Luận văn : Chi trả dịch vụ môi trường – kinh nghiệm thế giới và áp dụng tại VN.
Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu và đóng vai trò quantrọng trong việc phát triển kinh tế ở Việt Nam Tín dụng ngân hàng là công cụthúc đẩy các tổ chức tín dụng thu vốn tạm thời nhàn rỗi và cho các chủ thểkinh tế cần thiết vay số vốn này Nguồn vốn cho vay chủ yếu của tổ chức tíndụng là vốn huy động (trong đó tiền gửi chiếm tỷ lệ đáng kể) Chính vì vậynhiệm vụ đầu tiên của tổ chức tín dụng là bảo vệ tiền gửi của khách hàng.Nếu một khoản cho vay nào đó bị thất thoát (không thu hồi được) thì trướctiên làm cho tổ chức tín dụng rơi vào tình trạng không có khả năng thanh toáncho người gửi tiền Do đó, tổ chức tín dụng phải luôn luôn thận trọng trongviệc cho vay nhằm giảm thiểu những rủi ro trong hoạt động tín dụng
Từ những thực tiễn thu được trong quá trình thực tập tại ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Hà Nội, em nhận thấy nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay
là vấn đề vô cùng quan trọng trong hoạt động cho vay Chính vì vậy đề tài:
“Giải pháp nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay tại ngân hàng Đầu tư vàPhát triển Hà Nội” đựơc chọn để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp
Khóa luận tốt nghiệp bao gồm ba chương:
-Chương I: Những vấn đề cơ bản về hoạt động bảo đảm tiền vay củaNHTM
- Chương II: Thực trạng hoạt động bảo đảm tiền vay tại ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Hà Nội
- Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay tại ngânhàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội
Trang 2CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM
TIỀN VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Bảo đảm tiền vay trong hoạt động của ngân hàng thương mại
2 Sự cần thiết của bảm đảm tiền vay
Bảo đảm tiền vay là điều kiện quan trọng nhất thực hiện mục tiêu kinhdoanh của ngân hàng Để thu hồi được nợ, ngân hàng phải xem xét một cáchthận trọng đến uy tín và năng lực của khách hàng, từ đó áp dụng các phươngpháp cho vay thích hợp Xét về cả góc độ lý luận và thực tiễn thì có rất nhiều
lý do để quy định và nghiên cứu về các biện pháp bảo đảm tiền vay Tuynhiên, có một số lý do cơ bản sau:
Thứ nhất, đối với bản thân các ngân hàng, bảo đảm tiền vay giúp giảm
bớt tổn thất cho ngân hàng khi khách hàng vay tiền không thể hoặc khôngmuốn hoàn trả tiền vay
Thứ hai, bảo đảm tiền vay giúp bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của
người gửi tiền Các tổ chức tín dụng ở Việt Nam chủ yếu là cho vay Các tổchức này cho vay trên cơ sở là nguồn vốn huy động là chủ yếu Điều này cónghĩa là nguồn vốn cho vay của các ngân hàng chủ yếu là nguồn đi vay bởicác tổ chức này hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc đi vay để cho vay.Chính vì vậy, trách nhiệm hàng đầu của các ngân hàng là bảo vệ quyền lợicủa người gửi tiền, tránh tình trạng rút tiền đồng loạt, dẫn đến nguy cơ phásản ngân hàng, lung lay hệ thống ngân hàng Mặc dù phần lớn các ngân hàngđều dự tính trước nguy cơ có thể xảy ra, nhưng rủi ro này phải được kiểm soátchặt chẽ để bảo vệ số tiền gửi của khách hàng Tuy nhiên thực tiễn hoạt độngkinh doanh của ngân hàng đã chứng minh rằng không phải lúc nào cũng kiểmsoát được rủi ro, có những rủi ro tín dụng khả kháng được, nhưng cũng cónhững rủi ro bất khả kháng, nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng Nếumột khoản cho vay nào đó bị thất thoát, thì trước tiên ngân hàng phải sử dụng
Trang 3nguồn vốn của mình để trả nợ cho người gửi tiền Nếu không đủ nguồn vốn
để trả cho người gửi tiền thì ngân hàng sẽ lâm vào tình trạng mất khả năngthanh toán, thậm chí phá sản Do đó, an toàn là một vấn đề cần xem xét trướctiên đối với mọi khoản vay Ngoài việc xây dựng quy trình cho vay khoa họcchặt chẽ, các tổ chức tín dụng còn áp dụng các biện pháp phòng ngừa để giảmthiểu rủi ro Bảo hiểm tiền vay là một trong các biện pháp đó và gián tiếpđóng vai trò bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền
Thứ ba, đối với hệ thống ngân hàng, bảo đảm tiền vay bảo vệ sự an toàn
và ổn định của hệ thống ngân hàng Ngân hàng Trung ương của bất kỳ quốcgia nào cũng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ, tíndụng, ngân hàng và đều có nhiệm vụ đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt độngmột cách có hiệu quả, an toàn và ổn định Nếu có sự thất thoát trong hoạtđộng tín dụng nào đó, dù chỉ ở một ngân hàng cũng đe doạ đến tính an toàn
và ổn định của toàn hệ thống Vì thế mà các ngân hàng Trung ương đều quyđịnh mọi tổ chức tín dụng phải tuân thủ quá trình phân tích rủi ro truớc khicho vay
Thứ tư, bảo đảm tiền vay là động lực thúc đẩy khách hàng thực hiện
nghĩa vụ trả nợ Nếu không có bảo đảm tiền vay có thể dẫn đến việc lơ lànghĩa vụ trả nợ Bảo đảm sẽ tạo động lực tốt hơn cho nghĩa vụ trả nợ, vì nếukhông sẽ mất tài sản và tốn kém nhiều chi phí hơn Mặt khác, bảo đảm tíndụng còn là rào cản đối với những người đi vay có chủ ý lừa đảo
3 Khái niệm về bảo đảm tiền vay
Cho đến nay chưa có khái niệm chính tắc về bảo đảm tiền vay mà chỉđược thể hiện duới dạng lịêt kê từng biện pháp bảo đảm Tuy nhiên trong một
số công trình khoa học của các tác giả cũng đã đưa ra khái niệm này Chẳnghạn: “bảo đảm tiền vay được hiểu là các biện pháp hay công cụ để củng cốvịêc thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngân hàng”, hay “bảo đảm tiền vay là các hình
Trang 4thức bảo đảm trả nợ của người vay trước ngân hàng trong trường hợp nguờivay không thể trả nợ trong tương lai” Ngoài ra, một số quan điểm cho rằngbảo đảm tiền vay cũng chính là bảo đảm tín dụng và bảo đảm tiền vay chính
là bảo đảm cho một khoản vay hoặc những nghĩa vụ khác
Cần nhấn mạnh rằng, bảo đảm tiền vay thông thường chỉ được xem xét làbiện pháp thay thế và là cơ sở thu nợ thứ hai khi khách hàng vì môt lý do nào
đó không trả đựơc nợ vay Vịêc quyết định cấp tín dụng hay không là do tínhkhả thi của dự án, khá năng tài chính của khách hàng vay, chứ không phải ởtài sản bảo đảm tiền vay Nếu ngân hàng cấp tín dụng dựa vào bảo đảm tiềnvay xong lại biết rằng ngân hàng sẽ phải bán vật đảm bảo sau đó để trang trảimón nợ thì ngân hàng sẽ chẳng bao giờ cho vay Chính vì vậy bảo đảm tiềnvay không phải lúc nào cũng là yếu tố cần thiết trong vay vốn ngân hàng Bảođảm tiền vay thường đuợc áp dụng trong các trường hợp sau: khả năng trả nợvốn vay của khách hàng còn hạn chế hoặc trong nền kinh tế đất nước có thểxẩy ra lạm phát, làm mất giá số tiền đã cho vay của tổ chức tín dụng, dễ làmảnh hưởng đến khả năng tài chính của khách hàng vay vốn, dễ dẫn đến vịêc viphạm thời hạn trả nợ
