Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Thu hút vốn đầu tư nhân phát triển mạng lưới tài chính vì nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Trang 1Bối cảnh nghiên cứu
Việt Nam là một nước nước nông nghiệp nghèo với trên 70% dân số làm nông nghiệp và 90% số người nghèo sống ở nông thôn, tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao Vì vậy, xóa đói, giảm nghèo là là một trong những mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam Giúp người nghèo vươn lên là một trong những nỗ lực mang tính toàn cầu Ở Việt Nam, chương trình quốc gia “Xóa đói giảm nghèo” trong hơn một thập kỷ qua được cả thế giới công nhận và khâm phục Đạt được những kết quả trên đây là sự đóng góp không nhỏ của chương trình TCVM của các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức xã hội, các cá nhân trong và ngoài nước…
Năm 2005, sự ra đời của Nghị định 28 đã chính thức công nhận TCVM là một
bộ phận của hệ thống tài chính Việt Nam Cùng với đó là sự được công nhận TCVM như một công cụ giảm nghèo hiệu quả trên thế giới Đặc biệt, sau năm
2006 đầy thành công của TCVM thế giới với việc người sáng lập ra mô hình này nhận giải thưởng Nobel Hoà Bình Và sau đó, TCVM Việt Nam đón nhận nhiều sự quan tâm sâu sắc của Chính phủ, các cơ quan ngôn luận, truyền thông đại chúng Trong năm 2007, có tới 3 nghị định bổ sung sửa đổi NĐ 28, rất nhiều chương trình phóng sự có tầm quy mô quốc gia về Tài chính vi mô nước nhà, nhiều hội thảo trong nước và quốc tế bàn về định hướng phát triển của TCVM Việt Nam trong tương lai Năm 2008, NHNN giới thiệu Nghị định
165 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của các định chế TCVM Những
sự kiện trên đã ngày càng khẳng định vai trò của TCVM trong công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam Mặc dù vậy, thị trường TCVM Việt Nam còn rất
sơ khai và chưa phát triển bằng các nước trong khu vực và trên thế giới
Bước vào năm 2009 với những thách thức lớn ở phía trước, năm 2008 chỉ tiêu
Trang 2giảm nghèo không đạt kế hoạch đề ra Cùng với đó là việc Việt Nam bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, đã khiến cho người nghèo (là người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội) gặp vô vàn những khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn; tỷ lệ người nghèo được đánh giá thông qua mức chuẩn nghèo mới đã làm cho số người nghèo trong nền kinh tế ngày càng tăng Và hơn hết, nhu cầu vay vốn của các hộ nghèo ngày càng tăng và càng vượt xa khả năng cung cấp của ngân sách nhà nước và các định chế TCVM phi chính thức Trong khi đó, nguồn vốn trong khu vực dân cư còn rất dồi dào Vì vậy, thu hút vốn đầu tư tư nhân pháp triển mạng lưới TCVM nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo trong những năm tiếp theo là một vấn đề cấp bách và mang tính chiến lược
Câu hỏi nghiên cứu
Cần làm gì để thu hút vốn đầu tư tư nhân phát triển mạng lưới tài chính vi mô
để hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam?
Để trả lời câu hỏi này cần làm rõ những vấn đề sau:
1 Tài chính vi mô là gì? Vai trò của TCVM với giảm nghèo? Tại sao phải thu hút tư nhân vào phát triển mạng lưới TCVM? Cần phải có những điều kiện nào để có thể thu hút được tư nhân vào mạng lưới TCVM?
2 Xu hướng phát triển của ngành TCVM thế giới? Kinh nghiệm nào của các nước trên thế giới có thể áp dụng khi thu hút vốn đầu tư tư nhân vào phát triển mạng lưới TCVM?
3. Thực trạng về sự phát triển của TCVM Việt Nam trong những năm gần đây?
4 Những giải pháp cho việc thu hút vốn đầu tư tư nhân vào phát triển mạng lưới TCVM nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo ở VN?
Trang 3Phương pháp nghiên cứu
• Phương pháp thống kê, phân tích tình hình, thu thập số liệu thứ cấp
• Phương pháp so sánh chuỗi, so sánh chéo để tìm ra xu thế vận động của thị trường lao động
• Phương pháp chuyên gia, trên cơ sở nhận định, đánh giá của các chuyên gia
về các mặt, các lĩnh vực của tài chính vi mô
• Phương pháp tổng hợp và phân tích, cách tiếp cận, giải quyết vấn đề dựa trên tính logic của hiện tượng kinh tế, các quy luật kinh tế và các lý thuyết kinh tế để suy luận
Đối tượng và phạm vi xử lý của đề tài
• Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về lý thuyết cũng như kinh nghiệm thực tế tốt nhất có liên quan đến thu hút vốn đầu tư tư nhân vào mạng lưới TCVM nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói, giảm nghèo
• Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động TCVM trên lãnh thổ Việt Nam và một số nước trên thế giới có ngành TCVM phát triển
Tổng quan các công trình nghiên cứu về tài chính vi mô
Cho đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu về tài chính vi mô Mỗi công trình nghiên cứu lại đi sâu vào phân tích những khía cạnh khác nhau của tài chính
vi mô, như:
1. Thúc đẩy hoạt động đào tạo TCVM ở Việt Nam ; Trần Bình Minh (2008)
2. Mở rộng tiết kiệm dịch vụ và bảo hiểm ở Việt Nam ; Bùi Tuấn (2008)
3. Thực hiện bảo hiểm thành công ở các định chế TCVM ; Nguyễn Thị
Trang 4Bích Vân (2007)
4. Hướng tới một ngành TCVM tự vững tại Việt Nam : Các vấn đề đặt ra
và thách thức; Lê Lan, Trần Như An (2005)
5. Hiệu quả và hiệu lực của TCVM ở Việt Nam ; Nghiên cứu của ADB (2006)
6. Tìm hiểu về một số cơ quan TCVM ở Việt Nam ; Hướng Dương (2006)
Những công trình nghiên cứu trên đã góp phần phát triển tài chính vi mô từ nhiều góc độ: các định chế TCVM, các sản phẩm dịch vụ của TCVM, hoạt động đào tạo của TCVM, hiệu quả và hiệu lực của TCVM… Những nghiên cứu này đã cho chúng ta thấy cái nhìn mới mẻ và đa dạng của TCVM
Tuy nhiên, nghiên cứu về “thu hút vốn đầu tư tư nhân vào phát triển mạng lưới tài chính vi mô nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói, giảm nghèo” gần như chưa có một đề tài nào của Việt Nam đề cập tới Việc nghiên cứu vấn đề này
ở Việt Nam là một việc làm cấp thiết vì tầm quan trọng và tác động của nó tới
sự phát triển của ngành TCVM Việt Nam nói chung và công cuộc xóa đói giảm nghèo nói riêng
Kết quả dự kiến và đóng góp của đề tài
1 Đưa ra khung lý thuyết về TCVM và tác động của TCVM đến XĐGN
2 Hệ thống hóa xu hướng phát triển và kinh nghiệm của các nước trên thế giới về thu hút tư nhân phát triển mạng lưới TCVM
3. Đánh giá tổng quan về thực trạng phát triển của các định chế TCVM ởViệt Nam hiện nay Đánh giá các điều kiện thu hút tư nhân phát triển mạng lưới TCVM
4. Đưa ra các giải pháp thu hút vốn đầu tư tư nhân phát triển mạng lưới TCVM nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Trang 5Kết cấu của chuyên đề
Tên đề tài: “Thu hút vốn đầu tư tư nhân phát triển mạng lưới tài chính vi
mô nhằm hỗ trợ công cuộc giảm nghèo ở Việt Nam”
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của chuyên đề gồm 3 chương được kết cấu như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tài chính vi mô và thu hút vốn đầu tư tư nhân
phát triển mạng lưới tài chính vi mô
