Tỉ lệ, đặc điểm và các yếu tố liên quan hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn NCEP ATP III .... Tỉ lệ, đặc điểm và các yếu tố liên quan hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn NCEP ATP III .
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NGUYỄN THÁI BẢO
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA Ở CÁN BỘ THUỘC DIỆN QUẢN LÝ SỨC KHỎE TỈNH AN GIANG
NĂM 2020 – 2021
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Cần Thơ - 2021
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NGUYỄN THÁI BẢO
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA Ở CÁN BỘ THUỘC DIỆN QUẢN LÝ SỨC KHỎE TỈNH AN GIANG
NĂM 2020 – 2021
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Cần Thơ - 2021
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
TRẦN THANH PHONG
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SUY GIẢM VẬN ĐỘNG
VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG Ở BỆNH NHÂN SAU ĐỘT QUỴ NÃO TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM AN GIANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NGUYỄN THÁI BẢO
THUỘC DIỆN QUẢN LÝ SỨC KHỎE TỈNH AN GIANG
NĂM 2020 – 2021
Chuyên ngành: Quản lý y tế
Mã số: 8720801.CK
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học:
BS.CKII Đoàn Thanh Hùng
Cần Thơ – 2021
Trang 5MỤC LỤC
Trang Lời cam đoan
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục đối chiếu các thuật ngữ nước ngoài và tiếng Việt
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ, hình, biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái quát hội chứng chuyển hóa 3
1.2 Chẩn đoán hội chứng chuyển hóa 6
1.3 Yếu tố liên quan hội chứng chuyển hóa 9
1.4 Ảnh hưởng và các biện pháp can thiệp hội chứng chuyển hóa 12
1.5 Tình hình nghiên cứu về hội chứng chuyển hóa 18
1.6 Cán bộ thuộc diện quản lý sức khỏe tỉnh An Giang 22
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 36
Chương 3 KẾT QUẢ 37
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 37
3.2 Tỉ lệ, đặc điểm và các yếu tố liên quan hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn NCEP ATP III 39
3.3 Đánh giá kết quả sau can thiệp 45
Chương 4 BÀN LUẬN 53
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 53
Trang 64.2 Tỉ lệ, đặc điểm và các yếu tố liên quan hội chứng chuyển hóa theo tiêu
chuẩn NCEP ATP III 54
4.3 Đánh giá kết quả sau can thiệp 61
KẾT LUẬN 69
KIẾN NGHỊ 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HATTh Huyết áp tâm thu
HATTr Huyết áp tâm trương
HDL-C High-Density Lipoprotein Cholesterol
LDL-C Low-Density Lipoprotein Cholesterol
NCEP
ATP III
National Cholesterol Education Programme Adult Treatment Panel III
Trang 8DANH MỤC ĐỐI CHIẾU CÁC THUẬT NGỮ
NƯỚC NGOÀI VÀ TIẾNG VIỆT
European Group for the study of
Insulin Resistance
Nhóm nghiên cứu đề kháng insulin châu Âu
National Cholesterol Education
Programme Adult Treatment
Panel III
Chương trình giáo dục về cholesterol quốc gia của Hoa Kỳ
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tiền sử bệnh lý nội khoa của đối tượng nghiên cứu 38
Bảng 3.2 Đặc điểm thói quen, lối sống của đối tượng nghiên cứu 38
Bảng 3.3 Tỉ lệ mắc hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn NCEP ATP III 39
Bảng 3.4 Tỉ lệ mắc hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn NCEP ATP III phân theo nhóm tuổi 39
Bảng 3.5 Tỉ lệ mắc các tiêu chí hội chứng chuyển hóa theo NCEP ATP III theo giới tính 41
Bảng 3.6 Tỉ lệ mắc các tiêu chí hội chứng chuyển hóa theo NCEP ATP III theo nhóm tuổi 41
Bảng 3.7 Liên quan giữa hội chứng chuyển hóa theo NCEP ATP III với giới tính 42
Bảng 3.8 Liên quan giữa hội chứng chuyển hóa theo NCEP ATP III với nhóm tuổi 42
Bảng 3.9 Liên quan giữa hội chứng chuyển hóa theo NCEP ATP III với thói quen lối sống 43
Bảng 3.10 Liên quan giữa hội chứng chuyển hóa theo NCEP ATP III với tình trạng thừa cân béo phì 44
Bảng 3.11 Liên quan giữa hội chứng chuyển hóa theo NCEP ATP III với rối loạn lipid máu 45
Bảng 3.12 Chỉ số nhân trắc sau can thiệp 46
Bảng 3.13 Sự thay đổi chỉ số huyết áp sau can thiệp 47
Bảng 3.14 Sự thay đổi chỉ số lipid máu sau can thiệp 47
Bảng 3.15 So sánh sự thay đổi rối loạn lipid máu sau 06 tháng can thiệp 48
Trang 10Bảng 3.16 Sự thay đổi các thói quen sinh hoạt có liên quan đến hội chứng chuyển hóa sau can thiệp 50 Bảng 3.17 Hiệu quả sau can thiệp các tiêu chí chẩn đoán hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn NCEP ATP III 50
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH, BIỂU ĐỒ
Trang 12MỞ ĐẦU
Hội chứng chuyển hóa là một tập hợp những yếu tố nguy cơ tim mạch
và chuyển hóa Các yếu tố thường xuyên xuất hiện trong hội chứng chuyển hóa bao gồm: rối loạn dung nạp glucose, béo phì, đặc biệt là béo bụng, rối loạn lipid gây xơ vữa động mạch, tăng huyết áp [39] Các yếu tố nguy cơ này nếu kết hợp với nhau sẽ làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch, đái tháo đường týp 2 và một số bệnh liên quan đến chuyển hóa khác [55]
Hiện nay có nhiều hiệp hội và các tổ chức đưa ra tiêu chuẩn khác nhau để chẩn đoán hội chứng chuyển hóa, trong đó Chương trình giáo dục về cholesterol quốc gia của Hoa Kỳ (NCEP ATP III) hiện được xem là hướng dẫn toàn cầu, dự báo sớm biến cố đái tháo đường týp 2 và xơ vữa động mạch tiến triển Trên thế giới, tỉ lệ HCCH trong dân số trưởng thành ước tính là 20% – 25% và đang ngày càng gia tăng Tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nhiều quốc gia đang phải đối mặt với một tỉ lệ đáng kể HCCH, dao động từ 11,9% – 37,1% [79] Tại Hàn Quốc, tỉ lệ mắc HCCH năm 2013 – 2015 là 20,3% [59]
Việt Nam là quốc gia đang phát triển nên cũng có các yếu tố làm gia tăng hội chứng chuyển hóa Một số nghiên cứu gần đây cho thấy tỉ lệ mắc HCCH ngày càng tăng và trở thành vấn đề được quan tâm nhiều hơn Theo nghiên cứu của Trịnh Kiến Trung tại Cần Thơ năm 2015 cho thấy tỉ lệ mắc HCCH là 16,5% [36] Tác giả Lê Hữu Lợi khi nghiên cứu trên đối tượng trung cao thuộc diện quản lý của tỉnh Kon Tum năm 2017 đã ghi nhận tỉ lệ HCCH chiếm tỉ lệ 27,36%, nam cao hơn nữ [20] Nghiên cứu của Phan Thị Mai Lan trên 183 đối tượng thuộc diện quản lý sức khỏe tỉnh Cao Bằng năm 2019 cho thấy tỉ lệ HCCH là 30,05%, và tỉ lệ mắc HCCH ở người hút thuốc lá, tăng huyết
áp cao hơn có ý nghĩa [19] Hiện nay, các biện pháp can thiệp vào hội chứng
Trang 13chuyển hóa chủ yếu là tiết chế dinh dưỡng và rèn luyện thể lực, ngoài ra còn có các biện pháp khác như dùng thuốc hoặc phẫu thuật
