TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠĐẶNG THỊ NGỌC YẾN NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC VÀ SỰ TUÂN THỦ TRONG SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP TRÊN BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ NGOẠ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
ĐẶNG THỊ NGỌC YẾN
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC VÀ
SỰ TUÂN THỦ TRONG SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ
TĂNG HUYẾT ÁP TRÊN BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP
ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI KHOA KHÁM BỆNH BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
Cần Thơ, 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
ĐẶNG THỊ NGỌC YẾN
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC VÀ
SỰ TUÂN THỦ TRONG SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP TRÊN BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP
Chuyên ngành: DƯỢC LÝ VÀ DƯỢC LÂM SÀNG
Mã số: 8720205
LUẬN VĂN THẠC SỸ DƯỢC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS PHẠM THÀNH SUÔL
Cần Thơ – Năm 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian tiến hành nghiên cứu, tôi cũng đã hoàn thành nội dung
luận văn với đề tài “Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc và sự tuân thủ
trong sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ năm 2020” Đặc thù của đề tài là gặp bệnh nhân để phỏng vấn 4 lần
trong 6 tháng, quá trình thực hiện cũng gặp ít khó khăn nhưng với sự giúp đỡ,
hỗ trợ tích cực của nhiều cá nhân và tập thể đã giúp tôi hoàn thành được bộ số liệu
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Phạm Thành Suôl, người trực tiếp hướng dẫn cho luận văn cho tôi Thầy đã dành cho tôi nhiều thời gian, tâm sức, cho tôi nhiều ý kiến, nhận xét quý báu, chỉnh sửa cho tôi những chi tiết nhỏ trong luận văn, giúp luận văn của tôi được hoàn thiện hơn về mặt nội dung và hình thức Thầy cũng đã luôn quan tâm, động viên, nhắc nhở kịp thời để tôi có thể hoàn thành luận văn đúng tiến
độ
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, tập thể giảng viên trường Đại học Y Dược Cần Thơ và quý đồng nghiệp Bệnh Viện Đa Khoa Thành phố Cần Thơ đã tạo điều kiện thuận lợi, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến Ban giám hiệu và toàn thể cán bộ, viên chức Trường Cao đẳng Y tế Cần Thơ đã chia sẽ công việc và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi học tập và nghiên cứu
Đặng Thị Ngọc Yến
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố ở bất kỳ nơi nào
Tác giả luận văn
Đặng Thị Ngọc Yến
Trang 5MỤC LỤC
Trang Lời cam đoan
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan về bệnh tăng huyết áp 3
1.2 Tổng quan về tuân thủ sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp 10
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ sử dụng thuốc 13
1.4 Một số nghiên cứu có liên quan đến nội dung nghiên cứu trên Thế giới và tại Việt Nam 14
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3 Vấn đề y đức 32
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đặc điểm bệnh nhân tham gia mẫu nghiên cứu 33
3.2 Đặc điểm sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp 35
3.3 Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp 44
3.4 Một số yếu tố liên quan đến sự tuân thủ sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp 47
Chương 4 BÀN LUẬN 51
4.1 Đặc điểm bệnh nhân tham gia mẫu nghiên cứu 51
4.2 Đặc điểm sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp 56
Trang 64.3 Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp 61 4.4 Một số yếu tố liên quan đến sự tuân thủ sử dụng thuốc điều trị tăng
huyết áp 64
KẾT LUẬN 72 KIẾN NGHỊ 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Questionaire
Câu hỏi niềm tin về thuốc
angiotensin II
Cardiology
Hội tim mạch Châu Âu
Hypertension
Hội tăng huyết áp Châu Âu
ICD10 International Classification
Diseases
Hệ thống phân loại các bệnh tật theo quốc tế
Trang 8Từ viết tắt Từ nguyên Nghĩa tiếng việt
JNC 8 Eight of Joint National
SEARS Self - Efficacy for
Appropriate Medication Use Scale
Thang tự đánh giá hiệu quả
đầu nghiên cứu
bắt đầu nghiên cứu lần lượt
1, 3, 6 tháng
Trang 9Từ viết tắt Từ nguyên Nghĩa tiếng việt
Phân hội tăng huyết áp Việt Nam
WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân độ tăng huyết áp theo mức huyết áp đo tại phòng khám
(mmHg) 3
Bảng 1.2 Huyết áp mục tiêu cho các đối tượng theo JNC 8 5
Bảng 1.3 Các nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp 7
Bảng 2.1 Bộ câu hỏi tuân thủ sử dụng thuốc theo thang điểm Morisky-8 27
Bảng 3.1 Tuổi và đặc điểm xã hội 33
Bảng 3.2 BMI và đặc điểm bệnh lý 34
Bảng 3.3 Bệnh mắc kèm 35
Bảng 3.4 Các nhóm thuốc điều trị huyết áp 36
Bảng 3.5 Nhóm thuốc lợi tiểu 37
Bảng 3.6 Nhóm thuốc chẹn canxi 38