Chương 2: Đánh giá thị trường tài chính vi mô và thực trạng thu hút tư
nhân đầu tư vào mạng lưới TCVM ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Giải pháp thu hút vốn đầu tư tư nhân phát triển mạng lưới tài
chính vi mô nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Để hoàn thành chuyên đề này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên, hướng dẫn và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, cán bộ hướng dẫn, bạn bè và gia đình Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo Th.s Vũ Cương, TS Lê Hoàng Anh cùng các chuyên viên Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp
đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề này
Tài chính vi mô là một lĩnh vực rộng và có nhiều mắt xích kết nối phức tạp Cũng như vậy, phân tích và nghiên cứu về « thu hút vốn đầu tư tư nhân phát triển mạng lưới tài chính vi mô nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam » là công việc phức tạp, đòi hỏi nhiều nỗ lực và hợp tác Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, song chuyên đề vẫn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự quan tâm và góp ý của thầy cô, bạn
Trang 6bè và các cá nhân, tổ chức quan tâm đến lĩnh vực này
Hà Nội, tháng 5 năm 2009
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB : Ngân hàng Phát triển Châu Á
BHVM : Bảo hiểm vi mô
Bộ LĐTB &XH : Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Công ty TNHH : Công ty trách nhiệm hữu hạn
CEP : Quỹ Hỗ trợ vốn cho người nghèo tự tạo việc làm Hội LHPNVN : Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
HTX : Hợp tác xã
Định chế TCVM : Định chế tài chính vi mô
NHCSXH : Ngân hàng chính sách Xã hội
NSNN : Ngân sách Nhà nước
PTKT&XH : Phát triển Kinh tế và Xã hội
DFID : Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh
Quỹ TDND : Quỹ Tín dụng Nhân dân
TCVM : Tài chính vi mô
UNCDF : Quỹ phát triển vốn Liên Hợp Quốc
Trang 8CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ
THU HÚT VỐN ĐÀU TƯ TƯ NHÂN PHÁT TRIỂN
MẠNG LƯỚI TÀI CHÍNH VI MÔ
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
Lần thứ hai
Nộp ngày 7/4/2009
Tên sinh viên: Đỗ Hồng Hạnh
Lớp: Kế hoạch 47A
Tên đề tài: Thu hút vốn đầu tư tư nhân phát triển mạng lưới tài chính vi
mô nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Bối cảnh nghiên cứu
Việt Nam là một nước nước nông nghiệp nghèo với trên 70% dân số làm nông nghiệp và 90% số người nghèo sống ở nông thôn, tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao Vì vậy, xóa đói, giảm nghèo là là một trong những mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam Giúp người nghèo vươn lên là một trong những nỗ lực mang tính toàn cầu Ở Việt Nam, chương trình quốc gia “Xóa đói giảm nghèo” trong hơn một thập kỷ qua được cả thế giới công nhận và khâm phục Để có được những kết quả trên đây, có sự đóng góp không nhỏ của các quỹ tín dụng nhỏ của các tổ chức, cá nhân, tổ chức từ thiện trong và ngoài nước
Năm 2005, sự ra đời của NĐ 28 đã chính thức công nhận TCVM là một
bộ phận của hệ thống tài chính Việt Nam Đặc biệt, sau năm 2006 đầy thành
Trang 9công của TCVM thế giới với việc người sáng lập ra mô hình này nhận giải thưởng Nobel Hoà Bình Và sau đó, TCVM Việt Nam đón nhận nhiều sự quan tâm sâu sắc của Chính phủ, các cơ quan ngôn luận, truyền thông đại chúng Trong năm 2007, có tới 3 nghị định bổ sung sửa đổi NĐ 28, rất nhiều chương trình phóng sự có tầm quy mô quốc gia về Tài chính vi mô nước nhà, nhiều hội thảo trong nước và quốc tế bàn về định hướng phát triển của TCVM Việt Nam trong tương lai Năm 2008, NHNN giới thiệu Thông tư Nghị định
28 và 165 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của các tổ chức TCVM Những sự kiện trên đã ngày càng khẳng định vai trò của TCVM trong công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam Mặc dù vậy, thị trường TCVM Việt Nam còn rất sơ khai và chưa phát triển bằng các nước trong khu vực và trên thế giới
Bước vào năm 2009 với những thách thức lớn ở phía trước, năm 2008 chỉ tiêu giảm nghèo không đạt kế hoạch đề ra Cùng với đó là việc Việt Nam
bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, đã khiến cho người nghèo (là người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội) gặp vô vàn những khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn; tỷ lệ người nghèo được đánh giá thông qua mức chuẩn nghèo mới đã làm cho số người nghèo trong nền kinh tế ngày càng tăng Và hơn hết là nhu cầu vay vốn của các hộ nghèo ngày càng tăng và càng vượt xa khả năng cung cấp của NHCSXH và các tổ chức TCVM phi chính thức Trong khi đó, nguồn vốn trong khu vực dân cư còn rất dồi dào Vì vậy, thu hút vốn đầu tư tư nhân pháp triển mạng lưới TCVM nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo trong những năm tiếp theo là một vấn đề cấp bách và mang tính chiến lược
Câu hỏi nghiên cứu
Trang 10Cần làm gì để thu hút vốn đầu tư tư nhân phát triển mạng lưới tài chính vi mô
để hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam?
Để trả lời câu hỏi này cần làm rõ những vấn đề sau:
1 Thực trạng về sự phát triển của TCVM Việt Nam trong những năm gần đây? Phân tích sâu về nhu cầu vốn của người nghèo?
2 Vai trò của TCVM nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo?
3 Thu hút vốn đầu tư tư nhân vào phát triển mạng lưới TCVM giải quyết được những vấn đề gì?
4 Kinh nghiệm nào của các nước trên thế giới có thể áp dụng khi thu hút vốn đầu tư tư nhân vào phát triển mạng lưới TCVM?
5 Những giải pháp cho việc thu hút vốn đầu tư tư nhân vào phát triển mạng lưới TCVM nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo ở VN?
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh chuỗi, so sánh chéo
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp tổng hợp và phân tích
Đối tượng và phạm vi xử lý của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về lý thuyết cũng như kinh nghiệm thực tế tốt nhất có liên quan đến thu hút vốn đầu tư tư
Trang 11nhân vào mạng lưới TCVM nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói, giảm nghèo
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động TCVM trên lãnh thổ Việt Nam
Kết quả dự kiến và đóng góp của đề tài
1 Đưa ra khung lý thuyết về TCVM và tác động của TCVM đến XĐGN
2 Đánh giá tổng quan về thực trạng phát triển của các tổ chức TCVM ở Việt Nam hiện nay
3 Hệ thống hóa kinh nghiệm của các nước trên thế giới về thu hút tư nhân phát triển mạng lưới TCVM
4 Đưa ra các giải pháp thu hút vốn đầu tư tư nhân phát triển mạng lưới TCVM nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Kết cấu dự kiến của chuyên đề
Tên đề tài: “Thu hút vốn đầu tư tư nhân phát triển mạng lưới tài chính vi
mô nhằm hỗ trợ công cuộc giảm nghèo ở Việt Nam”
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của báo cáo gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về TCVM và thu hút vốn đầu tư tư nhân phát triển mạng lưới TCVM
Chương 2: Thực trạng hoạt động TCVM và thu hút tư nhân đầu tư vào