Cán bộ thuộc diện quản lý sức khỏe tỉnh An Giang là các cán bộ lãnh đạo của tỉnh, cùng có nhiều yếu tố nguy cơ tiềm ẩn, do đặc thù công việc như tuổi cao, áp lực công việc trí não, sinh hoạt và chế độ ăn uống khó chủ động kiểm soát, được xem là thuận lợi mắc hội chứng chuyển hóa Việc khám sàng lọc phát hiện sớm hội chứng chuyển hóa để đưa vào chế độ điều trị dự phòng sớm các yếu tố nguy cơ sẽ góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm tỉ lệ tử vong do đột qụy Với mục đích để đánh giá thực trạng mắc hội chứng chuyển hóa, từ đó góp phần nâng cao ý thức phòng và điều trị bệnh cho cán bộ, chúng
tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tình hình và đánh giá kết quả can thiệp hội
chứng chuyển hóa ở cán bộ thuộc diện quản lý sức khoẻ tỉnh An Giang năm
2020 – 2021”, với các mục tiêu cụ thể:
1 Xác định tỉ lệ, đặc điểm và các yếu tố liên quan hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn NCEP ATP III 2004 ở cán bộ thuộc diện quản lý sức khỏe tỉnh
An Giang năm 2020 – 2021
2 Đánh giá kết quả sau 6 tháng can thiệp ở cán bộ thuộc diện quản lý sức
khỏe tỉnh An Giang có hội chứng chuyển hóa năm 2020 – 2021
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát hội chứng chuyển hóa
1.1.1 Định nghĩa hội chứng chuyển hóa
Trong những năm gần đây, thuật ngữ hội chứng chuyển hóa (HCCH) được
đề cập và quan tâm nhiều hơn, bản chất của HCCH là tập hợp các yếu tố nguy
cơ (YTNC) tim mạch và rối loạn chuyển hóa Tùy từng hiệp hội đã đưa ra những tiêu chuẩn khác nhau để xác định HCCH theo những mục tiêu nghiên cứu của riêng mình như Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Liên đoàn đái tháo đường quốc tế (IDF), Chương trình giáo dục về cholesterol quốc gia của Hoa
Kỳ (NCEP ATPIII) [75]
Hội chứng chuyển hóa được biết đến rất sớm từ những năm 1920, Morgagni
là người đầu tiên mô tả các dấu hiệu của hội chứng này, thuật ngữ “hội chứng chuyển hóa” quay trở lại vào cuối thế kỷ 20 và phổ biến vào những năm 70 của thế kỷ 20 Các thuật ngữ “hội chứng chuyển hóa”, “hội chứng kháng insulin”, và “hội chứng X” bây giờ được sử dụng đặc biệt để xác định một nhóm các yếu tố bất thường liên quan với tăng nguy cơ cho sự phát triển của bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) và bệnh xơ vữa động mạch (bệnh tim mạch
và đột qụy) [3]
Ngày nay, HCCH đang được sử dụng rộng rãi và được đề cập nhiều trong các hội nghị y học thế giới về ngăn chặn và phòng ngừa các bệnh mạn tính không lây, nhằm giảm tỉ lệ tử vong do các biến cố tim mạch gây ra [55], [69], [84], [86]
1.1.2 Cơ chế bệnh sinh hội chứng chuyển hóa
Cơ chế gây HCCH khá phức tạp, vẫn còn đang được nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ Hầu hết bệnh nhân mắc HCCH đều lớn tuổi, béo phì, ít vận động và có
Trang 15kháng insulin Stress cũng có thể là một yếu tố góp phần gây nên HCCH, nhưng yếu tố quan trọng có lẽ là do di truyền Năm 2001, Poulsen P., Kyvik K.O và cộng sự nghiên cứu 303 cặp song sinh nam và nữ cho thấy yếu tố di truyền có liên quan tới sự tăng glucose máu, BMI, giảm HDL-C, tăng huyết áp tâm thu (HATTh) và tỉ lệ eo/hông, insulin lúc đói, TG, tăng huyết áp tâm trương (HATTr) Nghiên cứu này đã đưa ra khái niệm về đa yếu tố trong HCCH có liên quan tới di truyền và môi trường [78] Năm 1998, WHO đưa ra khái niệm thống nhất về HCCH và người ta thấy gen tiết kiệm đảm bảo dự trữ năng lượng trong thời gian nhịn đói và liên quan tới kiểu hình của HCCH, các biến thể phổ biến ở một số kiểu gen ảnh hưởng tới chuyển hóa lipid, glucose cùng với môi trường làm gia tăng tỉ lệ xuất hiện HCCH [75] Ngoài ra, lão hóa, chế độ ăn uống (tiêu thụ nước giải khát, đặc biệt là nước ngọt), thói quen ít vận động hoặc hoạt động thể lực thấp, nhiễm khuẩn mạn tính, rối loạn tâm thần và sử dụng rượu quá mức cũng góp phần làm gia tăng HCCH [87]
Đã có nhiều hội nghị đưa ra câu hỏi liệu béo phì và kháng insulin có là nguyên nhân của HCCH hay là hậu quả của rối loạn chuyển hóa chuyên biệt, đây vẫn là câu hỏi chưa có lời giải thích thỏa đáng, cũng như một số yếu tố khác của hệ thống viêm, bao gồm: protein C tăng, fibrinogen, interleukin 6, yếu
tố hoại tử khối u alpha Một số nhà khoa học lại cho rằng có nhiều nguyên nhân gây ra HCCH, trong đó có tăng acid uric do chế độ ăn uống nhiều purin Cuối cùng cũng đã có sự thống nhất giữa các nhà khoa học và cho rằng môi trường thực phẩm hiện nay góp phần vào sự hình thành và phát triển của HCCH Chế
độ ăn uống của chúng ta chưa phù hợp Tăng cân có liên quan với HCCH chứ không phải là béo phì toàn bộ, các thành phần cốt lõi lâm sàng của hội chứng
là béo nội tạng (tức là chất béo trong các cơ quan không được thiết kế cho việc
dự trữ chất béo) trong khi các bất thường chuyển hóa chính là sự đề kháng insulin Việc cung cấp năng lượng cho các hoạt động của cơ thể được tạo ra từ
Trang 16quá trình oxy hóa các chất thông qua chế độ ăn uống, bao gồm carbohydrat, lipid, protein tại ty lạp thể của tế bào và các sản phẩm dư thừa được tạo ra từ quá trình đó có mối liên quan đến rối loạn chức năng của ty lạp thể và đề kháng insulin Tế bào β đảo tụy là nơi tiết ra insulin và insulin lưu hành trong máu đến các tế bào đích truyền tín hiệu và thực hiện nhiệm vụ của mình Insulin là nội tiết tố đóng vai trò quan trọng trong chuyển hóa carbonhydrat với cơ chất chính
là glucose, vì vậy khi có bất thường về insulin, sẽ gây lên các rối loạn trong chuyển hóa carbonhydrat “Kháng insulin là một tình trạng (của tế bào, cơ quan, hay cơ thể) cần một lượng insulin nhiều hơn bình thường để đạt được đáp ứng sinh học bình thường” Insulin truyền tín hiệu bằng cách gắn vào các thụ thể đặc hiệu trên màng tế bào, các thụ thể này thuộc nhóm tyrosine kinase receptor, giống như thụ thể cho các yếu tố tăng trưởng Các thụ thể này hoạt động nhờ
sự kết hợp của 2 tiểu đơn vị Các thông tin của insulin sẽ không bị thay đổi khi chúng được truyền qua các thụ thể đặc hiệu nhưng cũng có thể thay đổi khi truyền tin qua các thụ thể được hình thành bởi 1 tiểu đơn vị của thụ thể insulin
và 1 tiểu đơn vị của các yếu tố phát triển giống insulin Insulin có ái lực với thụ thể đặc hiệu cao gấp 100 đến 150 lần so với các thụ thể của các yếu tố phát triển giống insulin, chính vì vậy, ở nồng độ insulin sinh lý thì sự gắn của insulin với thụ thể của các yếu tố phát triển giống insulin sẽ không có ý nghĩa [64]
