LUẬN ÁN TIẾN SỸ KIẾN TRÚC NĂM 2013 Khu vực trung tâm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang có tốc độ phát triển không gian và các hoạt động xây dựng nhanh và mạnh, nhiều công trình cao ốc văn phòng, thương mại, nhà chung cư cao tầng, nhà ở chia lô v.v . xuất hiện với mật độ dày đặc, nhưng thiếu sự kiểm soát [47]. Việc phát triển cân bằng và đồng bộ khu trung tâm thành phố là mục tiêu của thành phố để phấn đấu xây dựng nơi đây thành khu trung tâm đạt chuẩn quốc tế về chất lượng sống, môi trường đô thị. Muốn đạt được mục tiêu đó, việc tăng cường kiểm soát phát triển không gian khu trung tâm là giải pháp không thể thiếu và có vị trí then chốt trong các hoạt động quản lý đô thị của thành phố. Xuất phát từ sự cần thiết đó, đề tài “Kiểm soát phát triển khu trung tâm thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập” được NCS chọn làm đề tài luận án Tiến sĩ, chuyên ngành quản lý đô thị và công trình. 2 Mục đích nghiên cứu Xây dựng mô hình kiểm soát, tổ chức bộ máy và bộ tiêu chí kiểm soát xây dựng phát triển các khu trung tâm đô thị cũng như hoàn thiện một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả của các hoạt động kiểm soát phát triển trung tâm các đô thị lớn ở Việt Nam nói chung và của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trong quá trình xây dựng phát triển trung tâm đạt chuẩn quốc tế về chất lượng cuộc sống và môi trường đô thị trong bối cảnh hội nhập quốc tế. 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là kiểm soát phát triển khu trung tâm hiện hữu của TP.HCM, trong quá trình triển khai thực hiện đồ án quy hoạch đã được phê duyệt được giới hạn ở lĩnh vực không gian vật chất – vật thể hay không gian đô thị theo quy hoạch, kế hoạch và pháp luật. Không gian đô thị là không gian bao gồm các vật thể kiến trúc đô thị (công trình kiến trúc, kỹ thuật, nghệ thuật, quảng cáo), cây xanh v.v có ảnh hưởng trực tiếp đến bộ mặt đô thị và khoảng không trong đô thị (Luật Quy hoạch đô thị).
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
Nguyễn Thanh Quang
KIỂM SOÁT PHÁT TRIỂN KHU TRUNG TÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TRÌNH
MÃ SỐ: 62.58.01.06
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS.KTS Đỗ Hậu
Hà Nội, 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác, trừ những chỗ đã ghi chú trích dẫn, tham khảo
Tác giả luận án
Nguyễn Thanh Quang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn quý báu của thầy giáo hướng dẫn: Phó giáo sư, tiến sĩ, kiến trúc sư Đỗ Hậu, người đã kiên trì, tận tâm dẫn dắt tôi trên con đường nghiên cứu khoa học từ những ngày đầu tiên
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của Khoa sau đại học, Ban giám hiệu trường Đại học kiến trúc Hà Nội, cũng như các khoa, phòng ban khác trong trường Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo, các nhà khoa học ở trong và ngoài trường đã đóng góp ý kiến quý báu trong quá trình tôi thực hiện luận án
Cuối cùng, tôi rất biết ơn sự động viên giúp đỡ, sát cánh và luôn tạo điều kiện của cha, mẹ, vợ, em trai và các con tôi để tôi hoàn thành luận án này
Hà nội, ngày 15 tháng 9 năm 2013
Nguyễn Thanh Quang
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU - 1 -
1 Tính cấp thiết của đề tài - 1 -
2 Mục đích nghiên cứu - 2 -
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 2 -
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - 3 -
5 Những đóng góp mới của luận án - 3 -
6 Kết cấu của luận án - 4 -
7 Các khái niệm cơ bản có liên quan đến nghiên cứu - 4 -
CHƯƠNG I - 9 -
TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN VÀ KIỂM SOÁT PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN KHU TRUNG TÂM HIỆN HỮU CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP - 9 -
1.1 Tổng quan tình hình phát triển không gian khu trung tâm của các đô thị lớn ở Việt Nam - 9 -
1.1.1 Khái quát tình hình phát triển các đô thị lớn - 9 -
1.1.2 Khái quát tình hình phát triển khu trung tâm các đô thị lớn - 10 -
1.2 Thực trạng phát triển không gian khu trung tâm hiện hữu của thành phố Hồ Chí Minh - 19 -
1.2.1 Khái quát chung về thành phố Hồ Chí Minh - 19 -
1.2.2 Thực trạng phát triển về không gian khu trung tâm hiện hữu - 21 -
1.2.3 Các thách thức đối với sự phát triển của Thành phố và khu trung tâm - 27 -
1.3 Thực trạng kiểm soát phát triển không gian khu trung tâm hiện hữu của Thành phố Hồ Chí Minh - 30 -
1.3.1 Các nội dung kiểm soát chủ yếu - 30 -
1.3.2 Hoạt động kiểm soát - 31 -
1.3.3 Tổ chức bộ máy kiểm soát - 34 -
1.3.4 Đánh giá chung - 37 -
1.4 Các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài - 40 - 1.4.1 Các dự án và đề tài nghiên cứu khoa học - 40 -
1.4.2 Các luận án Tiến sĩ - 41 -
Trang 51.4.3 Các luận văn Thạc sĩ - 42 -
1.5 Các vấn đề cần nghiên cứu trong luận án - 45 -
CHƯƠNG II - 46 -
NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KIỂM SOÁT VÀ KIỂM SOÁT PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN CÁC KHU TRUNG TÂM CỦA CÁC ĐÔ THỊ LỚN - 46 -
2.1 Phương pháp nghiên cứu - 46 -
2.1.1 Phương pháp chuyên gia - 46 -
2.1.2 Phương pháp xử lý thông tin, tư liệu - 46 -
2.1.3 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế - 46 -
2.1.4 Phương pháp dự báo - 47 -
2.1.5 Phương pháp so sánh - 47 -
2.2 Những cơ sở lý luận về kiểm soát phát triển không gian khu trung tâm đô thị - 47 -
2.2.1 Các chủ thể hoạt động kiểm soát - 47 -
2.2.2 Các cách thức hoạt động kiểm soát - 48 -
2.2.3 Hình thức và phương thức kiểm soát - 51 -
2.2.4 Các mô hình tổ chức hệ thống quản lý kiểm soát: - 52 -
2.3 Công cụ và cơ sở pháp lý hoạt động kiểm soát phát triển không gian đô thị và khu trung tâm đô thị - 56 -
2.3.1 Các công cụ kiểm soát - 56 -
2.3.2 Các cơ sở pháp lý - 58 -
2.3.3 Các Qui chuẩn, Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam - 63 -
2.3.4 Đồ án quy hoạch và thiết kế đô thị - 63 -
2.3.5 Các giấy phép - 64 -
2.4 Các yếu tố chủ yếu tác động đến kiểm soát phát triển không gian đô thị -
64 - 2.4.1 Các cơ chế, chính sách và hệ thống văn bản pháp luật - 64 -
2.4.2 Qui hoạch đô thị và các chuyên ngành khác - 65 -
2.4.3 Kế hoạch và tiến độ thực hiện các chương trình, dự án xây dựng - 67 - 2.4.4 Tổ chức hoạt động của Bộ máy kiểm soát - 68 -
2.4.5 Quan hệ phối hợp với các cấp, ngành liên quan - 70 -
2.4.6 Sự tham gia của cộng đồng - 70 -
2.5 Tác động của hội nhập đến phát triển và quản lý đô thị - 71 -
2.5.1 Cơ hội từ hội nhập - 71 -
Trang 62.7 Những bài học kinh nghiệm về kiểm soát và kiểm soát phát triển đô thị -
83 -
2.7.1 Kinh nghiệm nước ngoài - 83 - 2.7.2 Trong nước - 88 -
CHƯƠNG III - 92 - MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN KHU TRUNG TÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP - 92 -
3.1 Mục đích và yêu cầu xây dựng giải pháp - 92 -
3.1.1 Mục đích - 92 - 3.1.2 Yêu cầu - 93 -
3.2 Các nguyên tắc và quy trình kiểm soát phát triển không gian khu trung tâm thành phố Hồ Chí Minh - 94 -
3.2.1 Các nguyên tắc kiểm soát: - 94 - 3.2.2 Các đối tượng và quy trình kiểm soát - 99 -
3.3 Đề xuất các giải pháp kiểm soát phát triển không gian khu trung tâm hiện hữu thành phố Hồ Chí Minh - 102 -
3.3.1 Đề xuất mô hình tổ chức hệ thống kiểm soát không gian đô thị - 102
-
3.3.2 Đề xuất mô hình tổ chức bộ máy kiểm soát phát triển không gian thành phố và khu Trung tâm thành phố Hồ Chí Minh - 104 - 3.3.3 Đề xuất bộ tiêu chí kiểm soát phát triển không gian đô thị Thành phố
và khu trung tâm thành phố Hồ Chí Minh - 109 -
3.4 Hoàn thiện một số giải pháp để nâng cao hiệu quả kiểm soát phát triển không gian đô thị thành phố Hồ Chí Minh - 111 -
3.4.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật, pháp quy - 111 - 3.4.2 Đẩy mạnh lập và phê duyệt các đồ án quy hoạch và thiết kế đô thị -
113 -
3.4.3 Đổi mới và tăng cường công tác giám sát, kiểm tra và thanh tra (kiểm soát) đầu tư xây dựng phát triển đô thị - 114 -
Trang 73.4.4 Đổi mới và tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công
chức quản lý và kiểm soát phát triển đô thị - 116 -