Bảng 3.7 Nhóm thuốc ức chế men chuyển 38
Bảng 3.8 Nhóm thuốc chẹn thụ thể AT1 của angiotensin II 39
Bảng 3.9 Nhóm thuốc chẹn bêta giao cảm 39
Bảng 3.10 Nhóm thuốc tác động lên hệ giao cảm trung ương 40
Bảng 3.11 Thuốc dạng viên phối hợp sẵn 40
Bảng 3.12 Các thuốc dùng trong phác đồ điều trị tăng huyết áp 42
Bảng 3.13 Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ sử dụng thuốc theo thang điểm Morisky-8 lần 1 44
Bảng 3.14 Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ sử dụng thuốc theo thang điểm Morisky-8 lần 2 45
Bảng 3.15 Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ sử dụng thuốc theo thang điểm Morisky-8 lần 3 46
Bảng 3.16 Liên quan yếu tố tuổi, giới, nơi ở, trình độ học vấn với tuân thủ sử dụng thuốc 47
Trang 11Bảng 3.17 Liên quan yếu tố nghề nghiệp, BMI với tuân thủ sử dụng thuốc 48 Bảng 3.18 Liên quan yếu tố thời gian mắc bệnh, thời gian điều trị, tình trạng hôn nhân, tiền sử gia đình với tuân thủ sử dụng thuốc 49 Bảng 3.19 Liên quan yếu tố bệnh mắc kèm với tuân thủ sử dụng thuốc 50 Bảng 3.20 Liên quan yếu tố so sánh thuốc sử dụng các lần tái khám với tuân thủ sử dụng thuốc 50
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Sơ đồ Khuyến cáo điều trị tăng huyết áp của VNHA/VSH 2018 9 Hình 2.1 Các bước tiến hành thu thập số liệu 30
Trang 13DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1 Số nhóm thuốc điều trị huyết áp 41 Biểu đồ 3.2 So sánh sử dụng thuốc giữa các lần tái khám 43
Trang 14MỞ ĐẦU
Tăng huyết áp là một bệnh mạn tính, với tần suất mắc bệnh ngày càng tăng và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của nền y học Thế giới Tần suất tăng huyết áp vẫn không ngừng gia tăng không những trên thế giới mà ngay tại nước ta Trên toàn cầu hiện có 1 tỷ người tăng huyết áp và dự kiến sẽ tăng 1,5 tỷ vào năm 2025 [14] Tỷ lệ tăng huyết áp ở người trưởng thành ở các nước có thu nhập thấp và trung bình là 31,5% cao hơn ở các nước có thu nhập cao là 28,5% [42] Tại Việt Nam, tần suất tăng huyết áp ở người lớn ngày càng gia tăng Theo kết quả điều tra tăng huyết áp năm 2018 của tác giả Huỳnh Văn Minh và các cộng sự, cho biết tỷ lệ mắc tăng huyết áp năm 2018
là 30,3% [40]
Tăng huyết áp là nguyên nhân gây tàn phế và tử vong hàng đầu ở các nước đang phát triển Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm có 9,4 triệu người tử vong do tăng huyết áp [54] Tăng huyết áp nếu không điều trị đúng và đầy đủ sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, có thể gây tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội Gánh nặng kinh tế của tăng huyết áp và các hậu quả về tim mạch do tăng huyết áp vẫn ngày càng tăng trên toàn thế giới [51], ngược lại nếu kiểm soát huyết áp tốt sẽ phòng ngừa được các biến chứng của bệnh, kéo dài tuổi thọ, nâng cao chất lượng cuộc sống Điều trị tăng huyết áp có thể giảm 35-40% nguy cơ đột quỵ, 50% suy tim và 20-25% nguy cơ nhồi máu cơ tim [39] Trong suốt những thập kỷ qua, nhiều nghiên cứu lâm sàng đã cho thấy điều trị tăng huyết áp hiệu quả đã làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tử vong [51].Vì thế tính tuân thủ trong điều trị tăng huyết áp của bệnh nhân là vô cùng quan trọng Đây chính là yếu tố quyết định sự thành công trong điều trị Tuân thủ điều trị là bệnh nhân phải thực hiện uống thuốc liên tục, đều đặn và duy trì các biện pháp thay đổi lối sống theo đúng chỉ dẫn của bác sỹ Việc bệnh nhân
Trang 15tuân thủ sử dụng thuốc kém vẫn là một thách thức lớn trong điều trị Để bệnh nhân tuân thủ sử dụng thuốc tốt cần có sự giúp đỡ và giám sát chặt chẽ của cán bộ y tế, gia đình và xã hội Tại Việt Nam, theo kết quả của một số nghiên cứu, tỷ lệ tuân thủ trong sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp chiếm khoảng 25-88,6% [25], [28], [35] Nguyên nhân làm giảm sự tuân thủ trong sử dụng thuốc trên bệnh nhân tăng huyết áp là quên sử dụng thuốc, tác dụng không mong muốn, liệu pháp điều trị phức tạp, thiếu hiểu biết về thuốc và bệnh, bệnh đồng mắc,… [17], [26], [48] Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến
hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc và sự tuân thủ
trong sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ năm 2020” với các mục tiêu:
1) Xác định đặc điểm sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú có tham gia bảo hiểm y tế tại Khoa Khám bệnh Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ
2) Xác định tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ sử dụng thuốc điều trị tăng huyết
áp của bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú có tham gia bảo hiểm y tế tại Khoa Khám bệnh Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ
3) Xác định một số yếu tố liên quan đến sự tuân thủ sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp của bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú có tham gia bảo hiểm y tế tại Khoa Khám bệnh Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1.Tổng quan về bệnh tăng huyết áp