Sự gắn insulin và thụ thể của màng tế bào là hiện tượng truyền tín hiệu để thực hiện quá trình phosphoryl hóa và dephosphoryl hóa, 4 loại protein từ IRS1 đến IRS4 được phát hiện trong cấu trúc của thụ thể insulin Tín hiệu của insulin được đưa vào tế bào khi quá trình phosphoryl hóa ở thụ thể được thực hiện [71], [85] Có 2 cách truyền tín hiệu của insulin vào tế bào: [64], [73], [85]
+ Cách 1: thông quá các chất truyền tin AKT/PKB
+ Cách 2: thông qua các protein tín hiệu Ras/Raf/MAP
Trang 17Kháng insulin có thể do giảm hiệu quả của chất truyền tin, các protein tín hiệu chính Sự giảm này làm xáo trộn quá trình truyền tín hiệu của insulin dẫn đến kết quả là kháng insulin ở tế bào đích Tùy thuộc vào khiếm khuyết tín hiệu của insulin do giảm hiệu quả của chất truyền tin, protein tín hiệu dẫn đến sự đề kháng insulin sẽ ở các mức độ khác nhau [45], [77]
Hình 1.1 Cơ chế vận chuyển glucose trong kháng insulin
(Nguồn: Diabetes in cardiovascular Disease, 2013[56])
Sự truyền tín hiệu của insulin gây nên quá trình chuyển glucose vào tế bào
và sự vận chuyển glucose qua các chất vận chuyển từ nội bào tới màng plasma trên bề mặt [57], [64] Có ít nhất 12 loại protein vận chuyển khác nhau ở các loại
tế bào khác nhau [62] GLUT-4 là chất vận chuyển glucose thông qua insulin gặp
ở hầu hết các loại tế bào (tế bào gan, não, cơ, mỡ…) GLUT-1 gặp nhiều ở tế bào não, GLUT -2 gặp nhiều ở tế bào gan, GLUT-3 gặp chủ yếu ở đường tiêu hóa Một số nghiên cứu trên tế bào cơ, mỡ cho thấy sự khiếm khuyết gây kháng insulin
ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 có liên quan đến chất vận chuyển glucose GLUT-4 trong con đường vận chuyển glucose phụ thuộc insulin
1.2 Chẩn đoán hội chứng chuyển hóa
Tiêu chuẩn của Hiệp hội Đái tháo đường quốc tế
Trang 18Chẩn đoán HCCH theo IDF-2005 khi thỏa mãn các điều kiện sau:
- Tiêu chí bắt buộc là phải có béo trung tâm (được xác định bằng tăng số
đo vòng eo), số đo này khác nhau theo các chủng tộc
- Kết hợp với bất kỳ 2 trong 4 tiêu chí sau:
+ Tăng triglycerid máu ≥ 1,7mmol/l (150mg/dl) hoặc đã điều trị tăng
Tiêu chuẩn của nhóm nghiên cứu về kháng insulin Châu Âu
Để chẩn đoán xác định HCCH theo tiêu chuẩn của EGIR phải có tăng insulin máu (tiêu chí A) với ít nhất hai điểm của tiêu chí B
- Tiêu chí bắt buộc có kháng Insulin và/hoặc tăng insulin máu lúc đói (nồng độ insulin máu ở khoảng tứ phân vị thứ nhất của những người không bị ĐTĐ) (tiêu chí A)
- Các tiêu chí khác (tiêu chí B)
Trang 19+ Tăng glucose máu lúc đói ≥ 6,1mmol/l (nhưng không bao gồm ĐTĐ) + Huyết áp cao khi: HATT ≥ 140mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90mmHg; hoặc điều trị THA
+ Rối loạn chuyển hóa lipid khi: TG > 2,0mmol/l (178mg/dl) và/hoặc HDL-cholesterol <1,0mmol/l (39mg/dl) hoặc đã điều trị rối loạn lipid máu
+ Béo bụng khi: vòng eo ≥ 94cm (đối với nam) và ≥ 80cm (đối với nữ) Công bố định nghĩa của WHO về HCCH vào năm 1999, EGIR đưa ra một phiên bản sửa đổi chỉ áp dụng cho những người không bị ĐTĐ, tiêu chuẩn của EGIR dễ áp dụng hơn trong nghiên cứu dịch tễ vì không đòi hỏi kỹ thuật kẹp glucose để đánh giá mức độ nhậy cảm của insulin EGIR đã đề nghị sử dụng nồng độ insulin lúc đói để đánh giá kháng insulin và áp dụng rối loạn glucose máu lúc đói như là một tiêu chuẩn thay thế cho rối loạn dung nạp glucose Tiêu chuẩn của EGIR có sự thay đổi về giá trị các chỉ số như THA, RLLP cũng như giá trị của vòng eo, đã sử dụng chu vi vòng eo để đánh giá béo bụng Hơn nữa, nếu một người đã được điều trị THA hoặc RLLP được coi như có các bất thường tương ứng [75]
Tiêu chuẩn của NCEP ATP III 2004 (Chương trình giáo dục về cholesterol quốc gia của Hoa Kỳ)
Hội chứng chuyển hóa được xác định khi có bất kỳ 3 trong 5 tiêu chí sau:
- Tăng vòng bụng: nam ≥ 102cm; nữ: ≥ 88cm
- Tăng TG khi: TG ≥ 1,7mmol/L (150 mg/dl) hoặc điều trị tăng TG
- Giảm HDL-C khi: HDL-C < 1,03mmol/L (40mg/dL) ở nam; hoặc < 1,29 mmol/L (50mg/dL) ở nữ; hoặc điều trị giảm HDL-C
- Huyết áp cao khi: HATTh ≥ 130mmHg hoặc HATTr ≥ 85mmHg hoặc điều trị THA
- Tăng glucose máu lúc đói khi: glucose máu lúc đói ≥ 5,6mmol/L (100mg/dL) hoặc điều trị tăng glucose máu
Trang 20Đối với người châu Á, tiêu chuẩn tăng vòng bụng là ≥ 90cm đối với nam
và ≥ 80cm đối với nữ
Hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn NCEP ATP III vào năm 2001 tập trung chủ yếu vào yếu tố nguy cơ tim mạch và không bắt buộc phải có kháng insulin hoặc bất thường glucose máu, mặc dù bất thường về glucose máu vẫn
là một trong các tiêu chí để chẩn đoán HCCH Tiêu chuẩn HCCH của NCEP ATP III đã được cập nhật lại vào năm 2004 Những điểm cập nhật là:
- Hạ thấp ngưỡng của glucose máu lúc đói xuống 5,6 mmol/L (100 mg/dL), theo cập nhật của Hiệp hội đái tháo đường Mỹ (ADA) về định nghĩa suy giảm glucose máu lúc đói (giá trị ngưỡng glucose máu lúc đói theo tiêu chuẩn năm 2001
là 6,1mmol/L)
- Bao gồm cả ĐTĐ trong tiêu chí tăng glucose máu
Điều trị RLLP và THA cũng được coi là một trong các tiêu chí về THA và RLLP máu [75]
1.3 Yếu tố liên quan hội chứng chuyển hóa
1.3.1 Khẩu phần ăn và thói quen ăn uống
Chế độ ăn có mối liên hệ mật thiết với HCCH Khi chế độ ăn không cân đối, dư thừa năng lượng sẽ dẫn đến vượt quá nhucầu cảu cơ thể làm cơ thể tích lũy quá mức Việc tích lũy này diển ra trong thời gian dài sẽ làm cơ thể mất cân bằng, hệ thống chống nhiễm mỡ của cơ thể sẽ mất khả năng tự cân bằng Khi
đó, lượng triacylglycerol sẽ lắng đọng và tích lũy dần dần tại các mô không phải mô mỡ [74]
Các nghiên cứu chỉ ra rằng, chỉ cần ăn dư 70 calo mỗi ngày sẽ dẫn tới tăng cân trong khi cơ thể chúng ta không nhận ra đặc biệt là khi ăn những thức ăn giàu năng lượng Các thức ăn giàu chất béo sẽ làm cho người ta trở nên ngon miệng, dẫn đến việc ăn thừa mà không biết Mỡ động vật có đậm độ nặng lượng cao gấp 2 lần đường, lại cần ít calo để tích lũy dưới dạng triglyceird Vì vậy,
Trang 21khẩu phần nhiều mỡ dễ dẫn đến thừa calo và tăng cân Ngoài ra, các chất sinh năng lượng có trong thức ăn như protid, lipid, glucid khi vào cơ thể đều có thể chuyển hóa thành chất béo dự trữ Như vậy, một khẩu phần ăn không chỉ nhiều lipid mới gây béo mà ăn quá thừa các thức ăn khác như bột, đường, đồ ngọt đều có thể gây béo Các thói quen ăn nhiều vào bữa tối, ăn nhiều bữa, ăn thức
ăn nhiều năng lượng, thích ăn xào rán đã được chứng minh trong một số nghiên cứu trên đối tượng người trưởng thành bị thừa cân, béo phì [30] Khi chế độ ăn cung cấp năng lượng vượt quá nhu cầu, thêm vào đó là lối sống làm việc tĩnh tại, ít tiêu hao năng lượng sẽ làm cân nặng của cơ thể tăng lên [66] Năm 2005, Kelly T.,Yang W và cộng sự ước tính trên thế giới hiện có 951 triệu người thừ cân và 396 triệu người béo phì Theo khảo sát toàn cầu về tình trạng béo phì ở