3.4.5 Thu hút sự tham gia của các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư - 117 -
3.5 Bàn luận về các kết quả nghiên cứu - 118 -
3.5.1 Bàn luận về đề xuất mô hình tổ chức hệ thống kiểm soát phát triển không gian đô thị - 118 -
3.5.2 Bàn luận về đề xuất mô hình tổ chức bộ máy kiểm soát phát triển không gian đô thị của Thành phố và khu Trung tâm - 124 -
3.5.3 Bàn luận về đề xuất bộ tiêu chí kiểm soát phát triển không gian đô thị Thành phố và khu Trung tâm thành phố Hồ Chí Minh - 126 -
3.5.4 Bàn luận về đề xuất hoàn thiện một số giải pháp để nâng cao hiệu quả kiểm soát phát triển không gian đô thị - 127 -
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ - 133 -
Kết luận: - 133 -
Kiến nghị: - 137 -
DANH MỤC MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐẪ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ - 139 -
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 140 -
PHẦN PHỤ LỤC 148
Trang 8-DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.3 Tỷ trọng dân số đô thị của 5 thành phố trực thuộc Trung ương so
Bảng 1.4 Thống kê số lượng các vi phạm về trật tự xây dựng và trật tự đô
thị trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh các năm 2009,2010,2011 32 Bảng 3.1 Bộ tiêu chí kiểm soát phát triển đô thị Thành phố Hồ Chí Minh 109
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.2 Hiện trạng khu vực quận Hoàn Kiếm và Quận Hai Bà
Hình 1.3 Hiện trạng khu vực trung tâm quận Đống Đa, Tây Hồ -
Hình 1.16 Ranh giới hiện hữu và mở rộng của khu trung tâm thành
Hình 2.2 – 2.6 Minh họa các phân khu của khu trung tâm của TP.HCM 83 i-iii
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 0.1 Mối quan hệ giữa quản lý và kiểm soát 8
Sơ đồ 1.1 Tổ chức bộ máy thanh tra XD của TP.HCM 36
Sơ đồ 2.1 Quy trình cơ bản trong công tác thanh tra xây dựng ở TP.HCM 50
Sơ đồ 2.2 Hệ thống quản lý kiểm soát trực tuyến 52
Sơ đồ 2.3 Hệ thống quản lý kiểm soát theo chức năng 53
Sơ đồ 2.4 Hệ thống quản lý kiểm soát trực tuyến – tham mưu 54
Sơ đồ 2.5 Hệ thống quản lý kiểm soát trực tuyến – chức năng 55
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ các công tác và đối tượng của thanh tra xây dựng 101
Sơ đồ 3.2 Mô hình tổ chức hệ thống kiểm soát phát triển đô thị, thành
phố và khu trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 103
Sơ đồ 3.3 Tổ chức bộ máy kiểm soát phát triển đô thị thành phố Hồ Chí
Minh và khu trung tâm 108
Sơ đồ 3.3 Hệ thống tổ chức thanh tra xây dựng và kiểm soát phát triển
đô thị của thành phố Hồ Chí Minh 120
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế cộng với việc đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã và đang tạo ra nhiều động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế xã hội nói chung và các đô thị, nhất là khu trung tâm đô thị nước ta nói riêng Với những ưu thế vượt trội so với những khu vực khác, khu trung tâm
đô thị là địa bàn mầu mỡ hấp dẫn và thu hút nhiều nhà đầu tư vào phát triển các lĩnh vực thương mại, dịch vụ kéo theo các hoạt động xây dựng phát triển đô thị diễn ra rất sôi động, đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức, làm cho công tác quản
lý đô thị trở nên phức tạp hơn, nhiều khi vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chính quyền và các cơ quan chức năng ở địa phương, tác động phương hại đến việc sử dụng đất, đến cơ cấu chức năng và tạo lập không gian của các khu trung tâm đô thị, bộc lộ nhiều vấn đề bức xúc, hạn chế Nhiều nhà hàng, siêu thị, khách sạn, văn phòng, ngân hàng, cao ốc đã và đang được xây dựng trong khu trung tâm các đô thị lớn không có sự phù hợp với quy hoạch xây dựng làm cho không gian
đô thị trở nên chật trội, lộn xộn, chắp vá, thiếu cây xanh, giao thông ùn tắc [72]
Đó là những vấn đề đang đặt ra cho chính quyền các đô thị, nhất là các đô thị lớn trong việc kiểm soát phát triển đô thị trong bối cảnh hội nhập
Khu vực trung tâm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang có tốc độ phát triển không gian và các hoạt động xây dựng nhanh và mạnh, nhiều công trình cao ốc văn phòng, thương mại, nhà chung cư cao tầng, nhà ở chia lô v.v xuất hiện với mật độ dày đặc, nhưng thiếu sự kiểm soát [47]
Việc phát triển cân bằng và đồng bộ khu trung tâm thành phố là mục tiêu của thành phố để phấn đấu xây dựng nơi đây thành khu trung tâm đạt chuẩn quốc tế về chất lượng sống, môi trường đô thị Muốn đạt được mục tiêu đó, việc tăng cường kiểm soát phát triển không gian khu trung tâm là giải pháp không thể thiếu và có vị trí then chốt trong các hoạt động quản lý đô thị của thành phố
Trang 12Xuất phát từ sự cần thiết đó, đề tài “Kiểm soát phát triển khu trung tâm thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập” được NCS chọn làm đề tài luận án Tiến sĩ, chuyên ngành quản lý đô thị và công trình
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng mô hình kiểm soát, tổ chức bộ máy và bộ tiêu chí kiểm soát xây dựng phát triển các khu trung tâm đô thị cũng như hoàn thiện một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả của các hoạt động kiểm soát phát triển trung tâm các đô thị lớn ở Việt Nam nói chung và của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trong quá trình xây dựng phát triển trung tâm đạt chuẩn quốc tế về chất lượng cuộc sống và môi trường đô thị trong bối cảnh hội nhập quốc tế
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là kiểm soát phát triển khu trung tâm hiện hữu của TP.HCM, trong quá trình triển khai thực hiện đồ án quy hoạch đã được phê duyệt được giới hạn ở lĩnh vực không gian vật chất – vật thể hay không gian
đô thị theo quy hoạch, kế hoạch và pháp luật Không gian đô thị là không gian bao gồm các vật thể kiến trúc đô thị (công trình kiến trúc, kỹ thuật, nghệ thuật, quảng cáo), cây xanh v.v… có ảnh hưởng trực tiếp đến bộ mặt đô thị và khoảng không trong đô thị (Luật Quy hoạch đô thị)
Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian địa bàn:
Khu vực trung tâm hiện hữu của thành phố Hồ Chí Minh (được xác định theo công văn số 2940/SQHKT – QHKTT của Sở QHKT gửi Ban quản lý dự án quy hoạch xây dựng khu trung tâm thành phố Hồ Chí Minh khoảng 930 ha, bao gồm một phần đất đai của các quận 1, 3, 4 và Bình Thạnh) [38] (xem mục 1.2.2.1)
- Về thời gian:
Trang 13Đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
- Về nội dung nghiên cứu:
Bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
Tổng quan thực trạng phát triển và kiểm soát phát triển các khu trung tâm các đô thị lớn ở Việt Nam, nhất là khu trung tâm thành phố Hồ Chí Minh
Tác động của Hội nhập quốc tế đến phát triển và quản lý đô thị
Những cơ sở lý luận về kiểm soát và kiểm soát phát triển khu trung tâm đô thị
Tổng hợp những cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm soát phát triển khu trung tâm đô thị
Mô hình tổ chức hệ thống và bộ máy, bộ tiêu chí kiểm soát phát triển khu trung tâm đô thị lớn và TP Hồ Chí Minh
Một số giải pháp chủ yếu để thực hiện và nâng cao hiệu quả các hoạt động kiểm soát phát triển khu trung tâm đô thị lớn và TP Hồ Chí Minh
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa về mặt khoa học
Cụ thể hóa, bổ sung, hoàn thiện và làm phong phú thêm các vấn đề về lý luận của khoa học quản lý đô thị nói chung và kiểm soát phát triển đô thị nói riêng, trong đó có kiểm soát phát triển các khu vực trung tâm đô thị
- Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Góp phần vào việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý đô thị nói chung và kiểm soát phát triển đô thị nói riêng, trong đó có khu trung tâm
đô thị nhằm phát huy các vai trò, vị thế, chức năng của các khu trung tâm trong
đô thị trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của các
đô thị Việt Nam, cũng như phục vụ cho công tác nghiên cứu, đào tạo
5 Những đóng góp mới của luận án
- Đánh giá tình hình phát triển và khiểm soát phát triển không gian đô thị khu trung tâm hiện hữu của thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát phát triển không gian đô thị
