1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp và một số yếu tố nguy cơ tim mạch của người từ 18 tuổi trở lên tại thành phố bến tre, tỉnh bến tre năm 2021 2022

131 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp và một số yếu tố nguy cơ tim mạch của người từ 18 tuổi trở lên tại thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre năm 2021 - 2022
Tác giả Nguyễn Thị Kim Yến
Người hướng dẫn PGS. TS Phạm Thị Tâm
Trường học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 18,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ KIM YẾNNGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH TĂNG HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH CỦA NGƯỜI TỪ 18 TUỔI TRỞ LÊN TẠI THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE... NGUYỄN THỊ KIM YẾN NGHIÊN

Trang 1

NGUYỄN THỊ KIM YẾN

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH TĂNG HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH CỦA NGƯỜI TỪ 18 TUỔI TRỞ LÊN

TẠI THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

Trang 2

NGUYỄN THỊ KIM YẾN

 

  NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH TĂNG HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ

YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH CỦA NGƯỜI TỪ 18 TUỔI TRỞ LÊN

TẠI THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

Cần Thơ - 2022

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các kết quảnghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưatừng được công bố ở bất kỳ nơi nào.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kim Yến

Trang 4

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ tận tình của gia đình, thầy cô, bạn bè và cán bộ y tế, Ủy bannhân xã phường trên địa bàn thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre Với lòng kínhtrọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến:

Quý thầy cô Ban Giám hiệu trường Đại học Y Dược Cần Thơ, phòngĐào tạo sau đại học, khoa Y tế công cộng cùng quý thầy cô đã giảng dạy cũngnhư tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đối với Cô hướngdẫn khoa học PGS TS Phạm Thị Tâm đã tận tình hướng dẫn và đóng gópnhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

Ban Giám đốc Trung tâm Y tế thành phố Bến Tre, Khoa Kiểm soátBệnh tật &HIV/AIDS cùng các đồng nghiệp đã luôn quan tâm, giúp đỡ, tạođiều kiện, chia sẻ khó khăn và giúp tôi hoàn thành chương trình học cũng nhưhoàn thành luận văn

Bên cạnh đó tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Ủy ban nhânnhân, Trạm Y tế các xã, phường và các cộng tác viên trên địa bàn thành phốBến Tre, tỉnh Bến Tre đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trìnhthu thập số liệu

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân vànhững người bạn đã luôn bên cạnh tôi, động viên, giúp đỡ, chia sẻ khó khăn

để tôi có thể hoàn thành khóa học cũng như luận văn tốt nghiệp

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kim Yến

Trang 5

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tổng quan về tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch 3

1.2 Các yếu tố liên quan đến tăng huyết áp 11

1.3 Tình hình tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch trên thế giới và Việt Nam 13

1.4 Đặc điểm địa phương nghiên cứu 19

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.2 Phương pháp nghiên cứu 20

2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 30

Chương 3 KẾT QUẢ 31

3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 31

3.2 Tình hình tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch của đối tượng nghiên cứu 33

3.3 Một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu 38

Chương 4 BÀN LUẬN 48

4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 48

Trang 6

4.3 Một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu 56

KẾT LUẬN 65 KIẾN NGHỊ 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Bộ câu hỏi phỏng vấn

Danh sách đối tượng tham gia nghiên cứu

Trang 7

Từ viết tắt Diễn giải

Tiếng Việt

HATT Huyết áp tâm thu

HATTr Huyết áp tâm trương

Tiếng Anh

JNC Joint National Committee

WHO World Health Organization

Trang 8

Từ viết tắt Diễn giải

BMI Chỉ số khối cơ thể

JNC Liên Ủy ban quốc gia

WHO Tổ chức Y tế thế giới

Trang 9

Bảng 1.1 Quy định các ngưỡng chẩn đoán THA theo từng cách đo 5

Bảng 1.2 Phân độ THA theo WHO/ISH (năm 2003) 5

Bảng 1.3 Phân độ HA tại Việt Nam hiện nay 6

Bảng 1.4 Phân loại chỉ số BMI 10

Bảng 2.1 Chọn đối tượng phỏng vấn 22

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 31

Bảng 3.2 Tình hình THA của đối tượng nghiên cứu 33

Bảng 3.3 Tình hình phát hiện THA ở người THA 33

Bảng 3.4 Tình hình điều trị ở người THA đã phát hiện 33

Bảng 3.5 Tình trạng thừa cân – béo phì, béo bụng của đối tượng 34

Bảng 3.6 Tình trạng bệnh ĐTĐ của đối tượng nghiên cứu 34

Bảng 3.7 Tình trạng hút thuốc của đối tượng nghiên cứu 34

Bảng 3.8 Đặc điểm hút thuốc của đối tượng nghiên cứu 35

Bảng 3.9 Tình trạng uống rượu bia của đối tượng nghiên cứu 35

Bảng 3.10 Đặc điểm uống rượu bia của đối tượng nghiên cứu 36

Bảng 3.11 Đặc điểm ăn trái cây/rau củ, ăn mặn của đối tượng nghiên cứu 36

Bảng 3.12 Đặc điểm ăn mặn của đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 3.13 Sự kết hợp của các YTNC của đối tượng nghiên cứu 38

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa THA với nhóm tuổi của đối tượng 38

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa THA với giới tính của đối tượng 39

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa THA với học vấn của đối tượng 39

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa THA với nghề nghiệp của đối tượng 40

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa bệnh THA với tiền sử bệnh THA gia đình 40

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa THA với thừa cân - béo phì, béo bụng 41

Trang 10

Bảng 3.22 Mối liên quan giữa THA với vận động thể lực của đối tượng 42

Bảng 3.23 Mối liên quan giữa THA với bệnh ĐTĐ của đối tượng 42

Bảng 3.24 Mối liên quan giữa THA với sự kết hợp các YTNC 43

Bảng 3.25 Kiến thức về bệnh THA của đối tượng nghiên cứu 44

Bảng 3.26 Mối liên quan giữa THA với kiến thức của đối tượng 45

Bảng 3.27 Phân tích hồi quy logistic đa biến các yếu tố liên quan THA 46

Trang 11

Biểu đồ 3.1 Nhóm tuổi đối tượng nghiên cứu 32

Biểu đồ 3.2 Trình độ học vấn đối tượng nghiên cứu 32

Biểu đồ 3.3 Hoạt động thể lực của đối tượng nghiên cứu 37

Biểu đồ 3.5 Kiến thức chung về THA của đối tượng nghiên cứu 45

Trang 12

MỞ ĐẦU

Bệnh tim mạch, tăng huyết áp là một bệnh mạn tính, với tần suất mắc bệnh ngày càng tăng và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của nền y học thế giới, ảnh hưởng đến hàng tỷ người trên thế giới [39], [51] Tăng huyết áp

là nguyên nhân dẫn đến các cơn đau tim và đột quỵ [51]

Bệnh tim mạch, tăng huyết áp đã trở thành thách thức lớn cho ngành y học nói riêng và toàn xã hội nói chung Xác định các yếu tố nguy cơ tim mạch

để phòng ngừa hiệu quả bệnh tim mạch, hạn chế tần suất mắc bệnh và tỷ lệ tử vong Tăng huyết áp dù là căn bệnh rất nguy hiểm nhưng thường ít có triệu chứng rõ rệt, nhiều người không phát hiện bệnh kịp thời mà chỉ tình cờ phát hiện khi đi khám một bệnh lý khác, chi phí điều trị thường xuyên rất cao, biến chứng của nó trên nhiều cơ quan như tai biến mạch máu não, suy tim, nhồi máu cơ tim,… có thể gây tàn phế hoặc tử vong, tác động không nhỏ đến gia đình, xã hội và kinh tế đất nước

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, năm 2000 tăng huyết áp ảnh hưởng đến sức khỏe của gần 1 tỉ người trên toàn thế giới và ước tính con số này lên tới 1,56 tỉ người vào năm 2025 [52] Trong năm 2019, tăng huyết áp

đã dẫn đến 10,8 triệu người chết [42] Ước tính đến năm 2030 có khoảng 23,6 triệu người chết do bệnh tim mạch [29]