195 quốc gia được thực hiện vào năm 2015, khoảng 604 triệu người lớn và 108 triệu trẻ em bị béo phì [39] Dự đoán đến năm 2030, trên thế giới có 1,35 tỉ người thừa cân và 573 triệu người béo phì, xu thế sẽ tăng cao hơn nữa nếu không được can thiệp và dự tính là 2,16 tỉ người thừa cân và 1,12 tỉ người mắc béo phì [65] Béo phì trung tâm là một đặc điểm quan trọng của HCCH, phản ánh một cách trung thực và có mối quan hệ chặt chẽ giữa chu vi vòng bụng và tình trạng béo phì Như vậy, HCCH sẽ có xu hướng gia tăng cùng với sự gia tăng tỉ lệ thừa cân, béo phì [46] Mặt khác, những người suy dinh dưỡng lúc nhỏ mà khi trưởng thành bị béo phì thì khả năng mắc HCCH rất lớn Ở những bệnh nhân cân nặng bình thường cũng có thể xuất hiện đề kháng insulin và HCCH
Trang 22các đối tượng có thời gian hoạt động tĩnh tại cao [18] Như vậy, cùng với yếu
tố ăn uống, sự gia tăng tỉ lệ béo phì và các rối loạn chuyển hóa thường đi song song với giảm hoạt động thể lực trong lối sống tĩnh tại Do đó, việc thay đổi lối sống năng động, tăng cường hoạt động thể lực trong lối sống sẽ làm giảm tỉ lệ mắc HCCH và các rối loạn liên quan khác Nên hoạt động thể lực thường xuyên với cường độ thích hợp để duy trì sức khỏe tốt, nhất là những người có công việc tĩnh tại, ít hoạt động thể lực
1.3.3 Tuổi
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tuổi là một yếu tố liên quan đến HCCH
Tỉ lệ mắc HCCH tăng dần theo tuổi, đặc biệt tăng nhanh ở lứa tuổi trung niên Nghiên cứu trên 8814 người trưởng thành ở Mỹ cho thấy: tỉ lệ mắc HCCH chung là 22%, ở lứa tuổi 20 – 29 là 6,7%, ở lứa tuổi 60 – 69 là 43,5% và ở tuổi trên 70 là 42% [52] Một nghiên cứu tại Mỹ được công bố năm 2009 cho thấy
tỉ lệ mắc HCCH khoảng 34% và tỉ lệ này tăng theo lứa tuổi [48]
1.3.4 Giới
Nhiểu tác giả cho rằng béo trung tâm là một yếu tố quan trọng cấu thành HCCH Béo trung tâm thường gặp ở nam nhiều hơn nữ, HCCH cũng gặp ở nam nhiều hơn Nhiều tác giả cho rằng béo trung tâm là một yếu tố quan trọng cấu thành HCCH Wilson P.W.F và cộng sự năm 2005 khi nghiên cứu HCCH theo tiêu chuẩn ATP III ở 3.323 người có tuổi từ 22 đến 81 không mắc bệnh tim mạch và ĐTĐ tại thời điểm nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ mắc HCCH là 26,8% đối với nam và 25% đối với nữ ở [87] Theo thống kê của NCEP ATP cho thấy tại Hoa Kỳ, tỉ lệ mắc HCCH ở người trên 50 tuổi khoảng 44%, tỉ lệ nữ nhiều hơn nam [40]
1.3.5 Hút thuốc lá và bia rượu
Thuốc lá và bia rượu là những thói quen có ảnh hưởng không nhỏ tới rối loạn dinh dưỡng lipid cũng như tỉ lệ mắc HCCH Nhiều nghiên cứu cho thấy:
Trang 23mối liên quan chặt chẽ giữa hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia với việc gia tăng tỉ
lệ HCCH Điều này có thể lý giải một phần nguyên nhân tỉ lệ mắc bệnh của nam giới trong một số cộng đồng khác nhau thường cao hơn nữ giới Hút thuốc
lá là nguồn sản sinh ra các gốc tự do, tăng độ kết dính tiểu cầu và làm giảm HDL-c [83], [87]
Rượu làm tăng triglycerid máu đáng kể trên các bệnh nhân có tăng triglycerid nguyên phát hay thứ phát Rượu được chuyển thành triglycerid, gây
ra tình trạng nhiễm mỡ và tăng sản xuất lipoprotein tỉ trọng thấp từ gan Ở một
số người bệnh, do cơ chế thích ứng làm tăng thanh thải triglycerid nên hàm lượng triglycerid vẫn bình thường Khi cơ chế thích ứng bị tổn thương do uống rượu kéo dài sẽ gây tăng rất nhiều triglycerid [44]
1.3.6 Các yếu tố về gen
Năm 2001, Poulsen P., Kyvik K.O và cộng sự nghiên cứu 303 cặp song sinh nam và nữ cho thấy yếu tố di truyền có liên quan tới sự tăng glucose máu, BMI, HDL-C, tăng HATTh và tỉ lệ eo/hông, insulin lúc đói, TG, tăng HATTr Nghiên cứu này đã đưa ra khái niệm về đa yếu tố trong HCCH liên quan tới di truyền và môi trường [78] Năm 1998, WHO đưa ra khái niệm thống nhất về HCCH và người ta thấy gen tiết kiệm đảm bảo dự trữ năng lượng trong thời gian nhịn đói
và liên quan tới kiểu hình của HCCH, các biến thể phổ biến ở một số kiểu gen ảnh hưởng tới chuyển hóa lipid, chuyển hóa đường cùng với mội trường làm gia tăng tỉ lệ mắc HCCH Lão hóa, chế độ ăn uống (tiêu thụ nước giải khát đặc biệt nước ngọt), thói quen ít vận đông hoặc hoạt động thể chất thấp, nhiễm khuẩn mạn tính, rối loạn tâm thần/tâm thần sử dụng thuốc, và sử dụng rượu quá mức
1.4 Ảnh hưởng và các biện pháp can thiệp hội chứng chuyển hóa
HCCH hay gặp ở những bệnh nhân có có bệnh lý tim mạch và các bệnh rối loạn chuyển hóa đặc biệt:
Trang 241.4.1 Đái tháo đường týp 2
Tỉ lệ người bệnh mắc HCCH cao gấp 5 lần bệnh ĐTĐ týp 2 Bệnh ĐTĐ týp 2 được coi là hậu quả hay biến chứng của HCCH Ở những người bị rối loạn dung nạp glucose hoặc tăng glucose máu lúc đói thì sự hiện diện của HCCH làm tăng gấp 2 lần nguy cơ phát triển bệnh ĐTĐ týp 2 Có khả năng tiền ĐTĐ và HCCH biểu thị các rối loạn tương tự, bao gồm các dấu hiệu sinh học khác nhau Sự hiện diện của HCCH liên quan đến một tỉ lệ cao hơn của bệnh tim mạch so với những bằng chứng được tìm thấy ở những người bệnh ĐTĐ týp 2 hay rối loạn khác mà không có HCCH [53] Sự đề kháng insulin được coi là một yếu tố nguy cơ phát triển HCCH [80] Một số nghiên cứu gần đây đã nhấn mạnh vai trò của adiponectin được tiết ra từ mô mỡ có liên quan đến cơ chế bệnh sinh của HCCH, ĐTĐ týp 2 và xơ vữa mạch máu [43] HCCH
là yếu tố dự báo mô hình bệnh ĐTĐ týp 2 hoặc bệnh tim mạch [81]
1.4.2 Bệnh tim thiếu máu cục bộ
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối liên quan chặt chẽ giữa tình trạng kháng insulin - HCCH - bệnh lý tim mạch Nghiên cứu Botnia tiến hành trên 4.483 người, lứa tuổi 35 - 70 (sống ở Phần Lan và Thụy Sỹ), được xác định là
có HCCH theo tiêu chuẩn của WHO, cho thấy tỉ lệ HCCH ở nữ có glucose máu bình thường là 10%, nam 15%; ở những đối tượng có rối loạn dung nạp glucose, rối loạn glucose máu lúc đói, nữ 42%, nam 64%; ở những người bệnh mắc bệnh ĐTĐ týp 2, nữ 78%, nam 84%; nguy cơ bệnh tim mạch và tử vong do bệnh tim mạch tăng cao ở nhóm có HCCH [60]
Nghiên cứu Kuopio Ischemic Heart Disease Risk Factor Study tiến hành
ở 1.209 nam giới Phần Lan không mắc bệnh ĐTĐ hoặc bệnh tim mạch tại thời điểm nghiên cứu với thời gian theo dõi trung bình 11,6 năm Kết quả cho thấy:
tỉ lệ tử vong do bệnh tim mạch và tất cả các nguyên nhân tăng cao ở nam giới mắc HCCH, ngay cả những người không có bệnh tim mạch và ĐTĐ [67] Trong