- Đề xuất tổ chức hệ thống kiểm soát phát triển không gian đô thị thành phố
Hồ Chí Minh theo mô hình trực tuyến – chức năng, độc lập riêng và trực thuộc
Ủy ban nhân dân thành phố
- Đề xuất tổ chức bộ máy kiểm soát phát triển không gian đô thị thành phố
Hồ Chí Minh theo mô hình 3 cấp: Thành phố - Quận, Huyện – Phường, Xã trực thuộc sự quản lý hành chính của UBND cấp tương ứng
- Đề xuất Bộ tiêu chí kiểm soát phát triển không gian đô thị thành phố Hồ Chí Minh với 8 nhóm tiêu chí tiêu biểu, bao quát các hoạt động cơ bản về phát triển và khai thác sử dụng không gian đô thị
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm có 3 chương chính sau:
- Chương 1: Tổng quan về phát triển và kiểm soát phát triển khu trung tâm hiện hữu của TP HCM trong bối cảnh hội nhập
- Chương 2: Những cơ sở khoa học về kiểm soát và kiểm soát phát triển các khu trung tâm đô thị lớn
- Chương 3: Một số giải pháp kiểm soát phát triển không gian đô thị khu trung tâm TP HCM trong bối cảnh hội nhập
7 Các khái niệm cơ bản có liên quan đến nghiên cứu
a Phát triển
Theo từ điển Tiếng Việt [58], “phát triển” được giải thích là “biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” Còn “tăng trưởng” được giải thích là “lớn lên, tăng thêm về trọng lượng, kích thước…”
Theo cách giải thích đó, tăng trưởng cũng có nghĩa là phát triển ở một số phương diện, tiêu chí định lượng của các thực thể, đối tượng xem xét nghiên cứu
Trang 15Như vậy phát triển chứa phạm vi rộng hơn tăng trưởng Theo Lê Trọng Bình [2] “phát triển đô thị là quá trình làm lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của
đô thị”, còn “tăng trưởng đô thị là sự gia tăng về quy mô dân số, không gian của
đô thị v.v…” Các tác giả khác cũng có khái niệm tương tự
Theo tác giả, phát triển theo nghĩa chung nhất là làm thay đổi (hay biến đổi)
về mật “lượng” và về “chất” của các vật thể, thực thể, sự việc, vấn đề v.v… và theo đó trong một số trường hợp làm thay đổi tính chất, vị thế, vai trò, chức năng, ảnh hưởng v.v… của các vật thể, thực thể đó (chẳng hạn như phát triển đô thị) Phát triển có thể theo hướng tăng lên, tốt lên hoặc có thể theo hướng giảm
đi, xấu đi (phát triển âm, tăng trưởng âm, giảm phát v.v…)
Phát triển không gian đô thị (hay không gian khu trung tâm) là làm thay đổi hình khối, các vật thể, công trình kiến trúc, hạ tầng, cây xanh v.v… (quy mô, kích cỡ, mật độ v.v.) với chất lượng quy hoạch, kiến trúc, thiết kế đô thị, mỹ quan của các công trình, vật thể đó cũng như cảnh quan chung của không gian bao quanh, kể cả các chức năng và tiện ích sử dụng
b Kiểm soát
Theo từ điển Tiếng Việt [58], “kiểm soát” được giải thích là: “xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định” hay “đặt trong phạm vi quyền hành của mình” (thiết lập quyền lực, quyền hành của mình) Theo Đinh Văn Mậu thì “kiểm soát” là toàn bộ các hoạt động có tính chất đánh giá, dùng quyền lực bắt buộc hoặc yêu cầu thực hiện các quy định của pháp luật và các quy định, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền [35], hay “kiểm soát là phương tiện mà các cơ quan quản lý Nhà nước sử dụng mang tính quyền lực nhà nước” [59], v.v…
Theo quan điểm của tác giả: Kiểm soát là những hoạt động của các chủ thể
có thẩm quyền kiểm soát để xem xét đánh giá, phát hiện và ngăn chặn những gì sai trái với quy định, quyết định, thoả thuận… của các đối tượng bị kiểm soát để thiết lập nên quyền thế của chủ thể quản lý
Trang 16Hội nhập quốc tế thường được bắt đầu từ hội nhập về kinh tế Quá trình này được biểu hiện ở việc luân chuyển các nguồn lực từ nơi này đến nơi khác để sao cho hiệu quả sử dụng của nó cao nhất với mục đích đạt lợi nhuận tối đa Đó là các dòng luân chuyển của 4 nguồn lực kinh tế cơ bản sau đây:
- Dòng luân chuyển các hàng hóa và dịch vụ thông qua các hoạt động xuất nhập khẩu giữa các quốc gia;
- Di chuyển lao động thông qua dòng người di cư từ nơi này đến nơi khác,
từ quốc gia này đến quốc gia khác;
- Dòng vốn dịch chuyển thông qua các hoạt động đầu tư đến các quốc gia
có lợi thế về tài nguyên và nhân công giá rẻ;
- Dòng công nghệ thông qua các hoạt động nghiên cứu và phát triển quốc tế
d Khu trung tâm đô thị
Trong lý luận và thực tế quy hoạch xây dựng đô thị, tên gọi và giới hạn khu vực trung tâm đô thị hay khu trung tâm của đô thị cũng có sự khác nhau, chẳng hạn như Trung tâm đô thị (city centre, town centre); Khu vực trung tâm (Central district, Central area) hay Khu đô thị bên trong (Inner Town, Inner City) v.v và
do đó cũng có nhiều khái niệm khác nhau
Theo GS Nguyễn Thế Bá [1], “khu trung tâm đô thị có tính chất chỉ vị trí khu đất trung tâm đô thị, nơi kế thừa các di tích lịch sử hình thành đô thị, nơi có mật độ xây dựng tập trung cao về nhà ở, có trang thiết bị hiện đại với các công
Trang 17trình công cộng về hành chính, văn hóa, thương mại, dịch vụ công cộng, v.v” và
“đặc điểm cơ bản nhất của khu trung tâm đô thị là nơi luôn có không khí tấp nập, nhộn nhịp do tập trung nhiều chức năng và hệ thống công trình phục vụ công cộng của đô thị về hầu hết các mặt…, tạo nên một không khí đô hội, thậm chí hoạt động cả ngày đêm”
Theo quan điểm của tác giả, khu trung tâm đô thị là “trái tim của cơ thể sống” đô thị, là nơi biểu thị sự phát triển kinh tế – xã hội và sự phồn vinh, thịnh vượng của quốc gia và các địa phương; sự sung túc, văn minh, hiện đại của phong cách sống đô thị và cuộc sống của người dân đô thị; là nơi tập trung những tinh hoa, giá trị tinh thần và truyền thống dân tộc, là nơi hội tụ những giá trị và di sản nghệ thuật, kiến trúc, xây dựng và tổ chức cuộc sống xã hội đô thị;
là nơi đáp ứng và thỏa mãn ở mức độ toàn diện và tốt nhất những nhu cầu vật chất, văn hóa, tinh thần cho người dân đô thị và các vùng ngoại đô
e Kiểm soát phát triển không gian đô thị khu trung tâm
Khái niệm kiểm soát phát triển khu trung tâm đô thị trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này là kiểm soát phát triển không gian đô thị trong khu trung tâm
đô thị
Theo Luật Quy hoạch đô thị, không gian đô thị là không gian bao gồm các vật thể kiến trúc đô thị, cây xanh, mặt nước, v.v tạo thành bề mặt và khoảng không trong đô thị Theo đó, kiểm soát phát triển khu trung tâm là việc xem xét
để phát hiện, ngăn chặn những hoạt động xây dựng, cải tạo và khai thác sử dụng các vật thể kiến trúc (công trình kiến trúc, kỹ thuật, nghệ thuật, quảng cáo), cây xanh vườn hoa, không gian công cộng v.v sai trái so với quy định của quy hoạch, kế hoạch và pháp luật, đảm bảo không gian đô thị trung tâm phát triển trật tự kỷ cương, văn minh hiện đại và bền vững theo đúng quy hoạch, kế hoạch
và pháp luật
Theo đó, có thể phân biệt một cách tương đối giữa quản lý và kiểm soát theo sơ đồ sau về hệ thống quản lý:
Trang 18Tác động quản lý
Sơ đồ 0.1 Mối quan hệ giữa quản lý và kiểm soát
Trong đó các hoạt động quản lý tạo các cơ sở pháp lý để các chủ đầu tư thực hiện quy trình và các quy định xây dựng công trình hay khai thác sử dụng
và đó là các cơ sở để kiểm soát các chủ đầu tư có tuân thủ quy hoạch pháp luật hay không? Hoạt động kiểm soát còn phản hồi lại để hoàn thiện hoạt động quản
lý khi phát hiện có vi phạm (cấp phép sai), hoặc hoàn thiện hơn về các quy định quản lý, về đồ án quy hoạch và thiết kế đô thị v.v cho phù hợp thực tế
Hoạt động kiểm soát Hoạt động quản lý
Quan hệ phản hồi để hoàn thiện quản lý
Trang 19CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN VÀ KIỂM SOÁT PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN KHU TRUNG TÂM HIỆN HỮU CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
1.1 Tổng quan tình hình phát triển không gian khu trung tâm của các đô thị lớn ở Việt Nam
1.1.1 Khái quát tình hình phát triển các đô thị lớn
Theo quan điểm của ông Trần Ngọc Chính [13] và ông Lưu Đức Hải [12] từ năm 1999 đến năm 2010 số lượng các đô thị lớn của nước ta đã tăng từ 14 lên 24 (xem bảng 1.1 và Phụ lục 1), trong đó có 2 đô thị đặc biệt, 3 đô thị loại I trực thuộc TW, 7 đô thị loại I trực thuộc tỉnh (xem hình 1.1), 12 đô thị loại II trực thuộc tỉnh Nhóm các đô thị lớn có tốc độ tăng trưởng rất nhanh
