Theo nghiên cứu của Đinh Đạo 2014 các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng trẻ em là điều kiện kinh tế - xã hội của gia đình, trình độ văn hóa thấp, bỏ bú mẹ sớm [19].. Hiện nay mặc dù tì
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
VÕ BÁ TƯỚC
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SUY DINH DƯỠNG Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ VÀ PHỤC HỒI DINH DƯỠNG TRẺ EM TẠI HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG
NĂM 2020-2021
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Cần Thơ, 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
VÕ BÁ TƯỚC
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SUY DINH DƯỠNG Ở TRẺ EM
DƯỚI 5 TUỔI VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ VÀ PHỤC HỒI DINH DƯỠNG
TRẺ EM TẠI HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG
Cần Thơ – Năm 2021
Trang 5Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
Trang 6Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.4 Hiệu quả can thiệp kiến thức, thực hành phòng chống
4.4 Hiệu quả can thiệp kiến thức, thực hành phòng chống
1 Tỷ lệ, mức độ suy dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ em
2 Hiệu quả can thiệp kiến thức, thực hành phòng chống suy dinh dưỡng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7- CBCNV : Cán bộ công nhân viên
(United Nations International Children’s Emergency Fund)
(World Health Organization)
Trang 8Trang
Bảng 1.5: Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở huyện Châu Phú 16
Bảng 3.14 Liên quan giữa học vấn của bà mẹ và tỷ lệ suy dinh dưỡng
Bảng 3.15 Liên quan giữa nghề nghiệp của mẹ và tỷ lệ suy dinh dưỡng
Trang 9dưỡng chung ở trẻ 47 Bảng 3.17 Liên quan giữa nhóm tuổi mẹ lúc sinh và suy dinh dưỡng
Bảng 3.18 Liên quan giữa cân nặng trẻ lúc sinh và suy dinh dưỡng
Bảng 3.19 Liên quan giữa bú sữa mẹ sau sinh và tỷ lệ suy dinh dưỡng chung 49
Bảng 3.22 Tỷ lệ kiến thức về phòng chống suy dinh dưỡng trước
Bảng 3.23 Tỷ lệ kiến thức chung đúng về phòng chống suy dinh dưỡng
Bảng 3.24.Tỷ lệ kiến thức về phòng chống suy dinh dưỡng sau can thiệp
Bảng 3.25 Tỷ lệ kiến thức chung đúng về phòng chống suy dinh dưỡng
Bảng 3.26 Tỷ lệ kiến thức chung đúng về phòng chống suy dinh dưỡng
Bảng 3.27 Tỷ lệ kiến thức chung đúng về phòng chống suy dinh dưỡng
Bảng 3.28 Tỷ lệ thực hành về phòng chống suy dinh dưỡng trước can thiệp 55 Bảng3.29 Tỷ lệ thực hành chung đúng về phòng chống suy dinh dưỡng
Bảng 3.30 Tỷ lệ thực hành về phòng chống SDD của bà mẹ sau can thiệp
Trang 10sau can thiệp ở nhóm can thiệp và nhóm đối chứng 57 Bảng 3.32 Tỷ lệ thực hành chung đúng về phòng chống suy dinh dưỡng
Bảng 3.33 Tỷ lệ thực hành chung đúng về phòng chống suy dinh dưỡng
Bảng 3.35 Hiệu quả thoát suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở 2 nhóm
Trang 11Trang
Trang 12MỞ ĐẦU
Suy dinh dưỡng là vấn đề sức khỏe của cả cộng đồng ở nhiều nước trên thế giới với tỷ lệ mắc còn cao trong đó có Việt Nam Trẻ em dưới 5 tuổi là đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất của tình trạng suy dinh dưỡng vì ở lứa tuổi này phát triển rất nhanh, tình trạng dinh dưỡng phụ thuộc nhiều vào sự nuôi dưỡng và chăm sóc y tế
Ở Việt Nam những năm gần đây, nền kinh tế ngày một phát triển, mặt bằng dân trí ngày được nâng cao Tuy nhiên, tình trạng thiếu ăn, suy dinh dưỡng ở trẻ em vẫn xảy ra phổ biến ở nhiều nơi, sự thiếu hiểu biết của các bà
mẹ về dinh dưỡng lúc có thai, cho con bú, cho con ăn bổ sung vẫn còn phổ biến Chương trình quốc gia về phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em đã triển khai nhiều năm, đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, tỷ lệ suy dinh dưỡng giảm đáng kể, 24,6% năm 2015 sau 5 năm giảm còn 19,5% (năm 2020) [10] Tuy nhiên, tỷ lệ giảm không đồng đều có nhiều nơi Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em vẫn đang ở mức cao, nhất là các vùng có mức thấp về kinh
tế xã hội trong cả nước Theo nghiên cứu của Đinh Đạo (2014) các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng trẻ em là điều kiện kinh tế - xã hội của gia đình, trình độ văn hóa thấp, bỏ bú mẹ sớm [19]
Đồng bằng sông cửu long là vùng sản xuất lương thực và thực phẩm nhiều nhất trong cả nước, tuy nhiên tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi vẫn còn ở mức cao, chỉ thấp hơn các vùng miền núi kinh tế khó khăn, trong các năm qua tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em đến năm 2019 giảm còn 17% [49] An Giang là một tỉnh nằm trong vùng đồng bằng sông cửu long có tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ
em ở mức cao so với mặt bằng chung trong vùng, năm 2019 tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em là 22,4% [35]
Trang 13Huyện Châu Phú là một huyện đồng bằng của tỉnh An Giang, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, chăn nuôi Hiện nay mặc dù tình trạng kinh tế đã khá hơn, trình độ dân trí ngày được nâng cao và có nhiều chương trình y tế nhằm cải thiện sức khỏe nhân dân, nhưng sự hiểu biết của các bà mẹ và cộng đồng
về chăm sóc dinh dưỡng phụ nữ có thai và trẻ em vẫn còn hạn chế, tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi còn cao hơn mặt bằng chung của tỉnh [35]
Tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Châu Phú là vấn đề lớn cần được quan tâm ở địa phương, để có cơ sở đầy đủ cho những đề suất hợp lý chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi, chúng tôi tiến hành đề tài:
Nghiên cứu tình hình suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi và đánh giá hiệu quả can thiệp kiến thức, thực hành của bà mẹ và phục hồi dinh dưỡng trẻ
em tại huyện Châu Phú tỉnh An Giang năm 2020-2021
Nghiên cứu được tiến hành với các mục tiêu:
1 Xác định tỷ lệ, mức độ suy dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Châu Phú tỉnh An Giang năm 2020
2 Đánh giá hiệu quả can thiệp kiến thức, thực hành cho các bà mẹ và
phục hồi dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang năm 2020-2021