Tại Việt Nam, trong những năm 1960 tỷ lệ tăng huyết áp khoảng 1%, năm 1992 là 11,2% và năm 2005 là 18,3% [38] Theo điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam tiến hành ở người ≥ 25 tuổi tại 8 tỉnh, thành phố của nước ta thì tỷ lệ tăng huyết áp năm 2008 là 25,1%, năm 2015 là 47,3% [5], [36], [38]

Việt Nam đã có các nghiên cứu về tăng huyết áp tuy nhiên phần lớn chỉ thực hiện ở người ≥25 tuổi và hạn chế ở người cao tuổi Trong cuộc sống hiện

Trang 13

đại hóa cùng với những thói quen theo xu hướng có hại như chế độ ăn uống không lành mạnh, lạm dụng rượu bia, thuốc lá, ít vận động thể lực thì người trẻ tuổi cũng đang đối mặt với nguy cơ bệnh tim mạch, tăng huyết áp Bên cạnh đó người cao tuổi là những đối tượng đã phục vụ rất nhiều cho xã hội thì

họ cần phải được quan tâm sức khỏe nhiều hơn nhất là phải được kiểm soát huyết áp để giúp họ sống vui, sống khỏe, phát huy tốt vai trò của mình trong

xã hội, góp phần nâng cao sức khỏe và tuổi thọ Mặt khác tỷ lệ tăng huyết áp theo báo cáo ở các bệnh viện cũng chưa phản ánh chính xác tỷ lệ tăng huyết

áp của người dân bởi những người có ý thức tốt về sức khỏe thường đến khám tại các cơ sở điều trị và có thể bỏ sót những người tại cộng đồng

Tại tỉnh Bến Tre, kết quả khám sàng lọc thụ động bệnh tăng huyết áp năm 2020 ở những người từ 40 tuổi trở lên thì tỷ lệ tăng huyết áp là 26,9%, tại thành phố Bến Tre thì tỷ lệ tăng huyết áp là 17% [27]

Từ những lý do nêu trên, chúng tôi thực hiện “Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp và một số yếu tố nguy cơ tim mạch của người từ 18 tuổi trở lên tại thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre năm 2021-2022” Qua nghiên cứu

nhằm biết được tỷ lệ tăng huyết áp và yếu tố nguy cơ tim mạch tại thành phố Bến Tre Từ đó mong muốn cung cấp các thông tin hữu ích làm cơ sở cho các

bộ phận chức năng liên quan xây dựng các giải pháp cụ thể để quản lý bệnh tăng huyết áp, giúp người dân kiểm soát huyết áp, nguy cơ bệnh tim mạch nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ, nâng cao sức khỏe cũng như cải thiện chất lượng cuộc sống Bên cạnh đó kết quả khảo sát cũng là tiền đề cho các nghiên cứu liên quan sau này Nghiên cứu gồm những mục tiêu cụ thể sau:

1 Xác định tỷ lệ tăng huyết áp và một số yếu tố nguy cơ tim mạch của người dân từ 18 tuổi trở lên tại thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp của người từ 18

tuổi trở lên tại thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch

1.1.1 Tổng quan về tăng huyết áp

1.1.1.2 Chẩn đoán tăng huyết áp

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì người trưởng thành tăng huyết

áp (THA) khi chỉ số HATT ≥ 140 mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hằng ngày hoặc từng được bác sĩ chẩn đoán THA [1], [4], [50]

Quy trình đo HA:

- Nghỉ ngơi trong phòng yên tĩnh ít nhất 5 – 10 phút trước khi đo HA

- Không dùng các chất kích thích như cà phê, thuốc lá, rượu bia trước

đó 2 giờ

- Tư thế đo chuẩn: người được đo HA ngồi ghế tựa, cánh tay duỗi thẳng trên bàn, nếp khuỷu tay ngang mức với tim Ngoài ra có thể đo ở các tư thế nằm, đứng Đối với những người cao tuổi hoặc có bệnh đái tháo đường

Trang 15

(ĐTĐ) nên đo thêm HA tư thế đứng nhằm xác định có hạ HA tư thế hay không

- Sử dụng huyết áp kế thủy ngân, huyết áp kế đồng hồ hoặc huyết áp kế điện tử (loại đo ở cánh tay) Các thiết bị đo cần được kiểm chuẩn định kỳ Bề dài bao đo (nằm trong băng quấn) tối thiểu bằng 80% chu vi cánh tay, bề rộng tối thiểu bằng 40% chu vi cánh tay Quấn băng quấn đủ chặt, bờ dưới của bao

đo ở trên nếp lằn khuỷu 2cm Đặt máy ở vị trí để đảm bảo máy hoặc mốc 0 của thang đo ngang mức với tim

- Nếu không dùng thiết bị đo tự động, trước khi đo phải xác định đúng

vị trí động mạnh cánh tay để đặt ống nghe Bơm hơi thêm 30mmHg sau khi không còn thấy mạch đập Xả hơi với tốc độ 2 - 3mmHg/nhịp đập HATT tương ứng với lúc xuất hiện tiếng đập đầu tiên (pha I của Korotkoff) và HATTr tương ứng với khi mất hẳn tiếng đập (pha V của Korotkoff)

- Không nói chuyện khi đang đo HA

- Lần đo đầu tiên, cần đo HA ở cả hai cánh tay, tay nào có chỉ số HA cao hơn sẽ dùng để theo dõi HA về sau

- Nên đo HA ít nhất hai lần, mỗi lần đo cách nhau ít nhất 1 - 2 phút Nếu số đo HA giữa hai lần đo chênh nhau >10mmHg, cần đo lại một vài lần sau khi đã nghỉ trên 5 phút Giá trị HA ghi nhận là trung bình của hai lần đo cuối cùng

- Trong trường hợp nghi ngờ, có thể theo dõi huyết áp bằng máy đo huyết áp tự động tại nhà hoặc bằng máy đo huyết áp tự động 24 giờ (Holter huyết áp)

- Ghi lại chỉ số đo HA (mmHg) dưới dạng HATT/HATTr, không làm tròn quá hàng đơn vị và thông báo kết quả cho người được đo HA [1], [17], [35]

Trang 16

Dựa vào trị số HA đo được sau khi đo HA đúng quy trình, ngưỡng chẩn đoán THA thay đổi tùy theo từng cách đo HA:

Bảng 1.1 Quy định các ngưỡng chẩn đoán tăng huyết áp theo từng cách đo

Phân loại THA có nhiều thay đổi trong những năm gần đây Theo JNC VII (năm 2003) phân độ THA như sau [48]:

Bảng 1.2 Phân độ THA theo WHO/ISH (năm 2003)

“Nguồn: JNC VII, 2003 [48]”

Trang 17

Theo Hội tim mạch học quốc gia Việt Nam và Bộ Y tế đã đưa ra cách

phân độ như sau [1], [9], [13]:

Bảng 1.3 Phân độ HA tại Việt Nam hiện nay

Phân độ HA Tâm thu (mmHg) Tâm trương (mmHg)

“Nguồn: Bộ Y tế Việt Nam, 2018 [1], [9], [13]”

Nếu HATT và HATTr không cùng mức phân độ thì chọn mức cao hơn

để xếp loại Tăng HATT đơn độc được phân độ theo mức biến động của HATT

Tăng HATT đơn độc: Ở người cao tuổi HATT có xu hướng tăng,

HATTr có xu hướng giảm Khi HATT ≥140 mmHg và HATTr <90 mmHg, bệnh nhân được gọi là THA tâm thu đơn độc Sự gia tăng trị số HATT và HA hiệu số (HATT - HATTr) là yếu tố để tiên lượng các YTNC tim mạch [4]

1.1.2 Các yếu tố nguy cơ tim mạch

1.1.2.1 Tuổi, giới tính

Nguy cơ mắc bệnh tim mạch càng ngày càng gia tăng khi tuổi đời càng cao, theo thống kê có hơn 1/2 số người bị đột quỵ và 4/5 số người chết vì đột quỵ ở độ tuổi > 65 tuổi Tuy nhiên thói quen ăn uống điều độ, sinh hoạt hợp

lý và duy trì lối sống lành mạnh đã góp phần làm chậm quá trình thoái hoá do

Trang 18

tuổi gây ra [10], [47]