hệ thống TCVM ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp thu hút vốn đầu tư tư nhân phát triển mạng lưới tài chính vi mô nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Trang 13Tên đề tài: Thu hút vốn đầu tư tư nhân phát triển mạng lưới tài chính vi mô nhằm hỗ trợ công cuộc giảm nghèo ở Việt Nam
1.1 Khái niệm, cơ cấu, đặc điểm của hệ thống TCVM
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Tài chính vi mô
Hiện nay tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về tài chính vi mô (TCVM):
Theo Ledgerwood Joan, TCVM được coi là một phương pháp phát triển kinh
tế nhằm mang lại lợi ích cho dân cư thu nhập thấp, thuật ngữ này đề cập đến dịch vụ tài chính cho khách hàng có thu nhập thấp bao gồm cả những đối1 tượng làm ăn cá thể, các dịch vụ tài chính bao gồm cả tiết kiệm và tín dụng2
Quan điểm khác lại cho rằng: TCVM cũng được xem như một bộ phận của tài chính nông thôn, cung cấp tài chính qua các món cho vay như là một bộ phận tài chính nông thôn, cung cấp tài chính qua các món cho vay nhỏ, tiếp nhận
1Thuật ngữ “thu nhập thấp” được sử dụng để chỉ một nhóm mục tiêu bao gồm cả người nghèo (những người đang sống dưới mức nghèo đói) và cận nghèo (những người trên mức nghèo đói một chút và rất dễ có khả năng tái nghèo)
2 Theo Ledgerwood, Joanna: Microfinance handbook: An íntitutional and financial perspective, 1998
Trang 14các khoản tiếp cận nhỏ; cung cấp sản phẩm và dịch vụ tài chính cho người nghèo Các định chế TCVM có thể được gọi là ngân hàng cho người nghèo (Usemi, 2002)
Theo định nghĩa của Ngân hàng Phát triển cChâu Á (ADB): Tài chính vi mô
là hoạt động cung cấp các dịch vụ huy động tiền gửi, các khoản cho vay quy
mô nhỏ, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và dịch vụ bảo hiểm cho người nghèo, các hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ của họ 3 Những khái niệm trên cho thấy, có thể đánh giá TCVM ở nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, định nghĩa của ADB tương đối đầy đủ và bao quát, phù hợp với đặc điểm TCVM ở Việt Nam Do vậy, trong chuyên đề này khái niệm
về TCVM của ADB sẽ được sử dụng để phân tích
1.1.1.2 Định chế tài chính vi mô
Định chế TCVMĐịnh chế TCVM là những chủ thể thực hiện việc cung cấp các dịch vụ tài chính với quy mô rất nhỏ (CGAP) :Khi nói đến định chế TCVM tức là chúng ta nói đến một loạt các tổ chức có chức năng kinh doanh cung cấp các dịch vụ TCVM như: Ngân hàng thương mại thuộc sở hữu Nhà nước và Ngân hàng Thương mại cổ phần có quy mô nhỏ, các định chế tài chính phi ngân hàng, các qQuỹ tín dụng và tiết kiệm, các tổ chức tài chính
pPhi cChính phủ, các hHợp tác xã tín dụng, các Hiệp hội tín dụng, các các tổ chức cá nhân
– thực hiện việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho người nghèo 1.1.1.3
3 Theo tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 329 , Tài chính vi mô và một số khuyến nghị đối với hoạt động TCVM
Trang 15Khách hàng tài chính vi mô
Khách hàng tài chính vi mô là những người sử dụng dịch vụ TCVM Họ là những người nghèo, hộ gia đình có thu nhập thấp, những doanh nghiệp vi mô, chủ yếu sống ở nông thôn Họ là những người tự tổ chức sản xuất kinh doanh, nếu là doanh nghiệp cũng thường là những doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ
do hộ gia đình thực hiện, các hoạt động của họ tạo ra những khoản thu nhập nhỏ, tạo điều kiện hỗ trợ cho cuộc sống hàng ngày và một phần để tích lũy đầu tư trong tương lai nếu có thể
1.1.1.4 Các sản phẩm của tài chính vi mô
Tài chính vi mô bao gồm các sản phẩm dịch vụ sau:
(i) Dịch vụ tín dụng vi mô: Tín dụng vi mô là một sản phẩm tài chính được
thiết kế phù hợp với thị trường thu nhập thấp (về quy mô khoản vay, thời hạn…, phương thức hoàn trả khoản vay, hình thức cho vay…) giúp người nghèo, người thu nhập thấp có nguồn vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ
(ii) Dịch vụ tiết kiệm vi mô: Tiết kiệm vi mô là một sản phẩm tài chính được
thiết kế phù hợp với thị trường thu nhập thấp (sự linh hoạt về quy mô khoản tiết kiệm, số lần gửi tiền, thời điểm rút tiền…) giúp người nghèo, người có thu nhập thấp chống đỡ những rủi ro bất ngờ trong cuộc sống, làm cho tiêu dùng trở nên linh hoạt hơn
(iii) Dịch vụ bảo hiểm vi mô: Bảo hiểm vi mô là một sản phẩm tài chính
được thiết kế để phù hợp với thị trường thu nhập thấp (về các điều khoản như giá cả, thời hạn, phạm vi bảo hiểm, cơ chế phân phối…), bảo vệ được cho người nghèo bằng cách giảm thiểu hậu quả tài chính của các sự kiện rủi ro,
Trang 16như ốm, hoặc chết
(iv) Dịch vụ thanh toán và chuyển tiền: Thanh toán và chuyển tiền là một
sản phẩm tài chính được thiết kế để phù hợp với thị trường thu nhập thấp (về các hình thức thanh toán, chuyển tiền…) giúp người nghèo và người có thu nhập thấp thúc đẩy các hoạt động thương mại và đầu tư
Đối với Việt Nam, ngành tài chính vi mô hiện nay đang ở giai đoạn giữa của quá trình phát triển, các loại hình dịch vụ tài chính vi mô vẫn đang trong quá trình thử nghiệm và chưa hoàn thiện Do đó, trong phạm vi chuyên đề này sẽ chỉ nghiên cứu về các dịch vụ tín dụng vi mô, tiết kiệm vi mô và bảo hiểm vi
mô
1.1.2 Cơ cấu của hệ thống TCVM
Hệ thống TCVM được chia làm 3 khu vực Mỗi khu vực có quy mô hoạt động khác nhau, chịu điều chỉnh bởi các quy định pháp luật khác nhau:
(i) Khu vực tài chính chính thức: Các ngân hàng thương mại thuộc sở hữu
Nhà nước, các ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn và đô thị, các qQuỹ
tTín dụng, các hHiệp hội tín dụng, HTX tín dụng, nngân hàng cChính sách
xXã hội
(ii) Khu vực tài chính bán chính thức: Các tổ chức Phi Chính phủ (NGO), các tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức chính trị-xã hội…
(iii) Khu vực tài chính phi chính thức: bạn bè, người thân, họ hàng và từ
Trang 17những người cho vay tư nhân, các câu lạc bộ tín dụng tự nguyện (chủ yếu thực hiện dịch vụ tiền gửi tiết kiệm và cho vay), Họ, hụi, biêu, phường
1.1.3 Đặc điểm của hệ thống TCVM
Hệ thống TCVM có những đặc điểm khác với hệ thống tài chính truyền thống nói chung Những đặc điểm này của hệ thống TCVM được gắn liền với bản chất về mặt không gian, thời gian và sự biến động của hầu hết khu vực kinh tế nông thôn:
•Mục tiêu hoạt động: Mục tiêu của tổ chức tài chính vi mô là cung cấp sản
phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng, vừa tạo ra thu nhập cho nền kinh tế, vừa cải thiện được an sinh của khách hàng
•Các định chế tài chính vi mô: là bộ phận của tài chính nói chung nhưng
lấy mục tiêu xã hội là phục vụ người nghèo, đặc biệt là những người nghèo nhất trong xã hội Tuy nhiên, các định chế tài chính vi mô không hoạt động theo phương thức phi lợi nhuận, sản phẩm dịch vụ mà các định chế TCVM cung cấp đều dựa trên nguyên tắc đảm bảo tính bền vững cho hệ thống TCVM và đảm bảo nguyên tắc thị trường trong việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tài chính