Chỉ trong 10 năm từ 1999 đến 2010, số lượng các đô thị lớn tăng gần 2 lần (1,7) trong khi đó các đô thị trung bình chỉ tăng 1,3 lần (94/72) và các đô thị nhỏ tăng 1,16 lần (634/547) (xem bảng 1.1)
Dự báo đến năm 2015 số lượng các đô thị lớn của nước ta từ 24(2010) lên
34 (2 đô thị loại đặc biệt, 9 đô thị loại I và 23 đô thị loại II) và đến năm 2025 là
37 (3 đô thị đặc biệt 14 đô thị loại I và 20 đô thị loại II [51]
Bảng 1.1 Thống kê số lượng đô thị từ 1999-2010 của Việt Nam
Năm Số lượng đô thị ĐB Loại đô thị
Trang 20Không những số lượng các đô thị lớn tăng nhanh mà dân số của các đô thị lớn cũng tăng nhanh, nhất là các đô thị trực thuộc Trung ương (xem bảng 1.2)
Bảng 1.2 Tăng trưởng dân số của một số đô thị lớn từ 1970 – 2009
Nguồn: Niên giám thống kê và điều tra dân số các năm
Trong tổng số dân đô thị cả nước, dân số các đô thị trực thuộc TW chiếm tỷ trọng cao và có xu hướng tăng lên (Bảng 1.3)
Bảng 1.3 Tỷ trọng dân số đô thị của 5 thành phố trực thuộc TW
so với dân số đô thị cả nước năm 1999 và 2009
Nguồn: Niêm giám thống kê và điều tra dân số các năm 1999 và 2009
1.1.2 Khái quát tình hình phát triển khu trung tâm các đô thị lớn
1.1.2.1 Phát triển không gian đất đai
Trong quá trình phát triển đất đai xây dựng của đô thị (đất nội đô), đất đai khu trung tâm đô thị cũng phát triển và mở rộng quy mô, đặc biệt là trung tâm của các đô thị loại đặc biệt loại I trực thuộc TW (các trung tâm quốc gia) Nội thành mở rộng càng nhanh thì đất đai khu trung tâm đô thị tăng lên cũng càng nhanh Đó là một xu hướng tất yếu ở hầu hết các đô thị nói chung và ở các đô thị lớn nói riêng
Trang 21Trung tâm của thành phố Hà Nội trước đây bao gồm địa phận của 2 quận Ba Đình và Hoàn Kiếm, thì nay được xác định bao gồm một phần quận Hai Bà Trưng và Đống Đa, sắp tới sẽ được mở rộng theo hướng Tây, Tây Bắc bao gồm một phần đất đai của quận Tây Hồ (khu vực quanh Hồ Tây) và của quận Cầu Giấy (dọc theo đại lộ Thăng Long – Mỹ Đình (xem hình 1.2, 1.3 và 1.4)
Trung tâm của thành phố Hồ Chí Minh trước đây chỉ bao gồm 2 khu vực trung tâm là Sài Gòn và chợ Lớn (vào những năm 40 của thế kỷ trước) Đến cuối những năm 1980 trở đi, khu vực xây dựng giữa 2 trung tâm này được đô thị hóa
và nối liền với 2 khu trung tâm trên trở thành khu trung tâm thành phố Hồ Chí Minh [26] Hiện nay đất đai của trung tâm thành phố Hồ Chí Minh được xác định bao gồm đất đai quận 1, 3, 4 và quận Bình Thạnh (khoảng 930ha) [61] Trong tương lai khu trung tâm thành phố Hồ Chí Minh sẽ được mở rộng sang khu đô thị mới Thủ Thiêm [53], [54] (xem hình 1.5 và 1.6)
Trung tâm của thành phố Đà Nẵng hiện nay chủ yếu tập trung trên địa bàn quận Hải Châu Trong tương lai trung tâm thành phố sẽ mở rộng sang quận Thanh Khê và một phần của các quận lân cận như quận Sơn Trà, quận Ngũ Hành Sơn (xem hình 1.7, 1.8)
Khu trung tâm của các đô thị lớn khác cũng đang và sẽ phát triển không gian và mở rộng đất đai tương tự như trung tâm của các đô thị trình bày ở trên
Sự phát triển đất đai khu trung tâm của các đô thị lớn diễn ra nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào tiềm năng, động lực và khả năng thu hút đầu tư hay tốc độ phát triển của đô thị đó; ngoài vị trí, vai trò, chức năng của chúng trong hệ thống đô thị quốc gia và vùng lãnh thổ (hình 1.9 đến 1.12)
Trang 22Sự phát triển không gian đất đai khu trung tâm của các đô thị thường theo các hình thức chủ yếu sau đây:
- Phát triển lan toả và mở rộng xung quanh khu trung tâm cũ theo cách xây dựng tập trung (đơn tâm)
- Phát triển mở rộng theo hình vòng tròn bao quanh khu thành cổ, một khu bảo tồn hay quanh hồ nước (vòng tròn)
- Phát triển lan toả theo các trục đường dẫn vào khu trung tâm, sau đó dần lấp đầy các diện tích đất đai giữa các trục đường (hình sao)
- Phát triển các phần khu trung tâm mới, tách biệt với vị trí khu trung tâm
cũ hình thành nên các khu trung tâm chức năng riêng như hành chính, ngân hàng tài chính, thể thao v.v… (đa tâm) (hình 1.13)
Hình 1.13 Các mô hình phát triển không gian trung tâm đô thị
Nguồn: trích từ [72]
1.1.2.2 Phát triển không gian các chức năng trung tâm
Trong khu trung tâm của mỗi đô thị, dù quy mô và tính chất của các đô thị
có khác nhau, các bộ phận chức năng thường bao gồm các nhóm sau:
- Các công trình hành chính – chính trị
- Các công trình tài chính, ngân hàng
- Các công trình thương mại, dịch vụ
- Các công trình nghỉ ngơi, du lịch
- Các công trình giáo dục đào tạo
Trang 23- Các công trình văn hóa, nghệ thuật
- Các cửa hàng y tế, bảo vệ sức khoẻ
- Các công trình thể thao
- Các công trình thông tin, truyền thông
Ngoài ra trong trung tâm các đô thị còn có các công trình sau:
- Nhà ở (tuy không có chức năng trung tâm, song thường chiếm tỷ lệ lớn về đất và công trình xây dựng trung tâm)
- Các công trình giao thông hạ tầng kỹ thuật đô thị (bến tầu, nhà ga, tầu điện ngầm, trên cao, các bến bãi xe, gara, trạm và công trình phân phối điện, khí đốt, cấp nước v.v.)
- Các công trình sản xuất ít không độc hại và gây ô nhiễm chiếm ít diện tích đất xây dựng, các công trình an ninh quốc phòng v.v
Dưới sự tác động của kinh tế thị trường và xu thế hội nhập, trong khu trung tâm đô thị, các nhóm chức năng tài chính ngân hàng, thương mại dịch vụ đang
có xu hướng phát triển bành chướng, lấn át các bộ phận chức năng khác, dẫn đến mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất, mật độ diện tích sàn, tầng cao xây dựng trung bình đều cao hơn rất nhiều so với các khu vực khác của đô thị Rất nhiều các khách sạn, nhà hàng, ngân hàng, siêu thị, nhà xuất bản báo chí, viễn thông, sàn nhảy, văn phòng v.v đã chiếm lĩnh những vị trí đắc địa, thay thế dần cho các nhà ở, các công trình y tế giáo dục, v.v phá vỡ các quy hoạch và cảnh quan truyền thống khu trung tâm, cây xanh giảm thiểu chỉ còn 1-2% đất xây dựng, gây nên những bất hợp lý, sự chật trội về quy hoạch xây dựng và môi trường trong khu trung tâm Vì vậy cần phải kiểm soát chặt chẽ việc cải tạo, xây dựng các công trình kiến trúc, hạ tầng v.v trong khu trung tâm vừa tạo ra sự hài hoà cân đối trong phát triển không gian quy hoạch, kiến trúc, xây dựng; vừa bảo tồn các giá trị truyền thống và di sản của đô thị, cân bằng về môi trường sinh thái Bài học đó được rút ra từ thực trạng phát triển các khu trung tâm đô thị của các nước công nghiệp phát triển, các nước tư bản chủ nghĩa [72]
Trang 24Trong nhóm các chức năng trung tâm thì các chức năng thương mại, dịch
vụ, tài chính ngân hàng là có sự thay đổi phát triển mạnh, mở rộng qui mô đất đai và số lượng công trình Tiếp đó là các công trình y tế chăm sóc sức khoẻ, các công trình giáo dục, các công trình văn hóa nghệ thuật, bưu chính viễn thông, vui chơi giải trí Còn các công trình hành chính – chính trị thì sự phát triển không đáng kể mà chỉ xây mới, tập trung và cải tạo hiện đại hóa Ngược lại, các nhóm chức năng phi trung tâm như nhà ở và các công trình sản xuất, kho bãi, cơ sở quân sự thì sẽ dần thu hẹp lại theo chủ trương giãn dân và di chuyển các cơ sở sản xuất độc hại, chiếm nhiều diện tích xây dựng ra khỏi khu trung tâm đô thị, giành đất để cải tạo mở rộng và xây dựng mới các công trình có các chức năng trung tâm và có tiềm năng phát triển trong cơ chế thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế kinh doanh dịch vụ lớn [12]
1.1.2.3 Phát triển không gian quy hoạch, kiến trúc và xây dựng
a Về qui hoạch và kiến trúc
Tất cả các đô thị lớn đã có đồ án quy hoạch chung hoặc đồ án điều chỉnh qui hoạch chung xây dựng phát triển đô thị được cấp có thẩm quyền phê duyệt Trên
cơ sở đó các quận (đối với đô thị trực thuộc TW) đã lập qui hoạch chung, điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng quận, đã và đang được các cấp có thẩm quyền phê duyệt Qui hoạch chi tiết 1/2000 của các quận, phường cũng đã được lập và đang được xem xét điều chỉnh như ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh [62] và [45]; và nhìn chung “diện tích đất trung tâm các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng v.v… đã được phủ kín qui hoạch chi tiết 1/2000” [12], nhiều khu vực đã được lập quy hoạch chi tiết 1:500