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát về suy dinh dưỡng
1.1.1 Khái niệm dinh dưỡng và suy dinh dưỡng
Dinh dưỡng là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối các thành phần dinh dưỡng cho sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơ thể để đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội
Suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em là tình trạng mức cung ứng các chất dinh dưỡng thiếu so với nhu cầu sinh lý của trẻ Thông thường trẻ thiếu chất dinh dưỡng khác nhau, tuy nhiên điển hình là tình trạng thiếu protein-năng lượng, bệnh lý này thường xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi sẽ ảnh hưởng đến phát triển thể chất, vận động, tâm thần và trí thông minh của trẻ
Suy dinh dưỡng có 4 hình thái chính: SDD protein-năng lượng, thiếu hụt sắt & thiếu máu, thiếu hụt vitamin A và các bệnh do thiếu hụt iode Ở trẻ SDD các hình thái SDD có thể đan xen lẫn nhau, trẻ không chỉ thiếu năng lượng protein mà còn có thiếu hụt ít nhất một hoặc đồng thời nhiều vi chất dinh dưỡng khác như iode, vitamin A, sắt hoặc kẽm ở mức tiền lâm sàng hoặc lâm sàng Chủ yếu là để chỉ tình trạng SDD năng lượng protein và được đánh giá bằng các chỉ số nhân trắc Dựa vào cách đánh giá các chỉ số nhân trắc này người ta có cách phân loại các thể SDD khác nhau như SDD thể nhẹ cân (cân nặng của trẻ so với tuổi), SDD thể thấp còi ( chiều cao của trẻ so với tuổi ) và SDD thể gầy còm [16]
1.1.2 Tầm quan trọng của dinh dưỡng đối với sức khỏe trẻ em
Dinh dưỡng đóng một vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển toàn diện của con người trong suốt cuộc đời, đặc biệt đối với trẻ em, là
cơ thể đang lớn và phát triển Sữa mẹ là thức ăn lý tưởng cho trẻ em trong
Trang 15năm đầu, giúp cho trẻ tăng trưởng và phát triển một cách tối ưu, tăng cường
hệ miễn dịch, góp phần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cho trẻ em, đặc biệt là bệnh tiêu chảy và viêm phổi Ngoài ra cho trẻ bú mẹ cũng tác động đến sức khỏe người mẹ, làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư vú và buồng trứng cho bà mẹ Đối với xã hội, nuôi con bằng sữa mẹ cũng góp phần làm giảm chi phí của nhà nước và xã hội cho việc chăm sóc y tế cho trẻ em Vì vậy,
Tổ chức y tế thế giới (WHO), Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) và tất cả các Hội Nhi khoa các nước luôn cổ vũ việc nuôi con bằng sữa mẹ, cũng như có luật quốc tế bảo vệ sữa mẹ [2],[17]
Theo khuyến nghị của Tổ chức y tế thế giới, trẻ em cần được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời và được ăn bổ sung sau tháng thứ sáu nhưng vẫn tiếp tục cho trẻ bú mẹ và có thể kéo dài đến hết 2 năm đầu đời
Tình trạng thừa cân/béo phì ở trẻ em sẽ làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch (tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành…), bệnh rối loạn chuyển hóa ); các rối loạn tâm thần ở người trưởng thành, qua đó làm giảm tuổi thọ và làm tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong
Ngày nay đã có nhiều bằng chứng cho thấy nhiều tình trạng bệnh lý ở người lớn bắt nguồn từ trẻ em, ngay cả thời kỳ bào thai, các tình trạng bệnh lý này có liên quan đến chế độ dinh dưỡng của bà mẹ trong thời gian mang thai, cũng như của trẻ em Vì vậy khuyến nghị về nhu cầu dinh dưỡng cho nhân dân nói chung và cho trẻ em nói riêng là một yêu cầu bức thiết trên phạm vi thế giới cũng như cho từng quốc gia [18]
1.1.3 Nguyên nhân, hậu quả của suy dinh dưỡng
1.1.3.1 Nguyên nhân
Thiếu dinh dưỡng là nguyên nhân chiếm 60% suy dinh dưỡng trẻ em (SDDTE) Thiếu dinh dưỡng có thể xảy ra do giảm cung cấp chất dinh dưỡng, tăng tiêu thụ dưỡng chất hoặc cả hai Giảm cung cấp chủ yếu là do chế độ ăn
Trang 16của trẻ không đủ cả về số lượng lẫn chất lượng, thiếu năng lượng, protein cùng các vi chất dinh dưỡng, trong đó có sắt, axit folic, kẽm; trẻ biếng ăn, ăn không đủ nhu cầu và thức ăn chế biến không phù hợp, năng lượng thấp Tăng tiêu thụ khi trẻ ốm, thất thoát chất dinh dưỡng do bệnh lý Trong đa số trường hợp, SDD xảy ra do sự kết hợp của cả 2 cơ chế, vừa giảm năng lượng ăn vào, vừa tăng năng lượng tiêu hao Trong thời kỳ 6 tháng đầu, trẻ em không được
bú sữa mẹ hay sữa mẹ bị thiếu, cho trẻ ăn bổ sung quá sớm, bộ máy tiêu hóa trẻ chưa thể hấp thu tốt được Thời kỳ khi được 6 tháng tuổi trở đi, trẻ ăn bổ sung với chế độ ăn không đảm bảo đủ năng lượng, protein, ăn quá kiêng khem trong thời gian trẻ bị bệnh, nhất là khi bị ỉa chảy Nguyên nhân sâu xa là
do bà mẹ thiếu kiến thức và hạn chế về thực hành nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ
em [16],[18]
Từ lâu, người ta đã thừa nhận các bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến SDDTE, đặc biệt là tiêu chảy, nhiễm giun, nhiễm khuẩn hô hấp cấp là các bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ Khi các vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào cơ thể, với sức đề kháng còn yếu, trẻ em dễ bị SDD
do nhiễm trùng làm mất các chất dinh dưỡng và tác động gián tiếp làm trẻ em chán ăn Mặt khác, trẻ SDD có hệ thống miễn dịch bị giảm sút, dễ mắc bệnh nhiễm trùng và hậu quả SDD ngày một nặng thêm
Các nguyên nhân khác có thể là nguyên nhân SDD: Trẻ bị dị tật bẩm sinh như sứt môi, hở hàm ếch, hẹp phì đại môn vị, tim bẩm sinh, Langdon down, SDD bào thai, đẻ non [21]
1.1.3.2 Hậu quả của suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng với tỷ lệ mắc các bệnh thường gập: Tuy vẫn còn tranh luận về mối liên hệ giữa SDD với tỷ lệ mắc bệnh mới, bệnh tiêu chảy nhưng không mấy ai còn nghi ngờ về mối liên quan giữa sự chậm tăng trưởng và mức độ nặng của tiêu chảy và viêm phổi
Trang 17Suy dinh dưỡng với phát triển hành vi và trí tuệ: Trẻ bị SDD thì sự phát triển về cả thể lực và trí tuệ đều kém; Bộ não của con người được hình thành chủ yếu trong thời gian nằm trong bụng mẹ và ba năm đầu tiên của cuộc đời,