1.1.1 Định nghĩa tăng huyết áp
Theo Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam (2018) và Hướng dẫn ESC/ESH 2018, chẩn đoán tăng huyết áp (THA) khi đo huyết áp (HA) phòng khám có huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg [14], [38]
1.1.2 Phân loại tăng huyết áp
Phân loại THA theo nguyên nhân:
+ THA nguyên phát (hay chưa rõ nguyên nhân) chiếm tỷ lệ 90 hay 95% + THA thứ phát xác định được nguyên nhân, chiếm tỷ lệ còn lại (5%): một số nguyên nhân đã được biết đến như xơ cứng động mạch hoặc xơ vữa động mạch, thiếu máu thận, u tủy thượng thận, u của mô ưa crom, hội chứng cushing, hội chứng Conn [29]
Phân loại THA theo chỉ số HA:
Bảng 1.1 Phân độ THA theo mức HA đo tại phòng khám (mmHg)* [14]
Trang 17*Nếu HA không cùng mức để phân loại thì chọn mức HATT hay HATTr cao nhất THA tâm thu đơn độc xếp loại theo mức HATT
**Tiền THA: khi HATT > 120-139 mmHg và HATTr > 80-89 mmHg
1.1.3 Nguyên nhân [2]
Phần lớn THA ở người trưởng thành là không rõ nguyên nhân (THA nguyên phát), chỉ có khoảng 10% các trường hợp là có nguyên nhân
Nguyên nhân gây THA thứ phát:
- Bệnh thận cấp hoặc mạn tính: viêm cầu thận cấp/mạn, viêm thận kẽ, sỏi thận, thận đa nang, thận ứ nước, suy thận
- Hẹp động mạch thận
- U tủy thượng thận (Pheocromocytome)
- Cường Aldosterone tiên phát (Hội chứng Conn)
- Hội chứng Cushing’s
- Bệnh lý tuyến giáp/cận giáp, tuyến yên
- Do thuốc, liên quan đến thuốc (kháng viêm non-steroid, thuốc tránh thai, corticoid, cam thảo, hoạt chất giống giao cảm trong thuốc cảm/thuốc nhỏ mũi …)
- Hẹp eo động mạch chủ
- Nhiễm độc thai nghén
- Yếu tố tâm thần …
1.1.4 Điều trị tăng huyết áp
1.1.4.1 Nguyên tắc và mục tiêu điều trị tăng huyết áp
Nguyên tắc điều trị tăng huyết áp
THA là bệnh mạn tính nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài Mục tiêu điều trị là đạt “HA mục tiêu” và giảm tối đa
“nguy cơ tim mạch”
Điều trị cần hết sức tích cực ở bệnh nhân đã có tổn thương cơ quan đích
Trang 18Không nên hạ HA quá nhanh để tránh biến chứng thiếu máu ở các cơ quan đích, trừ tình huống cấp cứu [2]
Mục tiêu điều trị tăng huyết áp
Mục tiêu điều trị là đạt “HA mục tiêu” và giảm tối đa “nguy cơ tim mạch” “HA mục tiêu” cần đạt là < 140/90 mmHg và thấp hơn nữa nếu người bệnh vẫn dung nạp được Nếu nguy cơ tim mạch từ cao đến rất cao thì HA mục tiêu cần đạt là < 130/80 mmHg Khi điều trị đã đạt HA mục tiêu, cần tiếp tục duy trì phác đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi chặt chẽ, định kỳ để điều chỉnh kịp thời và tùy bệnh nhân có bệnh mắc kèm mà có mức HA khác nhau [2], [59]
Bảng 1.2 Huyết áp mục tiêu cho các đối tượng theo JNC 8 [57]
Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống [2]
Bộ Y tế khuyến cáo các biện pháp tích cực thay đổi lối sống: áp dụng cho mọi bệnh nhân để ngăn ngừa tiến triển và giảm được HA, giảm số thuốc cần dùng …
Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng:
- Giảm ăn mặn (< 6 gam muối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày)
- Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi
- Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và axít béo no
Trang 19Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể (BMI: body mass index) từ 18,5 đến 22,9 kg/m2
Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90cm ở nam và dưới 80 cm ở nữ
Hạn chế uống rượu, bia: số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (nam), ít hơn
2 cốc chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (nam), ít hơn 9 cốc chuẩn/tuần (nữ), 1 cốc chuẩn chứa 10g ethanol tương đương với 330ml bia hoặc 120ml rượu vang, hoặc 30ml rượu mạnh
Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào
Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30-60 phút mỗi ngày
Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý
Tránh bị lạnh đột ngột
Biện pháp dùng thuốc
Thuốc điều trị tăng huyết áp
Một số loại thuốc hạ HA đường uống thường dùng
Trang 20Bảng 1.3 Các nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp [2]
Nhóm thuốc Loại thuốc Liều ban đầu Liều duy trì hàng ngày
Trang 21Loại thuốc Liều ban đầu Liều duy trì hàng ngày
Trang 22Khuyến cáo dùng thuốc điều trị tăng huyết áp
Hình 1.1 Sơ đồ Khuyến cáo điều trị tăng huyết áp VNHA/VSH 2018
“Nguồn: Hội Tim mạch học quốc gia Việt Nam, Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp 2018” [14]
Trang 231.2 Tổng quan về tuân thủ sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp
1.2.1 Định nghĩa
Theo Tổ chức Y tế Thế giới “Tuân thủ là mức độ mà bệnh nhân thực hiện theo các hướng dẫn được đưa ra cho phương pháp điều trị”; Ranial và Morisky cũng đưa ra định nghĩa về tuân thủ điều trị như sau: “Tuân thủ là mức độ hành vi của bệnh nhân đối với việc uống thuốc, theo đuổi chế độ ăn kiêng, và/hoặc thay đổi lối sống tương ứng với khuyến cáo của nhân viên y tế” [50]