Trang 25HCCH, đặc biệt là ở người ĐTĐ týp 2 kèm bệnh lý tim mạch, tình trạng tăng glucose máu và kháng insulin luôn có vai trò trung tâm trong sinh bệnh học bệnh tim mạch Nghiên cứu tiến cứu Pari ở 6.903 nam giới lứa tuổi từ 43 - 53 cho thấy tình trạng tăng glucose máu lúc đói có tiên lượng liên quan rất chặt chẽ với nguyên nhân tử vong do bệnh mạch vành Cũng trong nghiên cứu này, người ta còn thấy tăng glucose máu lúc đói còn là một yếu tố nguy cơ độc lập với các nguyên nhân tử vong khác [51] Ước tính tỉ lệ HCCH ở người bệnh có bệnh mạch vành là 50%, với tỉ lệ 37% ở những người bệnh bị bệnh mạch vành sớm (45 tuổi), đặc biệt là ở phụ nữ Sự thay đổi lối sống như dinh dưỡng, hoạt động thể chất, giảm trọng lượng và một số trường hợp sử dụng thuốc giúp cải thiện chức năng tim ở những người bệnh mắc HCCH Tác giả nhấn mạnh sự can thiệp vào bất kỳ YTNC nào của HCCH cũng đều mang lại lợi ích cho người bệnh [51]
1.4.3 Bệnh tăng huyết áp
Tăng huyết áp là khi HATTh ≥ 140mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90mmHg hoặc đang được điều trị bằng thuốc hạ huyết áp [6] Hội nghị chuyên đề về THA lần thứ XIV (5/1992) tại Madrid đã xác định cơ chế làm THA của kháng insulin,
cathecholamin, tăng hoạt tính của hệ thần kinh giao cảm; insulin làm thay đổi vận chuyển ion qua màng, có thể gây rối loạn tiết oxide nitric bởi tế bào nội mạc mạch máu HA theo tiêu chuẩn 130/85mmHg trong định nghĩa HCCH của NCEP ATP III là thuộc “Tiền THA” của Liên ủy ban quốc gia Hoa Kỳ (JNC) VII 2003 Tuy nhiên, chúng ta biết rằng tiền THA thường có nguy cơ tiến triển thành THA Những người có huyết áp từ 130/80mmHg đến 139/89mmHg có nguy cơ tiến triển THA gấp hai lần người HA thấp hơn Mối liên quan giữa HA
và bệnh tim mạch có tính liên tục, hằng định và độc lập với các YTNC khác Đối với người 40 - 70 tuổi, khi gia tăng 20mmHg HATTh hay 10mmHg HATTr
Trang 26làm tăng gấp đôi nguy cơ tim mạch (trong giới hạn HA từ 115/75mmHg đến 185/115mmHg)
1.4.4 Rối loạn lipid máu
Rối loạn lipodystrophic có liên quan với HCCH Cả hai loại RLLP di truyền (ví dụ: RLLP bẩm sinh Berardinelli-Seip, RLLP Dunnigan) và mắc phải (ví dụ: RLLP liên quan đến HIV trong người bệnh được điều trị bằng liệu pháp kháng retrovirus hoạt tính cao), hình thức RLLP có thể làm gia tăng sự nghiêm trọng của đề kháng insulin và rất nhiều thành phần khác của HCCH
RLLP gắn liền với bệnh lý tim mạch, đặc biệt là bệnh mạch vành Điều hòa các RLLP máu có tác dụng cải thiện rõ rệt tiên lượng bệnh tim mạch ở người có HCCH và ĐTĐ Gần đây, các phân tích đều gợi ý tăng TG máu là một YTNC tim mạch độc lập Tăng TG máu thường được thấy trong HCCH
và có nhiều bệnh căn tiềm tàng gây tăng TG máu như béo phì, ĐTĐ, suy thận, RLLP máu do di truyền và sử dụng estrogen, corticoid hoặc các thuốc chẹn beta đường uống [37] Nồng độ HDL-C thấp là một trong những tiêu chí của HCCH và cũng là một YTNC mắc bệnh mạch vành độc lập, yếu tố này được xác định như một YTNC cholesterol không phải lipoprotein cholesterol tỉ trọng thấp (LDL-C) và nó như một thành phần của thang điểm Framingham Các bệnh căn gây HDL-C thấp chủ yếu là ít vận động, béo phì, kháng insulin, ĐTĐ, tăng TG, hút thuốc lá, chế độ ăn chứa nhiều carbohydrat cao (> 60% lượng calo) và dùng một số thuốc như chẹn beta giao cảm, các steroid đồng hóa, progestin Do can thiệp điều trị các đối tượng có HDL-C thấp kém hiệu quả nên NCEP ATP III xác định LDL-C là mục tiêu điều trị cấp 1 đối với những người bệnh có nồng độ HDL-C thấp Nồng độ HDL-C thấp thường xảy ra trong bệnh cảnh của tăng TG và HCCH Xử trí tình trạng này giúp cải thiện nồng độ HDL-C Tập aerobic, làm giảm cân, bỏ thuốc lá,
Trang 27điều trị thay thế estrogen trong giai đoạn mãn kinh…giúp cải thiện tình trạng HDL-C thấp, từ đó làm giảm tỉ lệ mắc HCCH [37]
1.4.5 Bệnh tâm thần phân liệt và các bệnh tâm thần khác
Năm 2009, John A.P., Koloth R.và cộng sự nghiên cứu HCCH ở những người Úc mắc bệnh tâm thần Nghiên cứu 219 người bệnh, tuổi 18 đến 65 tuổi, với chẩn đoán bệnh tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc hoặc lưỡng cực, trong
đó, 203 người bệnh được thu nhận đầy đủ thông tin cho nghiên cứu Kết quả cho thấy 54% mắc HCCH, ở nhóm rối loạn cảm xúc hoặc rối loạn lưỡng cực là 67%, tâm thần phân liệt là 51% Có thể nguyên nhân là do lối sống ít vận động, thói quen ăn uống hay tác dụng phụ do thuốc chống loạn thần Bên cạnh đó nhận thấy 32% và 51% các cá nhân tâm thần phân liệt đáp ứng các tiêu chí cho HCCH; tỉ lệ cao hơn ở phụ nữ so với nam giới [61]
1.4.6 Các biện pháp can thiệp đối với hội chứng chuyển hóa
Có nhiều biện pháp khác nhau để ngăn chặn sự phát triển của HCCH, bao gồm tăng hoạt động thể chất, chẳng hạn như đi bộ 30 phút mỗi ngày, chế độ ăn giảm calo [69] Nhiều nghiên cứu cho thấy giá trị tốt của thay đổi lối sống ở những người bệnh có HCCH [49] Tuy nhiên, một nghiên cứu khác lại cho biết các biện pháp này chỉ mang lại lợi ích cho một số ít người bệnh có HCCH, chủ yếu là những trường hợp do chưa phù hợp về lối sống và chế độ ăn
Năm 2007, Elwood P.C và cộng sự nghiên cứu 2.375 đối tượng có độ tuổi
từ 45 - 59 tuổi không mắc bệnh ĐTĐ, được theo dõi trong 20 năm và thấy 15% mắc HCCH và tỉ lệ bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ, tử vong do tim mạch, mắc bệnh ĐTĐ tăng lên rõ rệt ở nhóm đối tượng này [47] Một số nghiên cứu cho thấy việc đầu tiên là phải thay đổi lối sống, hướng dẫn chế độ ăn uống và hoạt động thể chất Tuy nhiên, nếu trong 3 - 6 tháng nỗ lực mà các YTNC không được khắc phục đầy đủ thì việc điều trị bằng thuốc được đưa ra Nói chung, việc can thiệp HCCH sẽ được cá thể hóa trên từng cá nhân Thuốc lợi tiểu và
Trang 28ức chế men chuyển có thể được sử dụng để điều trị THA Thuốc điều trị lipid máu có thể được sử dụng để làm giảm nồng độ LDL-C và chất béo trung tính, nếu nồng độ LDL-C tăng hoặc HDL-C thấp Sử dụng các thuốc làm giảm đề kháng insulin, như metformin và thiazolidinedione đang gây tranh cãi; điều trị này không được chấp thuận của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa
Kỳ Thuốc giảm cân có thể được sử dụng Béo phì được công nhận là thủ phạm đằng sau của rất nhiều các bệnh khác, giảm cân và thay đổi lối sống trong chế
độ ăn uống, hoạt động thể chất, nhu cầu các loại thuốc khác có thể làm giảm tỉ
lệ béo phì dẫn đến giảm các bệnh lý khác liên quan
