dinh dưỡng tốt như sữa mẹ Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời sai Sai khi người chăm sóc trả lời đúng hoặc không biết
Trang 35+ Nước ngọt đóng chai tốt cho sức khỏe của trẻ Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời sai Sai khi người chăm sóc trả lời đúng hoặc không biết
+ Ăn rau xanh và uống nước trái cây tốt cho sức khỏe Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời đúng Sai khi người chăm sóc trả lời sai hoặc không biết
+ Ăn thức ăn nhanh, chế biến sẵn (xúc xích, gà rán, bánh ngọt, thịt hộp,
mì gói ) có thành phần dinh dưỡng tốt hơn mẹ nấu Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời sai Sai khi người chăm sóc trả lời đúng hoặc không biết
+ Mỗi ngày nên cho bé uống thêm 1 đến 2 ly sữa để cung cấp đủ nhu cầu canxi cho bé từ 3-5 tuổi Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời đúng Sai khi người chăm sóc trả lời sai hoặc không biết
+ Dinh dưỡng hợp lý là ăn đủ 4 nhóm thực phẩm: nhóm tinh bột (cơm, cháo ), nhóm chất đạm (thịt, cá, trứng, sữa…), nhóm chất béo (dầu, mỡ ), nhóm rau xanh và vitamin Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời đúng Sai khi người chăm sóc trả lời sai hoặc không biết
+ Trẻ chơi trong nhà tốt hơn chơi vận động ngoài trời Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời sai Sai khi người chăm sóc trả lời đúng hoặc không biết
- Kiến thức của người chăm sóc trẻ về phòng chống thừa cân, béo phì: có hai giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời đúng ≥ 4/6 câu (khoảng 66% tổng số câu trở lên) về kiến thức phòng chống thừa cân, béo phì Sai khi trả lời đúng <4/6 câu về kiến thức phòng chống thừa cân, béo phì Với các câu hỏi liên quan tới những việc cần làm để phòng tránh thừa cân, béo phì người chăm sóc cho ý kiến Đúng, Sai hoặc Không biết:
Trang 36+ Dinh dưỡng hợp lý, ăn vừa đủ theo lứa tuổi Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời đúng Sai khi người chăm sóc trả lời sai hoặc không biết
+ Giảm các thức ăn có dầu mỡ.Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời đúng Sai khi người chăm sóc trả lời sai hoặc không biết
+ Khuyến khích trẻ ăn các loại thức ăn nhanh, chế biến sẵn (xúc xích, gà rán, bánh ngọt, thịt hộp…) Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời sai Sai khi người chăm sóc trả lời đúng hoặc không biết
+ Không cho trẻ ăn nhiều rau, trái cây Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời sai Sai khi người chăm sóc trả lời đúng hoặc không biết + Tăng cường vận động cho trẻ Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời đúng Sai khi người chăm sóc trả lời sai hoặc không biết + Cho trẻ ngủ đủ giấc (10-13 giờ/ ngày) Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời đúng Sai khi người chăm sóc trả lời sai hoặc không biết
- Hành vi của người chăm sóc trẻ về phòng chống thừa cân, béo phì: có hai giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời đúng ≥ 4/6 câu (khoảng 66% tổng số câu trở lên) về hành vi phòng chống thừa cân, béo phì Sai khi trả lời đúng < 4/6 câu về hành vi phòng chống thừa cân, béo phì Với các câu hỏi liên quan tới những việc thực hành hàng ngày khi chăm sóc trẻ để phòng chống thừa cân, béo phì người chăm sóc cho ý kiến Có hoặc Không:
+ Hiện tại trong nhà luôn có sẵn bánh, kẹo, nước ngọt Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời không Sai khi người chăm sóc trả lời có
+ Hàng ngày khuyến khích trẻ ăn nhiều rau, trái cây Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời có Sai khi người chăm sóc trả lời không
Trang 37+ Hàng ngày hạn chế nấu các món chiên, xào cho trẻ ăn Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời có Sai khi người chăm sóc trả lời không
+ Khuyến khích trẻ vận động ngoài trời (đá bóng, đạp xe ) trên 1 giờ/ngày
Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời có Sai khi người chăm sóc trả lời không
+ Quy định thời gian trẻ ngồi trước màn hình tivi, điện thoại, ipad… ít hơn
1 giờ/ngày Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời có Sai khi người chăm sóc trả lời không
+ Thời gian bé ngủ trên 10 giờ/ngày Có 2 giá trị đúng/sai Đúng khi người chăm sóc trả lời có Sai khi người chăm sóc trả lời không
2.2.4.4 Can thiệp và kết quả can thiệp
- Đối tượng can thiệp:
+ Học sinh mẫu giáo: Chọn 125 trẻ TC, BP
+ Người chăm sóc trẻ: Chọn 125 người chăm sóc trẻ TC, BP
- Nội dung can thiệp:
+ Tư vấn chế độ dinh dưỡng hợp lý và tăng cường hoạt động thể lực ở trẻ mẫu giáo cho gia đình và nhà trường