1.2.2 Vai trò tuân thủ sử dụng thuốc
Việc tuân thủ các liệu pháp là yếu tố quyết định chính của việc điều trị thành công Không tuân thủ là một vấn đề nghiêm trọng không chỉ ảnh hưởng đến bệnh nhân mà còn cả hệ thống chăm sóc sức khỏe Sự không tuân thủ sử dụng thuốc ở bệnh nhân dẫn đến bệnh nặng hơn đáng kể, tử vong và tăng chi phí chăm sóc sức khỏe [41]
1.2.3 Phương pháp đánh giá mức độ tuân thủ trong sử dụng thuốc [44],
[34]
Các phương pháp đánh giá mức độ tuân thủ được chia làm hai nhóm chính là các phương pháp đánh giá trực tiếp và các phương pháp đánh giá gián tiếp
- Các phương pháp đánh giá trực tiếp bao gồm các biện pháp như trực tiếp theo dõi quá trình điều trị và phát hiện thuốc trong dịch sinh học Hiện nay, để phát hiện thuốc trong dịch sinh học có thể định lượng thuốc hoặc các chất chuyển hóa trong máu; định lượng các chất đánh dấu trong máu Ưu điểm của phương pháp đánh giá trực tiếp là chính xác, đáng tin cậy Tuy nhiên các phương pháp này rất tốn kém, tốn thời gian, công sức và không thể sử dụng được trong một số trường hợp thực hành lâm sàng
- Các phương pháp đánh giá gián tiếp bao gồm biện pháp giám sát điều
Trang 24trị, tự báo cáo của bệnh nhân, sử dụng dữ liệu của nhân viên y tế hoặc người nhà bệnh nhân cung cấp Các phương pháp gián tiếp thường xuyên được sử dụng hơn so với các phương pháp trực tiếp
Phương pháp đánh giá tuân thủ dùng thuốc qua báo cáo của bệnh nhân
là phương pháp dễ áp dụng nhất nhưng cũng có hạn chế vì phương pháp này phụ thuộc vào hành vi chủ quan của bệnh nhân Với phương pháp này, bệnh nhân có thể được yêu cầu tự ghi lại nhật ký sử dụng thuốc hoặc có thể hoàn thành báo cáo qua điện thoại, email hoặc có thể qua các cuộc phỏng vấn về việc sử dụng thuốc của họ Việc tự báo cáo của bệnh nhân có lợi thế trong việc xác định lý do bệnh nhân không tuân thủ điều trị Hiện nay để đánh giá mức độ tuân thủ điều trị người ta thường sử dụng các bộ câu hỏi, các thang đánh giá mức độ tuân thủ
Không có thang đánh giá mức độ tuân thủ nào được coi là tiêu chuẩn vàng Hiện nay có 6 loại thang đánh giá mức độ tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân thường được sử dụng trong thực hành lâm sàng là bảng câu hỏi niềm tin về thuốc điều trị Beliefs about medicines Questionaire (BMQ), thang đánh giá tuân thủ Hill - Bone, bảng câu hỏi tuân thủ điều trị Medication Adherence Questionaire (MAQ), thang đánh giá tuân thủ điều trị The Eight-item Morisky Medication Adherence Scale (MMAS-8), thang đánh giá niềm tin vào việc sử dụng thuốc hợp lý Self - Efficacy for Appropriate Medication Use Scale (SEAMS), thang đánh giá tuân thủ điều trị Medication Adherence Rating Scale (MARS):
- Bảng câu hỏi niềm tin về thuốc điều trị (BMQ) của Robert Horne là công cụ để đánh giá thái độ, niềm tin của bệnh nhân với thuốc điều trị BMQ
có ưu điểm là đánh giá được niềm tin của bệnh nhân vào thuốc điều trị và khó khăn trong việc ghi nhớ thuốc Nhược điểm của BMQ là câu hỏi phức tạp, để hoàn thành bộ câu hỏi phải tốn nhiều thời gian BMQ được đề xuất áp dụng
Trang 25đầu tiên cho các bệnh mạn tính như đái tháo đường, trầm cảm
- Thang đánh giá tuân thủ Hill - Bone là phương pháp giúp các chuyên gia chăm sóc sức khỏe xác định mức độ tuân thủ của bệnh nhân Tuy nhiên thang Hill - Bone chỉ áp dụng cho bệnh nhân tăng huyết áp, chủ yếu là những người da đen
- Bảng câu hỏi tuân thủ điều trị (MAQ) thường được biết đến là thang tuân thủ điều trị Morisky-4 (MMAS-4) Bộ câu hỏi trả lời nhanh và định dạng câu hỏi đóng “có, không”, thực hiện trên nhiều loại bệnh và bệnh nhân có khả năng đọc, viết, nó là thang đo được sử dụng rộng rãi nhất trong nghiên cứu
So với MMAS-8, MAQ có tính chất đo lường tâm lý kém hơn Kết quả là, MMAS-8 sử dụng phổ biến hơn MAQ
- Thang đánh giá tuân thủ điều trị Morisky-8 (MMAS-8) cũng đánh giá mức độ tuân thủ của bệnh nhân dựa trên sự quên thuốc của bệnh nhân và ảnh hưởng của tác dụng phụ giống như MMAS-4 nhưng đã được bổ sung thêm các câu hỏi đánh giá về thái độ, hành vi của tuân thủ điều trị Ngoài ra, thang MMAS-8 có ưu điểm là câu hỏi dễ hiểu và được thiết kế để hạn chế sai
số do thói quen tâm lý khi trả lời “có, không” cao hơn so với MMAS-4 Vì vậy, nó được khuyến khích sử dụng như một công cụ sàng lọc để xác định tuân thủ của bệnh nhân tại phòng khám
- Thang đánh giá niềm tin vào việc sử dụng thuốc hợp lý (SEAMS) là
bộ công cụ đánh giá mức độ tuân thủ điều trị dựa vào niềm tin của bệnh nhân vào thuốc điều trị Ưu điểm của SEAMS là câu hỏi đơn giản và rất hữu ích trong quản lý phòng khám SEAMS có hạn chế là khó chấm điểm Thang đánh giá này áp dụng cho các bệnh mạn tính
- Thang đánh giá tuân thủ (MARS) là thang đánh giá tuân thủ, gồm