Năm 2003, một nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho một nhóm đối tượng bao gồm người da đen và da trắng được xác định là ít vận động và không mắc bệnh mạn tính, chấn thương, được tập thể dục trong 20 tuần dưới sự giám sát chặt chẽ Kết quả cho thấy: tỉ lệ HCCH giảm từ 16,9% xuống còn 11,7% và trong số những đối tượng giảm mắc HCCH thì tỉ lệ giảm TG 43%, tăng HDL-C 16%, giảm HA 38%, giảm glucose máu lúc đói là 9%, giảm vòng bụng là 28% và không có sự khác biệt về giới tính và màu da [63] Từ đó, người ta cho rằng luyện tập là chiến lược hữu ích làm giảm tỉ lệ HCCH và góp phần dự phòng các bệnh mạn tính không lây Đã có nhiều nghiên cứu đưa ra việc hạn chế lượng carbonhydrat sẽ làm giảm các triệu chứng phổ biến của HCCH hơn so với việc hạn chế lượng chất béo trong các bữa ăn Sự kết hợp điều trị simvastatin/sitagliptin đã được giới thiệu vào năm 2011 và việc sử dụng các thuốc này làm giảm nồng độ LDL-C và tăng nồng độ insulin Statin liều cao giảm nguy cơ tim mạch, có ý nghĩa hơn ở bệnh ĐTĐ, đặc biệt là ở người có HCCH Các cơ chế sinh học chưa được hiểu rõ ràng Tuy nhiên, theo các nghiên cứu về dược động học của statin, có thể giải thích do sự ức chế cạnh tranh vận chuyển glucose qua chất mang hòa tan của tế bào và thông qua chất vận chuyển, đặc biệt là SLCO1B1
Trang 291.5 Tình hình nghiên cứu về hội chứng chuyển hóa
1.5.1 Trên thế giới
Trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu xác định tỉ lệ HCCH ở các quần thể dân cư khác nhau Năm 2009, Tổ chức y tế Hoa Kỳ đã công bố nghiên cứu tại Mỹ năm 2003 -2006 ở 3.423 đối tượng 18 đến 69 tuổi theo tiêu chuẩn chẩn đoán NCEP ATP III, tỉ lệ mắc HCCH khoảng 34% và tỉ lệ này tăng theo lứa tuổi, tăng theo chỉ số BMI và khác nhau giữa nam và nữ [48]
Nghiên cứu của Vinluan C.M.và cộng sự nghiên cứu tại 4 bang của Hoa
Kỳ ở những người trên 65 tuổi cho thấy tỉ lệ hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn của NCEP/AHA, EGIR, AACE và IDF lần lượt là: 34,5%; 16,0%; 33,2%
và 39,2% [86]
Năm 2004 - 2005, Al-Shafaee M.A và cộng sự nghiên cứu tỉ lệ HCCH ở
281 bệnh nhân tiền đái tháo đường trên 18 tuổi tại Omani, đã sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng chuyển hóa theo IDF ghi nhận tỉ lệ hội chứng chuyển hóa là: 45,9%, tỉ lệ này ở nữ cao hơn nam (nữ: 58,9%; nam: 30,8%) [41]
Nghiên cứu tại Hồng Kông đã xác định tỉ lệ HCCH ở các đối tượng trong
độ tuổi lao động theo 3 tiêu chuẩn chẩn đoán của WHO, NCEP và Nhóm nghiên cứu đề kháng insulin châu Âu (EGIR) Kết quả cho thấy, tỉ lệ mắc HCCH dao động từ 6,1 đến 13,4%, tùy theo tiêu chuẩn chẩn đoán Tỉ lệ mắc tăng dần theo tuổi và có sự khác biệt giữa nam và nữ Ở các nhóm tuổi dưới 50, HCCH gặp
ở nam nhiều hơn nữ nhưng từ lứa tuổi 50 trở đi thì nữ lại gặp nhiều hơn nam [58] Một nghiên cứu khác ở Hồng Kông cho biết tỉ lệ mắc tăng từ 3,1% ở lứa tuổi 25 - 29 đến 41% ở tuổi trên 70, còn tỉ lệ mắc chung trong nghiên cứu này sau khi đã điều chỉnh tiêu chuẩn béo phì đối với người châu Á là 21,2%
Nghiên cứu trên dân cư thành thị ở Ấn Độ sử dụng tiêu chuẩn của NCEP ATP III thì tỉ lệ HCCH là 31,6%, trong đó HDL-C thấp chiếm tỉ lệ cao nhất, thấp nhất là yếu tố rối loạn glucose máu khi đói (26,7%) [54] Nghiên cứu cắt
Trang 30ngang ở Venezuela đánh giá 3.108 đối tượng tuổi từ 20 trở lên cho biết tỉ lệ mắc HCCH theo NCEP ATP III là 31,2%, trong đó tỉ lệ nam cao hơn nữ Tỉ lệ mắc tăng lên theo tuổi cùng với mức độ béo phì Tỉ lệ thấp hơn ở đàn ông da
đỏ (17%) so với đàn ông da đen (27,2%), da trắng (33,3%) nhưng không có sự khác biệt ở nữ với các màu da khác nhau Các yếu tố gặp với tỉ lệ cao bao gồm HDL-C thấp (65,3%), béo bụng (42,9%) và THA (38,1%) Cách sống không lành mạnh cũng làm tăng nguy cơ của hội chứng này [50]
Nghiên cứu đoàn hệ của Kan Sun và cộng sự cho thấy những người uống nhiều đồ uống có cồn tăng nguy cơ mắc HCCH gấp 1,84 lần [83] Nghiên cứu của Zhang Y và Zhang D năm 2018 ghi nhận tiêu thụ rau và tiêu thụ trái cây có liên quan nghịch với HCCH [88]
1.5.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Le N.T.D.S và cộng sự năm 2000 đã cho thấy, tỉ lệ HCCH ở thành phố Hồ Chí Minh là 12% [70] Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng Việt Nam ở 620 đối tượng tuổi từ 25-64 cho thấy tỉ lệ mắc HCCH là 13,1%, riêng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là 18% [23] Nghiên cứu của Thái Thọ trên 948 người bệnh tiền ĐTĐ tại Ninh Bình (2012),
tỉ lệ HCCH theo tiêu chuẩn NCEP ATP III 2004 và tiêu chuẩn IDF lần lượt là 51,7% và 31,8% Năm 2012, Tang K.H và cộng sự báo cáo kết quả nghiên cứu HCCH ở 693 đối tượng học sinh trung học tại thành phố Hồ Chí Minh theo 5 tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH, ghi nhận tỉ lệ HCCH từ 3,9% đến 12,5%, tùy theo tiêu chuẩn áp dụng [84] Năm 2013, Võ Thị Dễ ghi nhận tỉ lệ mắc HCCH trong cộng đồng tại Long An là 17,2% [9] Năm 2016, kết quả nghiên cứu HCCH ở bệnh nhân tăng huyết áp tại huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị của tác giả Nguyễn Thế Hoàng cho thấy tỉ lệ mắc HCCH chung là 62% [14] Năm 2017, Dương Thị Anh Đào nghiên cứu về hội chứng chuyển hóa ở học sinh có rối loạn lipid máu
Trang 31tại một số trường tiểu học miền Bắc ghi nhận tỉ lệ này là 11,5% ở trẻ từ 5 – 11 tuổi [10]
Năm 2019, Nguyễn Thế Hùng ghi nhận tỉ lệ HCCH ở bệnh nhân THA tại Bệnh viện Quân y 175 là 76,2%, thường gặp ở nam giới, tăng BMI và rối loạn lipid máu [15] Nguyễn Quỳnh Hoa khi nghiên cứu thực trạng mắc HCCH ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Thái Bình nhận thấy tỉ lệ này là 38,9% và tăng dần theo tuổi [13]
Nghiên cứu HCCH theo NCEP ATP III ở cán bộ, viên chức trường Đại học Điều dưỡng Nam Định năm 2017 đã cho thấy tỉ lệ chung HCCH là 14,36%, đồng thời nhận thấy có mối liên quan có ý nghĩa giữa HCCH với thói quen hút thuốc lá (OR = 2,21, p < 0,05) [31]
Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Huy cho thấy tỉ lệ mắc HCCH ở người trưởng thành tại Khánh Hòa là 15,7% theo tiêu chuẩn NCEP ATP III, trong đó,
độ tuổi trên 54 có tỉ lệ cao nhất (21,5%), nam gặp nhiều hơn nữ và yếu tố
HDL-C thấp gặp nhiều nhất (37%) [17]
Năm 2008, Nguyễn Thị Thu Trang và Đỗ Thị Minh Thìn nghiên cứu HCCH theo tiêu chuẩn NCEP ATP III 2004 ở cán bộ công an được điều trị tại Bệnh viện 19-8 cho thấy tỉ lệ hội chứng chuyển hóa chủ yếu ở nhóm tuổi trên
50 tuổi là 89,06% [34]