•Đối tượng phục vụ: Khách hàng của tổ chức TCVMđịnh chế TCVM là những người nghèo, người có thu nhập thấp, gặp khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn ở khu vực chính thức, không có tài sản thế chấp để đảm bảo các khoản vay, thường không có thông tin dữ liệu chính xác cho việc đầu tư của mình Và phần lớn khách hàng vay vốn là phụ nữ
•Đặc điểm của các dịch vụ TCVM: Các khoản vay, tiết kiệm, bảo hiểm, các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền đều có quy mô nhỏ, phù hợp với đặc điểm tài chính của người nghèo, người có thu nhập thấp
Trang 18•Phương thức cung cấp dịch vụ: Hình thức cho vay theo nhóm với nghĩa
vụ nợ chung Tất cả các thành viên của nhóm phải có trách nhiệm với chính phần vốn vay của mình và đồng thời chịu trách nhiệm cho các thành viên khác của nhóm Chỉ cần một trường hợp không trả nợ đúng lịch thì cả nhóm
sẽ mất quyền vay vốn Việc chia sẻ rủi ro và tự quản lý nhau giúp tăng khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ
•Em chưa biết chỗ này phải đánh giá ảnh hưởng của nó tới việc thu hút vốn đầu
tư tư nhân như thế nào Vì nếu nhìn vào những đặc điểm này thì ko tư nhân nào dám đầu tư vào TCVM Ở đây, em nêu ra để sau đó đưa ra những điều kiện để thu hút tư nhân ở bên dưới Với vốn tư nhân, vấn đề là lãi suất đủ để bù đắp chi phí và có lãi Vậy cần nhấn mạnh đến việc TCVM không có nghĩa là cho vay với lãi suất ưu đãi, mà chỉ cần tổ chức tốt và thủ tục vay vốn đơn giản thì vẫn có thể đảm bảo lãi suất thị trường Do đó, TCVM thích hợp với đầu tư tư nhân tổ chức theo các hình thức cho vay theo nhóm và giám sát lẫn nhau
1.2 Vai trò của TCVM đến xóa đói giảm nghèo
Thực tiễn cung cấp tài chính ở nhiều quốc gia trên thế giới đã chỉ ra rằng, tài chính vi mô thực sự là công cụ hữu hiệu để xóa đói giảm nghèo Tài chính vi
mô cho xóa đói giảm nghèo là dịch vụ tài chính phù hợp với đặc điểm tài chính của người nghèo
Trang 19Mỗi cá nhân và hộ gia đình là một tế bào của nền kinh tế Nếu mỗi tế bào kinh tế đó có điều kiện tiếp cận tới dịch vụ TCVM thì đó sẽ là cơ hội cho nền
Trang 20kinh tế phát triển và giảm gánh nặng cho xã hội TCVM có thể giúp người nghèo tiếp cận với nguồn vốn, phù hợp với khả năng kinh doanh mà không cần thế chấp Nó rất phù hợp với đặc điểm tài chính của người nghèo, đáp ứng được nhu cầu thiếu vốn của người nghèo
1.2.2 TCVM giúp người nghèo cách thức làm ăn phát triển hoạt đ ộố ng sản xuất kinh doanh nhỏ để cải thiện cuộc sống gia đình và vươn lên giảm nghèo bằng chính nỗ lực của bản thân họ
TCVM được sử dụng như là một công cụ nâng cao năng lực, cho phép người nghèo trực tiếp quyết định làm thế nào tốt nhất để nâng cao mức sống cho gia đình, giúp người nghèo có kinh nghiệm sản xuất, có kiến thức, kỹ năng để họ
có cơ hội làm việc tốt hơn thay vì chỉ đơn thuần dựa vào sức lao động Năng lực của người nghèo ngày càng được nâng lên góp một phần quan trọng trong tiến trình xóa đói, giảm nghèo
TCVM giúp người nghèo mở rộng hoạt động kinh tế, tăng thu nhập, xây dựng những phương án kinh doanh khả thi, tạo thêm việc làm cho xã hội, Tạo dựng được những tài sản có giá trị hơn để từ đó phát triển các doanh nghiệp vi mô, cải thiện mức thu nhập cũng như các điều kiện sống TCVM mang lại cho người nghèo những cơ hội lớn để có thể thoát nghèo
1.2.3 TCVM giúp người nghèo có khả năng phòng ngừa rủi ro tốt hơn, giảm tính dễ bị tổn thương với các cú sốc từ bên ngoài
TCVM tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ như tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm, chuyển tiền, thanh toán mà người nghèo không thể tiếp cận được từ khu vực chính thức
Các dịch vụ TCVM có khả năng bảo vệ người nghèo tránh được những khó
Trang 21khăn và rủi ro luôn tiềm ẩn trong cuộc sống hàng ngày:
• Tiết kiệm là công cụ giúp người nghèo phòng ngừa rủi ro trước những cú sốc từ bên ngoài, giảm sự bất ổn trong chi tiêu của hộ gia đình, thu nhập lớn hơn, linh hoạt hơn trong việc quản lý tài sản, giảm những tác động tiêu cực của đói nghèo
• Tín dụng là công cụ giúp người nghèo mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, (công cụ tạo việc làm và tăng thu nhập), tạo thêm thu nhập cho người nghèo, thu nhập có tính ổn định hơn
• Bảo hiểm giúp người nghèo là công cụ có giá trị trong việc quản lý rủi ro, giúp người nghèo giảm chi phí đối phó với rủi ro khi nó xảy ra và bảo vệ
hộ gia đình trước những mất mát tài chính mà họ không thể trang trải được bằng nguồn tiết kiệm, giảm được tình trạng dễ bị tổn thương và tránh tái nghèo đối phó với các rủi ro, bảo vệ tài sản do TCVM đem lại
Các sản phẩm, dịch vụ TCVM giúp người nghèo tăng thu nhập, đảm bảo an ninh tài chính, giúp ổn định mức thu nhập thất thường; đồng thời là một giải pháp đệm trong những trường hợp như đột nhiên rơi vào tình trạng bí bách, rủi ro trong kinh doanh, lũ lụt, nhà có người ốm đau, tai nạn, lao động chính
bị chết hay kinh doanh theo mùa vụ thường đẩy các gia đình nghèo vào cảnh khốn cùng
1.2.4 TCVM cung cấp một phương thức hỗ trợ hiệu quả qua đó nâng cao vị thế và quyền lực của người nghèo thông qua việc tạo điều kiện cho con người, giảm sự kỳ thị của xã hội
TCVM góp phần tạo ra sự bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ nghèo tham gia các hoạt động xã hội, nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình và
xã hội Giúp phụ nữ tham gia nhiều hơn vào các quyết định gia đình Giúp họ
Trang 22trở thành những thực thể kinh tế tích cực của nền kinh tế và hướng tới phát triển toàn diện
1.2.5 Các vai trò khác của TCVM
TCVM giúp nâng cao tri thức về tín dụng cho người nghèo Ngoài ra, TCVM giúp người vay có trách nhiệm với khoản vay, sử dụng khoản vay hiệu quả, đúng mục đích hơn nhiều so với khoản cho không TCVM giúp tăng khả năng của người nghèo tiếp cận với khu vực chính thức
(vì mục này đánh giá vai trò của TCVM đến giảm nghèo nên em nghĩ tính chất có vay có trả và tính chất hỗ trợ lẫn nhau chỉ nên để vào các vai trò khác của TCVM, liệu như thế có được ko ạ?) Điêu này tùy ý em thôi, chủ yếu để nhấn mạnh đến vai trò “cho cần câu chứ không cho cá” của TCVM, có như thế mới đảm bảo tính bền vững của hỗ trợ giảm nghèo
Bằng hình thức tín dụng theo nhóm, TCVM giúp giảm chi phí giao dịch cho
cả người cho vay lẫn người đi vay, tăng tỉ lệ thu hồi nợ, tăng khả năng huy động tiết kiệm và tạo nguồn quỹ phòng khi khẩn cấp (nhờ những ràng buộc trong nội bộ nhóm), tăng lợi thế kinh tế nhờ tăng quy mô trong việc cung cấp tín dụng
TCVM góp phần khuyến khích một số giá trị xã hội như tăng tính đoàn kết,
và tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm
TCVM giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của các thành viên trong gia đình người nghèo TCVM giúp người nghèo có thể chi tiêu nhiều hơn vào gia đình, nhà ở, dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe và giáo dục trẻ em tốt hơn
Trang 23TCVM giúp tăng khả năng của người nghèo tiếp cận với khu vực chính thức