Theo nghĩa rộng, bảo đảm tiền vay là vịêc thiết lập các điều kiện nhằmxác định khả năng thực có của khách hàng đối với vịêc hoàn trả vốn vay đúngthời hạn (ví dụ nếu khách hàng là cá nhân thì đòi hỏi phải có thu nhập thườngxuyên) Theo quan điểm của các chuyên gia ngân hàng ở Anh, Mỹ phải có haihay tốt nhất là ba vành đai bảo vệ người cho vay tránh khỏi vịêc không thựchiện nghĩa vụ trả nợ đối với các tổ chức tín dụng: đó là nguồn tiền mặt (thunhập là nguồn tiền chính để trả nợ của khách hàng), tài sản của khách hàngđược khách hàng đưa ra làm đảm bảo cho khoản vay hoặc bảo lãnh của tổchức, cá nhân để bảo đảm khoản cho vay
Trang 5Theo nghĩa hẹp, bảo đảm tiền vay là những biện pháp đảm bảo vịêc trả
nợ vốn vay (cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay vốn, bảo lãnhbằng tài sản của bên thứ ba, cầm cố thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốnvay) Hay nói cách khác, bảo đảm tiền vay là sự thoả thuận của người đi vay
và người cho vay dựa trên các quy định của Nhà nước nhằm thiết lập các biệnpháp tác động mang tính chất dự phòng để đảm bảo vịêc trả nợ vốn vay, ngănngừa vi phạm và tạo khả năng khắc phục những hậu quả do vị phạm nghĩa vụtrả nợ gây ra
4 Các hình thức bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại
Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện nay, hoạt động của cácdoanh nghiệp ngày càng phong phú, nhu cầu vốn của thị trường ngày cànglớn, để thực hiện mục tiêu phát triển là mở rộng cho vay gắn với hạn chế rủi
ro, bảo đảm an toàn vốn đòi hỏi các NHTM phải áp dụng đồng thời nhiềubiện pháp bảo đảm tiền vay, chấp nhận nhiều loại tài sản bảo đảm và vậndụng các điều kiện đó linh hoạt, phù hợp với điều kiện của từng khách hàng.Vịêc vận dụng hiểu quả các biện pháp bảo đảm tiền vay phải dựa trên cơ sởhiểu rõ những nội dung của các biện pháp bảo đảm
1.1.3.1.Bảo đảm tiền vay bằng tài sản bảo đảm
Từ xa xưa, vấn đề làm thế nào để đảm bảo thực hiện hợp đồng, đặc biệt làhợp đồng vay nợ đã được đặt ra với nhiều biện pháp khác nhau Cùng với sựphát triển của xã hội, những điều kiện bảo đảm thực hiện hợp đồng càng đượccải thiện đáng kể Bảo đảm tiền vay bằng tài sản là loại bảo đảm tiền vay theo
đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảm đảm thực hiện bằngtài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay, tài sản hình thành từ vốn vayhoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba Trong trường hợp khách hàng viphạm nghĩa vụ trả nợ và bên bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thìtài sản bảm đảm tiền vay sẽ được xử lý để thu hồi nợ cho tổ chức tín dụng
Trang 6Tuy nhiên, không phải bất kỳ tài sản nào cũng có thể được mang ra làm bảođảm mà tài sản đó phải thoả mãn một số điều kiện cơ bản sau:
Giá trị của tài sản bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ đuợc bảo đảm
Tài sản dùng làm bảo đảm nợ vay phải tạo ra được ngân lưu (đượcphép giao dịch, có giá trị và được thị trường tiêu thụ)
Tài sản bảo đảm phải có đầy đủ cơ sở pháp lý để nguời cho vay cóquyền xử lý tài sản dùng làm tài sản bảo đảm (quyền sở hữu, quyền
sử dụng, quyền chuyển nhựơng ) và không có tranh chấp
Tài sản bảo đảm cho khoản vay bao gồm:
Cầm cố bằng tài sản của khách hàng vay vốn
Cầm cố là hình thức theo đó nguời nhận tài trợ của ngân hàng phảichuyển quyển kiểm soát tài sản bảo đảm sang cho ngân hàng trong thời giancam kết (thường là thời gian nhận tài trợ)
Cầm cố thích hợp với những tài sản ngân hàng có thể kiểm soát và bảoquản tương đối chắc chắn, đồng thời vịêc ngân hàng nắm giữ không ảnhhưởng đến quà trình hoạt động của người nhận tài trợ, ví dụ như các chứngkhoán, các hợp đồng, sổ tiết kiệm, ngoại tệ mạnh, kim loại quý Các tài sảnnày gọn nhẹ, dễ quản lý, không chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường tựnhiên Đối với hàng hoá, ngân hàng thường chấp nhận các loại ít chịu tácđộng của môi trường trong thời gian cầm cố Ngân hàng yêu cầu cầm cố khixét thấy vịêc khách hàng nắm giữ tài sản bảo đảm là không an toàn cho ngânhàng Thường đó là các tài sản mà khách hàng dễ bán, dễ chuyển nhượng Khitài trợ dựa trên đảm bào bằng cầm cố, ngân hàng kiểm tra tính hợp pháp, hợp
lệ, an toàn của vật cầm cố như quyền sở hữu của khách hàng, khả năng chi trảcủa người cam kết đối với vật cầm cố, giá trị thị trường khi phát mại
Thế chấp bằng tài sản bảo đảm của khách hàng vay vốn:
Trang 7Thế chấp là hình thức theo đó bên đi vay dùng tài sản thuộc sở hữu củamình hoặc giá trị quyền sử dụng đất hợp pháp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụđối với bên cho vay và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.Trong hình thức này người nhận tài trợ phải chuyển các giấy tờ chứng nhận
sở hữu (hoặc sử dụng) các tài sản bảo đảm sang ngân hàng nắm giữ trong thờigian cam kết
Nhiều tài sản của khách hàng trở thành đảm bảo cho các tài trợ của ngânhàng song vẫn phải tham gia vào quá trình hoạt động như nhà đất đang trongquá trình sử dụng, trang thiết bị, hàng hoá đang trong quá trình luânchuyển Những tài sản này thường cồng kềnh, phân tán, ngân hàng không thểcầm cố Hơn nữa, vịêc bán hoặc chuyển nhượng cũng không hề đơn giản Vìvậy, đảm bảo bằng thế chấp rất phổ biến, đặc biệt đối với doanh nghiệp vàngười tiêu dùng Do giá trị của tài sản loại này thường lớn nên doanh nghiệp
có thể vay ngân hàng với quy mô lớn
Đảm bảo bằng thế chấp cho phép người nhận tài trợ sử dụng tài sản bảođảm phục vụ cho hoạt động kinh doanh, đó là một thuận lợi Tuy nhiên, quátrình sử dụng sẽ làm biến dạng tài sản, hơn nữa khả năng kiểm soát tài sảnbảo đảm của ngân hàng bị hạn chế, khách hàng có thể lợi dụng phân tán, làmgiảm giá trị của tài sản gây thiệt hại cho ngân hàng
Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay là hình thức trong đó kháchhàng vay dùng tài sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo thực hiện nghĩa vụtrả nợ cho chính khoản vay đó
Trong đó, tài sản hình thành từ vốn vay là tài sản của khách hàng vay màgiá trị tài sản đựơc tạo nên bởi một phần hoặc toàn bộ khoản vay của tổ chứctín dụng Vịêc đảm bảo tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay thườngđựơc áp dụng trong trường hợp ngân hàng cho vay trả góp, cho vay trung và
Trang 8dài hạn đối với các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ đờisống Vịêc lựa chọn hình thức bảo đảm này mang lại rủi ro khá cao cho ngânhàng vì nguyên tắc cơ bản của bảo đảm tiền vay là nguồn đảm bảo cho khoảnvay trong khi tài sản bảo đảm lại được hình thành từ chính vốn vay ngânhàng Điều này có thể làm giảm chất lượng bảo đảm tiền vay của ngân hàng.