do vậy việc tình trạng SDD sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của não bộ; Trẻ bị SDD thường có tình trạng thiếu các chất vi lượng như: sắt, selen, kẽm, acid folic Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh gần có 4 chất vi lượng tác động trực tiếp đến hệ thần kinh trung ương đó là: sắt, iod, selen, kẽm, ngoài ra acid folic và một số acid béo chưa bão hòa có liên quan đến sự phát triển của não Các chất nói trên đã tham gia vào một số chức năng đặc biệt của não và giữ một vai trò quan trọng khi trẻ mới sinh và sau sinh, đảm bảo sự phát triển bình thường của trẻ em, đề phòng một số bệnh rối loạn về tâm thần [2]
Có thể thấy các mối liên quan giữa SDD và kém phát triển trí tuệ hành
vi ở những cơ thể sau đây:
- Do thiếu nhiều chất dinh dưỡng cùng một lúc trong đó các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển trí tuệ (iod, sắt, kẽm)
- Trẻ thiếu dinh dưỡng thường lờ đờ, chậm chạp ít năng động nên ít tiếp thu được qua giao tiếp của cộng đồng và người chăm sóc
- Các thực nghiệm về ăn bổ sung tỏ ra hiệu quả đến các chỉ số phát triển trí tuệ
Các bằng chứng trên đây cho thấy lập luận “Nhỏ nhưng khỏe mạnh” đã từng gây ra các tranh luận sôi nổi trong thập kỷ 80 là không có cơ sở Theo lập luận này, một đứa trẻ thấp bé cần ít thức ăn hơn, như vậy thấp bé là sự thích nghi hữu ích trong điều kiện thực phẩm khan hiếm “Một quá trình thích nghi không phải trả giá” Lập luận này khi mới ra đời đã không có được sự đồng tình của số đông các nhà khoa học và các hiểu biết gần đây đã cho thấy thiếu dinh dưỡng dù là thể vừa và nhẹ đều có ảnh hưởng không thuận lợi đến
sự phát triển tinh thần và thể chất của cơ thể [2]
Trang 18Các yếu tố liên quan suy dinh dưỡng trẻ em
Nhờ các nghiên cứu dịch tễ học dinh dưỡng, người ta đã tìm ra hàng loạt yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em ở các nước đang phát triển, trong đó có nước ta Đó là các yếu tố về sinh học, di truyền (chủng tộc, dân tộc, tình trạng sức khỏe bệnh tật mẹ khi mang thai); yếu tố về hành
vi, lối sống mà ở đây chủ yếu liên quan trực tiếp đến hành vi nuôi con của các
bà mẹ như cho trẻ bú mẹ; ăn bổ sung; chăm sóc trẻ chưa đúng cách do rào cản của các tập quán lạc hậu, đặc biệt khi trẻ bị ốm, bà mẹ thường kiêng khem như kiêng nước, kiêng ăn lúc trẻ bị sởi; cúng bái khi trẻ ốm Các yếu tố liên quan khác như: điều kiện kinh tế xã hội thấp, đầu tư cho y tế còn hạn chế; dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh; sự quan tâm của lãnh đạo địa phương và năng lực hoạt động của các cấp, các ngành hạn chế; chất lượng dịch vụ y tế kém hiệu quả [57]
1.2 Đánh giá và phân loại tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
1.2.1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận cấu trúc và hóa sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể Đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng là quá trình thu thập và phân tích thông tin, số liệu về tình trạng suy dinh dưỡng và nhận định tình hình trên cơ sở các thông tin số liệu đó
Một số phương pháp định lượng chính thường được sử dụng trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng là:
- Nhân trắc học: đó là việc đo những biến đổi của các kích thước cơ thể
và các mô cấu trúc nên cơ thể ở các lứa tuổi và mức độ suy dinh dưỡng khác nhau Các chỉ số nhân trắc có thể thu thập trực tiếp từ các số đo hoặc từ một
sự kết hợp của các kích thước thô như cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi, cân nặng theo chiều cao…
Trang 19- Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống: đây là phương pháp được sử dụng để phát hiện sự bất hợp lý (thiếu hụt hoặc thừa) dinh dưỡng ngay ở giai đoạn đầu tiên Thông qua việc thu thập, phân tích các số liệu về tiêu thụ thực phẩm và tập quán ăn uống cho phép rút ra các kết luận về mối liên hệ giữa ăn uống và tình trạng sức khỏe Một số phương pháp thường dùng để điều tra mức tiêu thụ thực phẩm là phương pháp hỏi ghi 24 giờ; phương pháp hỏi ghi nhiều lần 24 giờ; phương pháp cân đong tại hộ gia đình; và phương pháp điều tra tần xuất tiêu thụ thực phẩm
- Các thăm khám thực thể, đặc biệt chú ý tới các triệu chứng thiếu dinh dưỡng kín đáo và rõ ràng
- Các xét nghiệm cận lâm sàng chủ yếu là hóa sinh ở dịch thể và các chất bài tiết (máu, nước tiểu…) để phát hiện mức bão hòa chất dinh dưỡng
- Các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận do thiếu hụt dinh dưỡng
- Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong, sử dụng các thống kê y tế để tìm hiểu mối liên quan giữa tình hình bệnh tật và tình trạng dinh dưỡng
- Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe
Quá trình lớn là kết quả tổng hợp của các yếu tố di truyền và ngoại cảnh, trong đó các yếu tố dinh dưỡng có vai trò rất quan trọng Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy yếu tố dinh dưỡng hầu như giữ vai trò chi phối chính trong sự phát triển của trẻ em, ít nhất đến 5 tuổi Vì vậy thu thập các kích thước nhân
trắc là bộ phận quan trọng trong các cuộc điều tra dinh dưỡng [2]
1.2.2 Phân loại suy dinh dưỡng
1.2.2.1 Phân loại theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2006
Chỉ số cân nặng theo tuổi (thể nhẹ cân): Phân loại này dựa vào chỉ số
cân nặng trên tuổi (CN/T), đây là chỉ số được sử dụng rộng rãi nhất WHO
Trang 20(2006) chia thành 2 mức độ SDD như sau: Thể nhẹ cân mức độ vừa: cân nặng/tuổi dưới -2SD (độ lệch chuẩn) đến -3SD Đây là thể SDD nhẹ thường gặp nhất tại cộng đồng; Thể nhẹ cân mức độ nặng: cân nặng/tuổi dưới -3SD Đây là thể SDD nặng, hiện vẫn còn một tỷ lệ đáng kể trong cộng đồng
Cân nặng/tuổi phản ánh tình trạng nhẹ cân là chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng thông dụng từ năm 1950 Chỉ số này dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của cá thể hay cộng đồng Nhẹ cân chỉ là một đặc tính chung của tình trạng thiếu dinh dưỡng nhưng không cho biết đặc điểm cụ thể đó là loại SDD mới xảy ra hay đã tích luỹ từ lâu Chỉ số này nhạy và có thể quan sát trong một thời gian ngắn