Sau khi có Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, có thêm cấp độ Qui hoạch phân khu, [40], [30] Do các phân khu chức năng của đô thị thường không trùng lặp với địa giới hành chính của đơn vị Quận hay phường, nên để tạo sự thống nhất giữa quản lý qui hoạch phân khu và qui hoạch chung, qui hoạch chi tiết, cần phải:
Trang 25Thứ nhất điều chỉnh qui hoạch chung Quận và chi tiết Phường cho thống
nhất với nội dung của qui hoạch phân khu của đô thị
Thứ hai là phải có cơ chế, chính sách và tổ chức bộ máy quản lý kết hợp
giữa quản lý qui hoạch phân khu với qui hoạch chung của Quận hay qui hoạch chi tiết của Phường để tạo sự thống nhất giữa quản lý quy hoạch phân khu với quản lý qui hoạch theo địa giới hành chính [46]
Đồng thời trong khi lập hoàn thiện qui hoạch xây dựng các khu trung tâm đã xúc tiến nghiên cứu và bổ sung nội dung thiết kế đô thị vào trong đồ án qui hoạch để tạo cơ sở quản lý qui hoạch, kiến trúc và cấp phép xây dựng
Thực hiện qui định về nội dung của lập đồ án qui hoạch đô thị theo luật quy hoạch đô thị, ở thành phố Hà Nội đang nghiên cứu Đề án qui hoạch chi tiết và thiết kế đô thị cho 24 tuyến phố chính trong khu trung tâm (thông báo của Sở qui hoạch kiến trúc Hà Nội) Ở thành phố Hồ Chí Minh, UBND thành phố cũng đã ban hành Quy định về kiến trúc đối với nhà liền kề trong khu đô thị hiện hữu cải tạo thành phố Hồ Chí Minh [63], nhiệm vụ qui hoạch Đồ án qui hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 và lập qui chế quản lý kiến trúc một số trục đường chính
và khu trung tâm hiện hữu thành phố Hồ Chí Minh [65] Trên cơ sở đó thành phố
Hồ Chí Minh đã tổ chức lập nhiệm vụ và đồ án qui chi tiết xây dựng 1/2000 khu trung tâm hiện hữu của thành phố và đã ban hành quyết định số 516/QĐ-UBND
về phê duyệt nhiệm vụ đồ án qui hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/2000 (qui hoạch phân khu) khu trung tâm hiện hữu thành phố Hồ Chí Minh (thuộc gói
“Lập qui hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 và quy chế quản lý kiến trúc đô thị cấp 2 cho khu trung tâm hiện hữu thành phố Hồ Chí Minh) ban hành ngày 27/10/2011 [34] do công ty Nikken Sekkei Ltd (Nhật Bản) thực hiện tháng 4/2010 [39]
Đối với các khu trung tâm các đô thị lớn khác của Việt Nam, tình hình thực hiện qui hoạch, thiết kế đô thị cũng đã và đang được tiến hành tương tự như vậy Qui hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 chủ yếu được lập cho các khu trung tâm
Trang 26hành chính, khu dân cư hoặc các khu chức năng của đô thị đạt khoảng 40-70% diện tích xây dựng ở các đô thị, đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị và đầu tư của các chủ đầu tư và dân cư Qui hoạch chi tiết 1/500, tỉ lệ phủ kín đất trung tâm còn thấp
Diện mạo kiến trúc đô thị đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng tiếp thu cách lập qui hoạch hiện đại Kiến trúc nhà ở và công trình công cộng đô thị, công trình công nghiệp đã có bước chuyển biến lớn cả về mặt thiết kế kiến trúc, công nghệ thi công, vật liệu xây dựng Tâm lý, thị hiếu của người dân về chất lượng nhà ở, không gian kiến trúc, cảnh quan đô thị đã được nâng lên” [12]
b Về xây dựng
Nổi bật nhất là xây dựng, cải tạo, chỉnh trang các tuyến phố chính, các nút giao thông, các khu vực đắc địa v.v… Nhiều khách sạn, nhà ở, văn phòng cho thuê, trụ sở các Tập đoàn, Tổng công ty, Doanh nghiệp, các siêu thị nhà hàng đã
và đang xuất hiện ngày càng nhiều, thay chỗ cho các nhà mặt phố lụp xụp, thấp bé; các công trình cũ kỹ xuống cấp chất lượng dịch vụ thấp v.v… thậm chí còn chiếm các khoảng đất trống, đất cây xanh, mặt nước… hình thành nên các trung tâm hay đường phố thương mại, dịch vụ nhà hàng tiện nghi đồng bộ, hiện đại, chất lượng và thẩm mỹ kiến trúc nâng cao rõ rệt
Các nhà ở thấp tầng kiêm dịch vụ nhỏ lẻ của tư nhân được xây mới, cải tạo nâng cấp chiếm không gian hầu như hoàn toàn tầng 1, tầng 2 của các nhà ở hình ống dọc hầu như tất cả các tuyến phố trong khu trung tâm đô thị
Ngoài hình thức xây dựng cải tạo nâng cấp chỉnh trang theo tuyến phố, nhiều quần thể công trình kiến trúc của các lĩnh vực y tế, giáo dục đào tạo, hành chính, vui chơi giải trí, dịch vụ thương mại v.v được xây dựng mới hay cải tạo nâng cấp theo kiểu “xen cấy” riêng lẻ trong khu trung tâm tạo nên các điểm nhấn
về quy hoạch, kiến trúc và cảnh quan trung tâm, nhất là các chung cư cao tầng, khách sạn, văn phòng, tạo nên diện mạo mới về kiến trúc và xây dựng cho khu
Trang 27trung tâm đô thị theo hướng hiện đại, văn minh như ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh và nhiều đô thị lớn khác
Trong các công trình xây dựng mới và cải tạo, nhà ở chiếm tỷ trọng lớn Phải nói rằng nhóm công trình nhà ở được nhà nước, doanh nghiệp, đặc biệt là dân cư đầu tư nhiều nên bộ mặt tuyến phố đã có nhiều thay đổi theo hướng hiện đại Theo tài liệu [12], tỷ lệ vốn thực hiện các dự án xây dựng, cải tạo nhà ở được huy động từ nhân dân chiếm trên 60%, từ các chủ đầu tư trên 30% và từ ngân sách nhà nước dưới 10% Nhìn chung các dự án phát triển nhà ở đã xây dựng các cơ sở hạ tầng đồng bộ và chất lượng ở được cải thiện và nâng cao hơn (các khu đô thị mới, các nhà ở cải tạo nâng tầng của các khu chung cư, các nhà ở theo hình thức chia lô v.v…)
Đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp có mức độ ô nhiễm lớn, chiếm hữu đất đai nhiều, các cơ sở quân sự, doanh trại quân đội, sân bay, cầu cảng v.v… mà không nhất thiết phải ở khu trung tâm thì đều được di chuyển ra ven đô, ngoại thành, giành đất để xây dựng nhà ở hay các công trình thưong mại, dịch vụ mới Các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị trong khu trung tâm của các đô thị lớn như hệ thống giao thông, cấp thoát nước, cấp điện, chiếu sáng công cộng nhìn chung đều được cải thiện và hiện đại hóa với chất lượng, khả năng phục vụ tốt hơn Nhiều trục đường mới văn minh, hiện đại, mặt cắt rộng cảnh quan đẹp, khang trang đã và đang xuất hiện trong các khu trung tâm đô thị lớn v.v…, được công nhận là các đường phố văn minh thương mại
Đánh giá chung: Thực trạng phát triển khu trung tâm của các đô thị lớn, nhất
là các đô thị trực thuộc Trung ương, đã đạt được các kết quả cơ bản như sau:
- Nhiều khu vực trong trung tâm của các đô thị đã trở nên đẹp đẽ, khang trang và văn minh, hiện đại hơn nhưng vẫn giữ được hình ảnh không gian qui hoạch, kiến trúc có giá trị, nét đặc trưng về qui hoạch, kiến trúc và xây dựng của khu trung tâm các đô thị như các khu phố cổ, khu phố Pháp, các công trình kiến trúc, di tích, danh lam thắng cảnh, di sản văn hóa đô thị
Trang 28- Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất của các khu đất có các công trình xây dựng không phù hợp với chức năng trung tâm, ít hiệu quả kinh tế v.v trong khu trung tâm để tái phát triển trung tâm không những nâng cao giá trị kinh tế của đất xây dựng mà còn tạo được bộ mặt kiến trúc mới và không gian đô thị hiện đại cho các khu vực trong khu trung tâm đô thị
- Việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị của di sản, các công trình kiến trúc, lịch sử, văn hóa, tôn giáo v.v để được quan tâm và khai thác triệt để, đã góp phần tạo nên những đặc trưng riêng về qui hoạch, kiến truc xây dựng của mỗi đô thị, tạo các điểm nhấn không gian đô thị khu trung tâm
- Việc cải tạo nâng cấp và hiện đại hóa các công trình hạ tầng kỹ thuật ở khu trung tâm (hè đường, đèn đường, điện nước, công trình thoát nước), chỉnh trang mặt phố, quảng trường (nhà ga, bến xe, không gian công cộng, v.v), xây dựng các cầu qua sông, cầu vượt, kiên cố hóa kè đường, kè bờ hồ, bờ sông và xây dựng các công trình tiện ích v.v một mặt đã làm sống động, phong phú thêm không gian đô thị khu trung tâm, sống động thêm các hoạt động của trung tâm
đô thị và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của dân cư đô thị
Bên cạnh các kết quả kể trên, còn có những tồn tại yếu kém sau:
- Còn thiếu các cơ sở pháp lý phát triển tính đồng bộ và hiệu quả như thiếu qui hoạch chi tiết và thiết kế đô thị, thiếu điều lệ quản lý qui hoạch, kiến trúc, cảnh quan môi trường v.v nên xây dựng phát triển không gian trung tâm đô thị còn nhiều tồn tại và yếu kém Thực trang kiến trúc, xây dựng trung tâm các đô thị còn thiếu tính thống nhất, thiếu trật tự kỷ cương, thiếu đồng bộ
- Việc thiếu kiểm soát các công trình cao tầng ở một số khu vực chật hẹp trong trung tâm đô thị, ven hồ, xung quanh các không gian công cộng v.v đã dẫn đến sự quá tải hạ tầng kỹ thuật, ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, giảm bớt không gian trống, bến bãi để xe v.v và phá vỡ cảnh quan, sự hài hòa của môi
Trang 29trường, của sinh thái đô thị và không gian đô thị trong khu trung tâm Kiến trúc
đô thị chưa có định hướng rõ nét
- Không gian công cộng, cây xanh, mặt nước, vỉa hè, công viên bị suy giảm
do bị lấn chiếm gây nên sự ùn tắc, lộn xộn, chật chội không gian đô thị trung tâm, thiếu sự hài hòa giữa công trình kiến trúc (nhân tạo) và môi trường thiên nhiên (thiên tạo) Mặt khác gây nên sự nhếch nhác, ô nhiễm vỉa hè, lòng đường, mất mỹ quan đô thị, gây phương hại đến trật tự, an toàn đô thị
- Kiến trúc mặt phố thiếu sự hài hòa; các biển quảng cáo, biển hiệu lộn xộn; các tuyến đường dây điện chằng chịt, thiếu mỹ quan và an toàn cho người và phương tiện qua lại; vỉa hè bị lấn chiếm để sản xuất kinh doanh, đường bị chiếm dụng họp chợ v.v tất cả gây ấn tượng không gian đô thị khu trung tâm chưa có trật tự, văn minh, sạch đẹp ở nhiều khu vực địa bàn khu phố cũ, khu đông dân cư
- Tình trạng thi công xây dựng các công trình, nhất là hạ tầng kỹ thuật chậm tiến độ và kéo dài so với kế hoạch không những gây lãng phí kinh phí đầu tư, khai thác sử dụng mà còn gây nên tình trạng lộn xộn không gian đô thị, mỹ quan đường phố, gây khó khăn cho người và phương tiện giao thông qua lại, ô nhiễm môi trường vệ sinh đô thị v.v
1.2 Thực trạng phát triển không gian khu trung tâm hiện hữu của thành phố Hồ Chí Minh
1.2.1 Khái quát chung về thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong hai đô thị loại đặc biệt và là đô thị lớn nhất của Việt Nam (dân số) Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, giáo dục, y tế, du lịch v.v… có vị trí hàng đầu trong cả nước; là đầu mối giao lưu quốc tế, một trung tâm công nghiệp dịch
vụ, tài chính ngân hàng, thương mại của khu vực Đông Nam Á, có tiềm lực kinh
tế - xã hội mạnh nhất so với các tỉnh, thành phố thuộc TW trong cả nước (hình 1.14)
Trang 30Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích là 2.075,06 km2, bao gồm có 19 quận
và 5 huyện ngoại thành Đất khu vực nội thành 494,01km2, chiếm 23,81% tổng diện tích của thành phố Dân số của thành phố Hồ Chí Minh tính đến ngày 1/4/2009 là 7.162.846 người, mật độ dân số toàn thành phố là 3.419 người/km2 Dân số khu nội thành là 5.881.511 người, mật độ dân số khu nội thành là 11.906 người/km2
[12] Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đứng thứ 2 về tỷ lệ đô thị hóa (83,2% là dân số đô thị) và chỉ đứng sau thành phố Đà Nẵng (86,9%) (phụ lục 3)
Dự báo đến năm 2025, dân số của thành phố Hồ Chí Minh sẽ tăng lên khoảng 10 triệu người, khách vãng lai và tạm trú (dưới 6 tháng) khoảng 2,5 triệu người [54]
Với trên 300 năm hình thành và phát triển, Thành phố Hồ Chí Minh luôn khẳng định là đô thị có tốc độ tăng trưởng và qui mô dân số nhanh và lớn nhất trong các đô thị trực thuộc Trung Ương (xem bảng 1.1), là đô thị có tốc độ đô thị hóa nhanh nhất nhì trong cả nước (thông qua tỷ lệ dân số khu vực thành thị đạt 70,6% (tương đương 2,54 triệu người) vào năm 1985, thì đã tăng lên 74,2% (tương đương 3,25 triệu người) năm 1993 và 83,2% (tương đương 5,93 triệu người) năm 2009) (Số liệu điều tra dân số các năm)
Về kinh tế - xã hội, văn hóa, khoa học công nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh
có vị trí quan trọng hàng đầu trong cả nước, là thành phố có tiềm lực kinh tế -
xã hội mạnh nhất so với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, là một trung tâm lớn đa chức năng, có đội ngũ chất xám dồi dào, với các ngành công nghiệp kỹ thuật cao, các sản phẩm có hàm lượng khoa học kỹ thuật chiếm tỷ trọng lớn, có các loại dịch vụ hiện đại v.v Không những thế, trong quá trình phát triển, Thành phố Hồ Chí Minh luôn có sự vượt trội và đứng đầu về nhiều mặt Thành phố được xác định là hạt nhân kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (xem hình 1.15) và cũng là một động lực quan trọng cho công cuộc
Trang 31phát triển kinh tế - xã hội của địa bàn Nam Bộ và cả nước theo chiến lược CNH – HĐH
Với khoảng 7% dân số của cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh đã đóng góp trên 20% GDP của cả nước và là đầu tầu quan trọng tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư, tạo nguồn thu cho ngân sách và giải quyết tốt các vấn đề an sinh, xã hội, GDP bình quân đầu người đạt khoảng gấp 3 lần mức bình quân của cả nước Vị trí vai trò của Thành phố Hồ Chí Minh đã được khẳng định tại Nghị quyết 01-NG/NV của Bộ chính trị ngày 14 tháng 09 năm 1982 “Thành phố Hồ Chí Minh
là một trung tâm kinh tế lớn, một trung tâm giao dịch quốc tế và du lịch lớn của
cả nước ta, có vị trí chính trị quan trọng sau Thủ đô Hà Nội…”
1.2.2 Thực trạng phát triển về không gian khu trung tâm hiện hữu
1.2.2.1 Phát triển không gian đất đai và sử dụng đất
Khu trung tâm của thành phố Hồ Chí Minh cũng chính là hạt nhân của vùng Sài Gòn trước kia, với điểm mốc là Bến Thành, Bến Nghé v.v… Cùng với sự phát triển chung của vùng đất đô thị Sài Gòn-Chợ Lớn (trình bày ở phần trên) khu vực trung tâm này cũng được phát triển từ vài tuyến phố lên thành các kho phố, rồi có quy mô to lớn hơn, bao gồm nhiều địa bàn quận, phường Trước
1975, khu trung tâm Sài Gòn cũng đã khá phát triển về quy mô, hạ tầng kỹ thuật
và các hoạt động thương mại, dịch vụ tuy còn hạn chế và chủ yếu phục vụ cho chiến tranh và còn ít có điều kiện để phát triển, mặc dù có những kế hoạch được nghiên cứu Từ sau khi có chính sách Đổi Mới và nhất là từ những năm 90 của thế kỷ trước, trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh mới có sự phát triển và mở rộng nhanh về phía Tây và Tây Bắc
Khu trung tâm hiện hữu của TP.HCM trước thời điểm được quy hoạch lại theo hướng mở rộng là khu trung tâm được xác định bằng Quyết định số 490/BXD-KTQH ngày 23-10-1997 của Bộ Xây Dựng
Đến năm 2006 khu trung tâm này bắt đầu được kiến nghị điều chỉnh quy
mô, nâng tổng diện tích lên 930ha, với các ranh giới được xác định lại như sau:
Trang 32- Phía Bắc: Giáp đường Nguyễn Hữu Cảnh, Rạch Thị Nghè
- Phía Tây: Giáp đường Đinh Tiên Hoàng, đường Võ Thị Sáu, đường Cách Mạng Tháng Tám
- Phía Nam: giáp đường Nguyễn Thị Minh Khai, đường Cống Quỳnh, đường Nguyễn Cư Trinh, đường Nguyễn Thái Học, cầu Ông Lãnh, đường Vĩnh Phước, đường Hoàng Diệu và đường Nguyễn Tất Thành
- Phía Đông: giáp sông Sài Gòn (Ranh giới nêu trên tính từ tim đường, tim sông) Theo đó, Khu trung tâm hiện hữu thành phố Hồ Chí Minh mở rộng nằm trên địa phận của 4 quận: 1, 3, 4 và quận Bình Thạnh, bao gồm các phường:
- Nguyễn Thái Bình, Bến Thành, Bến Nghé, Phạm Ngũ Lão, một phần phường cầu Ông Lãnh, một phần phường Đa Kao (Quận 1)
- Phường 6 và một phần phường 7 (Quận 3)
- Phường 9, 12, 13 và 18 (quận 4)
- Phường 22 và một phần phường 19 (quận Bình Thạnh) (hình 1.16)
Đến năm 2025, khu trung tâm thành phố Hồ Chí Minh còn sẽ bao gồm thêm
đô thị mới Thủ Thiêm với diện tích 737 ha (Hình 1.17), với qui hoạch là các công trình cao cấp và quan trọng Đất khu trung tâm thành phố sẽ đạt khoảng 1700 ha [53, 54] Hệ thống các trung tâm của thành phố (trung tâm khu vực) sẽ phát triển
về các hướng bao quanh khu trung tâm hiện hữu của Thành phố
Về hiện trạng sử dụng đất, theo tài liệu [47], tổng diện tích đất của khu trung tâm hiện hữu của thành phố là khoảng 930 ha Trong đó đất Dân dụng là khoảng 678,69 ha, chiếm 74,2%, đất ngoài khu Dân dụng (tôn giáo, công nghiệp, quân sự, mặt nước v.v….) là khoảng 238,74 ha, chiếm 25,8%