Vì vậy, khi cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay ngân hàngluôn xem xét kỹ lưỡng đối với khách hàng vay và tài sản hình thành từ vốnvay
Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba
Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba là hình thức trong đó bên thứ bahay còn gọi là bên bảo lãnh cam kết với tổ chức tín dụng cho vay về việc sửdụng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thaycho khách hàng vay nếu đến hạn trả nợ mà khách hàng vay không thực hiệnhoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ
Bảo lãnh được áp dụng trong trường hợp, các tổ chức, cá nhân có nhucầu vay vốn ở các tổ chức tín dụng nhưng do nhiều lý do khác nhau họ chưa
có uy tín và cũng không có cả tài sản để bảo đảm tiền vay Khi đó, bảo lãnhxuất hiện vừa có tác dụng là biện pháp đảm bảo nghĩa vụ vừa là biện pháp tạo
cơ hội tín dụng cho người có nhu cầu vay vốn Nếu bên khách hàng có nhucầu vay vốn tìm được cho mình người bảo lãnh có đủ năng lực thực hiệnnghĩa vụ của người bảo lãnh và nếu được ngân hàng chấp nhận thì sẽ tạo cơhội cho bên có nhu cầu về vốn vay được vay vốn và về phía ngân hàng antoàn tín dụng vẫn được đảm bảo khi cho vay
Điểm khác biệt giữa bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba so với cầm cố
và thế chấp là tài sản đem bảo đảm trong thế chấp, cầm cố thuộc sở hữa củabên khách hàng vay vốn, còn trong bảo lãnh là tài sản của người thứ ba.Trong quan hệ cầm cố, thế chấp chỉ có hai bên trong quan hệ nghĩa vụ có
Trang 9quan hệ với nhau (khách hàng và tổ chức tín dụng), còn trong bảo lãnh xuấthiện thêm người thứ ba vốn không liên quan đến nghĩa vụ trong quan hệnhưng họ tham gia do tự nguyện hoặc đựơc nhờ để bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ thay cho khách hàng (bên có nghĩa vụ) bằng tài sản của mình Trongtrường hợp bảo lãnh bằng tài sản của cá nhân thì điều kiện bắt buộc là tài sảnnày phải thuộc sở hữu hợp pháp của họ Khi sử dụng hình thức bảo đảm này,ngân hàng thường phải thẩm định cả khách hàng lẫn bên bảo lãnh một cáchchặt chẽ để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của mình
1.1.3.2.Hình thức bảo đảm tiền vay trong trường hợp cho vay không
có tài sản bảo đảm
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản như đã trình bày ở trên đem lại nguồn thuthứ hai cho ngân hàng, tăng cường khả năng thu hồi nợ đồng thời góp phầntạo áp lực trả nợ đối với người đi vay Tuy nhiên, các ngân hàng ngày càngcạnh tranh gay gắt để tìm kiếm khách hàng, mở rộng đối tượng và các hìnhthức cho vay cùng với sự tin cậy về năng lực trả nợ của khách hàng nên hìnhthức cho vay không cần tài sản bảo đảm tồn tại và phát triển Cho vay không
có tài sản bảo đảm là vịêc cho vay vốn của các tổ chức tín dụng mà theo đónghĩa vụ trả nợ của khách hàng không được cam kết trả nợ bằng tài sản màchỉ dựa trên uy tín, khả năng trả nợ của khách hàng vay hay của bên bảo lãnh,bao gồm:
Cho vay bằng tín chấp cho các doanh nghiệp có uy tín, các khách hàng lâu năm
Các ngân hàng thương mại đựơc chủ động lựa chọn khách hàng vay đểcho vay không có bảo đảm bằng tài sản, tuy nhiên, để đảm bảo an toàn vàlành mạnh trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, khách hàng vay phải đápứng đầy đủ các điều kiện cơ bản sau: Phải có tín nhiệm với ngân hàng chovay trong vịêc sử dụng vốn vay, trả nợ đầy đủ và đúng hạn cả gốc và lãi,
Trang 10khách hàng vay phải có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh khảthi, có khả năng trả nợ hoặc có dự án, phương án phục vụ đời sống khả thiphù hợp với quy định của pháp lụât Khách hàng phải có khả năng tài chính
và các nguồn thu hợp pháp có khả năng thu được trong thời hạn vay vốn đểthực hiện nghĩa vụ trả nợ cho tổ chức tín dụng Trong trường hợp này ngânhàng tự quyết định mức cho vay trên cơ sở mức độ tín nhiệm, đặc điểm tìnhhình hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính của khách hàng
Cho vay không có tài sản bảo đảm theo chỉ thị của Chính phủ
Các ngân hàng thương mại quốc doanh cho vay không có bảo đảm đốivới khách hàng vay để thực hiện các dự án đầu tư thuộc chương trình kinh tếđặc bịêt, chương trình kinh tế trọng điểm của Nhà nước, chương trình kinh tế-
xã hội và đối với một số khách hàng thuộc đối tượng đựơc hưởng các chínhsách tín dụng ưu đãi
Cho vay có tổ chức bằng tín chấp của các tổ chức đoàn thể chính
trị-xã hội
Đây là hình thức mà theo đó, các tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội dùng
uy tín của mình để đảm bảo cho các tổ chức cá nhân, các hộ gia đình nghèovay vốn để hộ tổ chức sản xuất kinh doanh ổn định đời sống, hoặc hỗ trợ họtrong lúc khó khăn, thiên tai, mất mùa… Đây là hình thức cho vay mang tính
xã hội cao, thường vì mục tiêu chung, tỷ suất sinh lời thường không cao, đặcbiệt với các hộ nghèo, khả năng trả nợ khó Điều này tạo áp lực không nhỏ lêncác ngân hàng thương mại Nhà nước
1.1 Chất lượng bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại
1.2.1.Khái niệm về chất lượng bảo đảm tiền vay
Bất cứ ngân hàng thương mại nào đều mong muốn đạt được hiệu quả caonhất trong hoạt động kinh doanh của mình, đặc bịêt là trong hoạt động tíndụng Hoạt động tín dụng là hoạt động có khả năng sinh lợi nhiều nhất nhưng
Trang 11cũng là hoạt động chịu nhiều rủi ro nhất Do vậy, để hạn chế rủi ro trong hoạtđộng cho vay, các ngân hàng cần phải nâng cao chất lượng hoạt động chovay, nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay Chất lượng của công tác bảo đảmtiền vay chính là chất lượng của những hình thức mà ngân hàng chấp nhậnlàm bảo đảm cho món vay của khách hàng có khả năng thực hiện đúng chứcnăng là nguồn thu nợ thứ hai cho ngân hàng hay không, có giúp ngân hàngbảo toàn được nguồn vốn khi xảy ra rủi ro không.
Chất lượng bảo đảm tiền vay không chỉ phản ảnh về tài sản bảo đảm màcòn thể hiện ở thành quả thu đựơc khi các khoản cho vay đựơc bảo đảm bằngcác hình thức thích hợp Chất lượng bảo đảm tiền vay càng cao thì khả năngthu hồi nợ của ngân hàng càng được bảo đảm, từ đó giảm bớt tổn thất chongân hàng khi rủi ro tín dụng xẩy ra Có thể nói, chất lượng bảo đảm tiền vay
có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thuơng mại.Nếu các khoản cho vay có chất lượng không tốt sẽ là nguy cơ tiềm ẩn rủi rocho ngân hàng trong vịêc thu hồi nợ dẫn đến khả năng mất vốn, với mức độlớn hơn có thể làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng với khách hàng,làm giảm uy tín của ngân hàng dẫn đến tình trạng rút tiền hàng loạt và đẩyngân hàng đến nguy cơ phá sản Vì vậy, các ngân hàng phải thường xuyênquan tâm và nâng cao chất lượng bảo dảm tiền vay nhằm bảo đảm sự pháttriển bền vững cho ngân hàng
1.2.2.Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại
1.2.2.1.Các chỉ tiêu định tính
Dựa vào các chỉ tiêu định tính ta có thể phần nào đánh giá khái quát đựơc
về chất lượng bảo đảm tiền vay của một NHTM Có rất nhiều chỉ tiêu địnhtính phản ánh chất lượng này, và một số chỉ tiêu giúp ta nhận biết rõ nhất vềchất lượng bảo đảm tiền vay, bao gồm:
Trang 12Danh mục tài sản bảo đảm: Tài sản bảo đảm bao gồm: bất động sản
(nhà, đất), động sản (hàng hoá, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải), cácgiấy tờ có giá khác Các loại tài sản thuộc sở hữu công, kém, mất phẩm chấthay phi pháp đều bị loại khỏi đảm bảo Quản trị danh mục tài sản bảo đảm làyêu cầu khách quan trong công tác quản trị ngân hàng thương mại, nó là mộtmắt xích quan trọng trong quy trình cho vay thu hồi nợ, xử lý các khoản nợ cóvấn đề Cho vay có tài sản bảo đảm cùng với quản lý tốt danh mục tài sản bảođảm là một trong những yếu tố góp phần nâng cao chất lượng các khoản vay,hạn chế tổn thất của ngân hàng trong trường hợp các khoản vay quá hạnkhách hàng không trả được nợ, buộc phải xử lý tài sản để thu hồi nợ Rõ ràng,chất lượng của tài sản bảo đảm, mà cụ thể là giá trị thị trường của tài sản bảođảm tại thời điểm xử lý tài sản bảo đảm sẽ có tính chất quyết định đến nguồnthu hồi nợ của ngân hàng Ví dụ, nếu ngân hàng nhận tài sản bảo đảm là dâychuyền máy móc thiết bị, khi phải phát mại thì tiêu chuẩn công nghệ còn phùhợp hay không so với thị trường sẽ quyết định giá cả của tài sản bảo đảm này,nếu lạc hậu thậm trí giá trị chỉ là sắt vụn và phải tốn chi phí thanh lý Do vậy,vịêc quản lý, đánh giá phân tích danh mục tài sản bảo đảm nhận làm bảo đảmtiền vay dưới hình thức như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh là khâu tác nghiệp hếtsức cần thiết Vịêc lựa chọn tài sản bảo đảm đa dạng, đựơc sử dụng phù hợp
và phương thức bảo đảm tốt sẽ giúp ngân hàng thu hút được nhiều đối tượngkhách hàng, làm tăng uy tín cho ngân hàng, tăng cường khả năng tín dụngđồng thời giúp giảm thiểu rủi ro phi hệ thống nhờ vịêc đa dạng hoá các tài sảnbảo đảm
Định giá tài sản bảo đảm: Tài sản bảo đảm là yếu tố quan trọng để ngân
hàng quyết định mức cho vay Xác định chính xác giá trị tài sản bảo đảm làyếu tố hết sức quan trọng giúp ngân hàng bảo đảm được quyền lợi cho chínhbản thân mình và cho khách hàng Tài sản bảo đảm phải thoả mãn được một
Trang 13số yêu cầu cần thiết như: tài sản bảo đảm phải không có tranh chấp, có khảnăng mua bán chuyển nhượng…Về nguyên tắc, định giá tài sản bảo đảm phảitheo giá trị thị trường, nếu định giá cao hơn giá trị thị trường có thể sẽ dẫnđến khi phát mại tài sản trong trường hợp khách hàng không trả đựơc nợkhông thu hồi đủ nợ gốc, lãi và các chi phí khác Nếu định giá thấp giá trị thịtrường sẽ ảnh hưởng đến việc đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng và làmsuy yếu tính cạnh tranh trong vịêc thu hút khách hàng.