Chỉ số chiều cao theo tuổi (thể thấp còi): Thể thấp còi độ 1: chiều cao/
tuổi (CC/T) dưới -2SD đến -3SD; Thể thấp còi độ 2: chiều cao / tuổi dưới -3SD
Chỉ số cân nặng theo chiều cao (thể gầy còm):
- SDD thể gầy còm khi cân nặng/chiều cao (CN/CC) dưới ngưỡng -2SD
1.2.2.2 Phân loại theo Waterlow (1976)
Phân loại này dựa theo chỉ số cân nặng/chiều cao và chiều cao theo tuổi, được thể hiện qua bảng 1.1
Bảng 1.1: Phân loại SDD theo Waterlow năm 1976
Cân nặng so với chiều cao
Chiều cao
so với tuổi
Trên 80% Dưới
Trên 90%
Dưới
Nguồn: Bảng phân loại SDD theo Waterlow1976/Nhi khoa tập 1,2007 [18]
Trang 21Gầy còm là chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng hiện tại hay nói cách khác nó biểu hiện tình trạng SDD cấp tính, do vậy cần phải ưu tiên can thiệp Cân nặng/chiều cao thấp chính là sự thiếu hụt khối cơ thể (khối nạc, mỡ, xương) khi so sánh với tổng số cần có của đứa trẻ có cùng chiều cao (hay chiều dài) Cân nặng theo chiều cao thấp phản ánh sự không tăng cân hay mất cân nếu so sánh với trẻ có cùng chiều cao Nó còn phản ánh mức độ thiếu ăn
và nhiễm khuẩn, là hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này Tỷ lệ cân nặng/chiều cao thấp thường xuất hiện ở trẻ từ 12 -24 tháng tuổi, do đây là thời
kỳ trẻ hay mắc bệnh và thiếu ăn do thiếu chăm sóc SDD cấp tính tiến triển rất nhanh ở trẻ em khi bị sụt cân hoặc không tăng cân Chỉ số cân nặng/ chiều cao
có ưu điểm là không biết tuổi của trẻ, vì vậy có thể tránh được một dữ liệu (tính tuổi) đôi khi rất khó thu thập hoặc không chính xác Đồng thời chỉ số này còn có một ưu điểm là không phụ thuộc vào yếu tố dân tộc, vì trẻ em dưới
5 tuổi có thể phát triển như nhau trên toàn cầu [16]
Thấp còi biểu hiện tình trạng suy dinh dưỡng trong quá khứ, thấp còi được xem là hậu quả của tình trạng thiếu ăn hoặc bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn tái diễn Đồng thời nó cũng phản ánh đó là hậu quả của vệ sinh môi trường kém và suy dinh dưỡng sớm Chỉ số này được dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng trong quá khứ với các trang thiết bị rẻ tiền và dễ vận chuyển Tuy nhiên chỉ số này không nhạy vì sự phát triển chiều cao là từ từ, các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển cùa chiều cao xảy ra trước khi chiều cao bị ảnh hưởng, như vậy khi thấy trẻ có chiều cao thấp thì đã muộn Tỷ lệ trẻ em bị thấp còi được xem là chỉ số đánh giá tình trạng đói nghèo Đây là chỉ số tốt để đánh giá sự cải thiện của điều kiện kinh tế, xã hội Thông thường
ở các nước đang phát triển, tỷ lệ thấp còi tăng nhanh sau 3 tháng tuổi, đến 3 tuổi tỷ lệ này ổn định sau đó chiều cao trung bình đi song song với chiều cao tương ứng ở quần thể tham khảo [19]
Trang 221.3 Tình hình suy dinh dưỡng
1.3.1 Tình hình SDD trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới
Các dữ liệu của WHO năm 2000 cho thấy SDD thể còi cọc ở các nước đang phát triển đã giảm từ 47% năm 1980 xuống 33% và xu hướng sẽ tiếp tục giảm xuống còn khoảng 29% vào năm 2005 Điều này có nghĩa rằng vào năm
2000 có khoảng 182 triệu trẻ em bị còi cọc ở các nước đang phát triển ít hơn
so với 20 năm trước là 40 triệu trẻ em Trong số 182 triệu trẻ bị còi cọc này có 70% số ở châu Á, 26% số ở châu Phi và 4% sống ở châu Mỹ La tinh và vùng Ca-ri-bê Xu hướng giảm tỷ lệ SDD được nhận thấy ở tất cả các vùng, nhưng
châu Phi là vùng có xu hướng giảm thấp nhất (từ 41% xuống 35%) [60]
Trong vòng 15 năm trở lại đây, suy dinh dưỡng trẻ em có xu hướng giảm trên phạm vi toàn cầu Thống kê của Quỹ Nhi đồng liên hiệp quốc, WHO và Ngân hàng thế giới năm 2011 về SDDTE dưới 5 tuổi nhận thấy châu
Á vẫn là châu lục đứng đầu về tỷ lệ 19,3% thể nhẹ cân (69,1 triệu) và tỷ lệ 10,1% thể gầy còm (36,1 triệu) Riêng trẻ em suy dinh dưỡng thể thấp còi, châu Phi trở thành châu lục chiếm tỷ lệ cao nhất với 35,6% (56,3 triệu); tiếp theo là châu Á: tỷ lệ 26,8% (98,4triệu) Hai châu lục này chiếm tỷ lệ trên 90% trẻ thấp còi trên toàn cầu [57]
Các số liệu SDDTE trên toàn cầu chủ yếu phân theo các châu lục, vùng lãnh thổ và theo từng quốc gia; chưa chú trọng đúng mức việc xác định SDDTE theo từng chủng tộc, tộc người trong các báo cáo thường niên của WHO và UNICEF Tổ chức xã hội học Hoa Kỳ đã tiến hành nghiên cứu về mối liên quan giữa tình trạng sức khỏe với các yếu tố chủng tộc, dân tộc tại chính quốc năm 2005 thấy có sự khác biệt về tỷ lệ tử vong trẻ em ở năm đầu đời của người Mỹ gốc Phi cao gấp 2 lần trẻ em da trắng Trẻ em Mỹ gốc Nhật
có tỷ lệ tử vong thấp hơn 8,2 lần so với tộc người Hawaiians [61]
Trang 23Bên cạnh tình trạng thiếu dinh dưỡng protein-năng lượng, việc thiếu hụt vi chất dinh dưỡng ảnh hưởng hơn hai tỷ người, khoảng một phần ba dân
số thế giới hiện nay Bất cập về thiếu vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là sắt, kẽm
đã được báo cáo ở nhiều nước đang phát triển Thiếu vi chất dinh dưỡng là một vấn đề toàn cầu lớn hơn nhiều so với nạn đói và gây phí tổn rất lớn về xã hội, bệnh tật làm giảm năng suất lao động, chất lượng cuộc sống kém; tạo ra vòng luẩn quẩn của suy dinh dưỡng, kém phát triển và nghèo đói WHO khảo sát giai đoạn 1990-1995, tỷ lệ thiếu máu trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển là 39,0% và ở các nước phát triển 20,1% Số liệu WHO giai đoạn 1993-2005 có 47,4% (293,1 triệu) trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn cầu bị thiếu máu Châu Phi có 67,6% trẻ thiếu máu, cao nhất các châu lục Đông Nam Á
có 65,5% trẻ thiếu máu Nhiều nước có tỷ lệ trẻ thiếu máu rất cao như Burnica Faso 91,5% (2003); Sudan 84,6% (1995); Cộng hòa Trung Phi 84,2% (1999);
Ấn Độ 74,3% (2000), Tanzania 71,8%(2005) [59]
1.3.2 Tình hình SDD trẻ em ở Việt Nam
Nước ta là một trong những nước có tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân giảm liên tục từ mức rất cao 51,5% năm 1985 xuống 44,9% năm 1995, mỗi năm giảm trung bình 0,66% Từ năm 1995 bắt đầu thực hiện