Nhìn chung, các yếu tố nguy cơ (YTNC) tim mạch chính như THA, tăng LDL-C, đái tháo đường (ĐTĐ), thừa cân/béo phì, hút thuốc lá (HTL) và lười vận động tác động lên tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành (BMV) là tương đương nhau giữa hai giới nam và nữ Riêng YTNC HTL thì có tác động mạnh hơn đến nam, bên cạnh đó ít hoạt động thể lực thì tác động mạnh hơn ở nữ

Phân tích theo lứa tuổi thì tác động của 6 YTNC tim mạch trên lên tỷ lệ

tử vong do BMV có mô hình khá giống nhau với đường cong tỷ lệ nam cao hơn nữ và có tác động lớn nhất sau 50 tuổi Tuy nhiên ở nam giới, 3 yếu tố gồm chỉ số BMI cao, HTL, tăng cholesterol LDL có xu hướng tác động mạnh hơn ở lứa tuổi 50 - 75 tuổi, trong khi ảnh hưởng của các YTNC khác đến tử vong do BMV có xu hướng tăng mạnh hơn ở người cao tuổi (≥70 tuổi)

1.1.2.2 Tính di truyền

Nếu trong gia đình có người trẻ tuổi bệnh tim mạch (nam <55 tuổi, nữ

<65 tuổi) thì sẽ có nguy cơ mắc BMV gấp hai lần người không có tiền sử gia đình mắc bệnh [3], [47] Khi đó cần phải đặc biệt lưu ý làm giảm ảnh hưởng của bất kì YTNC nào có thể kiểm soát và cảnh giác để phòng tránh được các cơn đau tim và đột quỵ [10], [29] Khi một nửa trong số các nguyên nhân gây chết hiện nay là do bệnh tim mạch thì hầu như gia đình nào cũng có người chết vì căn bệnh này [10]

Các YTNC gồm THA, tăng LDL-C, ĐTĐ, béo phì, HTL và lười vận động được xác định là các YTNC tim mạch chính, quan trọng nhất có thể thay đổi được và là nền tảng của việc dự đoán nguy cơ cũng như phòng ngừa nguy

cơ tim mạch [3]

1.1.2.3 Hút thuốc lá

HTL là YTNC số một đối với đột tử và bệnh mạch máu ngoại vi,… Có

30 - 40% trong khoảng 500.000 trường hợp chết vì BMV hàng năm có

Trang 19

nguyên nhân từ HTL [10], [29] Theo một kết quả thống kê có khoảng 10,7% HTL gây tử vong ở BMV Kết quả điều tra quốc gia của Bộ Y tế năm 2015 (18 - 69 tuổi) thì tỷ lệ HTL ở nam là 45,3% và ở nữ là 1,1% [5]

HTL làm tăng gấp hai lần nguy cơ bệnh tim mạch, người < 50 tuổi nguy cơ tim mạch ở những người HTL cao hơn gấp 5 lần so với những người không HTL Tuy nhiên mối liên quan này có sự khác biệt giữa hai giới (nữ giới HTL thì nguy cơ nhồi máu cơ tim cấp cao hơn nam giới HTL) Tác hại của HTL thụ động cũng đã được chứng minh, nguy cơ bệnh tim mạch tăng 1,2 - 1,6 lần ở những người HTL thụ động Bỏ thuốc lá sau nhồi máu cơ tim cho thấy có giảm đáng kể nguy cơ biến cố tim mạch (khoảng 40% trong vòng hai năm) [3]

1.1.2.4 Uống rượu, bia

Hàng ngày mỗi người có thể uống 30ml rượu mạnh hoặc 120ml rượu vang hoặc 330 ml bia [1] Sử dụng rượu/bia với mức cho phép có thể giúp ngăn ngừa xơ vữa động mạch và BMV Ngược lại uống rượu/bia quá mức sẽ làm THA, tăng nguy cơ tổn thương gan và biến chứng thần kinh trung ương cũng như nhiều rối loạn khác [29], [31] Điều tra Quốc gia của Bộ Y tế năm

2015 (18 - 69 tuổi) ghi nhận có 44,2 % nam uống rượu/bia ở mức gây hại [5]

1.1.2.5 Tăng Cholesrerol trong máu và các rối loạn lipid máu

Theo điều tra Quốc gia của Bộ Y tế năm 2015 (18 - 69 tuổi) tỷ lệ tăng Cholesterol toàn phần (≥ 5,0 mmol/l) là 30,3% [5] Có 25,1% nguyên nhân tử vong BMV là do tăng LDL- C Tăng hàm lượng chất mỡ trong máu (cholesterol và triglycerid) rất thường gặp Nồng độ cholesterol toàn phần trong máu là yếu tố dự báo mạnh về BMV và đột quỵ, khi chỉ số này có giá trị

> 240mg/dl thì nguy cơ đột quỵ cao gấp 2 lần so với mức < 200mg/dl Trong trường hợp giảm 1,0 mmol/l cholesterol toàn phần sẽ giảm 50% tỷ lệ tử vong

do bệnh tim mạch ở nhóm 40 - 49 tuổi và giảm 17% ở nhóm 70 - 79 tuổi [3]

Trang 20

Hầu hết mỡ động vật đều chứa cholesterol, cholesterol tăng nhiều trong máu sẽ bị lắng đọng và tích luỹ quá mức ở tế bào nội mạc, dần dần hình thành các mảng đông lipid và phát triển thành những mảng xơ vỡ và tạo nên xơ vữa động mạch, làm cho thành mạch kém đàn hồi từ đó sẽ dẫn đến THA [36]

1.1.2.6 Chế độ ăn

Hạn chế các thức ăn có nhiều cholesterol và acid béo no, thường xuyên

ăn các món luộc, hấp thay cho các món rán, chiên, quay, xào Tăng cường các yếu tố bảo vệ như thực phẩm giàu K, Mg, Ca, chất chống oxy hóa, chất xơ và những thực phẩm có tính chất an thần, lợi tiểu nhẹ như: rau cải, cà chua, bầu

bí, khóm, mía, cam, khoai lang, khoai tây, đậu xanh, đậu đen… (500g - 600g rau, trái cây/ngày; 300g đậu đỗ/ngày) [6] Theo kết quả điều tra quốc gia của

Bộ Y tế năm 2015 (18-69 tuổi) ghi nhận 57,2% người Việt Nam ăn không đủ

lượng rau quả (<400g/ngày) [5]

1.1.2.7 Hoạt động thể lực

Ít hoạt động thể lực gần đây đang nổi lên như một YTNC chính đối với các bệnh tim mạch cũng như đối với nhiều bệnh lý khác như bệnh ung thư, ĐTĐ và loãng xương Với các bằng chứng mạnh mẽ về tác động xấu đối với nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, thiếu hoạt động thể lực đã được đưa vào danh sách các YTNC tim mạch chính cần phải thay đổi để ngăn ngừa các biến

cố tim mạch xảy ra [3]

Theo kết quả điều tra quốc gia của Bộ Y tế thực hiện vào năm 2015 (đối tượng 18-69 tuổi) cho thấy tỷ lệ thiếu hoạt động thể lực là 28,1% [5] Theo một thống kê khác thì có 5,9% nguyên nhân tử vong BMV là do ít hoạt động thể lực Việc vận động thể lực hằng ngày đều đặn từ 30 phút đến 45 phút mang lại lợi ích rõ rệt trong giảm nguy cơ bệnh tim mạch và các bệnh nội khoa khác như đột quỵ, ĐTĐ [29] Tập luyện thể lực, vận động thường xuyên sẽ làm giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim đồng thời giúp nâng cao khả

Trang 21

năng sống sót của bệnh nhân khi xảy ra nhồi máu cơ tim Vận động thể lực trong thời gian rảnh rỗi mới đem lại lợi ích giảm nguy cơ bệnh tim mạch chứ không phải vận động thể lực liên quan đến hoạt động nghề nghiệp [3]