10 câu hỏi, cách tính điểm đơn giản Thang điểm này được giới hạn để sử dụng cho những bệnh nhân mãn tính như bệnh tâm thần
Trang 261.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ sử dụng thuốc
Có 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân [54] là:
- Các yếu tố kinh tế và xã hội: tuổi, giới tính, chủng tộc, học vấn, khoảng cách đến phòng khám, nghề nghiệp, phương thức thanh toán, thu nhập
hộ gia đình, mối quan tâm về y tế chi phí, khả năng hỗ trợ của gia đình, sống một mình, quy mô gia đình
- Đội ngũ chăm sóc sức khỏe và các yếu tố liên quan đến hệ thống y tế: loại phòng khám, chuyên môn y tế
- Các yếu tố liên quan đến bệnh và dùng thuốc: bệnh đi kèm, kiểm soát mức HA, tác dụng phụ của thuốc, biến chứng, bệnh đái tháo đường, tiền sử tăng lipid máu, kiểm soát điều trị, thời gian THA, hút thuốc, ăn muối, chất béo
- Các yếu tố liên quan đến trị liệu: thời gian dùng thuốc, số loại thuốc hiện đang dùng, liều lượng tối đa/lần mỗi ngày, sự kết hợp của các chất chống kết tập tiểu cầu
- Các yếu tố liên quan đến bệnh nhân kiến thức, thái độ, biết trị số HA bình thường, tự nhận thức tình trạng sức khỏe, vị trí kiểm soát bên trong/bên ngoài, nhận thức về THA, hài lòng với điều trị, hoãn tái khám bác sĩ
Nguyên nhân của việc không tuân thủ điều trị THA là do nhiều yếu tố, bao gồm các nguyên nhân liên quan với hệ thống chăm sóc sức khỏe, liệu pháp dùng thuốc, tình trạng di chuyển của bệnh nhân và tình trạng kinh tế xã hội của bệnh nhân [59]
Ở người cao tuổi việc dùng thuốc làm tăng nguy cơ tác dụng phụ, làm phức tạp điều trị Cần hướng dẫn kiến thức về tác dụng của việc điều trị THA cho bệnh nhân mắc chứng sa sút trí tuệ và bệnh nhân phải nằm điều trị dài hạn [62]
Trang 27Học vấn cao, được tư vấn của nhân viên y tế và thường xuyên tham gia câu lạc bộ của bệnh nhân là những yếu tố ảnh hưởng tốt đến kỹ năng sử dụng thuốc Ngoài ra, tình trạng trầm cảm, sự phức tạp của phác đồ điều trị, sự hiện diện của các bệnh đồng mắc cũng ảnh hưởng đáng kể đến sự tuân thủ điều trị ở bệnh nhân THA Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ căn cứ vào các yếu tố trên để phân tích mối liên quan của một số yếu tố ảnh hưởng đến mức
độ tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh
1.4 Một số nghiên cứu có liên quan đến nội dung nghiên cứu trên Thế giới
và tại Việt Nam
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới
1.4.1.1 Sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp
Liu P H và Wang J D (2008), nghiên cứu kê đơn thuốc điều trị THA tại Đài Loan, cho biết thuốc chẹn kênh canxi và thuốc chẹn bêta là những thuốc
hạ HA được kê toa thường xuyên nhất ở dạng đơn độc hoặc kết hợp, thuốc lợi tiểu là thấp ở mức 8,3% cho các liệu pháp đơn trị liệu và 19,9% ở dạng phối hợp [46]
Theo Christe V và các cộng sự (2014), nghiên cứu về thay đổi điều trị thuốc hạ HA trong dân số nói chung: nghiên cứu cho biết tỷ lệ sử dụng thuốc lợi tiểu là 42,8%, thuốc chẹn thụ thể AT1 của angiotensin II là 51,7%, thuốc
ức chế men chuyển là 25,5%, thuốc chẹn bêta là 33,0%, thuốc chẹn kênh canxi là 20,7% và các thuốc hạ HA khác là 1,0% [37]
Beg MA và các cộng sự (2014), nghiên cứu ở Bệnh viện giảng dạy chăm sóc bệnh nhân tại Dehradun, Uttarakhand cho thấy tỷ lệ kê đơn thuốc điều trị THA với 16,79% thuốc chẹn thụ thể AT1 của angiotensin II, 13,63% thuốc ức chế men chuyển, 11,91% thuốc chẹn bêta, 24,1% thuốc chẹn kênh canxi [36]
Xu H và các cộng sự (2015), tỷ lệ kê đơn thuốc điều trị THA tại Bệnh viện Trung Quốc thuốc cho biết 42,8% thuốc chẹn kênh canxi, 28,3% thuốc
Trang 28chẹn thụ thể AT1 của angiotensin II, 13,3% thuốc ức chế men chuyển và 4,8% thuốc lợi tiểu [25]
MC Cáceres và các cộng sự (2015), nghiên cứu sử dụng thuốc điều trị THA ở Tây Ban Nha cho thấy kể từ năm 2007, sử dụng thuốc chẹn thụ thể AT1 của angiotensin II đã tăng lên so với các thuốc ức chế men chuyển [49] Tsioufis C, Thomopoulos C (2017), phối hợp điều trị THA là chiến lược chính để tăng tỷ lệ kiểm soát Renin angiotensin là nền tảng của phối hợp điều trị THA vì chúng có đã được thử nghiệm nhiều lần trong các thử nghiệm lâm sàng kết hợp với các nhóm khác ngay từ đầu hoặc trong quá trình theo dõi [58]
1.4.1.2 Tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Al-Mehza A M và các cộng sự nghiên cứu trên 154 bệnh nhân, 132
bệnh nhân hoàn thành theo dõi trong 6 tháng, có 64% THA không kiểm soát,
tỷ lệ tuân thủ là 88,6% Không tuân thủ điều trị có liên quan đến thiếu kiến thức về THA (p <0,05) Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong các biến nhân khẩu học, thời gian THA và sự hiện diện tỷ lệ biến chứng giữa tuân thủ và không tuân thủ sử dụng thuốc điều trị THA Lý do không tuân thủ bao gồm hay quên, tác dụng phụ của thuốc, thiếu thuốc, nhiều thuốc và bản chất
không có triệu chứng của THA [35]