kế hoạch quốc gia về dinh dưỡng, suy dinh dưỡng trẻ em thể nhẹ cân giảm trung bình mỗi năm 1,5%, được các tổ chức quốc tế thừa nhận và đánh giá cao: năm 2000 (33,1%), đến năm 2012 còn 16,2%, là mức trung bình theo phân loại của WHO Tỷ lệ trẻ thấp còi cũng đã giảm từ 59,7% năm 1985 xuống 29,3% năm 2010, bình quân giảm 1,3% mỗi năm và đến năm 2012 còn mức trung bình 26,7% Tỷ lệ trẻ gầy còm hiện nay là 6,7% SDD nhẹ cân hiện nay ở nước ta chủ yếu là mức độ vừa (14,5%), còn thể thấp còi có mức độ vừa (15,5%) và mức độ nặng (11,2%) [51]
Trang 24Suy dinh dưỡng trẻ em ở nhiều nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt theo giới tính, nhưng lại liên quan chặt chẽ đến nhóm tuổi của trẻ Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu lại cho thấy khuynh hướng suy dinh dưỡng trẻ em tăng dần theo nhóm tuổi Chênh lệch rõ rệt về suy dinh dưỡng trẻ em theo vùng sinh thái: miền núi thường cao hơn đồng bằng; nông thôn cao hơn thành thị Những vùng có tỷ lệ trẻ nhẹ cân cao cũng là những vùng có tỷ lệ trẻ thấp còi và gầy còm cao hơn tương ứng như Tây Nguyên (25%; 36,8%; 8,1%); vùng miền núi phía Bắc (20,9%; 31,9%; 7,4%) Ở các thành phố, suy dinh dưỡng trẻ em thấp hơn nhiều so với trung bình chung cả nước, như tỷ lệ nhẹ cân, thấp còi và gầy còm tương ứng ở thành phố Hồ Chí Minh (5,3%; 7,6%; 3,5%); Hà Nội (8,1%; 16,9%; 3,3%) Đến nay, các tỉnh thuộc vùng khó khăn
có tỷ lệ trẻ nhẹ cân, thấp còi và gầy còm cao tương ứng như Kon Tum (26,3%; 40,6%; 9,2%); Hà Giang (23,1%; 35,0%; 7,9%) Vùng miền núi cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, suy dinh dưỡng trẻ em luôn cao hơn hẳn các vùng khác Khu vực duyên hải miền Trung là một trong những vùng có tỷ lệ trẻ nhẹ cân, thấp còi và gầy còm tương ứng còn trung bình và cao (19,5%; 31,2%; 7,5%), trong đó có Quảng Nam (16,0%; 30,1%; 6,8%) [48] Phân bố SDD ở Quảng Nam cũng không đồng đều giữa các vùng: trẻ nhẹ cân (2007) ở Hội An 10,1%, Tam Kỳ 12,4 %; Nam Trà My 31,0% và Bắc Trà My cao nhất tỉnh 32,2%
UNICEF khảo sát năm 2011 thấy sự thiếu hụt chăm sóc sức khỏe ở người Kinh 31,6%; Mường 46,5%; Thái 77,6% [57] Báo cáo năm 2011của Tổng cục Thống kê cho thấy tỷ lệ trẻ nhẹ cân, thấp còi, gầy còm của nhóm đồng bào Kinh và Hoa (10,0%; 19,6%; 3,8%), thấp hơn hẳn so với tỷ lệ tương ứng của trẻ em dân tộc thiểu số (22,0%; 40,9%; 5,7%) [51]
Trang 25Có nhiều nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt về tỉ lệ SDD trẻ em của các vùng khác nhau ở Việt Nam Theo số liệu của niêm giám thống kê năm
2019 cho thấy tỉ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi của các vùng ở Việt Nam như sau:
Bảng 1.2 Tình hình SDD trẻ em theo vùng ( năm 2019)
Vùng địa lý nhẹ cân(%) SDD thể thấp còi(%) SDD thể gầy còm(%) SDD thể
Bắc Trung bộ và Duyên hải
Nguồn: Số liệu tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng phân theo
vùng năm 2019/ Niên giám thống kê [49]
Số liệu tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi năm 2015 – 2020
Bảng 1.3 Tình hình SDD trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam
Nguồn: Số liệu trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD năm 2015-2019/ Niên giám
thống kê [49]; Nguồn:Bộ Y tế, báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2020 [10]
Trang 26Bảng 1.4: Tình hình SDD trẻ em dưới 5 tuổi ở An Giang
Nguồn: Số liệu suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi các năm 2015-2020/
báo cáo tổng kết hoạt động Y tế tỉnh An Giang năm 2018-2020 [34],[35],[36]
1.3.4.Tình hình suy dinh dưỡng tại huyện Châu Phú
Theo báo cáo Ngành Y tế huyện Châu Phú tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi thể cân nặng theo tuổi có mức giảm từ 15,3% năm 2015 xuống còn 12,9% năm 2020, qua 6 năm cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm 2,4%, bình quân mỗi năm giảm 0,4%; Thể chiều cao theo tuổi có mức giảm từ 23,7% năm 2015 xuống còn 20,2% năm 2020, qua 6 năm cho thấy tỷ
lệ SDD thể thấp còi giảm 3,5%, bình quân mỗi năm giảm 0,58%
Trang 27Bảng 1.5: Tình hình SDD trẻ em dưới 5 tuổi ở huyện Châu Phú
1.4 Phòng chống suy dinh dưỡng
1.4.1 Nguyên tắc phòng chống suy dinh dưỡng
Dinh dưỡng đủ chất
Phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn
Phát hiện và xử trí sớm các trường hợp SDD
Giáo dục sức khỏe dinh dưỡng cho các bà mẹ
Tăng cường nguồn thực phẩm bổ sung cho bữa ăn
Thực hiện nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) của ngành Nhi, cũng như là phương hướng phòng chống suy dinh dưỡng của tổ chức Y
tế Thế giới [2]:
G - Growth monitoning: hướng dẫn cho tất cả các bà mẹ có con đều biết theo dõi biểu đồ phát triển của trẻ Biểu đồ này đánh giá được trẻ tăng cân đều theo tháng tuổi là tốt, nếu một vài tháng đường vạch nằm ngang là
Trang 28yếu tố nguy cơ hoặc mắc một số bệnh nào đó, nếu đường vạch đi xuống là nguy hiểm có thể dẫn đến suy dinh dưỡng
O - Oral rehydration: phục hồi nước do ỉa chảy bằng đường uống; chúng ta biết rằng yếu tố ỉa chảy là nguyên nhân hàng đầu gây suy dinh dưỡng và tử vong
B - Breat feeting: thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ sau khi ra đời, không có một thức ăn nào thay thế vì chất dinh dưỡng
có trong sữa mẹ phù hợp với cơ thể trẻ; dễ hấp thu và đồng hóa, tăng sức đề kháng để trẻ chống bệnh tật
Thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ nghĩa là: cho con bú càng sớm càng tốt, bú ngay trong nửa giờ đầu sau sinh, phản xạ bú của trẻ kích thích tiết sữa; Cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu; Cho con bú không theo giờ giấc mà theo nhu cầu của trẻ
Giá trị toàn diện không có gì thay thế được, sữa mẹ cần được mọi người trong xã hội hiểu rõ và thấm nhuần để các bà mẹ có quyết tâm và được tạo điều kiện để nuôi con bằng bầu sữa của mình
I - Immumization: tiêm chủng 8 bệnh lây cơ bản của trẻ dưới 5: sởi, ho
gà, lao, bại liệt, uốn ván, viêm màng nảo mũ, viêm gan siêu vi B và bạch hầu, trong 3 bệnh đầu là nguyên nhân đưa đến SDD nhiều nhất