Trong khu đất dân dụng, đất ở chiếm 15,9%; đất công trình công cộng: 16,7%, đất thương mại: 12,0%; đất giao thông: 25,8%, đất công viên, cây xanh: 3,8% trong tổng số đất khu trung tâm Như vậy so với đất công trình công cộng (Hành chính, văn hóa - thể thao, hạ tầng, giáo dục, y tế) thì đất thương mại - dịch
Trang 33vụ chiếm tỷ lệ lớn trong tương quan các chức năng trung tâm đô thị, và trong cơ cấu kinh tế của khu trung tâm
1.2.2.2 Các chức năng khu trung tâm trong bối cảnh hội nhập
Dưới sự tác dộng của kinh tế thị trường cộng với những chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế - xã hội, về huy động các nguồn lực của mọi thành phần kinh tế v.v , trong khu trung tâm hiện hữu của Thành phố Hồ Chí Minh, các chức năng về tài chính ngân hàng, về thương mại dịch vụ
có sự phát triển mạnh, tăng trưởng nhanh về giá trị kinh doanh, cơ sở giao dịch, dịch vụ và đất đai xây dựng Ngoài các cơ sở, trụ sở của Ngân hàng Nhà nước, nhiều trụ sở cao tầng của các ngân hàng khác, các tập đoàn, các tổng công ty, công ty v.v đã được xây dựng trên địa bàn khu trung tâm như Ngân hàng BIDV, Sunwah Tower, Bitexco Tower (với nhiều trụ sở ngân hàng, tổ chức tài chính), HSBC, HD Bank v.v trên các trục đại lộ Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Hàm Nghi, đường Lê Duẩn, đường Đồng Khởi và rải rác trên các đường phố chính của khu trung tâm Trong tương lai, dự định sẽ hình thành và phát triển trung tâm thương mại dịch vụ và tài chính ngân hàng (CBD) đáp ứng nhu cầu và xu thế phát triển của thị trường trong và ngoài nước
Tiếp đến là nhóm chức năng thương mại và dịch vụ phục vụ dời sống cũng có
sự phát triển đột phá cả về số lượng, chủng loại và qui mô bao phủ trên địa bàn trung tâm Các cửa hàng thương mại, dịch vụ nhỏ lẻ đã dần thay thế bằng các siêu thị, các trung tâm thương mại tổng hợp hay chuyên doanh đủ các loại mặt hàng từ bình dân đến cao cấp, xây dựng nhiều tầng có quy mô mặt bằng lớn, chiếm lĩnh nhiều vị trí đắc địa trong khu trung tâm như các trung tâm mua sắm lớn: Vincom, Diamond Plaza, Parkson, Chợ Bến Thành, Sài Gòn Center và hàng loạt các Shop cao cấp tập trung tại các Đại lộ Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Đồng Khởi, Lê Thánh Tôn v.v Ngoài ra còn các nhà hàng, trung tâm giải trí, sàn nhảy, khách sạn, văn phòng cao ốc cho thuê v.v… đã và đang mọc lên dọc các đường phố chính phục vụ người dân đô thị, khách tham quan du lịch trong và ngoài nước
Trang 34Tương tự như các nhóm chức năng trên, các nhóm chức năng giáo dục đào tạo, y dược và chăm sóc sức khỏe cộng đồng cũng có sự phát triển cả về số lượng, qui mô đất đai xây dựng và không gian phân bố của các cơ sở đào tạo, dịch vụ thuộc các nhóm chức năng này trên địa bàn khu trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh cũng như của các đô thị lớn khác Với chính sách kinh tế nhiều thành phần, ngoài các cơ sở công lập hiện có được cải tạo, nâng cấp mở rộng, nhiều cơ
sở giáo dục đào tạo, y tế và chăm sóc sức khỏe của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước đã xuất hiện mới trên địa bàn trung tâm của Thành phố, đáp ứng nhu cầu học tập và khám chữa bệnh của dân cư trong và ngoài thành phố, mặc dù cũng không ít bức xúc, quá tải, xuống cấp của hạ tầng đô thị nảy sinh Tuy Nhà nước và Chính quyền Thành phố đã có chủ trương di dời một số trường Đại học, Bệnh viện ra vùng ngoại thành hoặc ven trung tâm song kết quả còn rất thấp Trong tương lại cần phải có các qui hoạch có tính bài bản, ổn định về mạng lưới các Trường và Bệnh viện, Trung tâm khám chữa bệnh trên địa bàn Thành phố và kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện các qui hoạch đó
Các nhóm chức năng khác như văn hóa nghệ thuật, thể thao vui chơi giải trí,
du lịch, hành chính, tôn giáo v.v… cũng có sự phát triển trong không gian khu trung tâm Thành phố theo hướng cải tạo, nâng cấp, chỉnh trang các công trình cũ, xây dựng công trình mới song mức độ và qui mô phát triển có khiêm tốn hơn so với các chức năng trên Thí dụ như việc chỉnh trang bảo tồn Nhà hát lớn Thành phố, cải tạo mở rộng khách sạn Grand, xây dựng sân khấu Trống Đồng, cải tạo chỉnh trang Công viên Lý Tự Trọng, tái phát triển hai khu đất kém giá trị thành Công viên Kỳ Hòa và Đầm Sen và rất nhiều các công trình khác nữa
Ngược lại với các công trình chức năng trung tâm, các công trình nhóm chức năng phi trung tâm đã và đang thu hẹp lại về số lượng công trình, đất đai và không gian chiếm chỗ trên địa bàn khu trung tâm (công trình nhà ở sản xuất, kho tầng, bến bãi v.v…) Các khu nhà ở tạm bợ, ổ chuột, hư hỏng, cũ nát đã dần được thây thế bằng các nhà ở cao tầng hiện đại có kết hợp với dịch vụ, cây xanh,
Trang 35công viên theo hướng văn minh hiện đại thân thiện với môi trường như khu dân
cư Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, khu dân cư Xóm Củi và các khu dân cư khác ở Quận 5, khu Eden (Trước trụ sở UBND Thành phố), khu Chung cư Cô Giang (Quận 1) v.v Ngoài nhà ở, trong các khu chung cư này có bổ sung them công trình có chức năng trung tâm khác Đến năm 2020, Thành phố sẽ hoàn tất cải tạo, thay thế toàn bộ tổng số 473 chung cư cũ còn lại, trong đó có nhiều chung
cư trong khu trung tâm Thành phố [12] Do mật độ dân số và giá đất đai rất cao nên một bộ phận dân cư khu trung tâm sẽ chuyển ra định cư ở các khu phố mới, các quận mới thành lập, dân số của khu trung tâm Thành phố sẽ giảm đi từ 278.000 người năm 2005 xuống còn 273.000 người năm 2020 Theo đó không gian chức năng ở sẽ thu hẹp lại [44], [65]
Các công trình sản xuất, bến bãi v.v chiếm nhiều diện tích và gây ô nhiễm môi trường cũng sẽ được dịch chuyển ra khu vực ngoại thành hoặc xa khu trung tâm, tạo quĩ đất để phát triển các chức năng trung tâm, cây xanh vườn hoa như di chuyển nhà máy thuốc lá Sài Gòn, nhà máy Bia và nước giải khát ở Quận 5 và nhiều cơ sở khác nữa, Cảng Sài Gòn v.v
1.2.2.3 Phát triển quy hoạch, xây dựng và kiến trúc cảnh quan
a Về Quy hoạch
Theo báo cáo của Sở Quy hoạch Kiến trúc Thành phố số 2872/SQHT ngày 10/9/2012, Các quận 3, 4 và Bình Thạnh đang tiến hành điều chỉnh qui hoạch chung tỷ lệ 1/500 của mỗi quận (Quận 1 không phải điều chỉnh) Còn qui hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 đã được lập và phủ kín không gian khu trung tâm, cũng đang được xem xét điều chỉnh cho phù hợp với qui hoạch chung quận và đang được xem xét phê duyệt Đồng thời Sở Quy hoạch kiến trúc Thành phố đang tiến hành
tổ chức lập quy hoạch chi tiết 1:2000 cho khu vực trung tâm hiện hữu kết hợp giữa kết quả của phương án được giải nhất do cơ quan tư vấn Nikken Sekkei lập
và các ý kiến đóng góp của các nhà tư vấn Trên cơ sở đó kết hợp điều chỉnh quy hoạch chung các quận và qui hoạch chi tiết 1:2000 trong khu vực xác định khu
Trang 36trung tâm đô thị Nhưng về qui hoạch chi tiết 1:500, công tác khảo sát xây dựng
và lập qui hoạch đối với các khu dân cư, khu chức năng, ô phố, tuyến phố trong khu trung tâm vẫn còn rất hạn chế nên chưa đáp ứng được nhiều các yêu cầu đầu
tư xây dựng cải tạo chỉnh trang cũng như quản lý, kiểm soát phát triển không gian đô thị và trật tự xây dựng khu trung tâm Đây là điểm hạn chế không chỉ riêng của thành phố Hồ Chí Minh mà của nhiều đô thị lớn khác nữa, kể cả thành phố Hà Nội
b Về xây dựng và kiến trúc cảnh quan
Thực trạng xây dựng hiện nay ở khu trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, nơi đang có tốc độ đô thị hóa cao, diễn ra với tốc độ nhanh và mật độ dày đặc của các công trình khách sạn, ngân hàng, cao ốc văn phòng, thương mại, nhà ở căn
hộ cao tầng và cả nhà liền kề, nhà theo lô, hình ống, các công trình công cộng và
cả các công trình hạ tầng kỹ thuật, nhất là giao thông nên khó kiểm soát [66] Do lợi thế của khu trung tâm đã nêu trên nên giá đất ở khu trung tâm thành phố Hồ Chí Minh luôn ở mức cao, dân cư sẽ chuyển bớt ra các quận mới thành lập Điều này dẫn tới việc các công trình cao ốc đã và sẽ liên tiếp mọc lên Nhiều di sản kiến trúc đang dần biến mất, thay vào đó là những ngôi nhà ống nằm lộn xộn trên các con phố