Nghiên cứu tại cộng hòa Congo năm 2009 về những lý do khiến bệnh nhân không tuân thủ điều trị, tác giả Jean Pierre Fina Lubaki và cộng sự cho biết, có 5 lý do quan trọng khiến bệnh nhân bỏ thuốc và kém tuân thủ điều trị bao gồm: thiếu kiến thức về bệnh và các loại thuốc đang sử dụng, lo lắng và chán nản khi gặp phải các tác dụng phụ của thuốc, bệnh nhân chỉ dùng thuốc khi họ có triệu chứng THA, thiếu sự hỗ trợ bởi các thành viên trong gia đình, khó khăn trong việc dùng thuốc điều trị THA [45]
Nghiên cứu của Pauline E Osamor ở Nigeria năm 2011 trên 440 bệnh
Trang 29nhân được chọn ngẫu nhiên đơn cho thấy không có sự khác biệt tuân thủ điều trị thuốc giữa nam và nữ bệnh nhân nhưng tình trạng hôn nhân lại có mối liên quan có ý nghĩa, 60% bệnh nhân dùng thuốc theo đơn của bác sỹ trong bệnh viện và có 5% dùng thuốc tự mua tại hiệu thuốc [55]
Năm 2011, nghiên cứu của Krzesinski J và cộng sự tại Brussels ở Bỉ cho biết chi phí điều trị cũng có ảnh hưởng đến tuân thủ thuốc ở bệnh nhân [43] Nghiên cứu của Manal Ibrahim Hanafi Mahmoud Đại học Taibah năm
2012 cho biết tỷ lệ tuân thủ điều trị chung là 35,1%, các yếu tố tuổi, giới, thu nhập thấp, trình độ văn hóa, tình trạng công việc, thói quen hút thuốc ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ Chỉ có 14,4% có mối liên hệ với thầy thuốc tương đối tốt Đặc biệt 83% bệnh nhân mắc thêm các bệnh kèm theo tuân thủ điều trị kém [48]
Nghiên cứu cắt ngang của Nandini Natarajan năm 2013 về tuân thủ các thuốc hạ HA và các yếu tố liên quan trên 527 bệnh nhân THA và đái tháo đường type 2 qua 6 tháng thăm khám, kết quả cho thấy có 77,0% bệnh nhân tuân thủ dùng thuốc [53]
Tác giả Nielsen JØ NI và các cộng sự (2016), nghiên cứu về không tuân thủ thuốc chống THA trong các nước thu nhập thấp và trung bình: một đánh giá có hệ thống và phân tích tổng hợp 92443 đối tượng cho biết tỷ lệ không tuân thủ tổng hợp khi sử dụng thang đo tuân thủ thuốc Morisky-8 (MMAS-8)
là 63,35% (khoảng độ tin cậy: 38,78-87,91) [54]
1.4.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
1.4.2.1 Sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp
Nghiên cứu của Đôn Thị Thanh Thủy và cộng sự trên 510 bệnh nhân tại Bệnh viện cấp cứu Trưng vương năm 2011-2013 kết luận THA không có bệnh lý kèm theo thì thuốc được chỉ định nhiều nhất là nhóm ức chế men chuyển, kế đến là nhóm chẹn kênh canxi, chẹn bêta Lợi tiểu không phải là
Trang 30chỉ định đầu tay THA có các bệnh lý đi kèm, thuốc chống THA thay đổi theo bệnh kèm Sử dụng viên thuốc phối hợp cố định liều còn quá ít Tỷ lệ đạt HA mục tiêu chung (81,7%), nhưng THA có bệnh kèm thì tỷ lệ đạt HA mục tiêu không cao Phối hợp 2 thuốc đạt HA mục tiêu chiếm tỷ lệ cao nhất [27]
Theo tác giả Bùi Tùng Hiệp trên 234 bệnh nhân tại Bệnh viện cấp cứu Trưng vương năm 2014 cho thấy ở bệnh nhân suy tim: thuốc lợi tiểu được sử dụng cao nhất ở 47,7% bệnh nhân, thuốc ức chế men chuyển được sử dụng thứ hai với 43,2%; Ở bệnh nhân suy thận mạn: thuốc chẹn kênh canxi được sử dụng nhiều nhất ở 60,5% bệnh nhân, thuốc lợi tiểu được dùng ở 50,0% bệnh nhân; Ở bệnh nhân đái tháo đường và đột quỵ, thuốc ức chế men chuyển được
sử dụng nhiều nhất ở 63,3% và 72,4% bệnh nhân [10]
Nghiên cứu của Trần Thị Tuyết Phụng và Nguyễn Thị Ngọc Vân trên
413 đơn thuốc tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ năm 2014 kết quả cho thấy đa số bệnh nhân đến khám THA được sử dụng thuốc chẹn thụ thể AT1 của angiotensin II chiếm 80,6%, thuốc chẹn kênh canxi chiếm 68,3%, thuốc chẹn bêta chiếm 39%, thuốc ức chế men chuyển chiếm 13,1%, thuốc lợi tiểu chiếm 6,5%, thuốc tác động thần kinh trung ương tỷ lệ thấp nhất chiếm 1,2% [33]
Tác giả Nguyễn Vĩnh Phú và các cộng sự nghiên cứu 128 bệnh nhân suy thận mạn tính giai đoạn cuối đang điều trị lọc máu tại Bệnh viện Trung Ương Huế năm 2014-2016 được chỉ định ít nhất 2 loại thuốc điều trị THA, thuốc được sử dụng phổ biến là chẹn kênh canxi, ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể AT1 của angiotensin II, lợi tiểu, chẹn bêta và giãn mạch nitrat [19]
Nghiên cứu của Bùi Tùng Hiệp nghiên cứu 120 bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Đa khoa huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long năm 2018, điều trị THA trong đó nhóm ức chế thụ thể angiotensin II, ức chế men chuyển, chẹn kênh
Trang 31canxi được sử dụng nhiều nhất, nhóm chẹn bêta sử dụng ít nhất, nhóm phối hợp hai thuốc được sử dụng nhiều nhất [13]
Nghiên cứu của Phạm Thái Trân tại Trung tâm tim mạch Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2019 thì nhóm thuốc chẹn kênh canxi được
sử dụng nhiều nhất với tỷ lệ 42,6%, được sử dụng với tỷ lệ thấp nhất là nhóm tác động lên hệ giao cảm trung ương với tỷ lệ 0,9% [30]