F - Family planing: kế hoạch hóa gia đình, những gia đình đông con là nguyên nhân, cũng là những yếu tố thuận lợi đưa trẻ đến SDD vì không được chăm sóc chu đáo
F - Female education: giáo dục cho các bà mẹ nuôi con theo khoa học
F - Food supply: cho ăn bổ sung từ tháng thứ 6 trở đi đáp ứng nhu cầu của trẻ đang lớn nhanh, thức ăn bổ sung có đủ chất dinh dưỡng cho trẻ, có đủ các thành phần
Trang 29Mặc dù có nhiều biện pháp để phòng chống SDD nhưng có 2 vấn đề cơ bản phải tiến hành song song là: chương trình phòng chống nhiễm khuẩn và chương trình phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng
1.4.2 Chiến lược phòng chống SDD tại Việt Nam
Cải thiện tình trạng dinh dưỡng là trách nhiệm của các cấp, các ngành
và mọi người dân; Bảo đảm dinh dưỡng cân đối, hợp lý là yếu tố quan trọng nhằm hướng tới phát triển toàn diện về tầm vóc, thể chất, trí tuệ của người Việt Nam và nâng cao chất lượng cuộc sống; Tăng cường sự phối hợp liên ngành trong các hoạt động dinh dưỡng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp
ủy Đảng, chính quyền, huy động sự tham gia đầy đủ của các tổ chức xã hội, của mỗi người dân, ưu tiên vùng nghèo, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu
số, đối tượng bà mẹ, trẻ em; Đến năm 2020, bữa ăn của người dân được cải thiện về số lượng, cân đối hơn về chất lượng, bảo đảm an toàn vệ sinh; suy dinh dưỡng trẻ em, đặc biệt thể thấp còi được giảm mạnh, góp phần nâng cao tầm vóc và thể lực của người Việt Nam, kiểm soát có hiệu quả tình trạng thừa cân, béo phì góp phần hạn chế các bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng
có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng (suy dinh dưỡng thể thấp còi dưới 20% và suy dinh dưỡng thể nhẹ cân dưới 10%), tầm vóc người Việt Nam được cải thiện
rõ rệt Nhận thức và hành vi về dinh dưỡng hợp lý của người dân được nâng cao nhằm dự phòng các bệnh mạn tính liên quan đến dinh dưỡng đang có khuynh hướng gia tăng Từng bước giám sát thực phẩm tiêu thụ hàng ngày nhằm có được bữa ăn cân đối và hợp lý về dinh dưỡng, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng cơ thể và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi đối tượng nhân dân, đặc biệt là trẻ em tuổi học đường
Trang 30Tiếp tục tập trung chỉ đạo để thực hiện chỉ tiêu giảm suy dinh dưỡng thể nhẹ cân Sớm đưa chỉ tiêu giảm suy dinh dưỡng thể thấp còi là một chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội quốc gia và các địa phương Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chỉ tiêu về dinh dưỡng
Hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, đặc biệt là phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Y tế với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội trong triển khai thực hiện các giải pháp nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng Có chính sách, giải pháp huy động, khuyến khích sự tham gia của các
tổ chức đoàn thể nhân dân và các doanh nghiệp tham gia thực hiện Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng
Xây dựng và hoàn thiện các chính sách, quy định về dinh dưỡng và thực phẩm Quy định về sản xuất, kinh doanh và sử dụng sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ; tăng cường vi chất vào thực phẩm; Chính sách nghỉ thai sản hợp lý, khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ; nghiên cứu đề xuất chính sách hỗ trợ dinh dưỡng học đường trước hết là lứa tuổi mầm non và tiểu học; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư sản xuất và cung ứng các sản phẩm dinh dưỡng đặc thù hỗ trợ cho vùng nghèo, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là phụ nữ có thai, trẻ em dưới 5 tuổi và trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt [3]
Mở rộng đào tạo và sử dụng hiệu quả đội ngũ chuyên gia đầu ngành về dinh dưỡng, dinh dưỡng tiết chế và an toàn thực phẩm; Đào tạo cán bộ chuyên sâu làm công tác dinh dưỡng (sau đại học, cử nhân, kỹ thuật viên dinh dưỡng, dinh dưỡng tiết chế); Củng cố và phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác dinh dưỡng đặc biệt là mạng lưới cán bộ chuyên trách và cộng tác viên dinh dưỡng ở tuyến cơ sở Nâng cao năng lực quản lý điều hành các chương trình hoạt động dinh dưỡng cho cán bộ trên ở các cấp từ Trung ương đến địa
Trang 31phương và các Bộ, ngành liên quan; Đa dạng hóa các loại hình đào tạo theo nhu cầu của xã hội, ưu tiên đào tạo nhân lực các dân tộc thiểu số, vùng miền khó khăn và vùng có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao với các hình thức phù hợp (đào tạo cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ, theo nhu cầu); tăng cường hợp tác quốc tế
về đào tạo nhân lực cho ngành dinh dưỡng
Xã hội hóa, đa dạng các nguồn lực tài chính và từng bước tăng mức đầu
tư cho công tác dinh dưỡng Kinh phí thực hiện bao gồm: Ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, sự hỗ trợ quốc tế và các nguồn vốn huy động hợp pháp khác, trong đó ngân sách nhà nước đầu tư chủ yếu thông qua dự án
và chương trình mục tiêu quốc gia Quản lý và điều phối có hiệu quả nguồn lực tài chính, bảo đảm sự công bằng và bình đẳng trong chăm sóc dinh dưỡng cho mọi người dân Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách
Đẩy mạnh công tác truyền thông vận động, nâng cao kiến thức về tầm quan trọng của công tác dinh dưỡng đối với sự phát triển toàn diện về tầm vóc, thể chất và trí tuệ của trẻ em cho các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý Triển khai các hoạt động truyền thông đại chúng với các loại hình, phương thức, nội dung phù hợp với từng vùng, miền và từng nhóm đối tượng nhằm nâng cao hiểu biết và thực hành dinh dưỡng hợp lý đăc biệt là phòng chống suy dinh dưỡng thấp còi, khống chế thừa cân - béo phì và các bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng cho mọi tầng lớp nhân dân Tiếp tục thực hiện giáo dục dinh dưỡng và thể chất trong hệ thống trường học (từ mầm non đến đại học): Xây dựng và triển khai chương trình dinh dưỡng học đường (từng bước thực hiện thực đơn tiết chế dinh dưỡng và sữa học đường cho lứa tuổi mầm non và tiểu học) Xây dựng mô hình phù hợp với từng vùng miền và đối tượng