Quản lý và thụ đắc tài sản bảo đảm: Quản lý tài sản bảo đảm và các giấy
tờ có giá liên quan được hiểu là qúa trình theo dõi, kiểm tra nhằm bảo đảm tàisản và các loại giấy tờ vẫn đang trong tình trạng bình thường hoặc kịp thờiphát hiện các sự cố liên quan làm giảm giá trị của tài sản bảo đảm, các loạigiấy tờ có giá so với dự kiến nêu tại hợp đồng bảo đảm Cán bộ tín dụng làngười chịu trách nhiệm chính trong suốt quá trình quản lý tài sản bảo đảm vàcác loại tài sản liên quan Quản lý tốt tài sản bảo đảm giúp các ngân hàng theodõi, kiểm tra, đánh giá nhằm đảm bảo tài sản vẫn đang trong tình trạng bìnhthường, đồng thời ngăn chặn kịp thời các sự cố làm giảm giá trị của tài sảnbảo đảm gây thiệt hại cho ngân hàng Đối với những tài sản bảo đảm đặt dưới
sự quản lý của ngân hàng hoặc ngân hàng được pháp lụât bảo vệ để dễ dànglấy tài sản để bán thì tính chất an toàn của tài sản bảo đảm sẽ cao Trái lại,những tài sản nằm ngoài sự kiểm soát của ngân hàng thì tính an toàn của bảođảm sẽ thấp
Trường hợp tài sản bảo đảm do bên khách hàng vay, bên thứ ba, nắmgiữ, bảo quản hay sử dụng cán bộ tín dụng cần chủ động đề xuất và thực hiệnkiểm gia tài sản bảo đảm định kỳ, thu thập các loại giấy tờ khác có liên quanđến tài sản bảo đảm, chứng minh tình trạng hiện tại của tài sản bảo đảm
Trang 14Trường hợp tài sản bảo đảm do chính ngân hàng nắm giữ và bảo quản,cán bộ tín dụng chịu trách nhiệm tiến hàng thủ tục bàn giao và bảo quản tàisản theo đúng quy định của ngân hàng.
Xử lý tài sản bảo đảm: Khả năng xử lý đựơc tài sản bảo đảm với chi phí
thấp, thủ tục nhanh chóng giúp bảo đảm đựơc quỳên lợi cho ngân hàng và khách hàng cũng là một tiêu chí phản ánh chất lượng bảo đảm tiền vay Việc
xử lý tài sản bảo đảm phải được thực hiện một cách khách quan, công khai, minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịchbảo đảm, cá nhân, tổ chức có liên quan
Chỉ tiêu này được dùng để phản ánh mức độ bù đắp vốn của tài sản bảođảm,và để phản ánh chính xác, ngân hàng phải dự đoán đựơc biến động củagiá trị tài sản bảo đảm trong thời gian cho vay như hao mòn, mất giá do giáthị trường giảm cũng như phải tính trước được chi phí cho vịêc bán tài sảnbảo đảm Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ khả năng bù đắp vốn của tài sản bảođảm càng cao Tuy nhiên, nếu tỷ lệ này thấp quá sẽ gây khó khăn cho việctiếp cận nguồn vốn ngân hàng của cá nhân và các doanh nghiệp, nếu tỷ lệ nàyquá cao sẽ gây ra tình trạng mất an toàn trong hoạt động cho vay của ngânhàng khi khách hàng không có khả năng hoàn trả nợ vay
Trang 15Các ngân hàng thường cố gắng duy trì tỷ lệ này trong khoảng từ 0,5 đến0,7.
Chỉ tiêu về tỷ trọng dư nợ cho vay tín chấp so với dư nợ cho vay có tài sản bảo đảm
Dư nợ cho vay tín chấp là số tiền mà ngân hàng đã cho vay không cầntài sản bảo đảm, chỉ dựa trên uy tín của khách hàng, còn dư nợ cho vay có tàisản bảo đảm là số tiền mà ngân hàng hiện đang cho vay có đảm bảo bằng tàisản Chỉ tiêu này cho biết dư nợ cho vay tín chấp bằng bao nhiêu phần trăm sovới dư nợ cho vay có tài sản bảo đảm Theo lý thuyết, chỉ tiêu này càng thấpthì an toàn trong hoạt động của ngân hàng càng được đảm bảo, tuy nhiên ,trên thực tế, tỷ lệ giữa cho vay tín chấp và cho vay có tài sản bảo đảm lớn haynhỏ còn phụ thuộc vào chính sách, đối tượng khách hàng… của từng ngânhàng Các ngân hàng thường cố gắng duy trì tỷ lệ này khoảng 15% để đảmbảo an toàn vốn trong hoạt động của mình
Chỉ tiêu về tỷ lệ dự nợ cho vay có tài sản bảo đảm trên tổng dư nợ
Chỉ tiêu này cho biết có bao nhiêu phần trăm dư nợ của các tổ chứctín dụng được đảm bảo bằng tài sản Thông thường, tỷ lệ này càng cao thìchất lượng bảo đảm tiền vay càng tốt, tuy nhiên, việc cho vay của một NHTMkhông phải chỉ dựa vào tài sản bảo đảm mà cần quan tâm đến phương án sảnxuất kinh doanh của khách hàng Tỷ lệ này trung bình ở các ngân hàng vàokhoảng 87%
Trang 16Chỉ tiêu về giá trị tài sản thanh lý so với số nợ mất vốn khó đòi
Giá trị tài sản thanh lý so với nợ mất vốn, khó đòi
=
Giá trị tài sản thanh lý là số tiền mà ngân hàng thu được sau khi bántài sản bảo đảm và đã trừ đi các chi phí bảo quản, xử lý tài sản bảo đảm Tỷ lệnày phản ánh khả năng bù đắp rủi ro của tài sản bảm đảm, cho biết với mỗiđồng vốn bị chiếm dụng thì có thể đựơc bù đắp bao nhiều đồng bằng cách bántài sản bảo đảm, đồng thời cũng phản ánh chất lượng của công tác định giá,quán lý và xử lý tài sản của mỗi ngân hàng Đối với các ngân hàng, chỉ tiêunày bằng một là tối ưu mà các ngân hàng đang hướng tới bằng cách nâng caocông tác xử lý, định giá tài sản bảo đảm Hiện nay ở các ngân hàng tỷ lệ nàyvào khoảng 80%
Chỉ tiêu về nợ quá hạn của khoản vay không có tài sản bảo đảm so với tổng nợ quá hạn
=
Trong đó, nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng sau khi đã vay, đã đếnthời hạn trả nợ theo thoả thuận trên hợp đồng tín dụng nhưng không có khảnăng hoàn trả cho ngân hàng Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ chất lượng bảođảm tiền vay có tài sản bảo đảm của khách hàng càng tốt và ngược lại Thôngthường ở các ngân hàng hiện này, các khoản vay có tài sản bảo đảm thường
có nợ quá hạn ít hơn so với các khoản vay không có bảo đảm bằng tài sản Nợquá hạn của khoản vay có tài sản bảo đảm chỉ chiếm khoảng 20% so với tổng
dư nợ quá hạn
Trang 171.2.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng bảo đảm tiền vay
1.2.3.1.Các nhân tố thuộc về ngân hàng
Chất lượng của cán bộ tín dụng
Cán bộ tín dụng là những người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng,có ảnhhưởng rất lớn đến công tác thẩm định, định giá, quản lý và xử lý tài sản bảođảm Trình độ chuyên môn và đạo đức của cán bộ tín dụng có ảnh hưởng lớnđến chất lượng bảo đảm tiền vay Một ngân hàng có đội ngũ cán bộ tín dụnggiỏi chuyên môn, có kiến thức và kinh nghiệm, am hiểu pháp lụât thì sẽ cókhả năng đánh giá chính xác về giá trị tài sản bảo đảm, xác định được quyềnđối với tài sản bảo đảm là hợp pháp hay không Tuy nhiên, trình độ chuyênmôn thôi thì chưa đủ mà mỗi cán bộ tín dụng còn cần phải có đạo đức tốt bởitrong hoạt động ngân hàng, thường xuyên tiếp xúc với tiền nên con người rất
dễ nảy sinh lòng tham, móc nối với khách hàng để cố tình đánh giá sai giá trịtài sản bảo đảm, gây ảnh hưởng đến vịêc xử lý tài sản bảo đảm khi kháchhàng vay không có khả năng trả nợ Trên thực tế đã xảy ra nhiều trường hợpcán bộ tín dụng bị tha hoá, thông đồng với khách hàng để mưu lợi cá nhân,dẫn đến không thẩm định đầy đủ các dự án của khách hàng khi cho vay, dẫnđến tình trạng dự án không có tính khả thi trên thực tế, không có khả năng thuhồi vốn để trả nợ cho ngân hàng