1.1.2.8 Thừa cân, béo phì

Phân loại thừa cân, béo phì ở người lớn theo BMI của Hiệp hội đái tháo

đường các nước châu Á:

Bảng 1.4 Phân loại chỉ số BMI

Không thừa cân, béo phì Cân nặng thấp (gầy) < 18,5

“Nguồn: Viện dinh dưỡng quốc gia, 2017 [34]”

Béo phì càng nhiều thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch càng cao Những người béo phì rất có khả năng mắc bệnh tim mạch ngay cả khi họ không mang 1 yếu tố nguy cơ nào [10] Cần duy trì cân nặng lý tưởng với BMI từ 18,5 đến 22,9 kg/m2, duy trì vòng bụng dưới 90 cm ở nam và dưới 80 cm ở

nữ [38] Theo điều tra Quốc gia của Bộ Y tế vào năm 2015 (ở lứa tuổi từ 18 -

69 tuổi) cho thấy tỷ lệ béo phì (BMI ≥ 25) là 15,6% [5]

1.1.2.9 Đái tháo đường

Kết quả điều tra Quốc gia của Bộ Y tế năm 2015 (18 - 69 tuổi) ghi nhận

tỷ lệ ĐTĐ là 4,1% [5] Những người mắc bệnh ĐTĐ, đặc biệt là ĐTĐ xuất hiện sau 40 tuổi (type II) có tỷ lệ mới mắc bệnh mạch vành và đột quỵ cao hơn người bình thường [33] Người bị ĐTĐ cũng thường chết vì nguyên nhân

Trang 22

tim mạch, ngay cả lượng đường trong máu chỉ mới tăng nhẹ thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch cũng cao hơn [29]

ĐTĐ làm tăng nguy cơ BMV gấp 2,4 lần ở nam và 5,1 lần ở nữ ĐTĐ cũng thúc đẩy hình thành mảng xơ vữa sớm ở lứa tuổi trẻ và ở phụ nữ trước tuổi mãn kinh Tỷ lệ biến cố tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ tương đương với có bệnh mạch vành và không bị ĐTĐ [3]

1.2 Các yếu tố liên quan đến tăng huyết áp

1.2.1 Tuổi, giới tính

HA có xu hướng tăng dần theo tuổi Đối với những người từ 40 – 70 tuổi, mỗi lần HATT tăng lên 20 mmHg hoặc HATTr tăng lên 10 mmHg thì sẽ làm tăng gấp đôi nguy cơ mắc các bệnh tim mạch [50]

Nghiên cứu của Huỳnh Văn Tiền về tình hình THA và các yếu tố liên quan ở người dân ≥ 18 tuổi tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang năm 2020-

2021 ghi nhận tỷ lệ THA ở các nhóm tuổi ≤ 24 là 7,4%, 25 34 là 6,1%, 35

-44 là 8,6%, 45 - 54 là 22,4%, 55 - 69 là 23%, ≥ 70 tuổi là 46,3% Ngoài ra tác giả cũng ghi nhận được nhóm tuổi 45 - 54 THA cao hơn nhóm <25 tuổi (OR=3,7, p=0,016), 55 - 69 tuổi THA cao hơn nhóm < 25 tuổi (OR=3,8, p=0,01), ≥ 70 tuổi THA cao hơn nhóm < 25 tuổi (OR=11,1 p<0,001) [23]

Kết quả điều tra của Cục Y tế dự phòng năm 2015 ở nhóm tuổi 18 - 69 cho thấy tỷ lệ THA ở nam là 26,7%, nữ là 19,8% [5] Theo nghiên cứu của tác giả Trần Quốc Cường về thực trạng THA và một số YTNC ở người 18 - 69 tuổi tại quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 - 2019 thì nam giới

có tỷ lệ THA cao hơn nữ (OR=2,32, p <0,001) [7]

Nhiều biện pháp can thiệp không dùng thuốc đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc hạ HA và ngăn ngừa THA Các biện pháp can thiệp hiệu quả nhất là giảm cân, giảm lượng muối, tăng hoạt động thể chất, không HTL

và giảm uống rượu bia [46]

Trang 23

1.2.2 Hút thuốc lá

Trong thuốc lá có nhiều chất kích thích, đặc biệt là nicotin sẽ kích thích

hệ tim mạch làm THA và nhịp tim đập nhanh hơn dẫn đến hậu quả là tim làm việc nhiều một cách vô ích, lâu ngày dẫn đến các bệnh tim mạch như THA, nhồi máu cơ tim và gây tử vong Hút 1 điếu thuốc có thể làm tăng HATT lên

11 mmHg và HATTr lên 9 mmHg kéo dài trong 20-30 phút [10] Nguy cơ mắc bệnh sẽ giảm ngay sau khi từ bỏ HTL, dần dần mức độ nguy cơ của người cai thuốc lá gần như tương đương với người chưa bao giờ HTL [29]

1.2.3 Uống rượu, bia

Uống rượu, bia quá mức có ảnh hưởng vận mạch trực tiếp làm THA và

có thể dẫn đến tử vong Ngoài ra, dùng rượu/bia quá mức còn có khuynh hướng tác dụng đối kháng với hiệu quả hạ áp của các thuốc, ngay cả đối với những bệnh nhân không phải là người nghiện rượu Nghiên cứu của Lê Công Trứ và Trần Ngọc Dung về tình hình tiền THA và các yếu tố liên quan ở người trưởng thành tại xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang ghi nhận những người có thói quen uống rượu bia thì tiền THA cao hơn những người không uống rượu bia (OR=1,98, p=0,001) [28]

1.2.4 Ăn mặn

Chế độ ăn nhiều muối (natri chlorua) thì tần suất mắc bệnh THA càng tăng Lượng muối ăn vào nhiều (≥ 6 gram hay một thìa cà phê) mỗi ngày làm tăng thể tích tuần hoàn, cung lượng tim dẫn đến THA Khi phân tích những người có điều kiện và lối sống như nhau thì người ăn mặn có xu hướng mắc bệnh THA cao hơn Nhiều người THA ở mức độ nhẹ chỉ cần ăn chế độ giảm muối là có thể điều trị được bệnh [46]

1.2.5 Ăn trái cây/rau củ

Hầu hết mỡ động vật đều chứa cholesterol, cholesterol tăng nhiều trong máu sẽ bị lắng đọng và tích luỹ quá mức ở tế bào nội mạc, dần hình thành

Trang 24

mảng đông lipid và phát triển thành những mảng xơ vỡ tạo nên xơ vữa động mạch, làm cho thành mạch kém đàn hồi dẫn đến bệnh THA vì thế cần tăng cường các yếu tố bảo vệ như thực phẩm giàu chất xơ, rau/củ, trái cây [4]

1.2.7 Thừa cân, béo phì

Béo phì càng nhiều thì khả năng xuất hiện các yếu tố tiền đề cho xơ vữa động mạch như THA, ĐTĐ cũng như nguy cơ mắc bệnh tim mạch càng cao Giảm cân được khuyến khích cho những người bị béo phì và đặc biệt quan trọng nếu những người này cũng bị THA [46]

1.2.8 Đái tháo đường

Khi có cả THA và ĐTĐ sẽ làm tăng gấp đôi biến chứng mạch máu lớn

và nhỏ, làm tăng gấp đôi nguy cơ tử vong so với bệnh nhân THA đơn thuần

Vì vậy, nếu bị bệnh ĐTĐ cần điều trị tốt bệnh này sẽ góp phần khống chế được bệnh tim mạch, THA kèm theo

1.3 Tình hình tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch trên thế giới

và Việt Nam

1.3.1 Trên thế giới

Bệnh tim mạch, THA trước đây là bệnh của những nước phát triển tuy nhưng hiện nay nó đang gia tăng ở khu vực các nước đang phát triển do điều kiện sống được cải thiện, hình thái kinh tế xã hội thay đổi, điều này đã đặt ra những thách thức mới cho hệ thống y tế ở từng quốc gia [30] Bệnh tim mạch

là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới, chiếm đến 17,3 triệu người chết mỗi năm, dự kiến sẽ tăng lên hơn 23,6 triệu vào năm 2030 [39]