Tại Bệnh viện Trung ương Huế, nghiên cứu của Ngô Đình Châu, Trần Hữu Dàng, Hoàng Ngọc Chương trên 198 đối tượng điều trị tại khoa Nội tổng hợp năm 2010 ghi nhận tỉ lệ HCCH theo tiêu chuẩn NCEP ATP III 2004 là 77,3%, nam cao hơn nữ (81,6% và 73,9%), tỉ lệ hội chứng chuyển hóa tăng theo nhóm tuổi và tăng theo chỉ số BMI [7]
Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Công Minh và cộng sự tại phòng Bảo vệ sức khỏe cán bộ tỉnh Thừa Thiên Huế ghi nhận tỉ lệ HCCH trên bệnh nhân gan
Trang 32nhiễm mỡ là 34,21%, nam cao hơn nữ, tỉ lệ mắc tăng dần theo tuổi và chỉ số BMI [23]
Theo nghiên cứu về HCCH ở 568 người tiền ĐTĐ của tác giả Phạm Thuý Hường năm 2018, HCCH được xác định theo các tiêu chuẩn có tỉ lệ khác nhau tương ứng IDF: 34,3%; NCEP ATP III: 60,2%; EGIR: 30,8%; AACE: 35,4% Nghiên cứu cũng cho thấy: sau 2 năm can thiệp bằng tiết chế dinh dưỡng và hoạt động thể lực, các tiêu chí trong HCCH theo NCEP ATP III ở người tiền đái tháo đường giảm có ý nghĩa, trong đó giảm hiệu quả nhất là HDL-C; đồng thời các đối tượng tuân thủ điều trị có tỉ lệ HCCH giảm hơn so với đối tượng không tuân thủ [12]
Năm 2018, tác giả Đỗ Văn Lương và cộng sự khi nghiên cứu HCCH ở người đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện đa khoa huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã xác định các yếu tố nguy cơ của HCCH bao gồm: tuổi cao, giới nữ, thừa cân béo phì, hút thuốc lá, uống rượu bia [21]
Năm 2018, tác giả Vương Hữu Tiến nghiên cứu về tình hình HCCH của đối tượng thuộc diện Tỉnh ủy Cà Mau quản lý ghi nhận các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc HCCH là giới nam, tuổi trên 60, ít vận động thể lực Đồng thời tác giả cũng nhận thấy sau khi can thiệp bằng chế độ ăn và hoạt động thể lực,
tỉ lệ HCCH giảm từ 38,8% còn 29,7% [35]
Năm 2019, nghiên cứu của tác giả Đoàn Phước Thuộc về HCCH tại hai
xã của huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa giữa tuổi, mức độ uống rượu bia, ăn trái cây rau quả, hoạt động thể lực
và chỉ số BMI với HCCH [32]
Nghiên cứu của tác giả Châu Hữu Hầu và cộng sự tại Bệnh viện Nhật Tân năm 2019 ghi nhận tỉ lệ mắc HCCH ở nhân viên y tế là 18,8%, trong đó nữ chiếm tỉ lệ cao hơn nam Sau 6 tháng can thiệp bằng thay đổi chế độ ăn và tăng cường hoạt động thể lực, tỉ lệ mắc HCCH giảm xuống còn 15,9% [11]
Trang 331.6 Cán bộ thuộc diện quản lý sức khỏe tỉnh An Giang
Khoa Nội A, thuộc Bệnh viện ĐKTT An Giang được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2019, trên cơ sở hợp nhất Phòng khám và quản lý sức khỏe với một số bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ của Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang để thực hiện chức năng, nhiệm vụ tư vấn, khám, chữa bệnh, theo dõi bảo vệ, chăm sóc sức khỏe đối với cán bộ diện quản lý sức khỏe tỉnh
An Giang Hằng năm, số lượt cán bộ khám và chữa bệnh ngoại trú là khoảng 21.000, số nhập viện điều trị nội trú khoảng 775 lượt
Cán bộ thuộc diện quản lý sức khỏe tỉnh An Giang bao gồm cán bộ đương chức và hưu trí, với đặc trưng là công việc hoạt động trí óc nhiều với lối sống tĩnh tại, đồng thời có thể đối mặt với nhiều áp lực công việc, thường xuyên phải
đi công tác, ít có thời gian hoạt động thể lực cũng như khó chủ động kiểm soát chế độ ăn uống thường nhật Do đó, đây là nhóm đối tượng có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh lý tim mạch và chuyển hóa
Theo nghiên cứu mô hình bệnh tật của đối tượng thuộc diện quản lý sức khỏe tỉnh An Giang năm 2021, nam giới chiếm tỉ lệ 84%, nữ giới chiếm 16%
Tỉ lệ thừa cân béo phì là 71,86%, thói quen ăn mặn chiếm tỉ lệ cao nhất (51,2%),
kế đó là uống rượu, bia (37%), tiếp đến là ít ăn rau quả, ít hoạt động thể lực và hút thuốc lá với tỉ lệ tương đương nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh lý chiếm tỉ lệ cao nhất là tăng lipid máu (77,2%), kế đến là tăng huyết áp (69,5%) [24]
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Những bệnh nhân đến khám tại khoa Nội A bệnh viện Đa khoa Trung tâm
An Giang từ 5/2020 đến 5/2021
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn vào
Bệnh nhân được chọn vào mẫu nghiên cứu phải thỏa mãn các tiêu chuẩn sau:
- Cán bộ thuộc diện quản lý sức khỏe tỉnh An Giang
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại ra
- Không làm đủ các xét nghiệm máu: glucose, cholesterol TP, HDL-C, LDL-C, TG
- Bệnh nhân ĐTĐ týp 1 hoặc mắc các bệnh nhiễm trùng cấp tính
- Trong quá trình theo dõi can thiệp xuất hiện các bệnh lý nặng như nhồi máu cơ tim, đột quỵ, bệnh ác tính
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang và nghiên cứu can thiệp không nhóm đối chứng
2.2.2 Mẫu nghiên cứu
Mục tiêu 1: Cỡ mẫu: sử dụng công thức
2
2 2 / 1
) 1 (
d
p p
Trang 35Z1- /2 là giá trị tới hạn phụ thuộc vào độ tin cậy xác định, với độ tin cậy
p là tỉ lệ mắc HCCH theo tiêu chuẩn NCEP ATP III ở đối tượng cán bộ thuộc diện quản lý sức khỏe, theo tác giả Nguyễn Đức Công, tỉ lệ này là 55,8% [8], chọn p = 0,56
d là sai số cho phép, chọn d = 0,065
Thay vào công thức tính được n = 224,04
Dự phòng 15% mất mẫu nên cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu là: 258,75 đối tượng Thực tế chúng tôi nghiên cứu trên 259 đối tượng
Mục tiêu 2 : Lấy toàn bộ đối tượng mắc HCCH ở mục tiêu 1, thực tế chúng tôi can thiệp trên 182 đối tượng
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Mục tiêu 1: chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, trình tự theo các bước:
- Bước 1: Lập danh sách toàn bộ người bệnh đến khám tại khoa Nội A bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang trong thời gian từ 05/2020 đến 05/2021
- Bước 2: Tính khoảng cách mẫu: k ≤ N/n (trong đó N là toàn bộ người bệnh đến khám tại khoa Nội A bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang, n là
cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu, từ đó ta tính được hệ số k) Ước lượng trong năm
có 21000 người đến khám tại khoa Nội A, với cỡ mẫu tối thiểu là 225, tính được k ≤ 93,33 Chọn k = 93
- Bước 3: Người đầu tiên được chọn vào mẫu nghiên cứu là người có số thứ tự ngẫu nhiên dựa vào bảng số ngẫu nhiên, nằm trong khoảng từ 1 đến 93, người thứ hai là người có số thứ tự của người thứ nhất cộng 93, người thứ ba
là người có số thứ tự của người thứ hai cộng 93 Cứ như vậy cho đến khi đủ cỡ mẫu nghiên cứu
Trang 36Mục tiêu 2: chọn mẫu toàn bộ, chọn tất cả những bệnh nhân mắc HCCH theo tiêu chuẩn NCEP ATP III (đã được xác định ở mục tiêu 1) được đưa vào can thiệp
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Giới: chia 2 nhóm: nam, nữ