TCVM tăng thêm việc làm và cơ hội mới cho người dân, tạo thêm công ăn việc làm cho nền kinh tế Chính ở các quốc gia đang phát triển, sự đói nghèo
và thất nghiệp là những đặc trưng cơ bản thường được nhắc đến Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp vi mô có một tiềm năng tạo ra thu nhập và việc làm cho một bộ phận lớn dân cư, đồng thời cũng tạo nên cơ sở nền tảng cho sự phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo
TCVM góp phần khuyến khích một số giá trị xã hội như tăng tính đoàn kết,
và tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm
Do vậy TCVM là công cụ đắc lực để xóa đói, giảm nghèo
Trang 24- Ở Bangladesh, các khách hàng của ủy ban phát triển nông thôn Bangladesh đã tăng chi tiêu trong gia đình lên 28% và tài sản lên 112% Thu nhập của các thành viên Grameen cao hơn 43% so với người dân nông thôn không tham gia chương trình
- Ở El Salvador, thu nhập hàng tuần của khách hàng FINCA tăng trung bình 145%
- Ở Ấn Độ, một nửa khách hàng của SHARE thoát nghèo
- Ở Ghana, 80% khách hàng của Freedom from Hunger có thêm nguồn thu nhập thứ hai so với 50% những người không phải khách hàng
- Ở Lombok, Indonesia, thu nhập trung bình các khách hàng của Bank Rakyat Indonesia tăng 112%,
và 90% hộ thoát nghèo
Hộp 1: Vai trò của tài chính vi mô đối với giảm nghèo ở một số nước
- Ở Bangladesh, các khách hàng của ủỦ y ban pP hát triển Nn ông thôn Bangladesh
đã tăng chi tiêu trong gia đình lên 28% và tài sản lên 112% Thu nhập của các thành viên Grameen cao hơn 43% so với người dân nông thôn không tham gia chương trình
- Ở El Salvador, thu nhập hàng tuần của khách hàng FINCA tăng trung bình 145%
- Ở Ấn Độ, một nửa khách hàng của SHARE thoát nghèo
- Ở Ghana, 80% khách hàng của “ Freedom from Hunger ” có thêm nguồn thu nhập thứ hai so với 50% những người không phải khách hàng
- Ở Lombok, Indonesia, thu nhập trung bình các khách hàng của Bank Rakyat
Indonesia tăng 112%, và 90% hộ thoát nghèo
Trang 25Nguồn: http://www.phuocthien.com/pt/taichinhvimo 4
Hộp : Vai trò của tài chính vi mô đối với giảm nghèo ở một số nước
1.3 Sự cần thiết phải thu hút đầu tư tư nhân vào mạng lưới TCVM
1.3.1 Xuất phát từ phía cầu
Nhu cầu của người nghèo về các sản phẩm dịch vụ TCVM ngày càng gia tăng Người nghèo, hộ gia đình có thu nhập thấp không những cần dịch vụ tài chính này mà còn sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ đó Ngoài ra, nếu họ càng hiểu biết về sản phẩm và quyền lợi về sản phẩm dịch vụ thì họ càng quan tâm tới việc mua sản phẩm Đây là cách hiệu quả để giảm tính dễ bị tổn thương của hộ nghèo và trong một phạm vi lớn hơn là đóng góp cho xóa đói giảm nghèo
1.3.2 Xuất phát từ phía cung(Nội dung của mục này em đã tự ý cắt xuống
mục “đánh giá thực trạng thị trường TCVM” ở chương 2, vì em nghĩ đánh giá
4 FINCA là một tổ chức phi chính phủ Quốc tế, hoạt động trong lĩnh vực TCVM tại Mỹ Latin, Châu Phi, Eurasia và vùng Trung Đông, cung cấp các dịch vụ TCVM cho các khách hàng có thu nhập thấp;
SHARE là một định chế TCVM cung cấp các sản phẩm TCVM và các dịch vụ hỗ trợ chủ yếu cho phụ nữ ở nông thôn Ấn Độ;
“Freedom from Hunger” là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, cung cấp các dịch vụ TCVM cho người nghèo ở Ghana
Trang 26cung cầu là thuộc về thực tế nhiều hơn, nếu để ở chương 1 thì không được hợp lý cho lắm Thầy thấy như thế có được ko ạ? Nội dung của mục này em nghĩ phải là những vấn đề mang tính lý thuyết, nhưng em chưa biết phải viết như thế nào Mong thầy góp ý thêm cho em.) Chính vì thế nên chỗ này chỉ phân tích cung cầu trên thị trường TCVM nói chung, chứ chưa nói cụ thể vào thị trường Việt Nam.
Cho Nhà nước : Giảm gánh nặng cho Nhà nước trong việc đáp ứng nhu cầu
về tín dụng cho người nghèo Giúp Nhà nước tập trung vào các lĩnh vực hỗ trợ khác cho người nghèo Thực hiện thu hút vốn đầu tư tư nhân vào phát triển mạng lưới TCVM nhằm huy động các nguồn vốn khác nhau từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước là hết sức quan trọng, góp phần bổ sung phần thiếu hụt của Ngân sách Nhà nước và của các tổ chức TCVMđịnh chế TCVM hiện hành Tư nhân tham gia vào lĩnh vực này tránh sử dụng trợ giá của Nhà nước để không sa vào hoạt động kém hiệu quả do tham nhũng, cho vay nhầm đối tượng để hưởng chênh lệch lãi suất
•
•Cho người nghèo : Thu hút tư nhân vào hoạt động TCVM sẽ bổ sung
nguồn vốn cho việc duy trì, mở rộng hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng của người nghèo, người thu nhập thấp về các sản phẩm, dịch
vụ TCVM Sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là khu vực tư nhân vào mạng lưới TCVM sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh cho hoạt động TCVM và người được hưởng lợi từ sự cạnh tranh này chính là những người nghèo Người nghèo sẽ được tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ tài chính
đa dạng hơn, phù hợp hơn với đặc điểm của người nghèo và giá cả các sản phẩm sẽ trở nên rẻ hơn, có lợi hơn cho người nghèo
Trang 27•Cho các định chế TCVM : Khi trở thành thành viên của Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO), Việt Nam phải cam kết đổi mới chính sách tài chính
và thương mại, như bãi bỏ rào cản tài chính trong nước, mở cửa nền kinh tế, đón dòng vốn và thương mại quốc tế, giảm dần sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước, thu hút nguồn vốn tư nhân vào hoạt động TCVM
Thu hút tư nhân vào hoạt động TCVM sẽ tạo ra khu vực TCVM bền vững, hoạt động theo thị trường, bao gồm các ngân hàng nhà nước, tư nhân và các định chế TCVM, hoạt động một cách chuyên nghiệp, bền vững, được liên kết với các ngân hàng chính thức thông qua các mối quan hệ thương mại Thông qua đó, nâng cao hiệu quả hoạt động TCVM của các Định chế TCVM Nhà nước cũng như tư nhân Ngăn chặn tình trạng cho vay nặng lãi ở khu vực nông thôn
1.4 Điều kiện để thu hút đầu tư tư nhân phát triển mạng lưới TCVM
Đối với các nhà đầu tư tư nhân, điều kiện tiên quyết để nhà đầu tư đó quyết định có gia nhập ngành là việc nhà đầu tư đó phải nhìn thấy lợi nhuận có được và thấy rõ được những giảm thiểu rủi trong quá trình hoạt động trong ngành Cũng giống như các ngành nghề kinh doanh khác, muốn thu hút được các nhà đầu tư tư nhân tham gia mạng lưới ngành cũng cần phải có những điều kiện cụ thể
Xuất phát từ những đặc điểm riêng có của ngành TCVM so với ngành tài chính truyền thống Nhận thấy, việc thu hút đầu tư tư nhân vào TCVM không giống như những lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường Các điều kiện
để thu hút tư nhân phát triển mạng lưới TCVM dưới đây về cơ bản vẫn được
Trang 28đánh giá dưới góc độ nhìn nhận của một nhà đầu tư tư nhân đối với những hấp dẫn mà ngành TCVM tạo ra, bên cạnh đó vẫn có những điều kiện riêng
có của TCVM
Đúng là các điều kiện mà em đưa ra trong ĐCCT lần 1 chưa đủ, em nghĩ TCVM 1 mặt cũng giống như một lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường, mặt khác nó lại có những đặc trưng rất riêng Nhưng em chưa biết cần phải có những cái gì ĐCCT lần 2 em có sửa lại Thầy xem giúp em xem