Trang 25

Theo thống kê của WHO, THA đã ảnh hưởng đến sức khỏe ở trên toàn thế giới và là YTNC tim mạch quan trọng nhất liên quan đến BMV, suy tim, bệnh mạch máu não và bệnh thận mạn tính Năm 2000 THA ảnh hưởng đến gần 1 tỉ người trên toàn thế giới Theo báo cáo năm 2020, uớc tính 1,13 tỷ người bị THA và có ít hơn 1/5 trong số đó có kiểm soát HA [52]

THA là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh toàn cầu (12,7%) cao hơn các nguyên nhân khác như HTL (8,7%), tăng đường huyết (5,8%) Năm 2005 trong số 17,5 triệu người tử vong do bệnh tim mạch thì THA là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong của 7,1 triệu người Năm

2010 các biến chứng THA dẫn đến 9,4 triệu người chết mỗi năm [44]

Năm 2015, ước tính có khoảng 8,5 triệu ca tử vong do HATT > 115 mmHg, 88% trong số đó là ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Theo kết quả nghiên cứu quan sát tiền cứu với 1 triệu người tham gia ở Châu Á, Châu Úc, Canada, Châu Âu và Hoa Kỳ nhận thấy rằng nguy cơ mắc bệnh tim thiếu máu cục bộ và đột quỵ tăng gấp đôi với mỗi 20 mmHg và tăng 10 mmHg trong HATT và HATTr, tương ứng bắt đầu từ mức thấp nhất là 115 mmHg đối với HATT và 75 mmHg đối với HATT [53].

Tần suất THA nói chung trên thế giới là khoảng 41% ở các nước phát triển và 32% ở các nước đang phát triển, ước tính con số này lên tới 1,56 tỉ người vào năm 2025 [36], [52]

Hơn 30 năm qua, THA ở Châu Á tăng nhanh hơn so với các khu vực khác và chiếm tỷ lệ cao nhất trên thế giới Mối liên quan giữa THA và tim mạch ở những người Đông Á cao hơn người dân ở Úc hoặc NewZealand Từ năm 1975 THA ở các nước thu nhập cao phía Tây và Châu Á Thái Bình Dương cao nhất thế giới Năm 2015 THA ở các nước này xuống mức thấp nhất HA trung bình cũng giảm ở phụ nữ Trung Âu, Đông Âu, Mỹ Latinh và Caribe; gần đây là Trung Á, Trung Đông và Bắc Phi Tuy nhiên HA trung

Trang 26

bình có thể tăng ở Đông Á, Đông Nam Á, Nam Á, Châu Đại Dương và Châu Phi Năm 2015 các quốc gia Trung Âu, Đông Âu, châu Phi cận Sahara và Nam Á có mức HA cao nhất Tỷ lệ THA giảm ở một số nước thu nhập cao và trung bình, nó vẫn không thay đổi ở nơi khác Người trưởng thành mắc bệnh THA tăng từ 594 triệu người vào năm 1975 và lên đến 1,13 tỷ người vào năm

2015 với sự gia tăng chủ yếu ở các nước có thu nhập thấp và trung bình [43] 1.3.2 Tại Việt Nam

Theo ước tính năm 2016 có 549.000 người tử vong với 71% tử vong do bệnh không lây, trong đó tử vong do tim mạch chiếm 31% [2] Tại Việt Nam tần suất THA ở người lớn ngày càng gia tăng và đây cũng là một vấn đề sức khỏe của cộng đồng Trong những năm 1960 thì tỷ lệ THA là khoảng 1%, đến năm 1992 là 11,2%, năm 2001 là 16,3% và năm 2005 là 18,3% [36] Theo một điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam vào năm 2008 được tiến hành ở người lớn từ 25 tuổi trở lên tại 8 tỉnh và thành phố của nước ta thì tỷ lệ THA

là 25,1%, nghĩa là cứ 4 người lớn ở nước ta thì có 1 người bị THA [36], [38]

Năm 2015, Viện Tim mạch Việt Nam đã tiếp tục tiến hành điều tra tình trạng THA ở người 18 – 69 tuổi tại 8 tỉnh và thành phố của nước ta Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ THA chiếm đến 47,3% (2.577/5.454 người); trong số những người THA đó có 60,9% (1.570/2.577 người) được phát hiện, có đến 39,1% (1.007/2.577 người) không được phát hiện THA; trong số những người THA được phát hiện có 92,8% (1.457/1.570 người) được điều trị, vẫn còn đến 7,2% (113/1.570 người) không được điều trị; trong những người điều trị THA thì chỉ có 31,3% (456/1.457 người) HA được kiểm soát, còn đến 68,7% (101/1457 người) HA chưa được kiểm soát [5], [38]

Theo kết quả của một báo cáo chỉ có 43,1% số người mắc THA từng được phát hiện bệnh, 13,6% số người mắc THA được quản lý tại các cơ sở y

tế [5] Một thống kê khác chỉ ra rằng có tới 52% không biết mình bị THA,

Trang 27

30% của những người đã biết bị THA nhưng vẫn không có một biện pháp điều trị nào và 64% những người THA đã được điều trị nhưng vẫn chưa đưa được HA về số HA mục tiêu [36]

Tại tỉnh Bến Tre, kết quả khám sàng lọc thụ động THA năm 2020 ở những người ≥ 40 tuổi thì tỷ lệ THA là 26,9%, tại thành phố Bến Tre thì tỷ lệ THA qua khám sàng lọc tại 2 xã Nhơn Thạnh và Phường 7 là 17% [27]

1.3.3 Các nghiên cứu liên quan

Nghiên cứu của Nguyễn Viết Dũng về thực trạng các YTNC tim mạch

và đánh giá kết quả can thiệp bằng truyền thông ở bệnh nhân tại khoa khám bệnh viện đa khoa Tây Ninh năm 2019-2020 ghi nhận: tỷ lệ ĐTĐ là 19%, 2 YTNC tim mạch chiếm tỷ lệ cao nhất (40,5%), 3 YTNC là 28,3%, thấp nhất 6 YTNC 0,1% Có >3 YTNC nguy cơ BMV cao 4,12 lần ≤3 YTNC (p<0,001)

Ăn mặn nguy cơ BMV cao hơn 1,46 lần không ăn mặn (p=0,023) [8]

Nghiên cứu của tác giả Tô Mười và cộng sự về tỷ lệ tiền THA và sự liên quan với các YTNC tim mạch ở người trưởng thành tỉnh Quảng Nam ghi nhận tỷ lệ BMI ≥ 23 kg/m2là 29,4%, béo bụng là 16,7%, tiền sử gia đình có THA là 18,0%, tỷ lệ HTL là 23,5% và tỷ lệ ăn mặn là 80,3% Nghiên cứu cũng tìm được mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tiền THA với BMI (p=0,001), tiền sử gia đình THA (p=0,04), HTL (p=0,046) [18]

Nghiên cứu của Trần Phi Hùng về tình hình THA và một số yếu tố liên quan ở người dân 25 - 64 tuổi tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ năm

2012 ghi nhận tỷ lệ HTL là 30%, hút >10 điếu/ngày là 13,7%, uống rượu bia

là 42,1%, BMI >23 kg/m2là 39% Tỷ lệ THA là 24,1%; tuổi càng cao càng có nguy cơ THA (p=0,0001) Nhóm HTL nguy cơ THA gấp 1,81 lần nhóm không HTL (p=0,002), người bị ĐTĐ nguy cơ THA gấp 9,85 lần người không bị ĐTĐ (p=0,0001), người có tiền sử gia đình THA nguy cơ THA gấp 1,58 lần so với tiền sử gia đình không THA (p=0,037) [11]

Trang 28

Nghiên cứu của tác giả Trần Thanh Triều về tình hình và kiến thức, thái

độ, thực hành phòng chống THA của người ≥25 tuổi tại xã Hiệp Hưng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang năm 2014 thì tỷ lệ THA là 18%, trong các đối tượng THA thì 59,1% mới phát hiện THA Tác giả cũng tìm được mối liên quan tiền sử gia đình có THA thì nguy cơ bị THA cao hơn 1,686 lần so với tiền sử gia đình không THA với p=0,021, những người béo bụng có tỷ lệ THA cao hơn gấp 1,885 lần người không bị béo bụng với p=0,001 [26]