Chiến lược kinh doanh và phát triển của ngân hàng trong từng thời kỳ
Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn mà các ngân hàng có chiến lược kinhdoanh và phát triển khác nhau nhằm mở rộng hay thắt chặt quy mô cho vaycủa mình Mỗi ngân hàng đều xây dựng cho mình danh mục những ngànhđược ưu tiên và khuyên khích vay vốn trong từng thời kỳ Nếu ngân hàng cómục tiêu đẩy mạnh dư nợ cho vay sẽ mở rộng danh mục tài sản bảo đảm cũngnhư mở rộng các hình thức cho vay để đáp ứng tốt hơn nhu cần vay vốn của
Trang 18khách hàng, ngược lại, nếu ngân hàng đang cần thắt chặt dư nợ cho vay nhằmtránh rủi ro cho ngân hàng trong những giai đoạn khó khăn của nền kinh tế sẽquy định chặt chẽ về tài sản bảo đảm.
Năng lực quản lý giám sát của ngân hàng
Các sai phạm xảy ra có thể là do vô ý hoặc cố ý, vịêc phát hiện các saiphạm kịp thời là vô cùng cần thiết đối với mỗi ngân hàng Hiện này, các ngânhàng thường tiến hành phân cấp tín dụng với mức phân cấp phụ thuộc vàochính sách của từng ngân hàng Với các khoản vay nhỏ có thể chỉ cần một vàicán bộ thực hiện, nhưng đối với các khoản vay lớn phải đưa lên cấp trên,thậm chí thành lập hội đồng xét duyệt Chính sách quản lý của ngân hàng tốt
sẽ giúp giảm thiểu rủi ro, nâng cao chất lượng đảm bảo tiền vay
Ngoài ra còn một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến chất lượng bảođảm tiền vay như hệ thống thông tin ngân hàng, chất lượng công tác xử lý,kiểm tra giám sát tài sản bảo đảm…
1.2.3.2 Nhân tố thuộc về phía khách hàng
Tính trung thực, chính xác của các thông tin do khách hàng cung cấp
Tư cách đạo đức của khách hàng vay có tác động lớn đến hiệu quả củabảo đảm tiền vay Những thông tin ban đầu mà ngân hàng có đựơc chủ yếu dokhách hàng cung cấp Nếu họ cố tình che đậy, thiếu trung thực trong báo cáotài chính, báo cáo kết quả kinh doanh, các chứng từ sổ sách liên quan đến vịêc
sử dụng vốn vay thì sẽ gây khó khăn cho cán bộ thẩm định cũng như khókhăn trong vịêc nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh, theo dõi, giám sát,quản lý vốn vay của khách hàng Ngược lại, nếu khách hàng trung thực, cungcấp những thông tin chính xác sẽ giúp ngân hàng lựa chọn được hình thức chovay phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay
Năng lực tài chính, trình độ quản lý của khách hàng
Trang 19Năng lực tài chính, trình độ quản lý của khách hàng vay vốn rất quantrọng ảnh hưởng đến chất lượng của công tác bảo đảm tiền vay Nếu trình độquả lý của khách hàng yếu kém, không đủ khả năng cạnh tranh trên thươngtrường sẽ dẫn đến tình trạng làm ăn thua lỗ, không đủ khả năng trả nợ chongân hàng khiến chất lượng của hoạt động bảo đảm tiền vay bị giảm sút.
1.2.3.3.Các nhân tố thuộc về môi trường
Môi trường pháp lý
Hoạt động của một ngân hàng nói chung cũng như công tác bảo đảm tiềnvay nói riêng không thể nằm ngoài những văn bản pháp lụât do Chính phủ,Ngân hàng Nhà nước và các bộ ngành có liên quan ban hành Hệ thống cácvăn bản pháp lụât về bảo đảm tiền vay có sự thống nhất, hoàn thiện và chặtchẽ sẽ là hành lang pháp lý giúp các ngân hàng thương mại thực hiện vấn đề
an toàn trong hoạt động cho vay của mình Nếu các văn bản pháp lụât chồngchéo, không phù hợp với thực tế sẽ gây khó khăn trong quá trình thực hiệncông tác bảo đảm tiền vay của các ngân hàng, khiến cho một số khách hàngdựa vào kẽ hở của pháp lụât để lừa đảo ngân hàng Vì vậy, hệ thống pháp lụâtđồng bộ và chặt chẽ là một nhân tố vô cùng quan trọng quyết định chất lượngcủa công tác bảo đảm tiền vay
Môi trường kinh tế
Ngân hàng cũng như các doanh nghiệp khác hoạt động kinh doanh trongnền kinh tế đều chịu ảnh hưởng của các biến động kinh tế Khi nền kinh tếtăng trưởng ổn định, lạm phát thấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàngtrong vịêc định giá cũng như xử lý tài sản bảo đảm của khách hàng Ngượclại, khi nền kinh tế có nhiều biến động, lạm phát ở mức cao, sản xuất kinhdoanh bị đình trệ, thua lỗ kéo dài gây khó khăn cho ngân hàng trong vịêc chovay vốn cũng như thu hồi món tiền đã cho vay, khó khăn trong việc xử lý tàisản bảo đảm…
Trang 20Các nhân tố bất khả kháng
Các nhân tố bất khả kháng như chiến tranh, thiên tai, hoả hoạn là là mối
đe doạ tiềm tàng mà khách hàng nào cũng phải đối mặt Sự tác động của cácnhân tố đôi khi gây ảnh hưởng rất nặng nề tới người vay vốn, khiến cho khảnăng trả nợ của họ bị giảm sút, gây ảnh hưởng đến chất lượng bảo đảm tiềnvay của ngân hàng
Trang 21
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN HÀ NỘI2.1 Khái quát về ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội
5 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Hà Nội
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thành lập ngày26/04/1957 theo quyết định 177/TTg của Thủ tướng chính phủ, tiền thân làNgân hàng Kiến thiết Vịêt Nam Quy mô ban đầu gồm 8 chi nhánh, 200 cán
bộ Đây là một trong bốn ngân hàng nhà nước lớn nhất, được hình thành sớmnhất và lâu đời nhất ở Vịêt Nam, là doanh nghiệp nhà nước đặc biệt được tổchức theo mô hình tổng công ty nhà nước Mục tiêu của Ngân hàng Kiến thiếtlà: “ hiệu quả, an toàn, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế”
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Kiến thiết Hà Nội (tiền thâncủa ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Hà Nội ngày nay), nằm trong
hệ thống của ngân hàng Kiến thiết Vịêt Nam (là tiền thân của ngân hàng Đầu
tư và Phát triển) được thành lập chỉ sau ngân hàng Đầu tư và Phát triển mộttháng, ngày 27/05/1957 Nhiệm vụ của ngân hàng trong thời kỳ này là nhậnvốn từ ngân sách nhà nước để tiến hành cấp phát và cho vay trong lĩnh vựcđầu tư xây dựng cơ bản Từ khi thành lập cho đến nay, trải qua hơn 50 nămxây dựng và phát triển, ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội trải qua 3 giaiđoạn phát triển:
Giai đoạn 1957-1965:
Nhiệm vụ của Chi hàng trong giai đoạn này là phục vụ công cuộc xâydựng kinh tế sau chiến tranh chống Pháp và kế hoạch năm năm lần thứ nhất
Trang 22Khi đó, mô hình tổ chức của chi nhánh Kiến thiết Hà Nội chỉ có 2 phòng làphòng cấp phát và phòng kế toán Từ năm 1957 đến năm 1960, Chi hàng đãcung ứng vốn phục vụ cho 912 công trình xây dựng các khu công nghiệp, xâydựng đường giao thông và các cơ sở hạ tầng quan trọng Để hoàn thành tốt kếhoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) chi nhánh Kiến thiết thành phố Hà Nội