- Tuổi: chia 4 nhóm: 40-49 tuổi, 50-59 tuổi, 60-69 tuổi, ≥ 70 tuổi
- Nghề nghiệp: chia 2 nhóm: công nhân viên, hưu trí
- Tiền sử bệnh lý nội khoa: ĐTĐ typ 2, THA, rối loạn lipid máu
- Thói quen hút thuốc lá:
+ Có: là người hiện đang hút thuốc lá và hút thuốc lá hàng ngày + Không: không hút thuốc lá
- Người có thói quen uống rượu:
+ Có: Nam uống > 2 ly rượu chát (300ml rượu)/ngày hoặc > 2 lon bia (> 14 lon/tuần)
Nữ uống > 1 ly rượu chát (150ml rượu)/ngày hoặc > 1 lon bia (> 7 lon/tuần)
+ Không: Nam uống ≤ 2 ly rượu chát (300ml rượu)/ngày hoặc 2 ≤ lon bia (≤ 14 lon/tuần)
Nữ uống ≤ 1 ly rượu chát (150mml rượu)/ngày hoặc ≤ 1 lon bia (≤ 7 lon/tuần)
- Thói quen ăn rau:
+ Có: người ăn rau nhiều hơn 2 lần trong 1 tuần tiêu biểu
+ Không hoặc ít: người chỉ ăn rau 1 đến 2 lần trong 1 tuần tiêu biểu
- Hoạt động thể lực:
+ Có: Đối tượng xem là hoạt động thể lực khi tập thể dục đều đặn hằng ngày từ 5-7 ngày trong tuần với thời gian 30-45 phút/ngày (như tập thể dục, đi
Trang 37bộ hay chơi thể thao khác…) Những người phải vận động tay chân > 45 phút/ ngày do yếu tố công việc thì cũng được xem như có tập thể dục
+ Không hoặc ít: Đối tượng xem là không hoặc ít hoạt động thể lực khi không tập luyện hoặc tập luyện không đều đặn (< 5 ngày trong tuần) hoặc khi làm công việc bàn giấy không vận động chân tay được xem là không tập luyện
2.2.4.2 Tỉ lệ, đặc điểm và các yếu tố liên quan HCCH theo NCEP ATPIII
* Tỉ lệ mắc HCCH
- Tỉ lệ mắc HCCH theo tiêu chuẩn NCEP ATP III 2004 [75]
- Tỉ lệ mắc HCCH theo tiêu chuẩn NCEP ATP III 2004 theo nhóm tuổi Bệnh nhân có HCCH được xác định theo tiêu chuẩn NCEP ATP III 2004 [75] khi có bất kỳ 3 trong 5 tiêu chí sau:
+ Tăng vòng bụng: nam ≥ 90cm; nữ ≥ 80cm (người châu Á)
+ Tăng TG khi TG ≥ 1,7mmol/L (150mg/dL) hoặc điều trị tăng TG + Giảm HDL-C khi HDL-C < 1,03mmol/L (40mg/dL) ở nam; hoặc < 1,29mmol/L (50mg/dL) ở nữ; hoặc điều trị giảm HDL-C
+ Tăng huyết áp khi HATTh ≥ 130mmHg hoặc HATTr ≥ 85mmHg hoặc điều trị tăng huyết áp
+ Tăng glucose máu lúc đói khi glucose máu lúc đói ≥ 5,6mmol/L (100mg/dL) hoặc điều trị tăng glucose máu
- Tỉ lệ mắc hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn NCEP ATP III phân theo các tiêu chí chẩn đoán: béo bụng, tăng triglycerid, giảm HDL-C, THA, tăng glucose máu
- Tỉ lệ mắc các tiêu chí hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn NCEP ATP III phân theo giới tính
- Tỉ lệ mắc các tiêu chí hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn NCEP ATP III phân theo nhóm tuổi
* Các yếu tố liên quan đến HCCH theo tiêu chuẩn NCEP ATP III
Trang 38- Liên quan giữa hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn NCEP ATP III với giới tính
- Liên quan giữa hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn NCEP ATP III với nhóm tuổi
- Liên quan giữa hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn NCEP ATP III với thói quen, lối sống
- Liên quan giữa hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn NCEP ATP III với chỉ số BMI (chỉ số khối cơ thể)
Chỉ số khối cơ thể (BMI): được tính theo công thức:
Phân 2 nhóm [5]: Thừa cân, béo phì: BMI ≥ 23 Kg/m2
Bình thường, thiếu cân: BMI < 23 Kg/m2
2.2.4.3 Đánh giá kết quả can thiệp ở ĐTNC có HCCH theo NCEP ATP III
* Các ĐTNC có HCCH tham gia nghiên cứu sau khi được tư vấn và lựa chọn, tiến hành theo dõi và đánh giá can thiệp
* Nội dung tư vấn gồm: khuyến khích các ĐTNC hoạt động thể lực mức
độ trung bình ít nhất 150 phút/tuần, chia ra 5-7 ngày Tăng cường hoạt động dưới mọi hình thức, giảm tối đa thời gian tĩnh tại như xem vô tuyến, chơi vi tính Khuyến khích, hỗ trợ kêu gọi các ĐTNC nghiên cứu tham gia câu lạc bộ sức khỏe
* Các biện pháp can thiệp (có phụ lục kèm theo):
+ Tư vấn, cung cấp kiến thức chung về HCCH, THA, ĐTĐ
+ Tư vấn khi tái khám hoặc qua các buổi sinh hoạt người bệnh, bao gồm kiến thức chung về HCCH, THA, ĐTĐ; thay đổi lối sống; hoạt động thể lực; mục tiêu dinh dưỡng, nguyên tắc điều chỉnh chế độ ăn và cách đánh giá điều chỉnh chế độ ăn; lựa chọn thực phẩm; lập kế hoạch cho bữa ăn; giảm cân; thiết lập các nhóm tập thể dục và các nhóm đi bộ và tổng kết
Trang 39* Theo dõi và đánh giá kết quả can thiệp
Các số liệu nghiên cứu được thu thập tại thời điểm tháng thứ 6 kể từ thời điểm bắt đầu theo dõi, can thiệp Đánh giá lại các đặc điểm: BMI, vòng bụng,
HA, glucose máu lúc đói, HDL-C và TG máu
- Tuân thủ điều trị trong quá trình can thiệp:
+ Người tuân thủ là người tham gia đầy đủ các buổi tư vấn giáo dục, thực hiện theo các hướng dẫn về chế độ dinh dưỡng tiết chế, hoạt động thể lực trong suốt quá trình nghiên cứu và là người có đầy đủ các chỉ số nghiên cứu, bao gồm: chỉ số nhân trắc, chỉ số xét nghiệm máu Người giám sát ký xác nhận người bệnh tham gia tư vấn giáo dục sau mỗi buổi
+ Người không tuân thủ can thiệp là người không tham gia hoặc tham gia không đầy đủ các buổi tư vấn giáo dục; không thực hiện theo các hướng dẫn hoặc thực hiện không đầy đủ về chế dinh dưỡng tiết chế, hoạt động thể lực trong suốt quá trình nghiên cứu và là người có đầy đủ các chỉ số nghiên cứu bao gồm: chỉ số nhân trắc, chỉ số xét nghiệm máu
- Đánh giá lại các biến số:
+ Chỉ số nhân trắc: cân nặng, BMI, vòng bụng
+ Huyết áp
+ Các chỉ số lipid máu: chỉ số; so sánh trước, sau can thiệp
+ Glucose máu lúc đói
- Chỉ số hiệu quả: đánh giá chỉ số hiệu quả của từng nhóm biến số: thói
quen sinh hoạt, các tiêu chí của HCCH theo NCEP ATP III
can thiệp
2.2.5 Phương pháp và kĩ thuật thu thập số liệu
- Thu thập số liệu tại khoa Nội A, bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang
Trang 40- Phỏng vấn theo bảng câu hỏi
- Đo chiều cao [1]:
+ Thước dây đo (dài 3m, chia vạch đến mm và có thể cố định được) + Thước thăng bằng
+ Đặt hình vẽ bàn chân lên sao cho thước dây ở giữa 2 chân
+ Yêu cầu ĐTNC cởi bỏ giầy, dép, quần áo nặng
+ Hướng dẫn đối tượng đứng đúng tư thế: đầu để thẳng, xương chẩm chạm vào tường, không nghiêng sang bên, không cúi xuống hoặc ngửa ra sau Chú ý không để tóc búi hoặc buộc tóc quá chỏm đầu Hai xương bả vai chạm tường, hai tay để xuôi, mông chạm tường, đầu gối thẳng, hai bàn chân khép kín vào nhau, hai gót chân đặt sát tường Trục của cơ thể theo phương thẳng đứng trùng với trục của thước dây
+ Đặt thước thăng bằng chính giữa chỏm đầu đối tượng, điều chỉnh cho thước đúng ở vị trí nằm ngang, đọc chiều cao tại chỗ giao nhau giữa mép dưới của thước thăng bằng và thước dây
+ Số đo chiều cao lấy chính xác đến 1/10cm