1.4.2.2 Tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Nghiên cứu của Vũ Xuân Phú (2011) cho biết tỷ lệ tuân thủ điều trị đạt ở bệnh nhân tăng huyết áp 4 phường tại thành phố Hà Nội chỉ có 44,8% [20] Nghiên cứu của Bùi Thị Mai Tranh (2012) lại thông báo chỉ có 25% bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian theo dõi định kỳ tuân thủ dùng thuốc [31]
Nghiên cứu của Phạm Hồng Thắm và các cộng sự (2015) cho biết tỷ lệ tuân thủ điều trị là 54,4% [24]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Lan và Đàm Thị Tuyết (2016) có kết quả nghiên cứu tuân thủ điều trị chiếm tỷ lệ 78,6% và không tuân thủ điều trị chiếm tỷ lệ 21,4% [17]
Nghiên cứu của Ngô Văn Kiệp (2017) cho biết có tới 90,0% bệnh nhân tuân thủ dùng thuốc và chỉ có 10% không tuân thủ dùng thuốc [16]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thơm và các cộng sự (2017) kết luận tỷ lệ người bệnh tuân thủ sử dụng thuốc đạt trên 75% [26]
Nghiên cứu của Đặng Văn Toàn (2017) kết luận tỷ lệ tuân thủ điều trị dùng thuốc 25% và tỷ lệ không tuân thủ điều trị dùng thuốc 75% [28]
Nghiên cứu của Đoàn Duy Tân và các cộng sự (2017) cho biết tỷ lệ tuân thủ điều trị dùng thuốc ở mức cao chỉ có 0,5%, ở mức trung bình 9,2%, ở mức thấp 90,3% và tác giả có viết trong bàn luận chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào sử dụng thang đo MMAS-8 có tỷ lệ thấp như vậy [22]
Trang 32Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hằng và cộng sự cho thấy tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc khá cao chiếm 87,53% sử dụng thuốc trên bệnh nhân THA điều trị ngoại trú tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh năm 2018 [8]
Nghiên cứu của Nguyễn Trần Phương Thảo (2018) về mức độ tuân thủ điều trị dùng thuốc ở bệnh nhân THA có 29,5% tuân thủ tốt, 47,5% tuân thủ mức độ trung bình, 23% kém tuân thủ [25]
Nghiên cứu của Trần Quốc Cường và các cộng sự (2018), tỷ lệ tuân thủ uống thuốc trước can thiệp có 53,8% tuân thủ tốt và 46,2% tuân thủ kém [4] Các nghiên cứu cũng cho biết tỷ lệ không tuân thủ điều trị dùng thuốc có liên quan đến tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nơi ở, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, bảo hiểm y tế, tiền sử gia đình, thời gian mắc bệnh, lo lắng nguy cơ tai biến của bản thân,…[5], [9], [32]
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân có chẩn đoán THA đang được khám và điều trị ngoại trú có tham gia bảo hiểm y tế tại Khoa Khám bệnh Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ từ ngày 01/06/2020 đến ngày 31/12/2020
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Bệnh nhân (BN) trên 18 tuổi đồng ý tham gia nghiên cứu, (1) có khả năng nghe nói và trả lời câu hỏi đang được khám, (2) đang điều trị ngoại trú THA và (3) có tham gia bảo hiểm y tế tại Khoa Khám bệnh Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân là nhân viên bệnh viện
- Bệnh nhân dưới 18 tuổi
- Bệnh nhân là phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú
- Bệnh nhân có tri giác và tâm thần không bình thường
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.4.1 Địa điểm
Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Khám bệnh Bệnh viện Đa khoa
Thành phố Cần Thơ
2.1.4.2 Thời gian
Thời gian nghiên cứu từ ngày 01/06/2020 đến ngày 30/05/2021.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích, đánh
Trang 34giá bệnh nhân tuân thủ sử dụng thuốc ở các thời điểm: một tháng, ba tháng, sáu tháng sau khi bắt đầu nghiên cứu
n: Cỡ mẫu nhỏ nhất hợp lý cho nghiên cứu
Z: Hệ số tin cậy, chọn độ tin cậy 95% Z = 1,96
c: Khoảng sai lệch mong muốn Chọn c = 0,05
p: Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ sử dụng thuốc điều trị THA Theo nghiên cứu của Nguyễn Trần Phương Thảo cho biết tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc điều trị THA trên bệnh nhân THA tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2018, tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ sử dụng thuốc điều trị THA là 77,0% [25]
Vậy p = 0,77
n = 272 bệnh nhân
Để tránh những trường hợp mẫu nghiên cứu không đạt yêu cầu, nghiên cứu thu thập thêm 20% bệnh nhân vào trong mẫu (54 bệnh nhân) Do đó, cỡ mẫu cần thu thập là 330 bệnh nhân
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
- Thời điểm bắt đầu nghiên cứu: chọn mẫu thuận tiện (bệnh nhân được giải thích về ý nghĩa của tham gia nghiên cứu và đồng ý tham gia nghiên cứu), tất cả các trường hợp bệnh nhân thoả điều kiện nghiên cứu, sau khi bệnh nhân được khám và chẩn đoán bệnh THA, tiến hành phỏng vấn và thu thập đơn thuốc
2
05 ,
0
)
77 ,
0
1 (
77 ,
0
96 ,
n
2
Trang 35- Trong quá trình điều trị, bệnh nhân được khám lại hàng tháng, được chỉ định thuốc hoặc điều chỉnh thuốc nếu cần
- Thông tin về bệnh nhân được thu thập theo mẫu phiếu thu thập thông tin (phụ lục 1, 2, 3, 4) tại các thời điểm khác nhau theo quy ước:
T0: là thời điểm bệnh nhân bắt đầu nghiên cứu
T1, T3, T6 là thời điểm tái khám sau khi bắt đầu nghiên cứu lần lượt 1, 3,