đã cung ứng số vốn gấp 3 lần so với thời kỳ 1957-1960 nhằm đẩy mạnh triểnkhai xây dựng các khu công nghiệp
Tháng 9/1963, Chi hàng đã thành lập thêm 3 chi điểm phụ trách 3huyện: Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm
Giai đoạn 1965-1975:
Giai đoạn này chi hàng hoạt động nhằm phục vụ chống chiến tranh pháhoại của giặc Mỹ leo thang ra đánh phá Miền Bắc và đấu tranh giải phóngMiền Nam thống nhất Tổ quốc Trong 4 năm (1965-1968), Ngân hàng đã đầu
tư mức vốn 782 triệu với 6070 chỉ tiêu công trình và là chi hàng có mức vốnlớn nhất góp phần xây dựng thủ đô Năm 1966, chi hàng thành lập thêm chiđiểm thứ 4 phụ trách huyện Đông Anh
Từ năm 1969-1973, chi hàng đã tăng số vốn đầu tư gấp 16 lần so vớinăm 1961 và bằng cả 12 năm sau hoà bình lập lại (1957-1968)
Giai đoạn 1975 đến nay:
Giai đoạn này nhằm phục vụ công cuộc phục hồi, phát triển kinh tếtrong cả nước, hàn gắn vết thương chiến tranh
Tháng 5/1979: chi hàng kiến thiết Hà Nội đã tiếp nhận thêm chi điểmthứ 5: chi điểm Mê Linh thuộc tỉnh Vĩnh Phúc và chi điểm Sơn Tây
Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới đòi hỏi các ngân hàng phải chuyểnbiến mạnh mẽ đáp ứng tình hình mới Ngày 14/11/1990, theo quyết định số
Trang 23401, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Hà Nội được chuyển thành Ngân hàngĐầu tư và Phát triển Hà Nội và chủ yếu cung ứng vốn đầu tư những côngtrình then chốt phục vụ cho vịêc xây dựng kinh tế thủ đô.
Ngày 1/1/1995, bộ phận cấp phát vốn ngân sách tách khỏi Ngân hàngĐầu tư và Phát triển Việt Nam thành Tổng cục đầu tư và phát triển trực thuộc
Bộ Tài Chính Như vậy, từ khi thành lập cho tới 1/1/1995, Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển không hoàn toàn là một ngân hàng thương mại mà chỉ là mộtNgân hàng Quốc doanh có nhiệm vụ nhận vốn từ ngân sách Nhà nước và tiếnhành cấp phát cho vay trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng cơ bản
Và từ ngày 1/1/1995, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển nói chung, chinhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển thành phố Hà Nội mới thực sự hoạtđộng như một ngân hàng thương mại, kinh doanh đa năng tổng hợp phục vụchủ yếu trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản trong cơ chế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa Để đáp ứng tình hình mới, các ngân hàng không thểtrông chờ vào ngân sách Nhà nước mà phải mở rộng huy động các nguồn vốnngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các thành phần kinh tế, các tổ chức phiChính phủ, các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp, dân cư, các tổ chức nướcngoài để tiến hành các hoạt động cho vay ngắn, trung và dài hạn đối với mọi
tổ chức, mọi thành phần kinh tế và dân cư
6 Cơ cấu tổ chức của chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Hà Nội
Chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển thành phố Hà Nội có 23 đầumối, hơn 350 cán bộ công nhân viên Mô hình tổ chức của chi nhánh gồm:
Trang 24Sơ đồ 1: Mô hình cơ cấu tổ chức của chi nhánh
BAN GIÁM ĐỐC
Các phòng nghiệp
vụ
Các phòng chức năng
Phòng dịch vụ khách hàng cá nhân
Phòng quan hệ khách hàng 4
Sở gao dịch 1, 2, 6,
10, 11, 12, 17, 18
Phòng dịch vụ khách hàng doanh nghiệp
Phòng thanh toán quốc tế
Phòng dịch vụ và quản lỹ kho quỹ
Phòng quản lý rủi ro
Phòng quản trị tín dụng
Phòng kế hoạch tổng hợp Phòng điện toán
Phòng tài chính kế toán
Phòng tổ chức nhân sự
Văn phòng
7 Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Hà Nội những năm gần đây
2.1.3.1 Bối cảnh kinh tế xã hội
Trong nhưng năm 2005-2007, năm bản lề của kế hoạch ba năm
(2005-2007) nền kinh tế nước ta vẫn tiếp tục tăng trưởng cao, đầu tư trực tiếp nước
ngoài có nhìều khởi sắc, môi trường pháp lý đã được cải thiện đáng kể, đặc
bịêt trong lĩnh vực ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước đã có nhiều đổi mới, bổ
Trang 25sung đồng bộ các cơ chế, quy chế, áp dụng linh hoạt các công cụ chính sáchtiền tệ và điều hành tỷ giá phù hợp với cung cầu thị trường, góp phần giữ ổnđịnh giá trị đồng tiền và thúc đẩy tăng truởng kinh tế Tuy nhiên, do sự tănggiá của nhìêu mặt hàng chủ yếu như xăng dầu, sắt thép, cùng với sự biến độngthất thường của giá vàng, đồng USD…và những bất ổn về chính trị, chiếntranh vùng Vịnh, xung đột vũ trang, nạn khủng bố, cộng với tình trạng dịchcúm gia cầm và thiên tai xảy ra liên tiếp đã tác động ảnh hưởng đến tình trạngtăng trưởng kinh tế và hoạt động ngân hàng trong nước.
Đến năm 2008, nền kinh tế Việt Nam nói riêng và nền kinh tế toàn cầunói chung, đặc biệt là lĩnh vực tài chính ngân hàng đã chịu nhiều tác động tiêucực Trong những tháng đầu năm, nhằm kiềm chế lạm phát, chính sách thắtchặt tiền tệ đã được Chính phủ đưa ra: tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, yêu cầu cácngân hàng mua tín phiếu bắt buộc, kiểm soát tăng trưởng tín dụng, tăng mạnhlãi suất cơ bản (cao nhất tới 14% vào tháng 6 năm 2008) Với vịêc áp dụnghàng loạt các biện pháp thắt chặt tiền tệ, cả hệ thống NHTM Vịêt Nam đã gặpnhiều khó khăn: thiếu hụt thanh khoản kéo dài, lãi suất huy động liên tục tăngcao, có thời điểm lên đến gần lãi suất trần cho vay là 21%/năm Bên cạnh đó,chi phí đầu vào tăng cao do trượt giá cũng gây khó khăn lớn cho hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vừa làm gia tăng áp lực nợ xấu đối vớingân hàng, vừa hạn chế khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng Vào thời điểmcuối quý III, khủng hoảng tài chính toàn cầu kéo theo suy thoái kinh tế và lạmphát cao ở Mỹ và hàng loạt các quốc gia trên thế giới, nền kinh tế lại đối mặtvới nguy cơ suy thoái buộc Chính phủ phải tiến hành các giải pháp kích cầu,theo đó chính sách tiền tệ được nới lỏng, lãi suất cơ bản giảm mạnh kéo theolãi suất cho vay giảm đột ngột, tỷ giá tăng cao…
Trang 26Trước những diễn biến trái chiều từ thị trường tài chính tiền tệ, NHĐTPTchịu những ảnh hưởng không nhỏ, tuy nhiên, nhờ những quyết sách đúng đắn,chỉ đạo quyết lịêt, nhanh nhậy và kịp thời, với tinh thần chủ động sáng tạo,năng động, linh hoạt phát huy sức mạnh tập thể nên mặc dù môi trường kinhdoanh có nhiều khó khăn nhưng NHĐTPT Hà Nội đã hoàn thành toàn diệncác chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh NHĐTPT Việt Nam giao, góp phần đáp ứngnhu cầu phát triển, đổi mới của đất nước và thủ đô trên mọi lĩnh vực, giữvững vị thế chủ đạo trong lĩnh vực đầu tư và phát triển thủ đô.