có cần bổ sung nữa ko ạ? Ở đây em mới liệt kê chứ chưa sắp xếp thứ tự ưu tiên Nếu xếp theo thứ tự ưu tiên thì em nên chọn tiêu chí nào ạ? Em nên sắp xếp theo 2 tiêu chí chính: Đảm bảo lãi suất cạnh tranh và giảm thiểu rủi ro cho đầu tư tư nhân
1.4.1 Giúp nhà đầu tư tư nhân nhìn thấy lợi nhuận do ngành tạo ra
Giúp nhà đầu tư tư nhân tạo ra doanh thu lớn từ hoạt động TCVM, như:
tăng khả năng tiếp cận của nhà đầu tư tới khách hàng bằng cách hỗ trợ về cơ
sở hạ tầng nông thôn Do hoạt động đầu tư cơ bản gắn với khách hàng ở khu vực nông thôn, vì vậy sự tăng trưởng và phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp
có ảnh hưởng một cách mạnh mẽ đến sự phát triển của hoạt động TCVM nói riêng và thị trường tài chính nông thôn nói chung Do đó, việc đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển hoạt động TCVM Sự đầu tư đầy đủ về cơ sở hạ tầng – đặc biệt là đầu tư cho thủy lợi, đường xá, điện, các dịch vụ hỗ trợ tiếp thị, phát triển kinh doanh… sẽ là điều kiện tốt để tăng sự tiếp cận của TCVM đến những khách hàng ở khu vực nông thôn
Giúp nhà đầu tư tư nhân giảm chi phí trong quá trình hoạt động, bằng (i)
cách hỗ trợ về cơ sở hạ tầng cho các hoạt động TCVM Do TCVM là một
Trang 29lĩnh vực khá mới mẻ, vì vậy các nhà đầu tư tư nhân quan tâm đến việc Chính phủ đã có những hỗ trợ nào cho các định chế TCVM xây dựng năng lực? Đó chính là những hỗ trợ thích đáng về cơ sở hạ tầng cho hoạt động TCVM Cơ
sở hạ tầng cho các hoạt động TCVM ở đây được hiểu bao gồm hệ thống thông tin, hệ thống giám sát và đánh giá đối với các định chế tài chính và thị trường, hỗ trợ liên kết giữa các chương trình tài chính tín dụng từ nhiều kênh khác nhau, hỗ trợ về huấn luyện đội ngũ cán bộ, chuyển giao công nghệ… Cơ
sở hạ tầng này được thiết lập nhằm mục đích hỗ trợ, củng cố, giảm chi phí cho việc nghiên cứu ban đầu, bảo đảm tính bền vững của các định chế TCVM, khuyến khích các định chế TCVM khu vực tư nhân tham gia vào hoạt
động TCVM Bên cạnh đó, (ii) Chính phủ cần hỗ trợ các định chế TCVM về đầu tư phát triển xã hội Sự phát triển của TCVM và mục tiêu xóa đói giảm
nghèo sẽ hỗ trợ nhau tốt hơn nếu người vay vốn có kiến thức và sự hiểu biết nhất định Điều này đặc biệt đúng đối với phụ nữ nghèo, những người nghèo
ở khu vực xa xôi hẻo lánh và các dân tộc thiểu số, chính họ là những người có nhu cầu cao đối với các dịch vụ TCVM Tuy nhiên, trình độ phát triển xã hội thấp là một hạn chế lớn đối với việc mở rộng tiếp cận dịch vụ TCVM trên cơ
sở bền vững Đầu tư về mặt xã hội, ví dụ như đào tạo thường xuyên kể cả trước và sau khi vay vốn cho người vay vốn ở khu vực nông thôn được coi là một hoạt động hết sức cần thiết vì các hoạt động này sẽ giúp nâng cao trình
độ và kỹ năng của người vay vốn, giúp họ quen dần với các hoạt động kinh doanh sinh lời Đào tạo thường xuyên được coi như một giải pháp nhằm hỗ trợ thu hồi nợ vay đầy đủ, đúng hạn đồng thời tạo điều kiện để người vay có được những kiến thức cơ bản về sản xuất kinh doanh, giảm nguy cơ thất bại trong hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, để cải thiện mức phát triển
xã hội, cần phải có sự đầu tư lớn cả về mặt tài chính cũng như nguồn nhân lực Điều này sẽ làm nản lòng nhiều cá nhân muốn đầu tư vào lĩnh vực này
Trang 30Nếu có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, sẽ giảm những cản trở khi thu hút đầu tư
tư nhân
Ngoài ra, do TCVM còn là một ngành khá mới mẻ ở Việt Nam và trên thực tế còn không ít những quan điểm khác nhau về ngành này Do vậy, thì việc xã hội hiểu rõ về TCVM cũng là một cách để giảm chi phí cho ngành (iii) Chính
phủ phải làm cho người dân và nhà đầu tư có nhận thức đúng đắn về người nghèo và về tính chất của hoạt động TCVM:
• Đói nghèo không phải là sản phẩm của người nghèo mà là sản phẩm tất yếu của tồn tại xã hội Có người cho rằng, đói nghèo là sự phủ nhận mọi quyền con người Chính cái “tồn tại xã hội” ấy là tác nhân kìm hãm xã hội phát huy khả năng làm ăn của một bộ phận cộng đồng mà đói nghèo đã ngự trị
họ Người nghèo ở Việt Nam cũng như ở các nước trên thế giới nhìn chung đều có khả năng và biết làm ăn; có tính tự trọng và mong muốn vươn lên thoát nghèo; nếu được vay vốn họ thực hiện trả nợ sòng phẳng; chỉ một bộ phận nhỏ nghèo đói do lười nhác lao động và cso thói hư tật xấu rượu chè,
cờ bạc…Đặc biệt, người nghèo ở Việt Nam phần lớn đều cần cù lao động, vượt khó khăn Một số khác nghèo khó do gặp rủi ro trong cuộc sống 5
• Người dân và nhà đầu tư nhận thức đúng đắn về tính chất của hoạt động TCVM: TCVM là một hoạt động kinh doanh tạo lợi nhuận thực sự góp phần xóa đói giảm nghèo chứ không phải là hoạt động mang tính chất từ thiện đơn thuần, không coi nó như một cơ chế có tính trợ cấp nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo Người nghèo vẫn thoát nghèo mà không cần lãi suất trợ cấp
Tính chất riêng có của TCVM so với các hoạt động tài chính thông thường
5 Tài chính vi mô, cơ hội cho người nghèo Tr.21
Trang 31khác là sự liên hệ mật thiết với chính quyền địa phương Do vậy, để giảm chi
phí cho các hoạt động của mình (iv) các định chế TCVM cần được sự ủng hộ của Chính quyền Những địa phương có chính quyền càng gần dân thì sự ủng
hộ càng cao, càng giúp hoạt động tài chính vi mô phát triển Chính quyền địa phương cùng với các TCTCVM tham gia vào đối thoại chính sách, giúp các Định chế TCVM lựa chọn khách hàng và tiếp cận các khoản vay nhỏ có lãi suất ưu đãi từ NHTMNN Do đó, càng nhận được nhiều sự ủng hộ từ phía chính quyền địa phương thì càng thu hút được nhiều nhà đầu tư tư nhân vào hoạt động TCVM
1.4 21 Những hỗ trợ của Chính phủ khi nhà đầu tư gặp rủi ro
TCVM là một ngành khá mới mẻ, do vậy, khi tham gia vào ngành này, nhà đầu tư vẫn còn những lo ngại về mức độ rủi ro Vai trò của Chính phủ ở đây
là giảm thiểu những rủi ro do ngành gây ra, từ đó các nhà đầu tư tư nhân mới
yên tâm đầu tư vào ngành này Chính phủ cần tạo ra một Kk hung pháp lý
đầy đủ, tạo môi trường khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia hoạt động tài chính vi mô
Khi đã người dân và nhà đầu tư đã có những nhận thức đúng đắn về người nghèo và về ngành TCVM, nhà đầu tư tư nhân chỉ có thể tham gia vào ngành TCVM khi nhìn thấy môi trường đầu tư thuận lợi và đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế Do vậy, một khuôn khổ pháp lý phù hợp sẽ là động cơ khuyến khích tư nhân đầu tư vào ngành này trong khi vẫn tập trung vào người nghèo Và Vvai trò của Chính phủ là tạo môi trường thuận lợi cho tài chính vi mô phát triển chứ không nên trực tiếp tham gia vào hoạt độngngành TCVM
Xây dựng các chuẩn mực cho ngành TCVM:
Trang 32- Xây dựng một chiến lược tổng thể mang tính quốc gia cho sự phát triển của ngành Các nhà đầu tư tư nhân chỉ tham gia vào ngành khi thấy được tầm nhìn chiến lược rõ ràng về sự phát triển của ngành, của tổ chức.