Nghiên cứu của Lê Công Trứ và Trần Ngọc Dung về tình hình tiền THA và các yếu tố liên quan ở người trưởng thành tại xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang năm 2015-2016 cho thấy tỷ lệ HTL là 71,4%, tỷ lệ uống rượu bia là 58,2% Người có tuổi càng cao thì tỷ lệ tiền THA càng cao với p=0,001 Bên cạnh đó nghiên cứu cũng tìm được mối liên quan có ý nghĩa thống kê như người có thói quen ăn mặn thì tiền THA cao hơn gấp 1,49 lần người không ăn mặn với p=0,016, những người có thói quen uống rượu bia thì tiền THA cao hơn gấp 1,98 lần những người không uống rượu bia với p=0,001 [28]

Nghiên cứu của Phạm Minh Vị về tình hình THA và đánh giá kết qủa một số giải pháp can thiệp phòng bệnh THA ở người ≥ 25 tuổi tại huyện U Minh, tỉnh Cà Mau năm 2017 – 2018 cho thấy tỷ lệ THA là 44,6%, nhóm tuổi

55 - 64 có tỷ lệ THA cao nhất với 67,1%, tiền sử gia đình có THA là 24,7%, tiền sử gia đình mắc bệnh ĐTĐ là 5% Người có tiền sử gia đình THA thì nguy cơ THA cao hơn gấp 1,93 lần người tiền sử gia đình không THA với p<0,01, những người có thói quen uống rượu bia thì THA cao hơn gấp 1,549 lần những người không uống rượu bia với p<0,01 [32]

Nghiên cứu của Nguyễn Anh Trí về tình hình THA và các yếu tố liên quan ở người ≥25 tuổi tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ năm 2017 cho thấy tỷ lệ HTL 21,6%, uống rượu bia 30,3%, ăn mặn 32,6%, không hoạt động thể lực 28,7%, BMI ≥23 là 45,8% Tỷ lệ THA chung là 40,3%, tỷ lệ THA

Trang 29

tăng dần theo tuổi có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Người HTL nguy cơ THA gấp 2,09 lần (p=0,005) những người không HTL, người ăn mặn THA cao gấp 1,91 lần người không ăn mặn (p=0,004), người không hoạt động thể lực THA gấp 2 lần người hoạt động thể lực (p=0,002), người BMI ≥23 THA gấp 3,22 lần người BMI < 23 (p<0,001), người có tiền sử gia đình THA nguy cơ THA gấp 1,79 lần người tiền sử gia đình không THA (p=0,011), những người bị ĐTĐ nguy cơ THA gấp 5,18 lần những người không bị ĐTĐ (p<0,001) [24]

Nghiên cứu của tác giả Lê Minh Hữu và cộng sự về tình hình THA và các yếu tố liên quan ở người dân từ 25 tuổi trở lên tại phường Thới An, quận

Ô Môn, thành phố Cần Thơ năm 2021 ghi nhận tỷ lệ THA là 38,1%, tuổi càng lớn thì THA càng nhiều (p<0,001), nhóm ít vận động thể lực có nguy cơ THA cao hơn 1,89 lần nhóm hoạt động thể lực với p<0,001 [15]

Nghiên cứu của Huỳnh Văn Tiền về tình hình THA và các yếu tố liên quan ở người dân từ 18 tuổi trở lên tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang năm 2020-2021 nhận định tỷ lệ THA là 20,1%, tuổi càng cao thì HA càng tăng, nhóm tuổi 45-54 THA cao hơn 3,7 lần so với nhóm < 25 tuổi (p=0,016), 55-69 tuổi THA cao hơn 3,8 lần nhóm < 25 tuổi (p=0,01), và ≥ 70 tuổi THA cao hơn 11,1 lần nhóm < 25 tuổi (p<0,001) Bên cạnh đó tác giả cũng ghi nhận được những người có học vấn càng cao thì THA càng thấp với p<0,005 Những người có uống rượu bia thì THA thấp hơn người không uống rượu bia (p=0,003) Những người có HTL thì THA cao hơn 2 lần những người không HTL (p<0,001) Những người có ăn mặn thì THA cao hơn 1,6 lần những người không ăn mặn (p<0,015) [23]

Nghiên cứu của Dương Minh Trí và Trần Viết An về tình hình và yếu

tố liên quan THA ở người cao tuổi huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng năm

2020-2021 cho thấy tỷ lệ THA là 41,1%, HTL THA là 47%, ăn mặn THA là 48,2%,

tỷ lệ không tập thể dục THA là 49,7% và uống rượu bia THA là 46,6% [25]

Trang 30

Nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Tâm và cộng sự về một số yếu tố

nguy cơ bệnh THA ở dân từ 40 - 69 tuổi tại xã Nhơn Ái và xã Nhơn Nghĩa,

huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2017 ghi nhận được tỷ lệ THA là

47,9%, tỷ lệ hoạt động thể lực không đủ (<150 phút/tuần) là 10%, tỷ lệ ăn

rau/trái cây < 5 đơn vị chuẩn/ngày là 72,2%, tỷ lệ uống rượu bia là 28,2%,

HTL là 23%, tỷ lệ béo bụng là 47%, chỉ số BMI ≥23 là 40,7%, những người

thừa cân, béo phì có nguy cơ THA cao gấp 2,2 lần những người không bị thừa

cân, béo phì (p<0,001) [22]

Nghiên cứu của Phạm Thế Xuyên về tình hình THA ở người dân 45-64

tuổi tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên và chi phí – hiệu quả của biện pháp

can thiệp cho thấy tỷ lệ THA là 35,5%, nhóm 55 - 64 tuổi THA là 65,5% Bên

cạnh đó nghiên cứu cũng ghi nhận THA chưa được kiểm soát là 49,5%, tỷ lệ

mới phát hiện THA là 32,1% Những người 55 - 64 tuổi thì THA cao hơn

37,03 lần người 45 - 54 tuổi (p=0,0087) Những người HTL thì THA cao hơn

4,08 lần những người không HTL (p=0,0002) Những người thừa cân, béo phì

thì THA cao hơn 3,89 lần những người bình thường (p=0,0012) [37]

1.4 Đặc điểm địa phương nghiên cứu

Thành phố Bến Tre là thành phố trực thuộc tỉnh Bến Tre gồm 14

phường, xã Đây là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh và được công

nhận là đô thị loại II ngày 13/2/2019 Thành phố Bến Tre có diện tích 71,10

km2, dân số 129.062 người, chủ yếu là dân tộc Kinh Về giáo dục thì các

ngành, đoàn thể quan tâm giáo dục đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ kế thừa, nâng

cao chất lượng giáo dục cộng đồng Về y tế thì từng bước nâng cao chất

lượng khám chữa bệnh, y đức của người thầy thuốc, tạo sự hài lòng người

bệnh với mục đích người dân được hưởng những dịch vụ y tế chất lượng cao

Năm 2020, thành phố Bến Tre đã thực hiện khám sàng lọc thụ động THA ở

những người ≥ 40 tuổi tại 2 xã Nhơn Thạnh và Phường 7 là 17% [27]

Trang 31

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Người dân ≥ 18 tuổi đang sinh sống trên địa bàn thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu

- Người dân ≥ 18 tuổi đồng ý tham gia nghiên cứu

- Người dân cư trú trên 6 tháng tại thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

- Người đang nằm điều trị tại cơ sở y tế

- Người không có khả năng trả lời phỏng vấn (thần kinh, câm, điếc,…)

- Phụ nữ đang mang thai

- Người không cung cấp đủ biến số nghiên cứu (dị tật tay, chân)

2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre từ 02/2021 - 02/2022

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích

z: Hệ số tin cậy, mức ý nghĩa α = 0,05 ta có 𝑍1−𝛼

2

= 1,96

Trang 32

d: sai số tuyệt đối, chọn d = 5%

p: tỷ lệ ước lượng dữ kiện Theo nghiên cứu thực trạng THA và một số YTNC ở người 18 - 69 tuổi tại quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 - 2019 của tác giả Trần Quốc Cường thì tỷ lệ THA là 33,5% [7] Thay vào công thức ta có:

Sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn

Giai đoạn 1: Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn

Thành phố Bến Tre gồm 14 xã, phường Bốc thăm chọn ngẫu nhiên 2 phường trong 8 phường và 2 xã trong 6 xã Kết quả ta chọn được Phường 6, Phường 8, Xã Mỹ Thạnh An và Xã Sơn Đông

Giai đoạn 2: Chọn ngẫu nhiên đơn

Bốc thăm ngẫu nhiên chọn 2 khu phố/ấp ở mỗi xã, phường Kết quả ta được Phường 6: Bình Khởi, Bình Thắng; Phường 8: khu phố 1, khu phố 3;

Mỹ Thạnh An: Mỹ An A, An Thuận B; Sơn Đông: Ấp 3, Ấp 4

Giai đoạn 3: Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống

Dựa theo danh sách hộ gia đình do cộng tác viên cung cấp, chọn ngẫu nhiên 68 hộ gia đình trong mỗi khu phố/ấp để phỏng vấn

Trang 33

2.2.4 Nội dung nghiên cứu

2.2.4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

- Giới tính gồm có 2 giá trị: Nam, nữ

- Tuổi: tính bằng năm hiện tại trừ đi năm sinh và được phân thành 5 nhóm: 18 – 34 tuổi, 35 – 44 tuổi, 45 – 54 tuổi, 55 – 64 tuổi, ≥ 65 tuổi

- Dân tộc: gồm có 2 giá trị: Kinh, Khác (Hoa, Khmer)

- Tôn giáo: gồm có 2 giá trị: Phật giáo, Khác (Không, Thiên chúa)

- Học vấn: gồm 5 giá trị mù chữ, cấp 1, cấp 2, cấp 3, ≥ trung cấp

- Nghề nghiệp: công việc chính mà đối tượng nghiên cứu làm trong 12 tháng qua gồm 6 giá trị: Nông nghiệp/chăn nuôi, công nhân/nội trợ, công viên chức, hưu trí, buôn bán, khác (sinh viên, tài xế, lao động tự do,…)

Trang 34

- Kinh tế gia đình: gồm có 2 giá trị:

+ Hộ không nghèo là những hộ không có sổ hộ nghèo

+ Nghèo/Cận nghèo: hộ nghèo/cận nghèo là những hộ có sổ hộ nghèo/cận nghèo

- Hoàn cảnh sống: gồm 2 giá trị: Sống cùng gia đình, sống 1 mình

- Tiền sử bệnh: Mỗi câu hỏi về tiền sử bệnh đều gồm 2 giá trị: Có, Không Gồm các câu: được bác sĩ chẩn đoán THA, đang uống thuốc điều trị

HA, được bác sĩ chẩn đoán bệnh ĐTĐ, người trong gia đình bị THA

2.2.4.2 Tình hình HA của đối tượng nghiên cứu

- Có THA khi HA của đối tượng:

+ HATT ≥140 mmHg và/hoặc HATTr ≥90 mmHg và có tiền sử THA (bác sĩ chẩn đoán hoặc đang uống thuốc điều trị THA)

+ HATT ≥140 mmHg và/hoặc HATTr ≥90 mmHg và không có tiền sử THA

+ HA đã được kiểm soát: khi HATT <140 mmHg và HATTr <90 mmHg và có tiền sử THA [1], [4]

- Không THA: HATT <140 mmHg và HATTr <90 mmHg và không có tiền sử THA

- Đang điều trị HA gồm 2 giá trị: Có, Không

2.2.4.3 Các yếu tố nguy cơ tim mạch

YTNC của bệnh tim mạch là các yếu tố liên quan với sự gia tăng khả năng mắc bệnh tim mạch Một người có thể mang một hoặc nhiều YTNC nào

đó, các YTNC hay đi kèm hoặc thúc đẩy nhau phát triển và làm xác suất mắc bệnh càng tăng Các YTNC được chia làm hai nhóm: YTNC không thay đổi được như tuổi, giới tính, di truyền; YTNC có thể thay đổi được như thừa cân, béo phì, bệnh ĐTĐ, HTL, uống rượu bia, ăn mặn, ít ăn trái cây/rau/củ, ít vận động thể lực

Trang 35

Thừa cân, béo phì

- Dựa vào chiều cao, cân nặng để tính chỉ số BMI (kg/m2) và đánh giá tình trạng thừa cân, béo phì gồm 2 giá trị:

+ Có: BMI ≥ 23 kg/m2

+ Không: BMI < 23 kg/m2[34]

- Béo bụng: gồm 2 giá trị:

+ Có: vòng bụng ≥ 90cm đối với nam và ≥ 80cm đối với nữ

+ Không: vòng bụng < 90cm đối với nam và < 80cm đối với nữ [38]

ĐTĐ: Dựa vào tình trạng mắc bệnh ĐTĐ của đối tượng nghiên cứu gồm 2 giá trị Có, Không

Hút thuốc (thuốc lá, điếu, lào, tẩu,…)

- Đánh giá về hút thuốc:

+ Có: khi đối tượng nghiên cứu vẫn còn hút thuốc với bất kì số lượng là bao nhiêu

+ Không: khi đối tượng nghiên cứu hoàn toàn không hút thuốc

- Từng hút thuốc gồm 2 giá trị: Có, Không

- Hiện đang hút thuốc gồm 2 giá trị: Có, Không

- Hút thuốc hàng ngày gồm 2 giá trị: Có, Không

- Hít sâu khói thuốc gồm 2 giá trị: Có, Không

- Thời gian bắt đầu hút thuốc hàng ngày (số năm/tháng/ngày) Sau đó phân thành 2 nhóm ≥ 20 năm, < 20 năm

- Số lượng thuốc hút mỗi ngày (số điếu) Sau đó được phân thành 2 nhóm ≥ 10 điếu/ngày, < 10 điếu/ngày

Uống rượu bia: Sử dụng đơn vị uống chuẩn để tính lượng ethanol đã

uống 1 cốc chuẩn chứa 10g ethanol tương đương với 330ml bia hoặc 120ml rượu vang hoặc 30ml rượu mạnh [1]

Trang 36

- Đánh giá về uống rượu/bia:

+ Có: khi đối tượng nghiên cứu uống rượu/bia bất kì loại nào trong vòng 12 tháng qua

+ Không: khi đối tượng không uống rượu/bia trong vòng 12 tháng qua

- Từng uống rượu/bia gồm 2 giá trị: Có, Không

- Trong 12 tháng qua có uống rượu/bia gồm 2 giá trị: Có, Không

- Trong 12 tháng qua, số lần uống rượu/bia gồm 5 giá trị: Mỗi ngày, 5-6 ngày/tuần, 1-4 ngày/tuần, 1-3 ngày/tháng, < 1 lần/tháng

- Trong 1 tuần qua có uống rượu/bia gồm 2 giá trị: Có, Không

- Hàng ngày dùng món kho trong các bữa ăn gồm 2 giá trị: Có, Không

- Số ngày trong tuần dùng món kho gồm 2 giá trị: < 4 ngày/tuần và ≥ 4 ngày/tuần

- Chấm nước mắm nguyên chất hoặc thêm muối trong bữa ăn gồm 2 giá trị: Có, Không

- Gia đình đánh giá đối tượng ăn mặn gồm 2 giá trị: Có, Không

Chế độ ăn trái cây/rau củ

- Đánh giá về ăn trái cây/rau củ:

+ Có: khi đối tượng ăn trái cây/rau củ ≥ 5 suất/ngày

+ Không: khi đối tượng ăn trái cây/rau củ < 5 suất/ngày

Trang 37

- Số suất trái cây/rau củ ăn trong ngày gồm 2 giá trị ≥ 5 suất, < 5 suất (1 suất = 1 trái lê/bom = 3 trái chuối = ½ chén nước ép trái cây = 1 chén rau xanh = ½ chén củ cà rốt/bí đỏ,…) [5], [29]