Trang 32Nghiên cứu xây dựng các chương trình, dự án và các giải pháp can thiệp đặc hiệu góp phần cải thiện tình trạng dinh dưỡng, nâng cao thể lực và thể chất của người dân phù hợp theo vùng, miền, ưu tiên cho những vùng nghèo, khó khăn, dân tộc thiểu số và các nhóm đối tượng có nguy cơ khác
Chăm sóc, dinh dưỡng hợp lý cho bà mẹ trước, trong và sau sinh Thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và ăn bổ sung hợp lý cho trẻ dưới 2 tuổi
Phát triển và nâng cao hiệu quả của mạng lưới dịch vụ, tư vấn và phục hồi dinh dưỡng
Nâng cao năng lực, nghiên cứu khoa học về dinh dưỡng và thực phẩm Khuyến khích nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ về chọn, tạo giống mới có hàm lượng các chất dinh dưỡng thích hợp; nghiên cứu sản xuất
và chế biến các thực phẩm bổ sung, vi chất dinh dưỡng, sản phẩm dinh dưỡng
và dinh dưỡng đặc hiệu phù hợp với các đối tượng [3]
1.5 Các công trình nghiên cứu liên quan
Theo kết quả nghiên cứu trẻ em dưới 5 tuổi của tổ chức Cứu trợ trẻ em
Mỹ năm 2011, trên thế giới còn hơn 100 triệu (15,7%) trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, 171,0 triệu (27,0%) trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi và hơn 60 triệu (10,0%) trẻ suy dinh dưỡng thể gầy còm Các khu vực Nam Á, cận hoang mạc Sahara có tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em cao nhất Những quốc gia còn tỷ
lệ suy dinh dưỡng trẻ em cao và rất cao cả 3 thể nhẹ cân, thấp còi, gầy còm tương ứng như Timor Leste năm 2010 (44,7%; 58,1%; 18,6%); Niger năm
2011 (38,5%; 51,0%; 12,3%); Pakistan năm 2011 (31,5%; 43,7%; 15,1%); Bangladesh năm 2011 (36,4%; 41,3%; 15,6%) [56]
Nghiên cứu của Larrea C và Freire W tại các nước Nam Mỹ cho thấy
tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể thấp còi năm 1999 ở các tộc người bản xứ liên quan chặt chẽ với điều kiện kinh tế đói nghèo và cao hơn cách biệt so với trẻ
Trang 33em không thuộc tộc người bản xứ, như ở Ecuador (58,2% so với 24,2%); ở Peru (47,0%; 22,5%) và Bolivia (50,5%; 23,7%) tương ứng [55] Tác giả Alessandra M và cộng sự khảo sát tại Guatemala năm 2003 thấy trẻ em tộc người bản xứ có tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể thấp còi (57,6%) và trẻ em suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (27,8%) cao hơn tỷ lệ chung (44,2% và 22,3%) tương ứng; trong đó, tộc người Mam (65,3% và 39,4%); người Mayan (62,5%
và 31,9%) tương ứng [52] Điều tra của Hatlekk M năm 2012 thấy tỷ lệ thấp còi trẻ em khác nhau giữa các tộc người vùng Nam Á: Tộc người Bà la môn (Brahmin) 45,1%; Hill Dalits 56,1%; Yadav (70,7%); Newar 72,3% và Hồi giáo (Muslim) 72,8% [54] Nghiên cứu của UNICEF năm 2011 khu vực châu Á-Thái Bình Dương cũng thấy sự chênh lệch lớn giữa các tộc người Tỷ lệ trẻ 18-23 tháng ở Campuchia trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi 50,0% và trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 45,0% chủ yếu ở trẻ em dân tộc thiểu số Tương tự, tỷ
lệ tương ứng ở Lào là 40,0% và 37,0% Ở Phillippines, trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân sống vùng thủ đô 15,7%, thấp hơn nhiều so với 36,1% trẻ sống ở vùng khó khăn Bitol [58]
Qua các cuộc điều tra về tình hình suy dinh dưỡng ở trẻ em các tỉnh phía nam của bộ môn Nhi - Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh năm 1998; theo cách phân loại dựa vào cân nặng và chiều cao cho thấy rằng, tỷ lệ suy dinh dưỡng tăng theo tuổi: khoảng 24% ở trẻ dưới 6 tháng, tăng 47% ở trẻ dưới 5 tuổi và 70% ở trẻ dưới 15 tuổi Suy dinh dưỡng mãn tiến triển có
tỷ lệ thấp 10%; suy dinh dưỡng cấp và suy dinh dưỡng mãn di chứng có tỷ
lệ gần bằng nhau: 45% Qua đó chúng ta thấy rằng nếu chỉ dựa vào cân nặng theo tuổi chúng ta sẽ bỏ sót rất nhiều trường hợp suy dinh dưỡng mãn tính di chứng ở các khu lao động nghèo và các trại trẻ mồ côi, tỷ lệ suy dinh dưỡng rất cao 60% ở trẻ dưới 5 tuổi [12]
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trẻ em dưới 5 tuổi tính đến thời điểm ngày 01/5/2020 tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
Các bà mẹ hoặc người nuôi dưỡng trẻ dưới 5 tuổi thuộc đối tượng trẻ nghiên cứu trên của huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Trẻ em dưới 5 tuổi tính đến ngày 01/5/2020
Bà mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ đồng ý tham gia trong quá trình nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Những trẻ dưới 5 tuổi không đưa vào nghiên cứu này là trẻ không xác định ngày tháng năm sinh, trẻ bị các bệnh do di truyền hoặc dị tật bẩm sinh như: tim bẩm sinh, sứt môi, hở hàm ếch…
Mẹ hoặc trẻ trong danh sách chọn vắng mặt trên 3 lần trong thời gian thu thập số liệu
2.1.3 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu thực hiện 12 tháng (từ tháng 05 năm 2020 đến tháng 5 năm 2021)
- Địa điểm: Huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện qua 2 giai đoạn và 2 thiết kế
- Giai đoạn 1: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
- Giai đoạn 2: Nghiên cứu can thiệp có đối chứng
Trang 352.2.2 Cỡ mẫu
2.2.2.1 Giai đoạn 1: Cho nghiên cứu mô tả cắt ngang
* Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng cho một tỷ lệ:
2 2 1 2
1
d
p p
- p: Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng 13,7% [43]
- d: Sai số mong muốn (chọn d = 0,02)
2.2.2.2 Giai đoạn 2: Nghiên cứu can thiệp có đối chứng
- Chọn xã: Chọn 3 xã can thiệp và chọn 3 xã đối chứng (n=357)
- Chọn toàn bộ trẻ suy dinh dưỡng và bà mẹ của trẻ suy dinh dưỡng ở 3
xã can thiệp (n=180) và 3 xã đối chứng (n=177) đưa vào nghiên cứu
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Giai đoạn 1: Chọn mẫu chùm nhiều giai đoạn
- Bước 1: Lập danh sách 13 xã, thị trấn của huyện Châu Phú, bốc thăm
ngẫu nhiên chọn 06 xã, thị trấn của huyện Các xã được chọn vào nghiên cứu gồm: Bình Mỹ, Bình Thủy, Bình Long, Mỹ Phú, Mỹ Đức, Khánh Hòa