6 tháng
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Đặc điểm bệnh nhân tham gia mẫu nghiên cứu
Trang 36Chỉ số khối cơ thể (BMI)(kg/m 2 )[61]
- Nội tiết (đái tháo đường, tăng đường huyết,…)
- Lipid máu (tăng cholesterol máu, tăng lipid máu hỗn hợp, tăng triglycerid máu đơn thuần,…)
- Tim mạch (bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn, blốc nhĩ thất hoàn toàn đã
Trang 37đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn, suy tim, nhồi máu cơ tim cũ đặt stent, rung nhĩ và cuồng nhĩ, hở van hai lá, hở van ba lá, cơn đau thắt ngực không ổn định, bất sản nhịp tim, bệnh lý của nhiều van tim, xơ vữa động mạch cảnh, nghẽn tắc và hẹp động mạch cảnh, hội chứng suy nút xoang đã đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn,…)
- Thận (theo dõi suy thận, thận ứ nước,…)
- Não (di chứng nhồi máu não, di chứng mạch máu não,…)
- Mắt (suy giảm thị lực, tổn thương ở võng mạc, hắc mạc và thị thần kinh, …)
- Hô hấp (viêm phế quản phổi không phân loại, tăng áp phổi,…)
- Tiêu hóa (trào ngược dạ dày - thực quản, tiêu chảy, táo bón,…)
- Nhiễm khuẩn (viêm xoang cấp, tiết niệu,…)
- Khác (hội chứng Cushing do thuốc, hoa mắt và chống mặt, rối loạn tiền đình, rối loạn hệ tuần hoàn khác và không xác định của hệ tuần hoàn, rối loạn giấc ngủ, thiếu vitamin nhóm B khác, rối loạn đông máu không đặc hiệu, đau đầu, thoái hóa đa khớp, suy tĩnh mạch mạn, dãn tĩnh mạch chi dưới, rối loạn cân bằng nước - điện giải, đau bụng không xác định, thoái hóa cột sống thắt lưng, theo dõi tăng men gan, rối loạn chuyển hóa canxi - hạ canxi máu,…)
2.2.4.2 Đặc điểm sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp
Tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp lần đầu
- Các nhóm thuốc điều trị THA: nhóm thuốc, tần số và tỷ lệ %
- Tỷ lệ sử dụng các nhóm thuốc điều trị THA bao gồm hoạt chất, hàm lượng, tần số, tỷ lệ %:
Trang 38+ Chẹn bêta giao cảm
+ Tác động lên hệ giao cảm trung ương
- Tỷ lệ sử dụng thuốc dạng viên phối hợp sẵn bao gồm loại, hoạt chất, hàm lượng, tần số, tỷ lệ %
- Số nhóm thuốc điều trị THA được sử dụng trong một liệu trình điều trị
điều trị ban đầu bao gồm số nhóm thuốc HA, tần số, tỷ lệ % của các nhóm:
So sánh sử dụng thuốc giữa các lần tái khám
- So sánh thuốc sử dụng lần 1 với lần đầu
+ Không đổi thuốc
+ Đổi thuốc
+ Tăng cường điều trị (không đổi thuốc nhưng thêm thuốc, vừa đổi
thuốc-vừa thêm thuốc, không đổi thuốc nhưng tăng liều)
+ Giảm bậc điều trị (không đổi thuốc nhưng giảm thuốc, vừa đổi-vừa
giảm thuốc, không đổi thuốc nhưng giảm liều)
- So sánh thuốc sử dụng lần 2 với lần 1
+ Không đổi thuốc
+ Đổi thuốc
Trang 39+ Tăng cường điều trị (không đổi thuốc nhưng thêm thuốc, vừa đổi
thuốc-vừa thêm thuốc, không đổi thuốc nhưng tăng liều)
+ Giảm bậc điều trị (không đổi thuốc nhưng giảm thuốc, vừa đổi-vừa
giảm thuốc, không đổi thuốc nhưng giảm liều)
- So sánh thuốc sử dụng lần 3 với lần 2
+ Không đổi thuốc
+ Đổi thuốc
+ Tăng cường điều trị (không đổi thuốc nhưng thêm thuốc, vừa đổi
thuốc-vừa thêm thuốc, không đổi thuốc nhưng tăng liều)
+ Giảm bậc điều trị (không đổi thuốc nhưng giảm thuốc, vừa đổi-vừa
giảm thuốc, không đổi thuốc nhưng giảm liều)
2.2.4.3 Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp
Dựa trên phiếu khảo sát gồm các thông tin của bệnh nhân: thông tin chung, thông tin về tình trạng sức khỏe, lối sống, thông tin về sử dụng thuốc
và về tuân thủ trong sử dụng thuốc theo thang điểm Morisky-8 Thang đo sự tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân THA gồm 8 biến số, sử dụng công cụ thang đo sự tuân thủ dùng thuốc của tác giả Morisky (the Eight-item Morisky Medication Adherence Scale: MMAS-8).Ghi nhận 3 lần: T1, T3, và T6 sau khi tái khám [50]
Trang 40Bảng 2.1 Bộ câu hỏi tuân thủ sử dụng thuốc theo thang điểm Morisky-8
1 Thỉnh thoảng ông/bà quên uống thuốc điều trị
THA không?
2 Trong 2 tuần qua, có ngày nào ông/bà không
uống thuốc điều trị THA?
3 Ông/bà đã từng giảm hoặc ngừng uống thuốc
mà không thông báo cho bác sĩ vì cảm thấy
tình trạng xấu hơn do sử dụng thuốc chưa?
4 Khi rời khỏi nhà hoặc đi du lịch, ông/bà có
quên mang theo thuốc không?
5 Hôm qua, ông/bà có uống thuốc điều trị THA
không?
6 Thỉnh thoảng ông/bà có ngừng uống thuốc khi
cảm thấy HA đã được kiểm soát không?
7 Phải uống thuốc hàng ngày làm nhiều người
cảm thấy bất tiện Ông /bà có từng thấy phiền
phức với việc uống thuốc của mình không?
8 Ông/bà thường thấy khó khăn để ghi nhớ lịch
uống thuốc điều THA?
Bộ câu hỏi phỏng vấn của Morisky-8 (MMAS-8) làm thang đo tuân thủ
sử dụng thuốc gồm 8 câu hỏi Trong đó câu 1-4 và câu 6-8: trả lời “KHÔNG”
được 1 điểm, câu trả lời “CÓ” thì 0 điểm Riêng câu 5: trả lời “CÓ” được 1 điểm, trả lời “KHÔNG” thì 0 điểm
Và mức độ tuân thủ được phân loại dựa vào tổng số điểm đạt được:
- 8 điểm: tuân thủ tốt