Thể lực

- Đánh giá về vận động thể lực:

+ Đủ: khi đối tượng phải làm các công việc lao động chân tay hoặc có tham gia các hoạt động thể thao, đi bộ, chạy bộ, đi xe đạp (khôg tính người khác chở) với thời gian >30 phút/ngày và ≥ 5 ngày/tuần

+ Không đủ: khi đối tượng có trị số hoạt động thể lực thấp hơn nội dung trên [36]

- Thực hiện các công việc lao động chân tay hoặc tham gia hoạt động thể thao, đi bộ, chạy bộ, đi xe đạp >30 phút/ngày Gồm 2 giá trị Có, Không

- Trong 1 tuần bình thường số ngày đi bộ hoặc đạp xe hoặc tập thể dục, hoạt động thể thao ≥ 30 phút Gồm 2 giá trị:

Và bệnh THA là bệnh nguy hiểm

Và bệnh THA cần phải tái khái định kỳ

Và bệnh THA phải uống thuốc đều đặn mỗi ngày

Và điều trị THA ngoài sử dụng thuốc cần kết hợp một trong các biện pháp tập thể dục, uống rượu vừa phải, bỏ thuốc lá, hạn chế ăn mặn

+ Trị số THA là 140/90 mmHg gồm 2 giá trị: Đúng, Không đúng

+ THA là bệnh nguy hiểm gồm 2 giá trị: Có, Không

Trang 38

+ THA cần tái khám định kỳ gồm 2 giá trị: Có, Không

+ Thời gian uống thuốc THA gồm 3 giá trị: mỗi ngày, HA tăng, Khác + Điều trị THA cần kết hợp thuốc và biện pháp gồm 5 giá trị: Tập thể

dục, Uống rượu vừa phải, Bỏ hút thuốc, Hạn chế ăn mặn, Khác

- Yếu tố dân số, xã hội: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp

- Các YTNC: tiền sử bệnh THA của gia đình, bệnh ĐTĐ của bản thân,

HTL, uống rượu bia, ít vận động thể lực, ăn mặn, thừa cân/béo phì, béo bụng

2.2.5 Phương pháp và kỹ thuật thu thập số liệu

2.2.5.1 Công cụ thu thập số liệu:

Phiếu phỏng vấn gồm các nội dung: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu, chỉ số HA và chỉ số nhân trắc chiều cao, cân nặng, vòng bụng Các YTNC tim mạch như HTL, uống rượu bia, ăn mặn, ăn trái cây/rau củ, vận động thể lực

2.2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu

- Phỏng vấn đối tượng theo phiếu câu hỏi soạn sẵn (phụ lục 1)

- Đo chỉ số HA (mmHg): HATT, HATTr

- Đo chỉ số nhân trắc: chiều cao (cm), cân nặng (kg), vòng bụng (cm) của đối tượng nghiên cứu

2.2.5.3 Kỹ thuật thu thập số liệu

- Kỹ thuật đo HA:

HA được đo bằng máy đo HA Mcrolife AG1-20, đối tượng ngồi ghế, cánh tay duỗi thẳng trên bàn Xác định đúng vị trí động mạch cánh tay để đặt ống nghe Bơm hơi thêm 30mmHg sau khi không còn thấy mạch đập Xả hơi với tốc độ 2 - 3mmHg/nhịp đập HATT tương ứng với lúc xuất hiện tiếng đập đầu tiên và HATTr tương ứng với khi mất hẳn tiếng đập HA được đo 2 lần

và ghi giá trị vào phiếu phỏng vấn dưới dạng HATT/HATTr

Trang 39

- Kỹ thuật đo cân nặng:

+ Cân nặng được đo bằng cân (CSK-120, Cty cân Nhơn Hòa)

+ Đặt cân trên mặt phẳng, đối tượng mặc quần áo mỏng, không mang giày/dép khi cân

+ Kết quả được ghi lại vào phiếu phỏng vấn, chính xác đến 0,1 kg

- Kỹ thuật đo chiều cao:

+ Chiều cao được đo bằng thước dây, đối tượng đứng dựa thẳng người vào mặt phẳng tường (cột) và vị trí đứng phải là mặt phẳng, đứng sao cho 4 điểm (gót chân, mông, vai, đầu) chạm vào mặt phẳng/tường, nhóm nghiên cứu sẽ dùng thước kẻ để đánh dấu vị trí đỉnh đầu lên tường sau đó đo khoảng cách từ vị trí đặt chân đến vị trí đỉnh đầu đã được đánh dấu

+ Đối tượng đi chân trần, không đội mũ khi đo chiều cao

+ Kết quả được ghi lại vào phiếu phỏng vấn, chính xác đến 0,1 cm

- Kỹ thuật đo vòng eo:

Vòng eo được đo bằng thước dây, vòng qua ngang rốn, chính xác đến 0,1 cm Đối tượng mặc quần áo mỏng khi đo

2.2.5.4 Cách thức tiến hành thu thập số liệu

- Nhóm nghiên cứu có 4 người gồm 1 y sĩ của trạm y tế, 2 y sĩ trung tâm y tế thành phố Bến Tre và 1 nghiên cứu viên (người thực hiện đề tài)

- Nghiên cứu viên tập huấn cho thành viên nhóm nghiên cứu về nội dung của phiếu phỏng vấn, giải thích rõ biến số và giá trị của từng biến số,

hướng dẫn cách đo HA, chiều cao, cân nặng, vòng bụng của đối tượng

- Nghiên cứu được tiến hành thu thập số liệu vào ngày thứ 7 và chủ nhật, thời gian phỏng vấn là 20 - 30 phút cho mỗi đối tượng nghiên cứu Mỗi ngày thu thập khoảng 25 đối tượng, thời gian thu thập mẫu 4 tháng

- Đối tượng được hỏi các nội dung trong phiếu phỏng vấn trước sau đó mới đo HA rồi đến đo cân nặng, đo chiều cao, vòng bụng

Trang 40

- Nhóm nghiên cứu thực hiện thu thập số liệu theo danh sách hộ gia đình đã được chọn vào mẫu nghiên cứu Phỏng vấn người đầu tiên gặp mặt trong hộ thỏa tiêu chí chọn mẫu Trường hợp không phỏng vấn được hộ gia đình sau 2 lần tiếp cận sẽ chọn hộ liền kề thay thế

- Phiếu phỏng vấn được thử nghiệm trước cho 10 người dân sau đó có

điều chỉnh cho phù hợp trước khi sử dụng

2.2.6 Phương pháp hạn chế sai số

Một vài biện pháp được áp dụng nhằm giảm thiểu tối đa sai số như sau:

- Chỉ chọn những đối tượng nghiên cứu thỏa tiêu chí chọn mẫu, trường

hợp đến gặp đối tượng nghiên cứu 2 lần nhưng không có đối tượng ở nhà sẽ loại ra khỏi nghiên cứu và tiến hành chọn lại đối tượng khác phù hợp tiêu

chuẩn chọn mẫu

- Liệt kê và định nghĩa cụ thể từng biến số nghiên cứu Thiết kế bộ câu hỏi đúng mục tiêu, rõ ràng về từ ngữ, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ trả lời, cấu trúc chặt chẽ Phỏ ng vấn thử 10 người dân trước khi tiến hành sau đó được điều chỉnh cho phù hợp

- Tập huấn và giám sát điều tra viên Công tác giám sát được thực hiện trong khi thu thập mẫu, nghiên cứu viên vừa giám sát vừa thực hiện thu thập

số liệu cùng cộng tác viên

- Chuẩn hóa máy đo huyết áp, cân, thước

- Phỏng vấn nhiều lần trên một đối tượng để họ cố gắng nhớ lại chính xác thông tin, giảm nguy cơ nhớ không đúng

2.2.7 Phương pháp xử lý số liệu

Phiếu thu thập thông tin sau khi phỏng vấn được kiểm tra ngay tại chỗ

về tính hoàn tất và phù hợp Sau đó tiến hành làm sạch, mã hóa số liệu, nhập

dữ liệu vào máy tính bằng phần mềm Epi Data 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 18.0

Ngày đăng: 15/03/2023, 22:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w