- Bước 2: Tính cỡ mẫu cho từng xã, Thị trấn; Số trẻ em dưới 05 tuổi
cần cho mỗi xã, thị trấn
Trang 36Bảng 2.1 Phân bổ số trẻ nghiên cứu của từng xã
STT Xã nghiên cứu Số trẻ
dưới 5 tuổi
Số trẻ nghiên cứu
- Bước 3: Chọn trẻ nghiên cứu ở mỗi xã theo phương pháp ngẫu nhiên
hệ thống; Lập danh sách trẻ dưới 5 tuổi của từng xã; Tính hệ số k = Tổng số
trẻ dưới 5 tuổi của từng xã/ số trẻ dưới 5 tuổi cần nghiên cứu của từng xã
Chọn trẻ nghiên cứu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống theo k
Giai đoạn 2: Chọn mẫu cho nghiên cứu can thiệp
Chọn mẫu cho nghiên cứu can thiệp từ 6 xã nghiên cứu thực hiện bóc
thăm ngẫu nhiên chọn 3 xã can thiệp và 3 xã đối chứng, các xã như sau:
- Nhóm can thiệp: Bình Mỹ, Bình Long, Mỹ Đức (n=180 trẻ SDD, bà mẹ)
- Nhóm đối chứng: Bình Thủy, Mỹ Phú, Khánh Hòa(n=177 trẻ SDD,bà mẹ)
Tiêu chuẩn chọn xã đối chứng:
- Xã cách biệt với các xã chọn nghiên cứu can thiệp để tránh yếu tố nhiễu,
điều kiện địa lý và một số đặc điểm kinh tế xã hội tương đương với xã can thiệp
- Được sự đồng ý của chính quyền địa phương, Trung tâm Y tế huyện và các
Trạm y tế xã
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
Trang 372.2.4.1 Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu
- Cân nặng lúc sinh: cân nặng lúc sinh <2500g và ≥2500g
- Cân nặng hiện tại: tính bằng kg với độ chính xác 0,1kg
- Chiều cao hiện tại: tính bằng centimet với 1 số lẻ
- Bú sữa mẹ: Có bú sữa mẹ và không bú sữa mẹ
+ Có bú sữa mẹ: khi được cho bú sữa mẹ từ ngày đầu sau sanh và được cho bú sữa mẹ liên tục cho đến tối thiểu 12 tháng tuổi hoặc cho đến hiện tại nếu trẻ dưới 12 tháng tuổi
+ Không được bú sữa mẹ: khác với định nghĩa vừa nêu trên
- Thực hành cho trẻ ăn dặm:
+ Đúng: Cho trẻ ăn dặm khi trẻ được 6 tháng và >4 lần / 24 giờ
+ Không đúng: Khác với định nghĩa trên
- Tuổi mẹ lúc mang thai: < 25 tuổi, 25 - 35 tuổi và > 35 tuổi
- Dân tộc: Kinh, Khmer, Hoa, Chăm, khác
Trang 38- Trình độ học vấn: mù chữ, cấp I (Tiểu học), cấp II (Trung học cơ sở), Cấp III(Trung học phổ thông) và cao đẳng đại học
- Nghề nghiệp: Làm ruộng, cán bộ công nhân viên (CBCNV), buôn
bán, nội trợ, nghề khác
- Kinh tế hộ gia đình: Nghèo; Không nghèo
Dựa vào quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016-
2020 như sau: Khu vực nông thôn: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 700.000 đồng/ người/ tháng trở xuống là hộ nghèo; Khu vực thành thị: Những
hộ có mức thu nhập bình quân từ 900.000 đồng/ người/ tháng trở xuống là hộ nghèo [13]
2.2.4.2 Tỷ lệ, mức độ và yếu tố liên quan đến SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi
Các chỉ số đánh giá suy dinh dưỡng:
- Lựa chọn chỉ số đánh giá: Đề tài này sử dụng số đo nhân trắc để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ; không sử dụng các chỉ số xét nghiệm sinh hóa hay các dấu hiệu lâm sàng để đánh giá
- Các chỉ số nhân trắc:
Theo khuyến nghị của Tổ chức y tế Thế giới, đề tài đã sử dụng các chỉ
số thường dùng là cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao, SDD được ghi nhận khi các chỉ số nói trên thấp hơn 2 độ lệch chuẩn (< -2SD) Dựa theo các chỉ số chúng tôi chia SDD của trẻ ra 3 thể
- Thể nhẹ cân (cân nặng theo tuổi): Phản ánh sự tăng trưởng chậm nói chung, không phân biệt xảy ra đã lâu hay gần đây So với chỉ số tương ứng của quần thể tham khảo người ta chia ra các mức độ SDD thể nhẹ cân khác nhau :
+ Từ dưới -2SD đến -3SD: SDD thể nhẹ cân mức độ vừa
Trang 39+ Từ dưới -3SD : SDD thể nhẹ cân mức độ nặng
- Thể thấp còi (chiều cao theo tuổi): Thể hiện chiều cao theo tuổi thấp Chỉ số này phản ánh sự tăng trưởng chậm kéo dài đã lâu Người ta chia ra các mức độ SDD thể thấp còi khác nhau:
Tỷ lệ dinh dưỡng của trẻ < 5 tuổi được xếp loại như sau:
- Tỷ lệ suy dinh dưỡng chung:
Gồm 2 giá trị: Suy dinh dưỡng khi có một trong số các thể suy dinh dưỡng trên và không suy dinh dưỡng
- Tỷ lệ và mức độ suy dinh dưỡng theo các thể: Thể nhẹ cân (Cân nặng/tuổi); Thể thấp còi (chiều cao/tuổi); Thể gầy còm (Cân nặng/chiều cao)
- Mức độ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, gồm 2 mức độ: SDD thể nhẹ cân mức độ vừa; SDD thể nhẹ cân mức độ nặng
- Mức độ suy dinh dưỡng thể thấp còi, gồm 2 mức độ: SDD thể thấp còi độ 1; SDD thể thấp còi độ 2
Các yếu tố liên quan đến tình trạng SDD của trẻ em dưới 5 tuổi:
- Liên quan đối với trẻ:
+ Mối liên quan giữa SDD với nhóm tháng tuổi
+ Mối liên quan giữa SDD với giới của trẻ
+ Mối liên quan giữa SDD trẻ em với cân nặng lúc sinh
+ Mối liên quan giữa SDD trẻ em với tiêm ngừa cho trẻ
+ Mối liên quan giữa SDD trẻ em với ăn uống của trẻ
Trang 40- Liên quan từ phía mẹ:
+ Liên quan giữa tuổi mẹ lúc mang thai với SDD của trẻ
+ Liên quan giữa yếu tố dân tộc của mẹ với SDD của trẻ
+ Liên quan giữa trình độ văn hóa của mẹ với SDD của trẻ
+ Liên quan giữa nghề nghiệp của mẹ với SDD của trẻ
2.2.4.3 Đánh giá hiệu quả sau can thiệp kiến thức, thực hành dinh dưỡng
ở bà mẹ có con bị suy dinh dưỡng và thoát SDD ở trẻ
Bước 1: Khảo sát tỷ lệ kiến thức, thực hành đúng về phòng chống SDD của
bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng trước can thiệp ở 3 xã đối chứng
và 3 xã can thiệp
* Kiến thức đúng về phòng chống SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị
suy dinh dưỡng Gồm những nội dung sau:
- Hiểu biết về thời gian bắt đầu cho bú sau sinh
Đúng: là cho bú ngay sau sinh
Sai: là trả lời khác ý trên
- Hiểu được lợi ích của sữa mẹ
Đúng: Lợi ích của sữa mẹ là đủ chất dinh dưỡng, rẻ tiền, tăng tình cảm
mẹ con, trẻ ít bị bệnh
Sai: Trả lời không đúng ý trên
- Hiểu được cần phải vệ sinh đầu vú trước khi cho trẻ bú
Đúng: Là phòng được các bệnh lây qua đường tiêu hóa cho trẻ
Sai: Trả lời không đúng ý trên
- Hiểu được thời gian cho trẻ bú mẹ
Đúng: là thời gian cho trẻ bú từ lúc sinh đến 6 tháng tuổi
Sai: Trả lời không đúng ý trên
- Hiểu được thời gian cần cho trẻ ăn dặm
Đúng: Là khi trả lời nên cho trẻ ăn dặm từ tháng thứ 6 trở lên