2.1.3.2 Những kết quả đạt được
Hoạt động huy động vốn
Trong điều kiện cạnh tranh về huy động vốn giữa các ngân hàng diễn rahết sức quyết liệt, chi nhánh Hà Nội đã bám sát quy chế FTP và biến động lãisuất của thị trường, kết hợp với nhiều giải pháp, biện pháp linh hoạt, phù hợpnhư phối hợp chặt chẽ với ban Nguồn vốn tại Hội sở chính, phát huy các mốiquan hệ, đẩy mạnh tiếp thị khách hàng tiền gửi lớn, tăng cường chính sáchkhách hàng để đẩy mạnh công tác huy động vốn đảm bảo quy mô và tăngtrưởng nguồn vốn có hiệu quả Vì vậy, nguồn vốn huy động của chi nhánh đã
có sự tăng trưởng cao, góp phần hỗ trợ nguồn vốn trong hệ thống
Tổng nguồn vốn của chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nộiđến thời điểm 31/12/2008 là 6542,7 tỷ đồng, tăng 1422,2 tỷ đồng so với năm
2007 Trong đó nguồn tiền gửi của dân cư chiếm 18%, tăng 42% so với năm
2007 Với nguồn vốn lớn và ổn định đã tạo thế chủ động trong kinh doanh củaChi nhánh, đồng thời đóng góp không nhỏ cho nguồn vốn điều hoà chung của
hệ thống NHĐTPT Hà Nội
Trang 27Bảng 2.1: Hoạt động huy động vốn của chi nhánh
(đơn vị: tỷ đồng)
(Nguồn tổng hợp NH Đầu tư và Phát triển Hà Nội)
Năm 2008, đối với các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp lớn chuyểnhướng tham gia đầu tư mạnh vào các định chế thuộc lĩnh vực tài chính, ngânhàng, thị trường chứng khoán, đối với dân cư do lạm phát đã chuyển sang đầu
tư mạnh vào thị trường bất động sản, cộng với sự cạnh tranh lãi suất và mởrộng mạng lưới hoạt động của hệ thống các NHTM trên địa bàn, chi nhánhNHĐTPT Hà Nội vẫn giữ ổn định nguồn vốn bình quân ở mức trên 5.000 tỷđồng, thể hiện sự cố gắng rất lớn của Chi nhánh Chỉ trong vòng ba năm, từnăm 2005 đến năm 2008, nguồn vốn đã tăng 44%, tương ứng với 2588,3 tỷ,bằng 10 năm trước đó cộng lại trong đó chủ yếu là sự tăng của các tổ chức tíndụng
Hoạt động tín dụng
Trang 28Hoạt động tín dụng nhìn chung cơ bản bám sát mục tiêu chủ động tăngtrưởng, gắn tăng trưởng với kiểm soát chất lượng, đảm bảo an toàn và pháttriển các dịch vụ, chấp hành nghiêm túc giới hạn cũng như các quy định, kỷlụât cũng như các chỉ thị của NHĐTPT Việt Nam, của Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam.
Tổng dư nợ cho vay của chi nhánh đến 31/12/2008 đạt là 3588,7 tỷđồng, giảm 312,8 tỷ đồng so với năm 2006 và năm 2007 Trong đó, dư nợngắn hạn chiếm 81%, dư nợ cho vay trung dài hạn chiếm 17,6% Dư nợ tíndụng của năm 2008 giảm so với các năm trước là do chi nhánh thực hiện triệt
để các văn bản chỉ đạo của Tổng giám đốc về công tác tín dụng của năm 2008với các giải pháp kiềm chế lạm phát Quan điểm điều hành của chi nhánhtrong năm 2008 là: Chỉ xem xét giải ngân đối với những khách hàng thực sự
có tình hình tài chính lành mạnh, có phương án kinh doanh khả thi và có khảnăng chống chịu được tình hình lãi suất và tỷ giá tăng cao
Bảng 2.2: Hoạt động tín dụng của chi nhánh
(đơn vị: tỷ đồng)
Chiết khấu,cổ phiếu,thương
phiếu
20,9
Trang 29Khoanh nợ chờ xử lý 9,2 67,6
(Nguồn tổng hợp NH Đầu tư và Phát triển Hà Nội)
Thị phần tín dụng trên địa bàn là: 1,66%, giảm 0,43% so với năm 2007.Nguyên nhân của sự sụt giảm thị phần là do Chi nhánh đã tăng cường kiểmtra kiểm soát hoạt động tín dụng, đảm bảo tuân thủ giới hạn tín dụng do Ngânhàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam giao
Về chất lượng tín dụng, tổng số nợ quá hạn trên cân đối là 67,6 tý.Song nợ quá hạn thực chất là 9,2 tỷ (tăng 2,7tỷ so với năm 2007) Nguyênnhân có sự chênh lệch trên là do lỗi chương trình không chuyển ngày trả nợcủa kỳ hạn tiếp theo Tỷ lệ nợ xấu của năm 2008 là 1,15%, giảm 1,42% so vớinăm 2007 Trong đó, nợ nhóm 2 chiếm 16% (giảm 3,1%so với năm 2007), nợnhóm 3 chiếm 0,85% (giảm 0,85% so với năm 2007) nợ nhóm 4 chiếm 4% và
nó nhóm 5 chiếm 0,29% (giảm 0,61% so với năm 2007) Đây là một trongnhững nỗ lực thể hiện sự cố gắng của Chi nhánh nhằm nâng cao chất lượngtín dụng, quản trị tốt tài sản bảo đảm
Trong năm 2008, Chi nhánh đã thu hạch toán ngoại bảng được 23,7 tỷ,đạt 153% so với yêu cầu hoàn thành kế hoạch xét thi đua của năm Trong đó100% là tận thu và thu đựơc 10% nợ gốc của 2 khách hàng với tổng số tiền là
18 tỷ đồng
Nét nổi bật của hoạt động tín dụng năm 2008 là: Chất lượng tín dụng
được đảm bảo Tiếp tục phương châm “Minh bạch hoá chất lượng tín dụng, nâng cao chất lượng tăng trưởng tín dụng, đồng thời với việc định hướng phát triển tín dụng theo ngành, lĩnh vực để đưa ra các giải pháp tập trung”.
Tính minh bạch được thể hiện biện chứng trong một hệ thống thống nhất, từ
Trang 30quản lý điều hành tác nghiệp, lãi suất đến chất lượng tín dụng Chi nhánhthường xuyên thực hiện rà soát, sàng lọc khách hàng, tăng cường và khôngngừng nâng cao chất lượng thẩm định khách hàng, thực hiện nghiêm túc quytrình nghiệp vụ đảm bảo vốn tín dụng đầu tư đúng đối tượng, an toàn và hiệuquả… Đồng thời chi nhánh kiên quyết rút dần dư nợ đối với khách hàng cóbiểu hiện yếu kém về tài chính và hoạt động kém hiệu quả Cơ cấu dư nợ đãđược thay đổi theo hướng tích cực Tỷ trọng cho vay ngắn trung và dài hạntăng, tỷ trọng cho vay DNNN giảm
Hoạt động dịch vụ.
Mặc dù các hoạt động ngân hàng trong những năm gần đây gặp nhiều khó khăn, nhưng với sự nỗ lực phấn đấu, Chi nhánh đã đạt kết quả cao trong hoạt động dịch vụ Phí dịch vụ thu được đạt gần 100 tỷ đồng, tăng 52 tỷ đồng
so với năm 2007 và tăng gấp 3 lần so với năm 2006 và đạt 145% so với yêu cầu hoàn thành kế hoạch và chiếm 5,7% thị phần toàn hệ thống
Biểu đồ 2.1: Doanh thu dịch vụ qua các năm
(đơn vị:tỷ đồng)
0 10
Trang 31Nhìn chung, các loại hình dịch vụ đều đựơc Chi nhánh triển khai đầu
đủ và đều có sự tăng trưởng cao cả về doanh số và phí thu được so với các năm trước Đặc bịêt hoạt động kinh doanh ngoại tệ đã có sự tăng trưởng đột phá với doanh số mua bán ngoại tệ đối với khách hàng là 400 triệu USD, lãi kinh doanh ngoại tệ đạt 47 tỷ, chiếm 47% dịch vụ phí của Chi nhánh
Năm 2008, Chi nhánh đã thực hiện hợp đồng thanh toán lương tự động theo CT20/2007-TTCP với 94 đơn vị, mở được trên 15000 tài khoản cá nhân
Với vai trò là đầu mối tập trung thanh toán của các Chi nhánh của NHĐTPT trên địa bàn từ 1/4/2008, Chi nhánh đã thực hiện giao dịch trên
20000 chứng từ với doanh số thu chị hộ là 27164 tỷ đồng Mặc dù khối lượng giao dịch lớn, nhưng chi nhánh vẫn luôn đảm bảo kịp thời và an toàn trong mọi giao dịch đối với tất cả các Chi nhánh NHĐTPT trên địa bàn và Ngân hàng Nhà nước Hà Nội
Hoạt động ngân quỹ luôn đảm bảo an toàn với doanh số thu chi tìên mặt đạt 30250 tỷ đồng, tăng 23,6 %so với năm 2007
Ngoài ra, Chi nhánh còn thực hiện triển khai các sản phẩm dịch vụ mới như thanh toán hoá đơn EVN, bảo hiểm bancassurance, nghiệp vụ phái sinh…
Lợi nhuận hoạch toán nội bộ
Năm 2008, lợi nhuận đạt được là xấp xỉ 245 tỷ đồng, tăng 1,7 lần sonăm trước, hoàn thành 110% kế hoạch Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam giao Chi nhánh có dự lãi treo tính đến cuối năm 2008 là 16,7 tỷ, tăng 5,6 tỷ so với năm 2007 Ngân hàng đã trích đủ dự phòng rủi ro theo quy định
và dư quỹ dự phòng rủi ro là 61,5 tỷ đồng.
Với chất lượng kinh doanh cao và sự minh bạch trên tất cả các mặt hoạtđộng, có thể nói lợi nhuận Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội đạt được là
lợi nhuận “minh bạch, bền vững”.
Trang 32Biểu đồ 2.2: Lợi nhuận đạt được qua các năm (Đơn vị: tỷ đồng)
0 50
(Nguồn tổng hợp :NH Đầu tư và Phát triển Hà Nội)
Công tác qủan trị điều hành
Quán triệt nghiêm túc chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước vàNgân hàng Đầu tư và Phát triển Vịêt Nam về vịêc thực hiện chính sách thắtchặt tiền tệ Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các quy định, nguyên tắc trong chỉđạo điều hành cũng như tuân thủ theo pháp lụât trong hoạt động kinh doanh.Duy trì chế độ họp giao ban định kỳ, đột xuất của Ban Giám đốc, giữaBan Giám đốc với lãnh đạo các phòng, điểm để đánh giá, phân tích tình hìnhthực hiện nhiệm vụ kinh doanh, xác định nhiệm vụ trọng tâm tập trung vàomột số nội dung quan trọng liên quan đến nguồn vốn, tín dụng, xử lý nợ xấu,công tác dịch vụ, tổ chức cán bộ, thực hiện tiết kiệm…Chi nhánh đã lập banchỉ đạo và xây dựng chương trình thực hành tiết kiệm chống lãng phí trongtoàn chi nhánh Năm 2008, mặc dù cán bộ tăng nhưng chi phí quản lý công vụcủa chi nhánh chỉ thực hiện bằng 89% mức chi phí của năm 2007
Công tác tổ chức cán bộ, đào tạo và phát triển mạng lưới
Trang 33Chi nhánh luôn quan tâm, chú trọng đến công tác đào tạo, bồi duỡng cán
bộ trên cơ sở thực hiện đa dạng các hình thức đào tạo và áp dụng các chínhsách khuyến khích, hỗ trợ cán bộ tự học để nâng cao trình độ chuyên môn,ngoại ngữ, tin học
Tiến hành đánh giá, rà soát cán bộ và từng bước thực hiện luân chuyểncán bộ theo quy định
2.2 Thực trạng chất lượng bảo đảm tiền vay tại ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Hà Nội
8 Thực trạng chất lượng hoạt động bảo đảm tiền vay
Theo nghị định số 163/2006/NĐ-CP (gọi tắt là nghị định 163) củaChính phủ ngày 29/12/2006 về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng,trong đó vịêc tổ chức tín dụng được quyền lựa chọn, quyết định vịêc cho vay
có bảo đảm bằng tài sản, cho vay không có bảo đảm và chịu trách nhiệm củamình Quy định này đã mang lại lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng
Về cơ bản, vịêc lựa chọn phương pháp bảo đảm tiền vay ở ngân hàngĐầu tư và Phát triển Hà Nội được thực hiện theo quy định của Tổng giám đốcNHĐTPT về việc phân loại từng nhóm khách hàng cùng với chính sách kháchhàng trong từng thời kỳ, hoặc quyết định của Tổng giám đốc trong từngtrường hợp cụ thể phù hợp với quy định của pháp lụât
Thực tế cho thấy, nghị định 163 đã giúp ngân hàng chủ động hơn trongvịêc lựa chọn biện pháp bảo đảm tiền vay Nhìn chung, việc được quyền tựlựa chọn, quyết định cho vay có bảo đảm bằng tài sản, cho vay không có bảođảm đối với các NHTM trong thời gian qua không những đảm bảo tươngthích với từng loại khách hàng vay, qui mô tín dụng không ngừng tăngtrưởng, mà còn đảm bảo an toàn và phát huy hiệu quả Nhờ tính chủ độngtrong lựa chọn đã tạo điều kiện thuận lợi để Ngân hàng có quyền quyết định
Trang 34đúng đắn biện pháp bảo đảm tiền vay từ đó giúp nhiều doanh nghiệp nhànước, các tổng công ty, doanh nghiệp có qui mô hoạt động lớn vay vốn không
có tài sản bảo đảm tiết giảm được nhiều chi phí; đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhucầu vốn cho các dự án, phương án khả thi và nâng cao năng lực cạnh tranhtrên thị trường, hoặc các doanh nghiệp có tài sản bảo đảm nhưng giá trị đảmbảo thấp đã không phải bỏ lỡ các cơ hội làm ăn, phát triển sản xuất kinhdoanh (SX-KD) Tuy nhiên ở NHĐTPT Hà Nội hiện nay, vẫn còn đặt nặngyếu tố tài sản để xem xét quyết định cho vay Mặc dù ai cũng biết, tài sản bảođảm chỉ là nguồn thu thứ hai, nhưng nó rất quan trọng nếu chẳng may kháchhàng gặp rủi ro trong làm ăn, không còn khả năng thanh toán nợ, hơn nữa tìnhtrạng thiếu trung thực của khách hàng trong việc cung cấp thông tin, tài liệuđang là phổ biến Vì vậy để giảm bớt rủi ro, thời gian qua ngân hàng phần lớn
sử dụng biện pháp cho vay có tài sản bảo đảm, đặc biệt đối với những kháchhàng chưa đủ niềm tin trong quan hệ tín dụng, khách hàng mới quan hệ lầnđầu, khách hàng thuộc loại hình Công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp
tư nhân Tuy nhiên, tình trạng thiên về tài sản bảo đảm, coi đây là yếu tố quantrọng để xem xét quyết định cho vay đôi khi quá khắt khe, không những gây
ra phiền phức cho khách hàng, mà còn đánh mất cơ hội đầu tư, nhất là đối vớikhách hàng có qui mô hoạt động lớn đang cần vốn mở rộng SX-KD, kháchhàng thuộc sở hữu nhà nước có lịch sử tài chính trung bình đủ điều kiện vaykhông có bảo đảm bằng tài sản, hoặc khách hàng có tài sản nhưng do giá trịtài sản bảo đảm thấp so với nhu cầu vốn thực hiện dự án đầu tư Trong số cáctài sản mà NHĐTPT Hà Nội nhận tài sản bảo đảm thì phổ biến là quyền sửdụng đất và tài sản gắn liền với đất, một số khác là máy móc, thiết bị, phươngtiện vận tải, hàng hoá, giấy tờ có giá…
2.2.1.1.Tình hình định giá tài sản bảo đảm