- Biện pháp can thiệp: Truyền thông giáo dục sức khỏe
+ Thông tin về tác hại và cách phòng chống TC, BP qua hình thức tờ bướm dán trên bảng thông tin nhà trường
+ Phát tờ bướm hoặc nhắn tin qua Zalo cho tất cả phụ huynh trong các lớp
có trẻ TC, BP về dinh dưỡng hợp lý và vận động đầy đủ (Phụ lục 7)
+ Tổ chức họp mặt tiến hành tư vấn và phát tài liệu truyền thông cho giáo viên, bảo mẫu và người chăm sóc trẻ ở lớp có trẻ TC, BP được can thiệp với các nội dung: dinh dưỡng hợp lý, nguy cơ và tác hại của TC, BP ở trẻ, biện pháp phòng chống TC, BP
Trang 38+ Hướng dẫn thực hành các buổi nấu ăn tại trường đảm bảo dinh dưỡng hợp lý theo tuổi
- Theo dõi:
+ Thời gian can thiệp 9 tháng từ tháng 9/2021 đến tháng 6/2022
+ Cứ mỗi 3 tháng đánh giá lại cân nặng và chiều cao của trẻ
- Đánh giá sau can thiệp
+ Sự thay đổi kiến thức đúng về dinh dưỡng của người chăm sóc trẻ TC,
BP trước và sau can thiệp gồm hai giá trị: có hiệu quả/không hiệu quả Có hiệu quả: khi hiệu số của tỉ lệ kiến thức đúng về dinh dưỡng nhóm sau can thiệp so với nhóm trước can thiệp >0 Không hiệu quả: khi hiệu số của tỉ lệ kiến thức đúng về dinh dưỡng nhóm sau can thiệp so với nhóm trước can thiệp ≤ 0
+ Sự thay đổi kiến thức đúng phòng chống TC, BP của người chăm sóc trẻ TC, BP trước và sau can thiệp gồm hai giá trị: có hiệu quả/không hiệu quả
Có hiệu quả: khi hiệu số của tỉ lệ kiến thức đúng phòng chống TC, BP nhóm sau can thiệp so với nhóm trước can thiệp >0 Không hiệu quả: khi hiệu số của
tỉ lệ kiến thức đúng phòng chống TC, BP nhóm sau can thiệp so với nhóm trước can thiệp ≤ 0
+ Sự thay đổi hành vi đúng phòng chống TC, BP của người chăm sóc trẻ
TC, BP trước can thiệp và sau can thiệp gồm hai giá trị: có hiệu quả/không hiệu quả Có hiệu quả: khi hiệu số của tỉ lệ hành vi đúng phòng chống TC, BP nhóm sau can thiệp so với nhóm trước can thiệp >0 Không hiệu quả: khi hiệu số của
tỉ lệ hành vi đúng phòng chống TC, BP nhóm sau can thiệp so với nhóm trước can thiệp ≤ 0
+ Sự thay đổi về tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ sau khi can thiệp gồm 3 giá trị: thừa cân/ béo phì/không thừa cân, béo phì
2.2.5 Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu
➢ Cân đo trẻ để đánh giá chỉ số nhân trắc
Trang 39➢ Cân đo cha mẹ trẻ để đánh giá chỉ số BMI của cha mẹ
➢ Phỏng vấn gián tiếp, dùng bộ câu hỏi soạn sẵn gửi tới phụ huynh thông qua Google form
Ở trẻ em, đánh giá tình trạng thừa cân, béo phì thường được thực hiện bằng cách cân đo các chỉ số nhân trắc: cân nặng, chiều cao, vòng eo, vòng mông, lớp mỡ dưới da Tuy nhiên theo cách đánh giá của WHO để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho trẻ dưới 5 tuổi ngoài cộng đồng chỉ cần 2 thông số
là cân nặng và chiều dài nằm (đối với trẻ dưới 24 tháng tuổi) hoặc chiều cao đứng (đối với trẻ trên 24 tháng tuổi trở lên) [59]
Trong nghiên cứu này, với đối tượng nghiên cứu là trẻ từ 3 đến 5 tuổi và cha mẹ nên chúng tôi áp dụng cách đo chiều cao đứng cho tất cả các đối tượng nghiên cứu [58]
Kỹ thuật đo chiều cao: đo chiều cao đứng bằng thước Microtoise Đối
tượng bỏ giầy, dép, mũ nón, bờm tóc, khăn, búi tóc Đứng quay lưng vào thước đo, 2 chân sát vào nhau Đảm bảo các điểm chạm vào mặt phẳng có thước: 2 gót chân, 2 bụng chân, 2 mông, 2 vai và chẩm.Trục cơ thể trùng với thước đo, mắt thẳng, 2 tay buông thõng 2 bên Dùng eke áp sát đỉnh đầu, thẳng góc với thước đo Đối với trẻ nhỏ, cần thêm một người hỗ trợ giữ 2 cổ chân và gối của trẻ, người đo 1 tay giữ cằm của trẻ, còn tay kia kéo eke áp sát đỉnh đầu của trẻ (Xem hình 2.1) Đọc kết quả theo cm vối 1 số lẻ
Trang 40Hình 2.1 Cách đo chiều cao đứng
Nguồn: Hướng dẫn kỹ thuật đo chiều cao đứng, Viện Dinh dưỡng [38], [58]
Kỹ thuật cân: dùng cân điện tử TANITA của Nhật với sai số 100g Cân
được kiểm tra và chỉnh trước khi cân Đối tượng mặc quần áo tối thiểu, bỏ dày dép, mũ nón và các vật nặng khác trong người, đứng giữa bàn cân mắt nhìn thẳng, không cử động Người đọc nhìn thẳng chính giữa mặt cân, đọc khi số dừng lại trên màn hỉnh, kết quả được ghi theo kilôgam với một số lẻ
2.2.6 Phương pháp kiểm soát sai số
Sai số trong thu thập số liệu có thể gặp sai lệch đo lường và sai lệch hồi tưởng Để hạn chế sai lệch đo lường giảm thiểu bằng cách chuẩn hóa và hiệu chỉnh cân, thước đo trước khi điều tra Hướng dẫn cho điều tra viên cách sử dụng các dụng cụ, cách phỏng vấn bảng câu hỏi Giảm thiểu sai lệch hồi tưởng