- X ây dựng các chuẩn mực cho ngành TCVM , bao gồm: những quy tắc, thông lệ thống nhất cho việc thực hiện thiết kế các sản phẩm, dịch vụ của TCVM Các chuẩn mực này sẽ góp phần giúp các định chế TCVM thu hút đầu tư tư nhân Xây dựng những quy tắc, thông lệ thống nhất cho việc thực hiện thiết kế dự án TCVM
- X ây dựng năng lực của các tổ chức tài chính vi mô chính thức và bán chính thức, hướng tới tính chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả
- Xây d ựng chế độ báo cáo nhằm mục đích củng cố tài chính và làm cho ngành này trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư Các định chế TCVM cần thực hiện tuân thủ chế độ kế toán trước hết là của quốc gia,
về sau là tuân thủ chế độ kế toán quốc tế Báo cáo tài chính cần được kiểm toán bởi cơ quan kiểm toán độc lập
- Tạo ra một sân chơi công bằng, mang tính thị trường với những chính sách thuận lợi và không có sự bao cấp quá mức, tiến tới xóa bỏ bao cấp
- Xây dựng khung pháp lý rõ ràng về chế độ thuế thu nhập đối với các định chế TCVM Chính phủ cần áp dụng chế độ thuế như nhau đối với các định chế TCVM tham gia trên cùng một thị trường
- Xây dựng đường lối, chính sách phù hợp khuyến khích đầu tư tư nhân phát triển mạng lưới TCVM Việc thiết lập môi trường chính sách hoạt động TCVM bền vững được coi là hết sức quan trọng, nó sẽ tạo nền tảng cho hoạt động tài chính vi mô phát triển với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế trong đó có khu vực tư nhân
Trang 33- Xây dựng những giải pháp xử lý khi có xảy ra tranh chấp, đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan
- Cải thiện môi trường đầu tư thông qua các điều chỉnh chính sách
Xây dựng khung pháp lý khuyến khích, hỗ trợ ngành TCVM phát triển bền vững
Xây dựng năng lực của các tổ chức tài chính vi mô chính thức và bán chính thức, hướng tới tính chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả
Đánh giá cao vai trò của tư nhân trong công cuộc xóa đói giảm nghèo
1.4.2 Môi trường kinh tế năng động
Mức độ của các hoạt động kinh tế và những cơ hội tại cộng đồng
là điều kiện quan trọng để có thể thu hút tư nhân tham gia vào hoạt động TCVM:
Chính sách kinh tế vĩ mô ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao để phát triển các ngành kinh tế trong đó có TCVM Tài chính vi mô đơn lẻ sẽ rất khó khăn để đạt được mục tiêu TCVM chỉ thành công và trở thành giải pháp giảm nghèo hiệu quả khi được gắn với chính sách đầu tư kinh
tế vĩ mô, hưởng lợi ích đem lại từ sự tăng trưởng kinh tế
Tình hình lãi suất biến động theo quy luật thị trường
Mức lãi suất thị trường sẽ cho phép các định chế TCVM trang trải được các chi phí hoạt động, mở rộng các dịch vụ cho vay, nộp thuế cho nhà nước, tiến hành trích lập dự phòng rủi ro với những khoản vay có vấn đề và dành được 1 phần lợi nhuận cho tích lũy Điều này cũng đồng nghĩa với việc làm thay đổi bản chất cho vay TCVM mà lâu nay nhiều người khi nhắc đến
Trang 34thường nghĩ là một hoạt động mang tính trợ cấp và từ thiện TCVM được coi là một hoạt động kinh doanh thực sự trên cơ sở cung cầu thị trường và là hoạt động có khả năng sinh lợi Đây là một yếu tố quan trọng để thu hút tư nhân tham gia lĩnh vực này
1.4.3 Được sự ủng hộ của Chính quyền
Những địa phương có chính quyền càng gần dân thì sự ủng hộ càng cao, càng giúp hoạt động tài chính vi mô phát triển Chính quyền địa phương cùng với các TCTCVM tham gia vào đối thoại chính sách, giúp các TCTCVM lựa chọn khách hàng và tiếp cận các khoản vay nhỏ có lãi suất ưu đãi từ NHTMNN Do đó, càng nhận được nhiều sự ủng hộ từ phía chính quyền địa phương thì càng thu hút được nhiều nhà đầu tư tư nhân vào hoạt động TCVM bản thân các nhà đầu tư và nhà thực hành tài chính vi mô cũng cần chỉ rõ để họ hiểu đúng và đầy đủ về hoạt động này
1.4.4 Xã hội hiểu rõ về hoạt động TCVM
Người dân và nhà đầu tư có nhận thức đúng đắn về người nghèo: Người nghèo là những người rất giỏi kinh doanh trong nền kinh tế địa phương
Họ thường là những người có nhiều năm kinh nghiệm buôn bán với những quyết tâm và hết lòng với công việc Tin vào sự hiểu biết và giỏi làm ăn của người nghèo là một điều hết sức quan trong giúp người nghèo có khả năng tiếp cận với nguồn vốn tín dụng của tư nhân
Người dân và nhà đầu tư nhận thức đúng đắn về tính chất của hoạt động TCVM: TCVM là một hoạt động kinh doanh tạo lợi nhuận thực sự góp phần xóa đói giảm nghèo chứ không phải là hoạt động mang tính chất
Trang 35từ thiện đơn thuần, không coi nó như một cơ chế có tính trợ cấp nhằm mục tiêu xóa đối giảm nghèo Người nghèo vẫn thoát nghèo mà không cần lãi suất trợ cấp
1.4.5 Có sự hỗ trợ về cơ sở hạ tầng trong hoạt động TCVM
Cơ sở hạ tầng nông thôn: Do hoạt động đầu tư cơ bản gắn với khách hàng ở
khu vực nông thôn, vì vậy sự tăng trưởng và phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp có ảnh hưởng một cách mạnh mẽ đến sự phát triển của hoạt động TCVM nói riêng và thị trường tài chính nông thôn nói chung Do đó, việc đầu
tư vào lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển hoạt động TCVM Sự đầu tư đầy đủ về cơ sở hạ tầng – đặc biệt
là đầu tư cho thủy lợi, đường xá, điện, các dịch vụ hỗ trợ tiếp thị, phát triển kinh doanh… sẽ là điều kiện tốt để giảm rủi ro, giảm chi phí đối với hoạt động TCVM và đặc biệt khuyến khích sự đầu tư của tư nhân tham gia cung cấp các dịch vụ TCVM
Cơ sở hạ tầng cho các hoạt động TCVM: Do TCVM là một lĩnh vực khá
mới mẻ, vì vậy để có thể thu hút được tư nhân tham gia hoạt động này cần có
sự hỗ trợ thích đáng về cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng cho các hoạt động TCVM ở đây được hiểu bao gồm hệ thống thông tin, hệ thống giám sát và đánh giá đối với các định chế tài chính và thị trường, hỗ trợ liên kết giữa các chương trình tài chính tín dụng từ nhiều kênh khác nhau Cơ sở hạ tầng này được thiết lập nhằm mục đích hỗ trợ, củng cố và bảo đảm tính bền vững của các định chế TCVM, khuyến khích các định chế TCVM khu vực tư nhân tham gia vào hoạt động TCVM
Hỗ trợ các định chế TCVM về đầu tư phát triển xã hội: Sự phát triển của
TCVM và mục tiêu xóa đói giảm nghèo sẽ hỗ trợ nhau tốt hơn nếu người vay
Trang 36vốn có kiến thức và sự hiểu biết nhất định Điều này đặc biệt đúng đối với phụ nữ nghèo, những người nghèo ở khu vực xa xôi hẻo lánh và các dân tộc thiểu số, chính họ là những người có nhu cầu cao đối với các dịch vụ TCVM Tuy nhiên, trình độ phát triển xã hội thấp là một hạn chế lớn đối với việc mở rộng tiếp cận dịch vụ TCVM trên cơ sở bền vững Đầu tư về mặt xã hội, ví dụ như đào tạo thường xuyên kể cả trước và sau khi vay vốn cho người vay vốn