Về hạ tầng cơ sở kỹ thuật, chính quyền và các cơ quan chức năng của thành phố Hồ Chí Minh đã không ngừng nghiên cứu, xây dựng các cơ chế, chính sách
và đề xuất các giải pháp để cải tạo, nâng cấp và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nhất là giao thông, cấp thoát nước, nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của người dân cũng như tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của khu trung tâm và của toàn đô thị Song, giao thông vẫn thường xuyên ùn tắc, ô nhiễm không khí ngày một trầm trọng, thiếu nước sạch, thiếu điện, ngập úng v.v… diễn
ra hàng ngày làm cho tình trạng hạ tầng kỹ thuật yếu kém, bức xúc kéo dài Các
dự án nâng cấp kỹ thuật hạ tầng thời gian qua cũng chỉ cải thiện một phần
Trang 37Kiến trúc cảnh quan khu trung tâm thành phố đã và đang được cải thiện theo hướng hiện đại, văn minh, sạch đẹp Khu vực lõi của trung tâm Quận 1 với chủ yếu là các công trình kiến trúc cao tầng mới xây dựng hiện đại kết hợp với các dải cây xanh đường phố và không gian xanh như công viên 30-4, công viên 23-9 v.v… đã làm đẹp cảnh quan, hài hòa giữa thiên nhiên và công trình kiến trúc Bên cạnh đó còn nhiều các công trình di sản văn hóa, lịch sử cần được bảo tồn và tôn tạo như trụ sở UBND thành phố, nhà thờ Đức Bà, Chợ Bến Thành, Bệnh viện nhi đồng v.v…
Khu vực thấp tầng kiến trúc cảnh quan xấu dọc sông Sài Gòn hiện nay với chức năng cảng sông, bến tầu, công viên bờ sông sẽ được di dời để thay thế cho các chức năng khác có kiến trúc cảnh quan đẹp, văn minh và hài hòa với sông nước Nhiều các công trình nhà ở và cửa hàng dịch vụ tư nhân theo phong cách hoài cổ đang bị thay thế dần bằng các nhà hình ống lộn xộn trong khu vực lân cận khu lõi trung tâm Quận 1 Các biệt thự Pháp với sân vườn lớn ở khu vực Quận 3 và một phần Quận 1 đang được thay thế dần bởi các cao ốc văn phòng, trung tâm mua sắm, siêu thị Quá trình này vẫn đang tiếp diễn do sự xuống cấp của các căn biệt thự cổ và do áp lực đô thị hóa mạnh từ các khu vực xung quanh
1.2.3 Các thách thức đối với sự phát triển của Thành phố và khu trung tâm
1.2.3.1 Tăng trưởng kinh tế chưa mang tính bền vững
Năng lực cạnh tranh thấp so với một số nước trong khu vực; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, ngành công nghiệp chủ yếu vẫn là gia công, công nghệ còn lạc hậu, qui mô sản xuất nhỏ, thị trường tiêu thụ còn nhiều khó khăn, thâm dụng nhiều lao động, giá trị gia tăng thấp, thiếu cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật giỏi; các ngành dịch vụ cao cấp như tài chính – ngân hàng, bưu chính – viễn thông tuy có tăng trưởng nhưng chưa thể hiện hết tiềm năng và thế mạnh Đầu tư nước ngoài có xu hướng tăng chậm do giá cho thuê đất ở thành phố cao hơn các tỉnh lân cận, vì vậy các nhà đầu tư có xu hướng chuyển sang đầu tư ở các địa phương khác
Trang 381.2.3.2 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội tuy có phát triển nhưng chưa theo kịp với tốc độ đô thị hóa nhanh
Hạ tầng kỹ thuật đô thị tuy được tập trung đầu tư, nâng cấp, mở rộng nhưng chưa đáp ứng yêu cầu và tốc độ phát triển của kinh tế - xã hội Tiến độ thực hiện các công trình, dự án còn chậm Tình trạng ùn tắc giao thông, ngập nước, sụt lún mặt đường gây khó khăn trong sinh hoạt đời sống của nhân dân, tạo nhiều bức xúc trong xã hội Tình trạng ô nhiễm môi trường và ô nhiễm nguồn nước chưa được giải quyết triệt để, ý thức bảo vệ môi trường trong xã hội chưa cao, văn hóa giao thông chưa có nhiều chuyển biến tích cực
1.2.3.3 Công tác quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu của xã hội
Ngoài những nguyên nhân khách quan như tác động của tình hình kinh tế thế giới và trong nước chưa ổn định sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, thiên tai; cơ chế, chính sách hiện hành không phù hợp cho sự phát triển của một đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh… thì những khiếm khuyết chủ quan trong công tác quản lý điều hành là nguyên nhân trực tiếp cần phải được xử lý khắc phục Công tác phối hợp giữa các cơ quan chưa đồng bộ, thiếu linh hoạt; nhiều vụ việc thuộc phạm vi trách nhiệm của ngành, địa phương nhưng do thiếu sự chủ động, phối hợp đùn đẩy lẫn nhau hoặc chuyển lên cấp trên giải quyết, làm cho việc xử lý không kịp thời, chưa đáp ứng yêu cầu Công tác thông tin, dự báo, báo cáo chưa được thực hiện nghiêm túc, kịp thời, chính xác, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển
Quy trình, thủ tục hành chính tuy đã được rà soát, điều chỉnh và có tiến bộ nhưng cần được tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến mạnh và đồng bộ hơn nữa để đáp ứng yêu cầu phát triển; kỷ luật, kỷ cương trong một số cơ quan hành chính còn lỏng lẻo; hiệu lực quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực, nhất là hạ tầng kỹ thuật và xã hội, công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch, quản lý xây dựng, chỉnh trang đô thị, môi trường v.v
Trang 391.2.3.4 Nhiều vấn đề xã hội phát sinh và ngày càng bức thiết, đòi hỏi thành phố phải quan tâm giải quyết
Một số nội dung được xã hội quan tâm sâu sắc như vấn đề việc làm, nhà ở, vấn đề rút ngắn khoảng cách chênh lệch về cơ sở vật chất, môi trường văn hóa
và hưởng thụ văn hóa giữa nội thành và ngoại thành; vấn đề đấu tranh phòng chống các loại tội phạm
Tình trạng nhập cư ồ ạt có tác động tích cực là làm tăng lực lượng lao động, tạo ra một thị trường tiêu thụ rộng lớn nhưng cũng làm tăng nhiều vắn đề xã hội
Do đa số lao động nhập cư không có trình độ, tay nghề, mang tính chất phổ thông, gây áp lực lớn cho việc đào tạo lại, đồng thời do số lượng dân nhập cư tập trung lớn từ mọi miền đất nước với phong tục tập quán, văn hóa, lối sống khác nhau dẫn đến các tệ nạn xã hội, tình trạng tội phạm ngày một tăng gây nhiều bức xúc trong xã hội
1.2.3.5 Khó khăn trong việc phát triển cân bằng và đồng bộ
Khu trung tâm hiện hữu Thành phố Hồ Chí Minh sở hữu rất nhiều thế mạnh
để phát triển kinh tế - xã hội nên thu hút mạnh đầu tư và dân cư chuyển đến Các công trình cao ốc văn phòng, thương mại, nhà ở cao tầng v.v xuất hiện với tốc
độ nhanh và mật độ xây dựng dầy đặc sẽ gây khó khăn kiểm soát Hệ thống hạ tầng kỹ thuật phát triển chậm nên chất lượng cuộc sống có nguy cơ suy giảm Khu vực trung tâm không chỉ là nơi tập trung phát triển mới mà còn cần phải được quan tâm bảo tồn và tôn tạo các công trình di tích lịch sử văn hóa, di sản kiến trúc, nghệ thuật Việc phát triển cân bằng và đồng bộ khu vực trung tâm đạt chuẩn quốc tế và chất lượng sống và môi trường
Trang 401.3 Thực trạng kiểm soát phát triển không gian khu trung tâm hiện hữu của Thành phố Hồ Chí Minh
1.3.1 Các nội dung kiểm soát chủ yếu
Các nội dung chủ yếu kiểm soát phát triển không gian đô thị khu trung tâm hiện hữu thông qua việc kiểm soát xây dựng và khai thác sử dụng các công trình
và không gian đô thị bao gồm:
- Mức độ tăng thêm về nhu cầu sử dụng thiết bị cơ sở hạ tầng và các thiết bị khác dưới lòng đất và ảnh hưởng của sự gia tăng có phù hợp với qui định cho phép khai thác (không làm thay đổi chức năng sử dụng đất)
1.3.1.2 Quy hoạch và thiết kế kiến trúc đô thị
- Sự phù hợp của xây dựng công trình theo đồ án quy hoạch và thiết kế đô thị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Sự phù hợp của xây dựng công trình theo giấy phép xây dựng được cấp có thẩm quyền cấp và điều kiện của pháp luật cấp giấy phép xây dựng công trình đó (kể cả giấy phép qui hoạch, giấy phép lưu hành và khai thác sử dụng)
- Sự tuân thủ các quy định về qui hoạch, kiến trúc, cảnh quan đô thị và các quy định khác của pháp luật về xây dựng, của đồ án thiết kế đô thị như chức năng, mật độ xây dựng, cao độ nền xây dựng, tầng cao, hình khối, hình thức kiến trúc công trình; hàng rào của công trình; mầu sắc và vật liệu xây dựng công trình; cốt sàn và trần tầng một công trình; khoảng lùi của công trình; an toàn xây dựng đối với công trình liền kề; đấu nối các công trình kỹ thuật, phòng chống cháy nổ, vệ sinh môi trường v.v…