ở khu vực nông thôn được coi là một hoạt động hết sức cần thiết vì các hoạt động này sẽ giúp nâng cao trình độ và kỹ năng của người vay vốn, giúp họ quen dần với các hoạt động kinh doanh sinh lời Đào tạo thường xuyên được coi như một giải pháp nhằm hỗ trợ thu hồi nợ vay đầy đủ, đúng hạn đồng thời tạo điều kiện để người vay có được những kiến thức cơ bản về sản xuất kinh doanh, giảm nguy cơ thất bại trong hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên,
để cải thiện mức phát triển xã hội, cần phải có sự đầu tư lớn cả về mặt tài chính cũng như nguồn nhân lực Điều này sẽ làm nản lòng nhiều cá nhân muốn đầu tư vào lĩnh vực này Nếu có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, làm giảm những cản trở khi thu hút đầu tư tư nhân
1.4 63 Nâng cao năng lực thể chế của các định chế TCVMđịnh chế TCVM
hiện có
Đối với các nhà đầu tư muốn đầu tư vào các định chế TCVM có sẵn trên thị trường thì năng lực của các định chế TCVM là điều kiện quan trọng để thu hút các nhà đầu tư Xây dựng năng lực tổ chức bền vững về tài chính và tuân theo các chuẩn mực tài chính quốc tế, thích ứng với môi trường đang thay đổi
và cung cấp những dịch vụ liên tục cho người nghèo Điều này rất quan trọng trong việc nâng cao tính minh bạch và uy tín cho các định chế TCVM; làm cho các tổ chức này có thể tiếp cận rộng rãi các nguồn vốn bên ngoài; thích ứng với môi trường đang thay đổi và cung cấp các dịch vụ cho người nghèo một cách bền vững
Trang 37Năng lực thể chế là một yếu tố ảnh hưởng đến phạm vi mở rộng tiếp cận dịch
vụ TCVM trên cơ sở bền vững tới các khách hàng tiềm năng Năng lực thể chế bao gồm:
(i) Năng lực huy động nguồn vốn
(ii) Khả năng cung ứng hàng loạt các sản phẩm và dịch vụ phù hợp với
đặc trưng và nhu cầu của các khách hàng tiềm năng
(iii) Một mạng lưới đủ mạnh với các cơ chế tiếp cận tới người nghèo một
cách tiết kiệm và hiệu quả, đặc biệt là có khả năng tiếp cận tới những người sống ở khu vực khó khăn về nguồn tài nguyên và những nơi có mật độ dân cư thấp
(iv) Có tình hình tài chính lành mạnh và cam kết đạt được sự bền vững
theo một lộ trình nhất định và hướng đến hoạt động độc lập mà không cần có sự bao cấp của Nhà nước hoặc của một tổ chức tài trợ quốc tế
(v)
Có năng lực quản lý điều hành định chế
Năng lực thế chế của các định chế TCVMđịnh chế TCVM là cơ sở đảm bảo
sự tin tưởng của các nhà đầu tư vào các định chế TCVMđịnh chế TCVM Năng lực thể chế của các định chế TCVMđịnh chế TCVM có bền vững mới
có thể thu hút được các nhà đầu tư tư nhân
1.5 Các hình thức giúp nhà đầu tư tư nhân tham gia vào mạng lưới TCVM
Trang 38(em chưa biết nên viết mục này như thế nào) Nếu chưa biết thì đưa mục này vào làm gì?
1.5.1 Khái niệm về đầu tư tư nhân
Đầu tư tư nhân là sự tham gia của cá nhân, tổ chức (có thể là một công ty, một Quỹ đầu tư…) vào một lĩnh vực, một ngành kinh doanh nào đó của nền kinh
tế nhằm tìm kiếm lợi nhuận của lĩnh vực, của ngành kinh doanh đó
1.5.2 Các hình thức giúp nhà dầu tư tư nhân tham gia vào mạng lưới TCVM
Với cách hiểu về đầu tư tư nhân như ở trên và với cách phân loại các hình thức đầu tư theo tiêu chí “đầu tư vào các định chế đang hoạt động” hoặc “đầu
tư thành lập định chế mới” thì có 2 hình thức giúp nhà đầu tư tư nhân tham gia vào mạng lưới TCVM:
Hình thức thứ nhất, đầu tư vào các định chế tài chính đang hoạt động Theo
cách này, các nhà đầu tư có thể đầu tư vào các định chế tài chính thương mại trên thị trường hiện đang cung cấp các sản phẩm dịch vụ của TCVM; hoặc đầu tư vào các định chế TCVM chính thức, chuyên cung cấp các sản phẩm dịch vụ TCVM
Cụ thể hơn, các nhà đầu tư có thể:
- Góp vốn, mua cổ phần của các công ty, chi nhánh của các định chế tài chính thương mại có cung cấp sản phẩm, dịch vụ TCVM
- Đầu tư vào các định chế TCVM hoạt động hiệu quả
Trang 39- Sát nhập, mua lại công ty, chi nhánh của các định chế TCVM
- Đầu tư vào TCVM thông qua các Quỹ đầu tư
Hình thức thứ hai, đầu tư thành lập định chế TCVM mới Theo cách này,
các nhà đầu tư sẽ góp vốn, đứng ra thành lập một định chế TCVM mới cung cấp các sản phẩm, dịch vụ của TCVM theo quy định của pháp luật
Tham gia trực tiếp vào việc tổ chức và điều hành hoạt động TCVM
- - Nhà đầu tư được góp vốn, mua cổ phần của các công ty, chi nhánh của tổ chức TCVM
- - Sát nhập, mua lại công ty, chi nhánh của các tổ chức TCVM
- - Đối với tổ chức tài chính quy mô nhỏ có vốn đầu tư nước ngoài, ngoài các điều kiện qui định như trên, thành viên góp vốn nước ngoài phải được cơ quan có thẩm quyền của nước nguyên xứ cho phép góp vốn thành lập tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam
1.5.2 Tham gia gián tiếp vào mạng lưới TCVM
- Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác
- - Đầu tư thông qua quỹ đầu tư
- Đầu tư vào các tổ chức TCVM hoạt động hiệu quả
1.6 Xu hướng phát triển của ngành TCVM và kinh nghiệm thu hút tư nhân vào mạng lưới TCVM của các nước trên thế giới
1.6.1 Xu hướng phát triển của ngành TCVM
Hoạt động TCVM tại một số thị trường TCVM trên thế giới đã đạt được những bước tiến rõ rệt trên các khía cạnh như tăng trưởng về quy mô và phát
Trang 40triển bền vững Có thể nói đây là một thành công mang tính đột phá ra khỏi khuôn mẫu của các hoạt động tài chính tín dụng truyền thống Việc cung cấp TCVM hiện nay được đặt lên hàng đầu trong chiến lược chống đói nghèo toàn cầu vì có nhiều tiềm năng to lớn trong việc tạo ra thu nhập và tăng thêm việc làm ở cấp địa phương và quốc gia.
Kinh nghiệm của các nước đang phát triển chỉ ra rằng: người nghèo không thu được lợi ích từ sự kiềm chế tài chính Trên thực tế, họ gánh chịu phần lớn cái giá của sự kiềm chế này Người ta nhận thấy, một tập hợp đầy đủ các dịch vụ tài chính cho hộ gia đình và người nghèo cũng như tất cả các thành phần kinh
tế khác phụ thuộc trước hết vào chất lượng cũng như tính hiệu quả của các trung gian tài chính, và khả năng tồn tại của các dịch vụ tài chính này, đến lượt chúng lại phụ thuộc vào sự lành mạnh của toàn bộ hệ thống tài chính Để
có thể đạt được điều này, cần tạo ra một môi trường cạnh tranh trong hoạt động TCVM, thu hút được nhiều thành phần kinh tế, tạo ra một sân chơi bình đẳng cho khu vực kinh tế tư nhân, qua đó làm tăng tính hiệu quả của các hoạt động TCVM Hoạt động TCVM trên thế giới cũng chứng minh rằng, TCVM
có khả năng sinh lời thực sự và là công cụ đắc lực xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Và thu hút tư nhân tham gia hoạt động TCVM là phù hợp với xu hướng phát triển của ngành TCVM trên toàn thế giới Tư nhân cung cấp TCVM tốt hơn Chính phủ vì tư nhân tập trung nghiên cứu và chú trọng đặc tính của người vay, tạo ra nhiều dịch vụ thích hợp hơn cho người nghèo và cam kết đạt được sự bền vững trong hoạt động TCVM Sự tiến hóa của TCVM là sự tiến hóa của tài chính thương mại Ngành tài chính vi mô thế giới đang trong giai đoạn phát triển rực rỡ với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là khu vực tư nhân
Trên thế giới ngành TCVM đã trải qua những giai đoạn phát triển sau: